Pham Ton’s Blog

Tháng Hai 6, 2015

Quanh chuyện ba lần lên Trại Đưng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 2 năm 2015.

QUANH CHUYỆN BA LẦN LÊN TRẠI ĐƯNG

­­­Nguyễn Khắc Phi

Giáo sư, nguyên Tổng biên tập Nhà xuất bản Giáo Dục

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong LTS về Chuyên đề Tưởng niệm 60 năm ngày mất của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1954-2014) trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 6 (113) 2014 có viết: “Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là bậc danh sĩ của vùng đất Hương Sơn, Hà Tĩnh. 17 tuổi đỗ Cử nhân, 18 tuổi đỗ Tiến sĩ, được bổ làm quan trấn nhậm ở nhiều địa phương, riêng với Huế, ông từng gắn bó qua các chức vụ Tư nghiệp Quốc Tử Giám, Phủ doãn Thừa Thiên (2 lần), Tham tri Bộ Hình. Chán cảnh làm quan của một chính quyền bù nhìn, ông xin nghỉ hưu sớm, về quê làm lương y chữa bệnh cho người dân. Cách mạng Tháng 8 thành công, ông và gia đình hăng hái tham gia nhiều tổ chức của chính quyền địa phương. Nhưng rồi cuộc Cải cách ruộng đất nổ ra, ngay trong đợt Phát động quần chúng giảm tô năm 1954, ông đã bị đưa ra đấu tố, bị kết án 20 năm tù, rồi mất chỉ mấy ngày sau khi bị đưa vào trại giam. 60 năm đã trôi qua, cái bản án oan nghiệt ấy vẫn chưa được gỡ, dù đã có không ít bài viết ca ngợi tài năng và phẩm cách của vị Hoàng giáp tài hoa, nhân hậu vùng đất Hương Sơn (…) chúng tôi xin dành trọn chuyên mục Đất nước – Nhân vật kỳ này để tưởng niệm 60 năm ngày mất của một ngôi “Sao Khuê” đất Ngàn Hống: Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm. Điều đặc biệt, chuyên đề gồm các bài viết của những người con của cụ Nguyễn Khắc Niêm – cũng là những trí thức tên tuổi của nước nhà (Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, nhà nghiên cứu Văn học va Triết học Nguyễn Khắc Dương, giáo sư Nguyễn Khắc Phi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê – PT chú) – kể về thân phụ mình. Qua những mẩu hồi ức, những nỗi niềm trăn trở khắc khoải, những nỗ lực để noi theo đạo nhà của hậu duệ cụ Nguyễn Khắc Niêm, người đọc không chỉ hiểu thêm về chân dung của một nhà Nho đáng kính mà còn có thể nghiệm ra những lẽ được – mất của phận người trong cuộc đời dâu bể.”

Bài này trích từ trang 100-111 số tạp chí trên.

—o0o—

Tôi đã từng viết không ít bài mang tính chất hồi ký ghi lại những sự việc , những kỷ niệm không thể nào quên song vẫn luôn thầm nhủ rằng, chừng nào chưa viết được về chuyện ba lần lên Trại Đưng (1) thì tôi vẫn còn mang một món nợ lớn với mọi người, đặc biệt đối với thân phụ tôi, người đã từ giã cõi đời ở Trại Đưng, một nơi hoang vu hẻo lánh dưới chân Trường Sơn, ở một thời điểm lịch sử đặc biệt, vào khoảnh khắc xung quanh tuyệt không có một người thân để ít nhất cũng có thể thốt một đôi lời trăng trối và để được thắp một nén nhang tưởng niệm! Nghe tôi kể lại vài chi tiếtBon anh em Nguyen Khac Phe của những chuyến đi ấy, không ít bà con và bạn bè đã giục tôi viết hồi ký song tôi vẫn chần chừ vì thấy hình như điều kiện vẫn chưa thật chín muồi. Năm Giáp Ngọ là thời điểm hội đủ mọi yếu tố buộc tôi phải vượt qua thái độ quá thận trọng ấy: thân phụ tôi đã ra đi đúng 60 năm (1954-2014), cũng là lúc đâu đó dấy lên những thông tin nhiễu về những ngày cuối đời của Người.

Trong số anh chị em trong gia đình, tôi là người có điều kiện gần gũi thân phụ tôi hơn trong những năm cuối đời của cụ và là người duy nhất đi ba lần lên Trại Đưng: lần thứ nhất, hè 1954, cùng với em trai – Nguyễn Khắc Phê bấy giờ mới 15 tuổi, chị Chuyết (chị dâu) và Cúc (em gái con chú ruột) đưa thân phụ tôi lên trại giam – Trại Đưng; lần thứ hai, hè 1957, tôi và chị Chuyết lên thay tiểu (cải cát) cho cụ; lần thứ ba, cùng anh Viện đưa di hài cụ ra Hà Nội. Lần thứ ba, cùng đi có Nguyễn Thế Việt, sinh viên Khoa Văn Trường Đại học Sư phạm Vinh vừa được giữ lại làm cán bộ giảng dạy, quê gần Trại Đưng và chú Vịnh, lái xe của NXB Ngoại văn (nay là NXB Thế giới).

*

*     *

Tôi, anh Phan Huy Lê, anh Phạm Hoàng Gia… là thuộc lớp đầu tiên của Trường cấp III Phan Đình Phùng, một trong những trường THPT nổi tiếng nhất của cả nước lúc bấy giờ. Hầu hết bạn bè trong lớp tôi đều học giỏi. Riêng tôi, còn vừa đoạt giải nhất trong đợt thi học sinh giỏi toán của toàn Liên khu IV. Không chỉ thế, còn được vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc rất sớBut tich trang 81m, được bầu vào Ban chấp hành hiệu đoàn, được mẹ mua cho xe đạp, đàn ghi-ta… Không phải là “cuộc đời vẫn đẹp sao” mà sự thật là đẹp, không chỉ đẹp mà còn đi lên phơi phới trong không khí “toàn thể nhân dân hiện đương tích cực chuẩn bị để bước qua tổng phản công, ai nấy cũng một lòng tin tưởng rằng sự thắng lợi hoàn toàn đã sắp tới” (Thư của thân phụ tôi đề ngày 1/6 năm 1950 gởi cho anh Nguyễn Khắc Viện bấy giờ đang ở Pháp)

(…) Theo nhà văn – anh hùng lao động Sơn Tùng trong hồi ký Còn in trong cuốn Nguyễn Ái Quốc qua hồi ức của bà mẹ Nga do NXB Thanh Niên in năm 2008, thì Hồ Chủ tịch đã 2 lần gởi thư mời thân phụ tôi ra Việt Bắc, lần đầu do ông Trần Đăng Ninh chuyển vào đầu năm 1948, lần thứ hai vào đầu năm 1951 (mời ra dự Đại hội Toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt) do Đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ Phạm Khắc Hòe đích thân đến Hương Sơn trao tận tay. Quả thật, do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc quen biết nhau từ thuở thiếu thời nhờ chuyến đi của cụ Phó bảng Sắc (là thân phụ Hồ Chủ tịch – PT chú) sang Hương Sơn thăm cụ Cử Hà Học Văn là thầy dạy của thân phụ tôi, thân phụ tôi đã có một tình cảm đặc biệt đối với Hồ Chủ tịch. Điều này đã biểu hiện một cách rõ ràng, nhất quán trong những lời nói, những bài viết đã được công bố. Vậy tại sao cả hai lần thân phụ tôi lại không ra Việt Bắc? Lần đầu thì cụ đã nói rõ, chủ yếu là do mặc cảm: quan lại cao cấp của chế độ cũ mà được giao nhiều nhiệm vụ như thế là quá ưu ái rồi, ra Trung ương sợ chẳng làm được gì hơn lại làm phiền chính phủ. Chính thân phụ tôi đã thều thào phân trần lại với tôi như vậy trên con đường tôi đưa cụ lên Trại Đưng. Còn lần thứ hai? Có thể cụ vẫn giữ nguyên ý nghĩ đó, có thể còn do bấy giờ sức khỏe của cụ đã giảm sút rõ rệt, cũng có thể do cụ chưa thể tiên lượng được những gì có thể xảy ra sau đó chỉ vài năm. Khi tiến hành thực hiện các chính sách thuế và chính sách giảm tô, với một cái nhìn sắc sảo tinh nhạy, anh Nguyễn Cảnh Đính, con dì ruột tôi, giáo viên Trường cấp II Hương Sơn ở trong nhà, hình như mấy lần có nhắc nhở, nói đúng hơn là cảnh báo mấy điều gì đó nhưng thân phụ tôi đều tỏ ý không tán thành, ý nghĩ chính của cụ mà tôi đọc được là: có cụ Hồ ở trên, người ta không thể làm như thế và nếu có ai đó, nơi nào đó làm sai thì trước sau thế nào cũng sẽ được sửa chữa. Nếu tình cảm không trong sáng, đôn hậu chân thực như thế thì ngày Tết Trung thu năm 1953, thời điểm “đêm trước” những cuộc phát động quần chúng – cải cách ruộng đất (PĐQC-CCRĐ), phụ thân tôi không thể viết được những vần thơ trong trẻo hồn nhiên như một khúc đồng dao, ở đó chỉ trong 10 dòng thơ, cụ đã 5 lần nhắc tới “Bác” và đến hai câu kết thúc liền sau đó, lại nhắc tới Bác lần nữa: “Tết đến năm sau, Bác về Thủ đô”.

*

*   *

Một ngày đầu thu năm 1954, sau khi Tòa kết án phụ thân tôi 20 năm tù, 4 chị em tôi có nhiệm vụ đưa cụ lên Trại Đưng với sự áp giải của một cán bộ công an xã tên là Trần Minh. Bố tôi đã yếu từ lâu, qua những ngày bị giam giữ và đấu tố, lại càng chóng suy sụp. Bốn chị em tôi thay nhau “gánh” cụ, Phê và Cúc đóng vai chủ lực, tôi và chị Chuyết chỉ thỉnh thoảng thay một lúc cho hai em mà thôi. Với tôi, đường lên Chu Lệ đã quen thuộc nhờ chuyến đi “tìm việc” chưa đầy một năm trước đó. Tuy vậy, từ Chu Lệ – huyện lỵ Hương Khê ngược lên, người đi lại dần thưa vắng, cảnh vật, núi rừng hai bên đường càng heo hút, thâm u. Sau khi ông Minh “bàn giao” phụ thân thôi cho Ban quản lý trại là chúng tôi phải về ngay, vả lại, thời gian đã qua quá lâu, chúng tôi không thể kể mọi chi tiết diễn ra dọc đường cũng như khoảnh khắc thân phụ tôi, mắt rớm lệ, cố quay lại nhìn bốn chị em lần cuối trước khi nhân viên trại khiêng cụ vào phía trong. Cho đến bây giờ, gia đình chúng tôi cũng chưa hề nhận được thông báo chính thức của cơ quan hữu trách cho biết cụ qua đời vào giờ nào, ngày nào. Qua lời kể của một số người còn sống trở về thì cụ mất vào ngày 13 tháng 8 âm lịch [tức ngày 9/9/1954. BBT], và lúc mai táng có anh Tống Trần Bình là con chị ruột của cụ, cũng là một tù nhân của Trại, tham gia.

(…) Nói vậy, không phải là chuyến đi lên Trại Đưng lần đầu tiên không để lại trong tôi những ấn tượng, những kỷ niệm sâu đậm.

Điều đầu tiên làm cho tôi mỗi lần nghĩ đến là thấy day dứt, băn khoăn, xúc động, đó là thái độ của thân phụ tôi biểu hiện trong suốt cả cuộc hành trình. Sức đã quá yếu, hơi thở hổn hển, giọng nói thều thào nhưng cụ vẫn như muốn tranh thủ từng giây để tâm sự với con cháu, đặc biệt là với chị Chuyết và tôi. Điều rất lạ là mặc dầu đã bị ngược đãi trong suốt thời gian trước đó nhưng tuyệt không có khoảnh khắc nào cụ tỏ ra oán hận, mà thường lại tỉ tê về những khiếm khuyết của mình theo tinh thần vừa thanh minh vừa tự phê phán theo phương châm “Tiên trách kỷ hậu trách nhân” (Trước hãy tự trách mình, sau mới trách người – PT chú). Cụ rất xót xa vì thấy mình dường như có trách nhiệm trong việc làm cho con cháu thêm khổ sở. Chúng ta đều nhớ câu thơ mãi vẫn còn làm xúc động lòng người trong bài thơ Thăm động Từ Thức : “Tiếu ngã đương đồ quy khứ vãn” (Ta cười ta làm quan lại bỏ về nhưng đã bỏ về muộn). Cụ đã hơn một lần giải thích vì sao lại như ậy, mặc dầu xin về hưu trước tuổi, ở tuổi 53, với bổng lộc đương hưởng và chắc còn được hưởng nhiều hơn thật sự không phải là “muộn” mà là “sớm”, không chỉ là “sớm” mà còn là “quá sớm”, cụ không ngờ rằng chính việc làm mà cụ “tự phê” là “muộn nằm” ấy, hơn 70 năm về sau, đã được nhiều người biểu dương như một tấm gương cho “văn hóa từ chức”! Cuối đời cụ vẫn trăn trở, sợ người đời còn chưa hiểu thấu tâm sự cụ nên vẫn như còn muốn tiếp tục thanh minh! Câu chuyện năm 1930 hình như vẫn là điều nhức nhối nhất của cụ ở những giây phút cuối đời. Qua những lời yếu ớt đứt đoạn, cụ không nói rõ là mình oan nhưng cũng cố cho chúng tôi rõ thêm hoàn cảnh éo le đương thời, chính sách thâm hiểm của thực dân Pháp, tuy nhiên, thông điệp quan trọng nhất mà cụ muốn truyền lại là cụ đã không làm gì quá đáng, không mắc bẫy tụi thực dân, biết sớm từ chức “quan nhà” để tránh cái tội “trị dân nhà”. Có lúc, tôi đã phải ngắt lời cụ: “Xin Thầy đừng nói nữa mà mệt. Mọi người đã hiểu rồi, chúng con cũng hiểu rồi. Nếu không như vậy thì làm sao hồi đầu cách mạng Tòa án Nghệ An miễn nghị cho Thầy được”.

(…) Điều thứ hai làm cho tôi ngạc nhiên không kém là thái độ, cách hành xử của ông cán bộ công an Trần Minh. Tôi chưa hề quen biết ông bao giờ mặc dầu nhà ông cHoang giap 78 (revised)hỉ cách nhà tôi vài trăm mét và cách nhà của thân sinh chị Chuyết chỉ vài chục mét! Người ông cao và gầy, già trước tuổi, nét mặt đôn hậu nhưng có phần khắc khổ, được trang bị một khẩu súng trường không cắm lưỡi lê để làm nhiệm vụ áp giải. Vì chưa hề quen nhau và “thân phận” đang quá khác nhau nên lúc đầu tôi hơi ngại giao tiếp. Tuy nhiên, qua quan sát, tôi phát hiện được một điều thú vị: thái độ của ông đối với chúng tôi và nhất là với thân phụ tôi, lúc trước mặt không có người nào khác lạ và khi ở chỗ đông người là không giống nhau. Ở chỗ đông người, tuy ông cố giữ vẻ lạnh lùng song cũng tuyệt không có một tý biểu hiện hách dịch, dữ tợn. Còn khi chỉ có chúng tôi, qua một số lần trao đổi ban đầu, ông dần thể hiện rõ thiện cảm, thậm chí có lúc còn nhắc nhở chúng tôi phải chăm sóc cụ thật chu đáo. Có câu chuyện như thế này, từng được lan truyền ở quê tôi: trong chuyến đi lên Trại Đưng năm ấy, có lần khi cả đoàn chúng tôi đang nghỉ tại một quán hàng vắng người, ông Minh đã rót nước rồi dùng cả hai bàn tay nâng chén lên mời thân phụ tôi uống! Nghe nói, cảnh “ngược đời” và hành động “mất lập trường” ấy đã bất ngờ lọt vào mắt một thanh niên người Sơn Ninh vốn rất hâm mộ thân phụ tôi là Phan Khánh, sau này là cán bộ ngành thủy lợi, hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông Minh là một cán bộ công an, không có quan hệ họ hàng, ân nghĩa gì với gia đình tôi nên tuyệt không thể xem đây là một việc làm mù quáng mà là một hành vi, một cách ứng xử khá dũng cảm, có cân nhắc chọn lọc trong một tình huống mang đầy ý nghĩa. Tôi thầm nghĩ: ở đây không chỉ có thái độ trân trọng, tình thương người rất đáng khẳng định mà điều quan trọng hơn, thái độ ấy, tình thương ấy còn phản ánh một cách gián tiếp sự đánh giá công minh của nhân dân quê tôi đối với cụ. Và thái độ đúng mực của ông đã khiến cho thân phụ tôi và cả bốn chị em tôi suốt dọc đường tuyệt không bị ai dè bỉu. Điều quan trọng hơn nữa là, khi đến xin nghỉ tạm tại nhà ông Gia, một nông dân ở ngay cạnh văn phòng trại giam, thân phụ tôi và cả bốn chị em tôi đều được đối xử rất tử tế. Và mối quan hệ tình cảm mới nẩy sinh này đã đóng một vai trò quyết định cho thành công của hai chuyến lên Trại Đưng lần sau.

Trần Minh là một con người có thể làm nguyên mẫu cho một truyện ngắn cực hay. Nhà anh nghèo lắm nên phải xây dựng gia đình rất muộn. Suốt ngày dựa cột đan lát, nghe nói chiếc cột anh dựa lưng lõm vào một mảng lớn. Thế nhưng anh lại là một con người rất ham mê thơ ca truyền thống, những tác phẩm như Chinh phụ ngâm anh có thể đọc thuộc lòng.

Khi anh Nguyễn Khắc Viện được trao giải thưởng lớn của Viện Hàn lâm Pháp, anh đã trích một số tiền để xây dựng trạm xá xã. Anh Trần Học, Bí thư Đảng ủy xã bấy giờ (cùng học với anh Hà Học Hùng, Chủ tịch xã) ra gặp anh Viện để tiếp nhận số tiền đó chính là con trưởng của ông Trần Minh.

*

*      *

Đến mùa hè năm 1957, mẹ tôi và các em gái tôi đã sinh sống tại Vinh được hơn một năm, tình hình gia đình khá ổn định, cả gia đình đã được đăng ký hộ khẩu chính thức tại thành phố, mẹ tôi đã có quyết định thay đổi thành phần… Tạt qua Vinh thăm mẹ và các em, tôi về quê ngay để bàn với chị Chuyết việc lên Hương Khê cải cát cho thân phụ. (…) Chỉ đi mấy cây số nữa là đến nhà ông Gia năm xưa. Ông ấy bây giờ đã biết rõ thân phụ tôi là người như thế nào nên đón tiếp hai chị em tôi không chỉ nhiệt tình mà ít nhiều còn với thái độ kính nể. Không cần trình bày, nhìn thấy chiếc tiểu, ông cũng đã biết mục đích chuyến đi của hai chị em. Ông cất lời nói trước: “Đã có vài gia đình lên làm chuyện này. Công việc đều thuận lợi vì mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn. Chúng tôi rất kính trọng cụ Hoàng. Có gì cần, bà và cậu cứ bảo”. Việc có thể triển khai ngay nhưng theo tục lệ, chuyện này phải làm lúc sáng tinh mơ nên hai chị em phải nghỉ tối tại nhà ông. Mờ sáng hôm sau, tôi và chị Chuyết gánh tiểu, mang hương hoa, ông Gia mang các dụng cụ cần thiết ra nghĩa trang ở bãi Bưởi Đào cách đấy không xa. Không được biết tình hình nghĩa trang năm xưa nên cũng khó so sánh, song trong lòng cũng thấy yên tâm vì ngoài vài nấm mộ đất còn mới do vừa cải cát, tất cả còn lại cỏ đều phủ xanh và quan trọng nhất, các mộ chí bằng gỗ lim còn nguyên vẹn, tên người đã khuất còn rõ ràng, nên chỉ trong vài phút đã có thể tìm ra mộ thân phụ tôi. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, chúng tôi khẩn trương tiến hành công việc. Thú thực là tất cả đều nhờ ông Gia, chúng tôi chỉ thỉnh thoảng phụ trợ vài việc nhỏ. Rất mừng là di hài thân phụ vẫn còn gần như nguyên vẹn. (…) Chỉ biết, sau vài tích tắc trao đổi, hai chị em đều có chung một ý kiến: Nhất định sẽ có ngày đưa di hài cụ về, song đó là lúc nào? Bây giờ mọi thứ ở đây đều rõ ràng, liệu về sau, có thể là rất lâu nữa, tình trạng có được như thế này nữa không?… Đã thống nhất ý kiến như thế thì biện pháp cũng dễ thống nhất đề xuất: Thay nắp thiên bằng sành sẵn có bằng một nắp thiên tự tạo bằng xi măng trộn sỏi cát trên đó để tên thân phụ tôi cùng năm sinh năm mất. Rất vui sướng là đề xuất ấy cũng được ông Gia hoàn toàn tán thành và chính ông cũng là người đã giúp chị em tôi làm điều đó trong khoảng 2 tiếng đồng hồ. Tôi còn nhớ lúc đó phải nhờ người ở lại bảo vệ di hài đã xếp vào tiểu, còn chúng tôi đều kéo về nhà ông Gia làm nắp tiểu mới. Không phải nắp tiểu đúc xong là dùng ngay được mà còn phải chờ cho khô. Thế là chúng tôi lại phải nghỉ tối ở nhà ông Gia một lần nữa. Hôm sau, trước lúc ra về, tôi đã vẽ một bản đồ chi tiết về nghĩa trang bãi Bưởi Đào để sau này tiện tìm kiếm…

*

*   *

Sau khi về nước, anh Viện đã một vài lần để xuất với tôi và Phê việc đưa di hài thân phụ tôi về song qua nhiều năm, điều đó vẫn chưa thể làm được vì lệ thuộc vào nhiều điều kiện.

Năm 1976 là thời điểm thuận lợi và cũng là thời điểm không thể trì hoãn: đất nước đã thống nhất, hòa bình, đi lại thuận tiện; sau hơn 17 năm công tác tại Đại học Sư phạm vinh, 1976 là năm nhà trường đã hứa dứt khoát cho tôi chuyển ra Hà Nội (Việc đưa di hài ra nhất định tôi phải tham gia và tôi còn ở Đại học Sư phạm Vinh thì việc làm đó sẽ thuận lợi hơn vì có vài sinh viên quê gần Trại Đưng và họ đã hứa sẽ giúp tôi trong việc này).

Thế là năm 1976, cũng vào một ngày hè, chúng tôi lại lên Trại Đưng. Kế hoạch cụ thể, tôi và anh Viện đã trao đổi từ trước. Xuất phát sáng sớm từ Hà Nội, chiều tối anh Viện tới Vinh và nghỉ tại Nhà khách của tỉnh. Sáng hôm sau, anh qua Đại học Sư phạm Vinh đón tôi và Nguyễn Thế Việt rồi đi ngay lên Hương Khê. Trưa, nghỉ và ăn cơm tại nhà Việt, vì nghĩ rằng với dụng cụ đã chuẩn bị (chú Vịnh chuẩn bị một số, gia đình Việt bổ sung thêm nên có thể nói là rất đầy đủ và đồng bộ), với 2 bản đồ trong tay (một bản tôi vẽ năm 1957 và một bản Phê vẽ năm 1963), với 2 người khỏe mạnh như chú Vịnh và Việt, thời gian cả một buổi chiều là chắc chắn sẽ làm xong.

(…) Điều làm cho chúng tôi lo nhất là sau gần 20 năm, vật đổi sao dời, hầu hết mộ chí đã biến mất. Lần này là đưa di hài về nên lại càng phải rất thận trọng, đưa về nhầm thì mang tội đủ bề. Vì có phần chủ quan, vả lại tính anh Viện cũng không muốn làm phiền hà người khác nên khi chợt nghĩ tới ông Gia thì mặt trời đã sắp lặn. Tình huống buộc lại phải vào nhờ ông Gia, dù chưa biết tình hình ông bây giờ ra sao vì từ lần gặp trước đến nay đã ngót 19 năm, năm 1963 Phê có về đây và trong bản đồ có ghi vị trí nhà ông nhưng không biết Phê có gặp ông ấy không? Đến nhà thì biết ông sang giúp người bà con ở xã bên làm nhà, có hôm về có hôm không. Hơi buồn nhưng lại rất mừng vì biết thế là ông còn khỏe. Tôi gởi lại một bức thư nhờ gia đình chuyển. (…) Tối hôm đó chúng tôi lại quay về nhà Việt với tâm trạng lo âu thấp thỏm, buồn vui lẫn lộn. Sáng hôm sau, vì sốt ruột chúng tôi khởi hành rất sớm, đến gần vùng Trại Đưng, nhìn từ xa, tôi đã thấy ông Gia, bấy giờ đáng phải gọi là cụ Gia, đang lúi húi tìm kiếm trên bãi Bưởi Đào. Tóc đã điểm bạc nhưng nét mặt vẫn rắn rỏi, tay chân vẫn săn chắc. Chú Vịnh bấm một tiếng còi, ông vụt quay lại, tay gạt cỏ dại, vội chạy ra niềm nở đón chúng tôi. Cụ Gia tìm trên thực địa rồi lại giở 2 bản đồ đối chiếu, thế mà tìm mãi cho đến gần trưa cũng không được. Tự nhiên cụ đi nhanh sang một hướng khác, trầm tư một lúc rồi chỉ vào một ngôi mộ trước mặt và nói: “Tôi đoán là ngôi này, ta cứ thử đào, nếu không trúng thì đắp lại tử tế cho người ta”. Thế là mọi người lại bắt tay đào bới. Trong đời, quả thật chưa bao giờ tâm trạng tôi lại bồi hồi, thấp thỏm đến như thế. Cuối cùng, tên của bố tôi trên nắp ván thiên lộ dần. Đúng là “Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”. Chúng tôi chỉ là những đứa con có hiếu kiên trì việc thực hiện bổn phận. Cụ Gia mới là “hảo nhân tâm” đầu tiên đáng được trời phù hộ. Chẳng biết đến bây giờ cụ còn sống hay không. Nếu còn, cũng phải khoảng trên chín mươi rồi!

Về Vinh, anh Viện lại nghỉ ở Nhà khách tỉnh. Anh bảo tôi cùng đi với anh lên đó để bàn tiếp công việc. Lúc ở Hương Khê, chính anh là người giành lấy việc xếp đặt di hài vào một túi ni-lông đẹp đã chuẩn bị sẵn. Đoạn anh lại cho túi ấy vào một cái túi du lịch mới. Anh mỉm cười nói với tôi: “Thầy đã 3 lần làm quan đầu tỉnh nên cũng đủ tiêu chuẩn nghỉ ở Nhà khách của tỉnh, Phi nhỉ!”. Nói xong anh trân trọng nâng lên và đặt cái túi du lịch vào ngăn trên cùng của chiếc tủ gương. Có một chi tiết rất quan trọng cần phải nói thêm: không thể mang về trọn vẹn cái nắp thiên bê tông kỳ diệu, anh Viện chỉ chọn lấy cái góc còn hằn rõ chữ NIÊM. Mảnh bê tông này, anh đặt trên bàn thờ ở nhà số 8 đường Nguyễn Chế Nghĩa, mãi đến đầu năm 2013, tức 37 năm sau, khi chị Nhất sắp qua đời, tôi mới bàn với cháu Bình đưa về nhà tôi.

Chỉ khoảng một tuần sau, tôi nhận được thư anh hẹn ra Hà Nội dự lễ hỏa thiêu di hài bố tôi. Anh đã nêu ý định này với tôi hôm ở Nhà khách của tỉnh nhưng không ngờ anh ấy làm thật vChu niem trang 110à quyết định nhanh thế. Lúc ấy mẹ tôi còn sống. Chắc anh ấy có hỏi mẹ tôi (vì anh rất kính trọng mẹ tôi) và chắc mẹ tôi cũng đồng ý. (Vì mẹ tôi là một phụ nữ cấp tiến ngay từ khi là một phu nhân của quan nhất phẩm triều đình!). Nơi hỏa thiêu chính là căn phòng làm việc nhỏ bé của anh Viện ở số 8 đường Nguyễn Chế Nghĩa, nhiên liệu là xăng, người thực hiện không ai khác chính là con trai cả Nguyễn Khắc Viện! Anh còn chuẩn bị một hộp kim loại đẹp để đựng tro di hài, một hộp sơn mài để đựng hộp kim loại ấy, và trên nắp hộp sơn mài, anh đã tự viết mấy chữ chân phương rất đẹp màu vàng: “Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm. 1889-1954”.

Thế là sau lần lên Trại Đưng thứ ba, việc đưa di hài thân phụ tôi đã cơ bản hoàn thành. Nói là cơ bản vì hộp sơn mài đựng tro di hài thân phụ không thể đặt mãi trên bàn làm việc của người con cả. Có một con số thật đẹp và lý thú đến kỳ lạ: Nếu từ ngày tôi và chị Chuyết đi Hương Khê cải cát cho cụ đến khi tôi và anh Viện lên đưa di hài về Hà Nội là đúng 19 năm (1957-1976), thì từ ngày đưa di hài cụ về Hà Nội đến khi cả gia đình đưa di hài cụ cùng di hài kế thất (tức thân mẫu của tôi) về quê cũng 19 năm (1976-1995)!

Trong lễ đón di hài bố mẹ tôi tại nhà thờ Đại tôn họ Nguyễn Khắc tại Sơn Hòa, tôi lại được anh chị em giao cho việc thảo lời điếu và đọc trước sự chứng kiến của lãnh đạo địa phương và tất cả bà con, họ hàng, làng xóm.

(…) Trong lúc xây dựng hồ sơ để xét công nhận nhà thờ Đại tôn họ Nguyễn Khắc chi phái Hương An là Di tích Lịch sử – Văn hóa, ngoài cơ sở, công trình chủ yếu là nhà thờ Đại tôn, còn có 8 công trình phụ trợ, trong đó, phần mộ của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm là công trình sô 7 và Nhà Tưởng niệm Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm là công trình số 8!

*

*   *

(…) Thầy đã làm những gì, không làm những gì, cư xử với họ hàng làng xóm ra sao, trước sau mọi người đều biết, đều hiểu, đều thông cảm. Lịch sử cuối cùng bao giờ cũng công minh. Nhân dân, nhà nước, họ hàng làng xã, các thế hệ mai sau đã và sẽ đánh giá Thầy một cách khách quan và đặt vị trí của Thầy đúng chỗ!

Còn những chuyến đi lên Trại Đưng của con chỉ góp một phần rất nhỏ vào việc lưu giữ di sản quý báu mà Thầy đã để lại mà thôi.

Hà Nội, ngày Rằm tháng 7 năm Giáp Ngọ (10/8/2014)

N.K.P.

————————

(*) Trại Đưng: thuộc xã Hương Xuân, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, là tên nhân dân địa phương dùng để gọi một trại giam sử dụng một phần diện tích của đồn điền do ông Hoàng Bích, một địa chủ yêu nước hiến cho nhà nước ngay những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, vì vậy cũng còn được gọi là Trại Hoàng Bích. Riêng với tôi, Hoàng Bích là một người quen thuộc nếu không muốn nói là thân thiết. Cụ xuất thuân trong một gia đình có nhiều người nổi tiếng ở làng Đông Thái, huyện Đức Thọ. Cụ là thân sinh anh Hoàng Lân, bạn thân của tôi lúc học cấp III và đại học, của PGS Hoàng Dung, từng đảm nhiệm cương vị Bí thư Liên chi ủy Khoa Văn – Đại học Sư phạm Hà Nội. Cụ là anh ruột nhà văn Hoàng Ngọc Phách, tác giả cuốn Tố Tâm nổi tiếng. Cụ là bác ruột nhà giáo – nhà báo lão thành Hoàng Nguyên Cát, thầy dạy của tôi ở Trường Tiểu học Thịnh Xá, người đầu tiên đã truyền cho tôi niềm say mê ca hát từ thuở ấu thơ. Cụ là bác ruột của hai em Khanh và Mai, ở số nhà 15 phố Hàng Bè, nơi mà 59 năm về trước, tôi đã đến kèm 2 em môn toán. Khi học cấp III, chính cụ là người tổ chức lớp nhạc mà tôi và một số bạn đã học theo. Hẳn cụ Bích cũng không ngờ một phần đất hiến điền đã trở thành nơi yên nghỉ tạm thời hoặc vĩnh viễn của những thân sĩ nổi tiếng của quê nhà như thân phụ tôi, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Đản, cậu ruột của anh Nguyễn Khắc Viện, Tiến sĩ Nguyễn Mai, hậu duệ của thi hào Nguyễn Du!

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: