Pham Ton’s Blog

Tháng Một 16, 2015

Thế giới thuộc địa trong Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:28 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 1 năm 2015.

THẾ GIỚI THUỘC ĐỊA TRONG

PHÁP DU HÀNH TRÌNH NHẬT KÍ

CỦA PHẠM QUỲNH

Kim Nhạn (Thạc sĩ Viện Văn Học)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Thế giới thuộc địa trong Pháp du hành trình nhật kí của Phạm Quỳnh là bài của Thạc sĩ Kim Nhạn, chúng tôi đăng lại từ Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 12-2014, từ trang 84 đến trang 91. Vì bài dài, chúng tôi đăng làm hai kỳ.

—o0o—

Đầu thế kỉ XX, cuộc tiếp xúc Đông – Tây diễn ra trên phạm vi toàn thế giới. Giao thông thuận tiện khiến khoảng cách giữa các lãnh thổ, các vùng đất xích gần lại. Năm 1922, thay mặt hội Khai Trí Tiến Đức, Phạm Quỳnh xuất dương dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Marseille (Pháp). Chuyến đi dài 6 tháng đưa tác giả qua nhiều vùng đất trên địa cầu, được ông ghi lại trong Pháp du hành trình nhật kí. Đọc du kí của ông, người đời sau sẽ nhận ra cách hình dung thế giới mang tính phân cực thành hai phía là thế giới thuộc địa và chính quốc, cách phân chia này vốn rất thịnh hành trong thời kỳ toàn thịnh của chủ nghĩa thực dân từ thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX. Bài viết này sẽ đi sâu khảo sát thế giới thuộc địa, sẽ chỉ ra nhận thức, mối quan tâm của Phạm Quỳnh với tư cách một trí thức nước thuộc địa đối với những vùng đất có cùng thân phận như dân tộc mình (thông qua những gì ông quan sát), nhãPhap Du Hanh Trinh Nhat Kyn quan chính trị của ông (thông qua thái độ đối với hệ thống quyền lực thực dân),… Từ đó lí giải cội nguồn của nhãn quan đó qua việc vạch ra con đường nhận thức thế giới của một cá thể trong thiết chế quyền lực thực dân, chỉ ra mối liên hệ giữa nhãn quan đó với hành trạng của tác giả này.

  1. Thuộc địa – những vùng đất xa ngái

Thế giới thuộc địa được phản ánh trong Pháp du hành trình nhật kí là những vùng đất ven biển, nằm trên hải trình từ Annam đến nước Pháp, gồm thuộc địa của Anh (Singapore, Penang, Colombo), Pháp (Djibouti), và một vùng đất dưới sự cai trị của liên hiệp nhiều nước phương Tây như kênh Suez – điểm cuối cùng của Đông phương trước khi bước sang thế giới Tây phương. Các vùng đất này đều được nhắc đến với các thông số: vị trí địa lý, đặc điểm phong thổ, cảnh quan đặc trưng cùng những đánh giá về dân cư bản địa. Trong đó, điểm chung dễ nhận thấy là hầu hết đều được gợi nhắc đến với vẻ xa xôi, rìa vực. Djibouti, vùng đất thuộc Pháp, nằm ngay bể Hồng Hải (Mer Rouge), được miêu tả: “cả một miền hải tần này là nơi cùng tịch, toàn thị là sa mạc hết, mà khí hậu nóng như lửa đốt, cả năm không có được mười ngày mưa. Trông xa chỉ cực mực một vùng cát trắng, không có một cái cây, không có một ngọn cỏ”. Trong con mắt Phạm Quỳnh, đó là nơi “thiên cùng thủy tận”, là “cõi đất cháy”, rất khó khăn trong gây dựng kinh tế. Kênh Suez, điểm nối giữa Địa Trung Hải và bể Hồng Hải được hình dung với vẻ cằn cỗi, khó cải tạo “đất cát cây cằn, đủ biết là cõi sa mạc”. Ấn tượng của Phạm Quỳnh về vẻ xa ngái, rìa vực của các vùng đất bị lệ thuộc rất gần với cách hình dung của chủ nghĩa thực dân về thuộc địa của mình. Edward Wadie Said, trong công trình kinh điển của mình Đông phương luận đã chỉ ra cách nhìn mang tính bá quyền của kẻ thực dân, tự định vị mảnh đất của mình (Ta) là trung tâm, đối lập với nó là cái Khác, do đó đồng nghĩa mọi thứ thuộc về phương Đông với những gì “ngoại lai, huyền bí, sâu xa, nguyên sơ”. Các vùng đất thuộc địa ở đây không hiện lên với vẻ huyền bí, quyến rũ, dấu tích một quá khứ rực rỡ như hình dung thông thường của người phương Tây mà chỉ là những cảm tưởng về sự trơ trọi, hoang sơ, thậm chí địa thổ cũng chứa đựng cái gì đó “bất kham”, khó thuần dưỡng, khó cải tạo. Phạm Quỳnh rất chú ý đến chi tiết về hệ thực vật tại Djibouti: “không có một cái cây, không có một ngọn cỏ”, và ông kể lại giai thoại về buổi đầu khai hóa vùng đất này của người Pháp. “Trong suốt thành phố không có một cây nào, chỉ trong dinh quan Thống đốc có trồng một cây chà là bằng sắt tây sơn xanh để hình tượng loài thực vật mà thôi”. Nhưng chính cái vẻ khô khốc, trơ trụi của vùng đất ngoại lai (so với phương Tây) lại trở thành thách thức chinh phục, là cơ hội thể hiện sức mạnh cải tạo, khai hóa của thực dân đối với xứ sở thuộc địa. Cũng trong công trình của mình, Edward W.Said đã chỉ ra rằng các vùng đất vốn nằm câm lặng này được phát biểu “thông qua và nhờ trí tượng tượng của châu Âu”, họ gán cho các vùng đất này “những cảm nghĩ về sự trơ trụi (hay trống rỗng), những mất mát và tai họa mà dường như đằng sau đó là phần thưởng cho những thách thức của phương Đông đối với phương Tây”. Như vậy khi được hình dung qua tâm lí của kẻ săn mồi, những vùng đất rõ ràng vừa có vẻ mời gọi, lại vừa có vẻ kích thích ham muốn chiếm dụng. Chính những khó khăn chồng chất do vẻ hoang sơ, cằn cỗi đã làm cho chiến thắng của phương Tây thêm đáng kể, vẻ vang, và do đó, củng cố địa vị thống trị. Ngay sau khi gợi lại giai thoại minh chứng cho vẻ khô cằn của vùng Djibouti, Phạm Quỳnh mô tả sự đổi thay của vùng đất: “trong đường phố nhiều nơi đã trồng cây hai bên (…). Coi đó thời đủ biết cái công phu gây dựng khó nhọc là nhường nào”. Hệ thực vật thay đổi cùng với một sinh khí mới: “Thế mà quý quốc trong khoảng hơn hai mươi năm gây dựng thành một nơi đô hội cũng khá to, thế thì đủ biết người Đại Pháp có cái công khai thác, có tài kinh doanh mạnh bạo là dường nào”. Cách mô tả trên không giấu được vẻ thán phục, ngưỡng mộ của tác giả đối với thành quả gây dựng của người Pháp. Trong con mắt Phạm Quỳnh, sức mạnh của nước Pháp có khả năng làm những điều lớn lao, to tát, tưởng như không thể thực hiện, đó là hồi sinh cõi đất cháy, thiên cùng thủy tận. Điều này cho thấy tác giả đứng về phía người Pháp trong việc nhìn nhận những nỗ lực cải tạo xứ sở.

Tương tự, nhìn vẻ sầm uất, to lớn của thương cảng Singapore, Phạm Quỳnh cũng cho thấy niềm ngưỡng mộ đối với công lao khai phá của thực dân Anh: “hai nơi ấy (gồm cả Hồng Kông) trước kia là hai cái đảo nhỏ cùng tịch, bỏ hoang không ai đi đến bao giờ; nhất đán vào tay người Anh kinh doanh trong mấy chục năm, trở nên hai nơi hải cảng và thương phụ nhất nhì trong thế giới: cái nghị lực của giống người Anh cũng khả kính vậy”. Nếu như vẻ khô cằn, hoang sơ của Djibouti hiện lên như là nơi thử thách ý chí chinh phục của nhà cầm quyền thì Singapore là cái hiển trạng vinh quang của chủ nghĩa thực dân tại thuộc địa. Sự sầm uất, giàu có của Singapore hiện thời là phần thưởng cho quá trình “kinh doanh trong mấy chục năm”, là nơi đánh dấu “nghị lực”, ý chí, tài năng của giới cai trị Anh quốc. Đằng sau những tán dương của Phạm Quỳnh trước công lao của thực dân ắt hẳn có một khát vọng muốn mượn tay các đế chế cải hóa các vùng đất thuộc địa vốn yếu kém trong việc gây dựng kinh tế.

Như vậy, ấn tượng về vẻ xa xôi, hoang sơ, tiêu điều của các vùng đất thuộc địa đóng vai trò vừa như một đặc điểm mang tính thiên kiến về các vùng đất thuộc địa, vừa như là chất nền để từ đó thấy được những dấu vết thực dân ở đó. Từ hai cảnh quan mang sắc thái khác hẳn nhau, người đọc có thể thấy ẩn dấu trong đó sự ủng hộ của tác giả đối với công cuộc khai hóa của chính quốc, bởi nó giúp các nước Đông phương thoát khỏi tình trạng bị cô lập, bị yếm thế do xuất phát điểm thấp kém của mình.

  1. Hải cảng – nguồn lợi thuộc địa

Trong khi ấn tượng về sự xa xôi, rìa vực của một số mảnh đất thì Phạm Quỳnh lại nhận thấy ở hầu khắp các vùng đất thuộc địa những điểm sáng, hay nói chính xác hơn là những nguồn lợi để xây dựng, kiến thiết. Ở tất cả các địa danh ông đi qua, vị trí địa lý chính là một nguồn lợi thủ đắc những tiềm năng phát triển về sau. Do đây là hành trình trên biển, các vùng đất tác giả ghé thăm đều là các vịnh, vũng có vị trí đắc địa để xây dựng hải cảng lớn: Singapore, Peanang, Colombo, DjiPham Quynh (anh cat)bouti, Suez. Quan sát mỗi hải cảng, Phạm Quỳnh đều chú ý đến quy mô, tầm vóc, đường hướng phát triển của nó. Singapore “địa thế hiểm yếu không đâu bằng”, “địa thế thật là tiện lợi cho đường buôn bán và cũng tiện cho sự quân bị”. Phạm Quỳnh tỏ ra thán phục trước vẻ hoành tráng của bến cảng: “Bến liền nhau với bể, chạy dài đến mấy nghin thước, tàu đỗ không biết cơ man nào mà kể”. Gần đó, Peanang cũng “là một cái cửa bể” trên bán đảo Malacca, “là một chốn đô hội to”, có dáng dấp của một “chốn nghỉ ngơi”: “ngoài mấy phố buôn bán, toàn là những nhà riêng của các phú thương người Anh, người Khách”. Cách Peanang bốn ngày đi tàu, Colombo hiện ra “cũng là một nơi hải cảng và một chốn thương phụ to, ở giữa khoảng con đường giao thông Đông Á với Tây Âu, các tàu lớn đi lại tất phải qua đó”. Quy mô cảng được tác giả mô tả: “Cửa Colombo này thật là một cửa bể to lớn, tàu bè các nước đậu san sát, thuyền thời ngổn ngang như lá tre”. Nhưng kỳ vĩ nhất có lẽ là Suez, con kênh nhân tạo nối liền hai đại dương: Địa Trung Hải với Hồng Hải. Việc xây dựng con kênh này “khiến cho các tàu đi tự Âu châu sang Á châu không cần phải vòng qua Phi châu như xưa”. Theo ghi nhận của Phạm Quỳnh, kênh không là thuộc địa của riêng nước nào mà thuộc quyền quản lí của “công ty kênh Suez” (Compagnie du Canal de Suez), hay còn gọi là công ty vạn quốc, đảm trách việc điều hành kênh đào, cổ phần do các nhà tư bản châu Âu nắm giữ, mà Phạm Quynh cho biết Pháp “giữ quyền lợi to”. Con kênh này cũng được chỉnh trang, xây dựng bởi một người Pháp: “Kênh ấy là công trình của một người Pháp, ông Ferdinand de Lessep khởi ra tự năm 1857, đào mất mười năm, phí hàng trăm triệu”.

Các hải cảng được Phạm Quỳnh phản ánh trong tác phẩm đều là những nơi có vị trí trọng yếu trên đường giao thương Đông – Tây, đều được nhìn ra, khai thác và sử dụng bởi người phương Tây. Điều đó cho thấy phương Đông hiện lên trong mắt chủ nghĩa thực dân như những nguồn lợi báu bở, đầy hấp dẫn và cũng tối cần thiết trong quá trình mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình. Các địa điểm bản địa bị biến thành những trạm dừng chân lí tưởng trong quá trình khai thác và thị uy của chính quốc. Nó là nơi Tây phương triển khai những dự đồ, toan tính, khẳng định sức mạnh và tính ưu việt của mình. Trong khi mô tả kênh Suez, Phạm Quỳnh vẽ lại một cảnh tượng nhằm cho chúng ta thấy uy quyền Tây phương được xác lập như thế nào: “ngoài cửa biển có cái tượng ông Ferdinand de Lesseps đứng chỉ tay vào sông Suez, như chỉ đường cho các tàu ở Âu châu đi lại”. Ông Ferdinand de Lesseps, người tổng điều hành công trình và cũng là nhà thầu khoán của kênh Suez hiện lên không qua nhân dạng mà qua bức điêu khắc lớn đặt tại đầu kênh. Với dáng điệu của một người hướng đường, sự oai phong lẫm liệt, đường bệ của bức điêu khắc tô đậm về ý chí về quyền lực của chủ nghĩa thực dân. Bức tượng là sự phóng chiếu tham vọng bá chủ của Tây phương đối với nhân loại, và ẩn sau đó là tham vọng của chính quyền Pháp muốn vượt mặt các đế chế khác để thống lĩnh thế giới. Hình ảnh bức tượng và tư thế của nó vượt ra ngoài ý nghĩa của một công trình tưởng nhớ người có công xây dựng con kênh, ẩn sâu trong đó là sự khẳng định vị trí thống lĩnh tối thượng của chủ nghĩa thực dân tại một vùng đất đắc địa, tiềm năng của Đông phương nhưng lại được xây dựng để phục vụ lợi nhuận cho Tây phương.

K.N.

(còn tiếp)

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: