Pham Ton’s Blog

Tháng Một 23, 2015

Thế giới thuộc địa trong Pháp Du Hành Trình nhật ký của Phạm Quỳnh (p2)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:28 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 2 năm 2015.

Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đình Chú:

Trên phương diện chính trị, Phan Châu Trinh đúng là người chủ trương theo qui luật thứ hai

(Trích bài Trân trọng đôi lời cùng bạn đọc của Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đình Chú trong sách Văn trên Nam Phong tạp chí-diện mạo và thành tựu của Tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận (NXB Văn Học, 2008)

(…) Sự chuyển biến trong nhận thức về Nam Phong tạp chí, về chủ bút họ Phạm cũng như với các hiện tượng tương tự đã kể trên xét cho cùng là kết quả của sự phát triển, tiến lên trong nhận thức về sự sống của đất nước. Đất nước nào cũng vậy, trong thời đại đã ít nhiều có quan hệ quốc tế, trong đó có thiện có ác, để tồn tại và phát triển phải dựa trên nhiều quy luật trong đó có hai quy luật cơ bản không thể thiếu là độc lập dân tộc (L’indépendance) và phụ thuộc lẫn nhau (cũng là lợi dụng lẫn nhau) giữa các dân tộc với nhau (L’interdépendance), ở phương diện này, phương diện khác, trạng thái này, trạng thái khác. Đất nước của chúng ta hôm nay rõ ràng là đang tồn tại và phát triển nhanh chóng dựa trên hai quy luật đó. Trong quá khứ, du là trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, vẫn có hai quy luật đó. Nhưng trong thực tiễn nhận thức dường như chúng ta chỉ hướng vào quy luật thứ nhất và bằng một phương thức duy nhất là vũ trang cứu nước mà không nghĩ đến, không chấp nhận quy luật thứ hai. Hễ ai chủ trương đi theo quy luật thứ hai là bị phủ nhận, bị phê phán. Đọc lại lịch sử cận đại hẳn thấy như thế .Trong khi vẫn có một số người do cảm nhận thấy tương quan lực lượng giữa nước ta với thực dân thống trị là không đồng đẳng rõ rệt nên chủ trương đi theo quy luật thứ hai và thực tế – nói gì thì nói – họ đã là những người đặt nền móng xây nền cho công cuộc hiện đại hóa văn hóa văn học Việt Nam. Tôi muốn được nghĩ về Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Thượng Chi cùng với nhiều cây bút khác trên Nam Phong tạp chí trong đó có một số từng tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục theo cách nghĩ đó trên phương diện văn hóa văn học. Còn trên phương diện chính trị, Phan Châu Trinh đúng là người chủ trương theo quy luật thứ hai này. Và Phan Bội Châu một khi muốn từ bỏ con đường bạo động để chủ trương Pháp – Việt đề huề, không gì khác, cũng là theo quy luật thứ hai này. Ngay cả Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng giải phóng dân tộc bằng con đường vũ trang thắng lợi, không phải không có lúc đã vận dụng quy luật thứ hai như khi Người ký Hiệp định sơ bộ 6/3 và Hiệp ước Phông-ten-bờ-lô, đặt Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp để kẻ thù của mình thì bù lu bù loa cho là bán nước, còn nhân dân, lịch sử thì ngợi ca đó là giải pháp chính trị tỉnh táo tuyệt vời.

Đúng là thực tiễn đất nước trên đà đổi mới toàn diện đã cho ta khả năng nhận thức cuộc sống mỗi lúc một đúng với sự thật của nó hơn. Thái độ êm dịu thậm chí như đang muốn chiêu tuyết cho Nam Phong tạp chí, cho ông chủ bút Phạm Quỳnh cũng như các trường hợp tương tự khác đã nói đó chính là nhờ có lộc đời như thế. Và công trình VĂN TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ – DIỆN MẠO VÀ THÀNH TỰU của Tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận mà hôm nay bạn đọc đang cầm trên tay cũng là nhờ lộc đời đó ban tặng (…)

Lả một người từ nhiều năm có chút duyên cũng là nợ với Nam Phong tạp chí trong những thời tiết tâm lý nhận thức khác nhau, lại là người có điều kiện theo dõi công việc làm luận án và sau đó còn được tiếp tục điều chỉnh, bổ sung để có công trình hôm nay trình làng của tác giả Nguyễn Đức Thuận, tôi quả thật rất vui khi viết đôi lời trân trọng này để thưa cùng bạn đọc quý mến. Tất nhiên, tự tôi và tôi cũng đã nói với tác giả công trình, gì thì gì vẫn phải luôn luôn nhớ rằng công việc nghiên cứu khoa học, đúng như tiếng Pháp là “recherche”, nghĩa là tìm đi tìm lại, cứ thế mà tìm thêm. Đừng dại gì mà coi đây là tiếng nói cuối cùng, không chỉ với vấn đề Văn trên Nam Phong tạp chí mà với bất cứ đề tài nào cũng vậy. Mong được quý vị độc giả ghi nhận cho điều tâm niệm đó và chỉ bảo thêm cho.

Yên Hòa thư trai

Đinh Hợi – mạnh đông (12/2007)

GS-Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đình Chú

THẾ GIỚI THUỘC ĐỊA TRONG

PHÁP DU HÀNH TRÌNH NHẬT KÍ

CỦA PHẠM QUỲNH

Kim Nhạn (Thạc sĩ Viện Văn Học)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Thế giới thuộc địa trong Pháp du hành trình nhật kí của Phạm Quỳnh là bài của Thạc sĩ Kim Nhạn, chúng tôi đăng lại từ Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 12-2014, từ trang 84 đến trang 91. Vì bài dài, chúng tôi đăng làm hai kỳ.

—o0o—

(Tiếp theo và hết)

  1. Đôi thị, các dấu ấn Tây phương hóa

Hải cảng, miếng mồi ngon và là sản phẩm của quá trình khai thác của Tây phương cũng chính là cửa ngõ cho những ảnh hưởng của phương Tây lên các vùng đất thuộc địa mà điểm nổi bật nhất chính là sự xuất hiện của các đô thị. Du kí Phạm Quỳnh dàyPhap Du Hanh Trinh Nhat Ky đặc các dấu vết phản ánh quá trình đô thị hóa tại các vùng đất bị chiếm dụng.

Sự xuất hiện của đường phố được quy hoạch hiện đại, biệt thự, nhà cửa xây theo lối Tây và xe hơi, đó là ba dấu hiệu đầu tiên và thực chứng nhất cho sự xâm nhập của văn mình Tây phương vào phương Đông. Singapore hiện lên với vẻ sầm uất, sôi động của một thương cảng với những hãng buôn, các công ty lớn và đờng phố nhộn nhịp xe hơi: “Xe hơi ở Singapore, thật không biết cơ man nào mà kể, nào xe riêng, nào xe thuê, cả ngày chạy như mắc cửi”. Đầu thế kỉ XX, xe hơi, một sản phẩm hoàn toàn ngoại nhập, được coi là thước đo sự giàu sang, mức độ Tây hóa đối với người dân các nước thuộc địa. Penang được biến thành nơi nghỉ dưỡng hiện đại của người Anh và các nước phương Tây tại khu vực biển Nam Dương với “cảnh trí đã đẹp, kiến trúc lại công phu và có vẻ là một nơi cực kì tráng lệ”. Trên hai hải cảng này, Phạm Quỳnh cũng nhận thấy “có một điều lạ là ô tô ở đây đều chạy về bên trái cả, không chạy tay phải như bên ta, trông cũng lạ mắt”. Ô tô đi về phía trái – đó là dấu hiệu đặc trưng của giao thông Anh quốc. Chi tiết nhỏ này cho thấy người Anh đã tạo ra một bản sao tại thuộc địa. Còn tại Port-Said, dấu vết của Tây phương lại được hiển thị ở phố xá: “phố Tây thời nhiều nhà cao đường rộng, người các nước Âu châu mở những cửa hàng lớn để buôn bán, gần bờ bể lại có nhiều những nhà mát để ra hóng gió bể”. Trong khi đó thì “phố Ả rập thời chật hẹp hơn, toàn những người Ả rập ở”. Quy mô phố cho thấy sự lấn lướt của Âu châu đối với người bản xứ. Tại đây, dấu vết Âu châu xâm nhập mạnh mẽ vào văn hóa bản địa, từ tiếng nói “thông dụng nhất là tiếng Pháp” cho đến báo chí “nhật báo của người Ai Cập cũng bốn, năm tờ làm bằng chữ Pháp, coi đó thì biết chữ Pháp ở Ai Cập thịnh hành là dường nào”.

Như vậy, các dấu ấn Tây phương hiện lên trong du kí Phạm Quỳnh không chỉ là cơ sở vật chất (nhà cửa, phương tiện đi lại) mà còn là lối sống, chữ viết, công cụ thông tin truyền thông. Những điều này cho thấy công cuộc khai hóa đã từng bước ăn sâu vào bản địa, biến phương Đông thành một bản sao của phương Tây. Đằng sau các dấu vết Âu hóa là mưu đồ xâm lược, chiếm dụng, đánh dấu lãnh thổ của thực dân. Không thể phủ nhận những sản phẩm Âu hóa đã làm thay đổi bộ mặt của phương Đông, nhưng bộ mặt đó không thuộc về và không chứng tỏ sức sống nội tại của thuộc địa mà nó càng làm vẻ vang thêm cho chính quốc. Điều này có cơ sở từ chính sách thuộc địa bằng tinh thần nhân văn Pháp. Theo ông việc kiến thiết tại thuộc địa là nhằm “tạo ra một tương lai sinh sống tốt đẹp hơn, có tự do nhiều hơn trong khuôn khổ nền văn minh chúng ta, cho những người dân sống dưới sự bảo vệ của các thành trì vững chắc của quyền năng tinh thần và vật chất của chúng ta”(4)

  1. Người bản địa câm lặng

Sự bề thế, khuếch trương của các hải cảng, đô thị đối lập mạnh mẽ với hình ảnh người bản địa. Trong tác phẩm du kí, người bản địa hiện lên như những thực thể câm lặng, không có tiếng nói, không gương mặt. Họ hoặc hoàn toàn không xuất hiện tại những nơi thực dân quy hoạch cho riêng người Âu (như trường hợp Singapore, Penang) hoặc trở thànhPham Quynh (anh cat) nô lệ trên chính mảnh đất tổ tiên của mình (trường hợp các hải cảng còn lại).

Người bản địa thoảng hoặc xuất hiện trong du kí của Phạm Quỳnh. Một đặc điểm chi phối gần như xuyên suốt trong cách mô tả của ông là những ấn tượng về những phẩm chất không mấy tốt đẹp của người bản địa: người Chà ở Colombo “nhũng” khách, lừa bịa, ăn chặn tiền, “gạ gẫm”, nằn nì”, “dáng bộ gật gù, coi thật khả ố”, “giống người Chà này thật là một giống đáng ghét. Người đen như củ súng, mặt thì nhăn nhăn nhở nhở, anh nào cũng như bộ gã gẫm muốn xoáy tiền của khách lạ”. Người Somalis ở Djibouti thì “là một giống dã man hung hãn, không có một chút văn hóa gì”, “có người nói rằng giống này là giống hèn lắm, chỉ ăn trộm, ăn cắp, làm biếng, nói dối, không thể nào khai phá cho được; đành là một giống bỏ đi, như giống da đỏ ở Bắc Mĩ, giống thổ dân ở Úc châu vậy”. Cảm nhận không mấy tốt đẹp về người bản địa một mặt xuất phát từ thực tế ở những vùng đất mà tác giả ghé qua đều nghèo khổ, hoang sơ, khó phát triển kinh tế, dân bản địa đói khổ sinh ra nhũng nhiễu, hèn kém nhưng mặt khác, xét một cách công bằng thì Phạm Quỳnh không phải không bị ảnh hưởng bởi cách nhìn của chủ nghĩa thực dân về người bản địa. Dưới lăng kính đó, ông đã Đông phương hóa chính người bản địa và vùng đất của họ.

Tựu chung lại, các cảnh quan được miêu tả trong du kí đã nói lên được phần nào hình ảnh các nước thuộc địa đầu thế kỉ XX. Các nước thuộc địa hiện lên với vẻ xa ngái, hoang sơ, là nơi tận cùng của thế giới, là nơi bị chiếm dụng và biểu lộ sức mạnh của phương Tây. Và sức mạnh đó được hiển thị bằng những dấu hiệu Tây hóa xuất hiện dày đặc. Thuộc địa hiện lên không thuần nhất là chính nó mà ẩn sâu trong lòng thuộc địa là hình ảnh rất sâu đậm của chính quốc: đô thị, hải cảng, hệ thống đường xá, phương tiện đi lại, ngôn ngữ, tiếng nói chính quốc – tất cả đều là những dấu hiệu đại diện cho văn minh, tiến bộ được thực dân nhân rộng, cấy ghép sang các nước thuộc địa. Điều đó phản ánh một thực tế lịch sử về sự phát tán gần như toàn cầu dấu ấn châu Âu, đánh dấu sức mạnh của chủ nghĩa thực dân trên thế giới, đồng thời chính những dấu ấn đó đã tạo nên một chuẩn mực cho sự phát triển mà các nước tòng thuộc của nó phải hướng đến. Dẫu vậy, thuộc địa chỉ là những bản sao không hoàn hảo của phương Tây. Bởi về cơ bản các vùng đất này vẫn lộ rõ vẻ nghèo khó, chậm phát triển với những người bản địa xấu xí, bệnh tật, kém văn minh.

Qua du kí của Phạm Quỳnh không chỉ thấy hình ảnh về thuộc địa, sự phân cực của thế giới mà còn cho thấy bóng dáng chủ thể của người viết, và đằng sau đó là một dự đồ chính trị của tác giả. Cái nhìn của Phạm Quỳnh mang tính lưỡng trị. Một mặt thuộc địa hiện lên như một nơi xa ngái, với những cư dân bản địa xấu xí, chậm phát triển – cách nhìn này bản thân nó mang tính quyền uy, áp đặt, rất phổ biến của chủ nghĩa thực dân thế kỉ XIX-XX. Rõ ràng ông bị ảnh hưởng bởi cái nhìn mang tính miệt thị của người phương Tây về các nước thuộc địa. Nhưng mặt khác khi nhìn sự thay đổi của thuộc địa theo hướng Âu hóa, ông lại cho đó như một đường hướng cần noi theo, cần nhân rộng ở thuộc địa. Xuất phát điểm của cái nhìn này không hoàn toàn bởi Phạm Quỳnh đứng về phía chủ nghĩa thực dân mà bởi khát vọng đổi mới, phát triển cho dân tộc. Đằng sau những ngợi ca của Phạm Quỳnh đối với công lao gây dựng, khai phá của chủ nghĩa thực dân chính là một dự đồ chính trị: muốn mượn tay thực dân để gây dựng xã hội bản địa theo hướng hiện đại. Trong nhiều bài luận của mình, Phạm Quỳnh kín đáo thể hiện niềm ngưỡng mộ đối với văn minh Pháp và không ít những trông đợi ở nhà cầm quyền mà nhìn ở phía này có thể coi ông là kẻ hợp tác với kẻ thù dân tộc nhưng nhìn ở phía kia lại thấy một phương án mang tính dân tộc chủ nghĩa. Ông cho rằng người Nam “cần phải kính cẩn nghiêng mình [trước nền Bảo hộ của Pháp] và cố gắng moi ra từ thực tế này phần lợi nhất có thể (5)(người viết nhấn mạnh). Trong Thư ngỏ gửi ngài bộ trưởng thuộc địa, ông ngợi ca sự bảo hộ của nước Pháp: “Trong nửa thế kỉ, nền Bảo hộ đã giúp chúng tôi đạt được các tiến bộ đáng kể trong tất cả các lĩnh vực. Đặc biệt là nền Bảo hộ đã giúp chúng tôi đảm bảo trật tự và hòa bình, và nhờ có an ninh mà nó tạo ra, đầu óc của chúng tôi đã được mở mang, nhận thức của chúng tôi được củng cố, nhân cách của chúng tôi bắt đầu nảy nở trong làn gió đầy sức sống các tư tưởng tự do đến từ phương Tây”(6). Sở dĩ có cái nhìn đó bởi Phạm Quỳnh coi sự bảo hộ của Pháp là lẽ tất nhiên, phần nào đó mang tính định mệnh “việc nước Pháp xâm chiếm đất nước này đã thành một điều định mệnh mang tính lịch sử, đối với chúng tôi, sự hiện diện của Pháp ở đây hiện nay đã trở thành một tất yếu lịch sử” (7). Cái tất yếu đó có căn nguyên từ chính sự yếu kém dẫn tới thua cuộc của nước Nam trước sức mạnh vũ bão của chủ nghĩa thực dân.

Với cách nhìn đó, ông coi sự thống trị của chủ nghĩa thực dân tại các vùng đất thuộc địa trong hải trình của mình là điều tất yếu. Phạm Quỳnh không nghi ngờ sức mạnh phương Tây và coi đó là sự chiếm dụng tất yếu của kẻ săn mồi đã thắng thế. Không bài bác Tây phương, Phạm Quỳnh nhìn thấy cơ hội phát triển cho chính các nước thuộc địa từ công cuộc khai thác thuộc địa của chính quốc. Đó chính là chính trị của Phạm Quỳnh: dựa vào sức mạnh của phương Tây để tiến lên. Trong lịch sử cận đại Việt Nam, trước rất nhiều ngã rẽ lịch sử, Phạm Quỳnh đại diện cho một khuynh hướng mà ngay cả ở đương thời cũng khó nhận được sự ủng hộ và đồng cảm của số đông quần chúng. Khuynh hướng thân Pháp, lợi dụng nước Pháp đã không được lịch sử lựa chọn, nhưng nếu xét kĩ hoàn cảnh đất nước lúc đương thời, khi nhà Nguyễn không đủ sức chống đỡ, khi các khuynh hướng cứu quốc mang thái độ chống đối nước Pháp đều bị vùi dập, trong khi đó đất nước nghèo, nhân dân vẫn u mê trong vòng tăm tối thì hẳn việc lợi dụng người Pháp để tạo nền tảng, đường hướng phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục,… theo lối Tây hóa cũng là một giải pháp, và Phạm Quỳnh đã cố gắng suốt đời cho cái dự đồ không thành ấy.

K.N.

———————————–

(1) Phạm Quỳnh: Pháp du hành trình nhật kí, in trong Phạm Quỳnh – Tuyển tập du kí (Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn, giới thiệu). NXB. Tri Thức, H.,2013, tr.192. Các trích dẫn tác phẩm trong bài đều theo sách này.

(2), (3) Edward W.Said: Đông phương luận (Lưu Đoàn Huynh, Phạm Xuân Ri, Trần Văn Tụy dịch, Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính). NXB. Tri Thức, H.,2014, tr.95, 103.

(4) Pierre Pasquier: Diễn Văn đọc ngày 15 tháng Mười năm 1930 (Ngô Bắc dịch). Nguồn: http://www.gio-o.com/NgoBac/NgoBacPPasquier.html

(5), (7) Phạm Quỳnh: Sứ mệnh của nước Pháp, in trong Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932. NXB. Tri Thức, H., 2007, tr.391.

(6) Phạm Quỳnh: Thư ngỏ gửi ngài bộ trưởng thuộc địa, in trong Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932. NXB. Tri Thức, H., 2007, tr.377.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: