Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 10, 2015

Mấy điều “giám định và bổ sung tư liệu”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:55 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 3 tháng 4 năm 2015.

Nhân đọc bài viết Chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh của Nguyễn Văn Hoàn (Hồn Việt 17 – Tháng 11/2008)

MẤY ĐIỀU “GIÁM ĐỊNH VÀ BỔ SUNG TƯ LIỆU”

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này, Phạm Tôi tôi viết và gửi đến Tổng biên tập tạp chí Hồn Việt ngày 30/11/2008, tức là sau khi tạp chí đã tuyên bố kết thúc cuộc thảo luận, cho nên không được đăng. Sau đó, chúng tôi còn gửi cho Tạp chí Nghiên cứu Văn học thuộc Viện Văn học Việt Nam. Đây là nơi Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn từng công tác nhiều năm và cũng từng là phó viện trưởng một thời gian không ngắn. Chúng tôi nhận được điện thoại của một cán bộ lãnh đạo tạp chí báo là đã nhận được và đã đọc bài của chúng tôi. Khi chúng tôi cho biết ý định gửi bài chỉ là để có thông tin hai chiều, không dám nghĩ là bài sẽ dễ dàng được đăng, thì vị cán bộ đó tỏ ý hài long vì chúng tôi đã thông cảm với “khó khăn tế nhị” của tạp chí trong trường hợp này.

Hôm nay, để nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật và nói rõ sự thật như tinh thần các nghị quyết của các Đại hội Đảng, nhất là từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ X, chúng tôi tin chắc chắn là đại hội XII của Đảng sẽ càng đi sâu hơn vào các vấn đề còn “treo” hàng mấy chục năm nay cũng theo tinh thần đó cho nên đăng bài này.

—o0o—

Cuộc “Trao đổi – Ý kiến về trường hợp Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh” mở đầu trên Hồn Việt số 14, đến số 17 thì kết thúc, vẻn vẹn có bốn số báo. Trong Lời kết cho một cuộc thảo luận, Hồn Việt viết “với bài viết của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn – Nguyên phó viện trưởng Viện Văn học, chúng tôi tạm kết thúc (…). Cuộc trao đổi đã diễn ra một cách dân chủ, thiện chí với những ý kiến sâu sắc. Vấn đề, theo chúng tôi như thế là đã rõ” (Hồn Việt 17 – Tháng 11/2008). Nhưng, có thật là đã rõ không?

Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn viết trong bài trên “Tháng 7 năm 2008 tỉnh Hà Tĩnh tổ chức kỷ niệm lần thứ 130 ngày sinh nhà Chí Sĩ yêu nước Ngô Đức Kế. Tôi có bản tham luận Nhà Chí Sĩ Ngô Đức Kế, từ tù nhân Côn Đảo đến một nhà báo (…). Một bạn đồng nghiệp, giáo sư Khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội, sau khi đọc bản tham luận của tôi đã hỏi:

“- Nếu như năm 1945, chiếc xe chở Phạm Quỳnh ra Hà Nội được trót lọt, rồi ông sẽ cộng tác với Chính phủ Cụ Hồ như cụ đồng liêu Bùi Bằng Đoàn thì đến nay, chúng ta nói về ông có khác không?

“Thảo luận lịch sử trên cơ sở chữ nếu thì thật là thiếu căn cứ, đối với lịch sử thì tốt hơn là hãy tìm hiểu xem tại sao một sự kiện đã xảy ra như thế! (Chúng tôi nhấn mạnh-PT).”

Có một người đã cố “tìm hiểu xem tại sao một sự kiện đã xảy ra như thế!”, đồng thời cũng đưa ra một chữnếu mà giáo sư đã cho là thiếu căn cứ. Đó là Trần Thanh Đạm. Trong bài Mấy ý kiến về nhà chính trị và nhà văn hóa Phạm Quỳnh (1892-1945) đăng trong Hồn Việt 15 (Tháng 9/2008), ông viết “có lẽ điều đáng ghi nhận nhất của ông là tuy làm quan cao chức trọng như vậy cho chế độ thực dân phong kiến, song không nghe nói ông có phạm tội gì làm hại những người yêu nước và cách mạng như những tên tay sai thô bỉ và độc ác khác. (…) ông vẫn còn giữ được ít nhiều phong độ trí thức, nhiều người chê trách ông song cũng nhiều người kính nể ông. (…) Cuối đời ông diễn ra trong bi kịch và kết thúc trong thảm kịch. (…) Lịch sử ở đây công minh song cũng hơi tàn nhẫn.

“Điều đáng tiếc là cái chết của Phạm Quỳnh. Quả là ông đã gặp một tai nạn. Ông là nạn nhân đáng tiếc của tính tự phát lịch sử, kể cả lịch sử cách mạng. (…) ngoài ý muốn của các nhà cách mạng chân chính. Tiêu biểu là thái độ và tình cảm của Bác Hồ đối với ông được người đương thời làm chứng và thuật lại. Có nhiều chứng cứ và chứng nhân, song tôi chú ý lời kể của nhà thơ Huy Cận khi từ Huế trở về gặp Bác, báo cáo với Bác về chuyện Phạm Quỳnh gặp nạn ở Huế: “Bác thở dài nắm tay tôi và nói “Đã lỡ mất rồi!””. Quả đúng là tấm lòng của Bác và cũng là chính sách của Bác. Đồng thời và đồng liêu với Phạm Quỳnh còn có bao nhiêu nhân vật, nhân sĩ của chính quyền Nam triều khác như: Thái Văn Toản, Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Vi Văn Định, Ngô Đình Diệm và bao nhiêu người khác nữa nhất là vị hoàng đế đương thời là Bảo Đại, chưa nói đến các vị như Bùi Kỷ, Phạm Khắc Hoàng, Vũ Đình Hòe, Phan Anh, Hoàng Xuân Hãn trong chính phủ Trần Trọng Kim. Có ai bị cách mạng kết án hay xúc phạm gì đâu, nói chi đến xử tử hình. Rõ ràng là Phạm Quỳnh gặp tai nạn, tai họa rất đáng tiếc.

“Chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng Phạm Quỳnh nếu (chữ này giáo sư Nguyễn Văn Hoàn đã khuyên không nên dùng-PT) không gặp tai nạn không may ấy mà còn sống đến sau cách mạng thì với tài năng, tấm lòng và phẩm chất trí thức cá nhân của ông, với chính sách đoàn kết rộng rãi của Bác Hồ, nếu không tham gia cách mạng và kháng chiến, không tiếp tục đóng góp cho văn hóa học thuật, thì ông ít nhất cũng được sống an toàn, yên ổn như một người Việt Nam bình thường, như bao người khác. Riêng tôi tôi tin tưởng ông có thể như Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Thái Văn Toản, Vi Văn Định. Chứng cớ là gia đình ông các con ông đều đã là những chiến sĩ yêu nước, những hiền tài giúp nước như Phạm Khuê, Phạm Tuyên, các con khác tuy ở nước ngoài song tôi không hề nghe có lời nói hay hành vi chống lại tổ quốc hay cách mạng vẫn một lòng trung với nước, hiếu với dân, dù rất đau đớn vì sự tử nạn của người cha thân yêu, song không hề bị kẻ địch và bọn xấu mua chuộc, lợi dụng, vẫn hy vọng có ngày chiêu tuyết cho cha. (…) Hơn 60 năm nay, ông là một câu hỏi lớn, một mối hồ nghi trong dư luận và nhận thức của bao nhiêu người ở bên này hay bên kia chiến tuyến. (…) cách mạng khó giải thích thanh minh, phản cách mạng muốn khai thác lợi dụng. Nỗi đau của gia đình ngày càng lớn vì sự oan khuất của ông. (…) Không nhập nhoạng biến xấu thành tốt, biến tội thành công, đảo điên chính tà, lẫn lộn phải trái, song đối với những nhân vật lịch sử có những số phận bi kịch như Phan Thanh Giản thế kỷ XIX, Phạm Quỳnh thế kỷ XX, thiết tưởng cần có sự đánh giá lại một lần nữa để thể hiện tấm lòng của lớp người đi sau đối với lớp người đi trước. (…) chúng ta mong mỏi sang thế kỷ XXI tinh thần Đại đoàn kết của Hồ Chí Minh không chỉ bao trùm lên tất cả những người còn sống mà cũng hòa giải được cả những người đã khuất, nhất là những người cùng chịu những đau khổ, hy sinh, tổn thất do tai họa chung của dân tộc mà thủ phạm là các thế lực tham lam độc ác từ bên ngoài gây ra cho chúng ta từ thế kỷ XIX và vẫn chưa buông tha cho chúng ta cho đến thế kỷ XXI”

Đúng là lịch sử đã diễn ra như nó đã diễn ra. Nhưng đó có phải là tất yếu, hợp lý, hợp pháp, hợp lòng dân không thì người đời-người đương thời và người muôn đời sau- đều có thể phán xét, có thể kết luận khác hẳn những gì đã được viết, thậm chí đã được ghi vào lịch sử

Vì sao giáo sư Nguyễn Văn Hoàn cứ cố giữ cái lập luận người dân đã chán nghe hơn 60 năm qua như thế? Có thể vì giáo sư kiên trì quan điểm “A.Q không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bắn. Vì rằng: nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ” (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) như văn hào Lỗ Tấn đã viết trong phần kết thiên kiệt tác A.Q Chính truyện (Lỗ Tấn: Gào Thét, NXB Văn Hóa Viện Văn Học, Hà Nội, 1961, bản dịch của Trương Chính). Và “dưới ánh sáng” của quan điểm ấy, trong bài viết dài nhất cuộc thảo luận này, Chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh, giáo sư cố gắng tìm ra thêm các tội mới gán cho Phạm Quỳnh. Căn cứ vào bài báo ta thấy các tội mới ấy như sau:

  1. “Tội” thứ nhất: “Tóm lại theo Phạm Tôn, Phạm Trọng Nhân, Thanh Lãng, Xuân Ba thì từ sau đảo chính Nhật ngày 19/3/1945, Phạm Quỳnh đã dứt khoát rời bỏ chính trường, an nhiên ngâm bài Quy khứ lai từ, trở lại vui thú bút nghiên! (…) Ngay bản thân Phạm Quỳnh cũng tuyên bố như thế. (…) có một nhà báo lặn lội từ Hà Nội vào Huế (…) để đến biệt thự Hoa Đường ở An Cựu phỏng vấn Phạm Quỳnh. Hỏi: Chúng tôi muốn biết rồi đây cụ có hoạt động về chính trị nữa không, hay trở về với văn học giới? Đáp: Suốt một đời tôi đã phụng sự cho văn học thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời bỏ dở ” (…) Phạm Tôn để chứng minh Phạm Quỳnh là “người nặng lòng với nước”đã dùng lại tư liệu và lập luận (Phạm Tôn không dùng lập luận-PT) của Nguyễn Phúc Bửu Tập (…) để chứng minh “tấm lòng son” của Phạm Quỳnh (…) dẫn ra bản báo cáo mật của Haelewyn, khâm sứ Trung kỳ gửi cho toàn quyền Decoux tố cáo Phạm Quỳnh đã trách cứ Pháp trưng dụng lúa gạo để cung ứng cho Nhật và vẫn kiên trì đòi Pháp trả quyền cai trị Bắc kỳ cho Nam triều nhưng cả hai đều bỏ qua ý kiến này trong bản mật báo “Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á”. Sự thật là cả Nguyễn Phúc Bửu Tập và Phạm Tôn đều trích nguyên văn bản mật báo, không bỏ qua ý kiến này.

Giáo sư còn dẫn việc trong cuốn Phạm Quỳnh Tuyển tập và Di cảo xuất bản ở Paris năm 1992, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Phạm Quỳnh “bài thứ 6, nhan đề Chuyện một đêm một ngày (9-10 tháng 3 năm 1945) cố ý bị bỏ quên” và ý kiến của Nguyễn Văn Trung, Phạm Khắc Hòe để đi đến kết luận là “tóm lại, việc quân Nhật và Phạm Quỳnh âm mưu liên lạc và câu kết với nhau là nguyên do đầu tiên đưa đến việc Phạm Quỳnh bị bắt giữ. Sau đó việc quân Pháp tìm cách trở lại Huế thực hiện âm mưu tái chiếm Đông Dương của chính phủ De Gaulle lại khẳng định sự đúng đắn và cần thiết của việc bắt giữ đó”.

Sự thật có khác với điều khẳng định trên của giáo sư. Tuần báo Quyết Thắng, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, số 11 (ra ngày 9 tháng 12 năm 1945) đăng toàn văn thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương gửi Toà án Quân sự Thuận Hóa, phần nói về tội của Phạm Quỳnh có ghi “Mặc dù chính quyền của giặc Pháp đã bị truất sau ngày đảo chính 9/3/1945 nhiều triệu chứng tỏ rằng Phạm Quỳnh chỉ chờ cơ hội rước bọn thực dân Pháp đến làm cho diệt nước chúng ta”. Ngay từ năm 1945, Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương cũng không nhận định là “quân Nhật và Phạm Quỳnh âm mưu liên lạc câu kết với nhau” như giáo sư khẳng định 63 năm sau khi sự việc xảy ra

Còn việc trong Phạm Quỳnh, Tuyển tập và Di cảo không có bài số 6 thì bà Phạm Thị Hoàn, người giữ bản quyền tập sách đó, năm 1993 về thăm nhà có nói với tôi chỉ vì “bài đó hoàn toàn không có tính văn chương, chỉ như là một đoạn nhật ký ghi lại tỉ mỉ sự việc mà thôi”. Chúng tôi có trong tay bản photocopy toàn bộ tập di cảo đó, viết trong một quyển vở bìa trước có in hình vua Bảo Đại, bìa sau in hình một con rồng ôm chặt lấy quả địa cầu. Bài số 6 nguyên tên là Đêm ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, sau Phạm Quỳnh xóa đi và viết lại lên trên là Chuyện một đêm một ngày (9-10 tháng 3 năm 1945) viết từ trang 18 đến trang 26. Trong bài Phạm Quỳnh kể lại sự việc xảy ra với mình từ khoảng 9 giờ tối hôm mùng 9 ông đang cùng con trai là Phạm Bích nói chuyện tại tư thất Bộ Lại đến 10 giờ đêm ngày mùng 10 “các cụ Cơ mật lại họp ở Bộ Lại để tiếp quan đặc sứ (Yokohama-PT) và thảo tờ Tuyên bố Độc lập”. Bài viết kết thúc bằng câu “đều là những việc quan trọng, thuộc về lịch sử, tôi được may mắn dự vào, đóng một vai chính, sau này sẽ có dịp thuật tường”. Trong bài cũng ghi rõ khi Nhật đảo chính thì nhà vua và hoàng hậu còn ở Quảng Trị đến khuya đêm hôm ấy mới về, cho nên người tiếp phó lãnh sự Ishida và một võ quan nữa là Phạm Quỳnh, Thượng thư Bộ Lại, người giữ chức vụ cao nhất sau nhà vua. Các bài khác trong tập Hoa Dường Tùy Bút – Kiến văn cảm tưởng I có tên như sau, tất cả đều mang tính văn chương, khác hẳn bài số 6: 1, Thế thái nhân tình; 2, Muốn sống… 3; Chỉ buộc chân voi; 4, Văn học, chính trị; 5, Vô duyên; 7, Con người hiểm độc; 8, Anh chàng khoác lác; 9, Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường; 10, Tư tưởng Keyserling; và 11, Cô Kiều với tôi (bài này viết dở dang ở cuối trang 48). Như vậy chứng tỏ không có lý do gì để cho rằng bài đó cố ý bị bỏ quên vì là bằng chứng về việc “Phạm Quỳnh là nhân vật chính mà Nhật tìm đến để liên lạc, đề nghị thương thảo để thuyết phục nhà vua cộng tác với Nhật” như Nguyễn Văn Trung khẳng định và giáo sư Nguyễn Văn Hoàn dẫn lại đã nhấn mạnh thêm. Chính trong Lời kết cho một cuộc thảo luận Hồn Việt cũng chỉ nói “đã có những hành động chính trị đáng ngờbọn Pháp Nhật cũng tìm cách lôi kéo ông (Hồn Việt17, tháng 11/2008) chứ không khẳng định như giáo sư. Sự hiểu lầm có lẽ tại mấy chữ của người viết lời mở đầu phần Di cảo là in lại trọn vẹn. Nhận ra thiếu sót này, ông Phạm Tuân con trai út của Phạm Quỳnh và vợ là Hoàng Hỷ Nguyên, khi cho xuất bản tập Giải oan lập một đàng tràng (cơ sở xuất bản Tâm Nguyện, 2001 tại Hoa Kỳ) đã cho in lại nguyên văn bài này từ trang 433 đến trang 439. Việc “phát hiện ra” thiếu bài này không phải là “công” của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn mà là do một số trí thức Việt Kiều vẫn nhiều năm băn khoăn cố tìm hiểu nguyên nhân cái chết của Phạm Quỳnh mà họ cho là không đáng chết và tìm cách lý giải việc đó, đã phát hiện ra là sau đảo chính những người Nhật đầu tiên tiếp xúc với Nam triều đã đến gặp Phạm Quỳnh. Sự thật như chúng ta đã biết chỉ vì Bảo Đại đi săn khuya hôm đó mới về, nên sáng hôm sau mới gặp người Nhật. Còn Phạm Quỳnh vì thấy đêm hôm đó và ngày hôm sau có quá nhiều sự kiện liên quan đến những vấn đề lịch sử, cho nên ông thấy cần ghi lại rõ ràng, tỉ mỉ, đủ nhân chứng, để sau này có dịp sẽ tìm hiểu rõ ý nghĩa của những sự việc đó. Cho nên bài không có tính văn chương, chỉ ghi lại đúng sự việc, từ giờ giấc, đến những nhân vật mà không có một lời nào bình luận hoặc nói lên cảm nghĩ của mình.

Ngoài ra việc quân đội Pháp nhảy dù xuống Hiền Sỹ sáng 29/8/1945 và mười ngày sau, một đơn vị lính Pháp lại đổ bộ vào cửa biển Thuận An “để liên lạc với quan lại bản xứ lập lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương” cũng không liên quan gì đến Phạm Quỳnh. Vì ngay khi đến bắt ông hôm 23/8/1945, sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến – Huế Phan Hàm đã khám xét cẩn thận khắp nhà không hề thấy có điện đài, vũ khí, ngoại trừ một khẩu súng săn của con trai ông là Phạm Khuê lúc ấy đang đi dự mít tinh ở sân vận động Huế. Điều này đã được thiếu tướng Phan Hàm – nguyên là sinh viên Thanh niên Tiền tuyến năm xưa tường thuật rõ trong tư liệu 10 trang viết ngày 8/11/1993 và ban tuyên huấn Thừa Thiên Huế nhận ngày 14/11/1993 mà chúng tôi hiện có trong tay. Như vậy là đúng như Phạm Tôn, Phạm Trọng Nhân, Thanh Lãng, Xuân Ba và cả Nguyễn Vạn An viết là sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh đã từ quan về ở ẩn dật trong biệt thự Hoa Đường bên sông nhỏ An Cựu, chuẩn bị trở lại với sự nghiệp văn học mà suốt đời ông yêu quý, trước hết là đọc và lựa chọn rồi dịch nghĩa 51 bài thơ Đỗ Phủ, gửi cho người bạn thân thiết ở phương Nam là thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, rồi bắt đầu khởi thảo Hoa Đường Tùy Bút – Kiến Văn Cảm Tưởng I, mới viết đến trang 48, dở dang bài số 11, Cô Kiều với tôi thì được Ủy ban Cách mạng “mời đi họp” để rồi không bao giờ về nữa.

  1. Thật bất ngờ “tội mới” thứ hai của Phạm Quỳnh là “tôi (tức giáo sư Nguyễn Văn Hoàn ngày ấy-PT) hay trò chuyện trao đổi ý kiến với ông (tức Nguyễn Tiến Lãng, con rể Phạm Quỳnh-PT), từ vụ ông bị bắt ở Huế đến tạp chí Nam Phongvà Phạm Quỳnh. Có vài ý kiến ông nói hồi đó, tôi không hiểu rõ lắm nhưng cũng không tiện hỏi thêm, chẳng hạn, theo ông, Phạm Quỳnh là một người rất kín đáo và khó hiểu, ông thú nhận là – không thể hiểu nổi Phạm Quỳnh” (trích bài đã dẫn của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn).
  2. “Tội” thứ 3 mà cũng là tội lớn nhất là “ba tên Việt gian tối nguy hiểmNgô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân đã bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kết án tử hình và bị bắn ngay trong thời kỳ thiết quân luật. Tài sản và vật dụng của ba tên phản quốc ấy đều bị tịch thu và quốc hữu hóa” (Nhật báo Quyết Chiến, cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân cách mạng – Huế, số 88 (ra ngày thứ tư 5/12/1945)) và “Phạm Quỳnh một tay cộng sự rất đắc lực của giặc Pháp trong việc củng cố địa vị của Pháp ở Đông Dương, đã bao phen làm cho quốc dân phải điêu đứng. Phạm Quỳnh đã giúp sức cho quân cướp nước làm mê muội dân chúng Việt Nam. Với cái nghề mãi quốc cầu vinh, Phạm Quỳnh đã từ một tên viết báo nhảy lên một địa vị cao nhất trong hàng quan lại Nam triều. Phạm Quỳnh lại còn dựa vào thế lực Pháp và địa vị của mình bóc lột vơ vét tài sản của quốc dân”(Chúng tôi nhấn mạnh-PT) (Tuần báo Quyết Thắng, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung bộ số 11 (ra ngày 9 tháng 12 năm 1945)). Chắc giáo sư rất muốn nêu những tội này lên nhưng sau nghĩ kĩ lại thì thấy không ổn nên thôi. Hoặc có phần chắc chắn hơn là Hồn Việt thấy chướng quá, đưa ra vô duyên nên cắt bỏ đi. Tiếc là Hồn Việt số 17 ra muộn hơn mọi khi 2 ngày (thường lệ ra ngày 30; tháng 10 lại có 31 ngày mà ngày mùng một mới ra được) chắc là biên tập vội nên đã để sót ở phần chú thích vẫn còn số “(15) Nhật Hoa Khanh, Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông, tạp chí Xưa và Nay, Hà Nội, số 269, 10/2006”. Thành ra có chú thích số (15) nhưng trong bài chỉ có số (12), (13), (14), sau đó thì nhảy luôn đến (16), hoàn toàn không có chú thích số (15). Hơn nữa, từ 2006 khi đăng bài của Nhật Hoa Khanh công bố tư liệu đăng trên hai tờ Quyết Thắng và Quyết Chiến trên thì Xưa và Nay đã phải viết trong lời tòa soạn in bằng chữ to đậm ở trước bài báo là “vẫn còn một điểm nghi vấn. Đó là hai bài báo được viết vào tháng 12/1945, bốn tháng sau khi Phạm Quỳnh đã bị hành quyết, như vậy để nhằm mục đích gì?” (Tạp chí Xưa và Nay số 269, tháng 10/2006).

Thành ra bài của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn dài hơn bốn trang rưỡi, tên bài là Chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh mà trong suốt bài không có một chữ nào viết về cái chết của Phạm Quỳnh. Có chăng chỉ là ở phần mở đầu có mấy dòng “Sau khi gia đình Ngô Đình Diệm tìm được ngôi mộ chôn chung Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Huân và Phạm Quỳnh ở khu rừng Hắc Thú, gần Hiền Sĩ thuộc tỉnh Quảng Trị (1956)” (bài đã dẫn của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn). Lần trước, trong bài Bài báo “mới mà cũ” tôi có ý trách nhà văn Thái Vũ trong suốt ba trang bài báo có đầu đề Về cái chết của ông Phạm Quỳnh (Hồn Việt số 16 tháng 10/2008) mà chỉ viết về cái chết ấy có bảy dòng. Nay thì giáo sư nguyên Viện trưởng Viện Văn học lại còn “cao tay” hơn, không thèm viết lấy một chữ! Giáo sư còn điều gì e ngại chăng…?. Tất cả lập luận của ông về âm mưu liên lạc, câu kết chờ Nhật, Pháp, cứ cho là đứng vững đi nữa thì cũng chỉ đủ đến mức bị coi là “những hành động chính trị đáng ngờ” như Hồn Việt mới viết đây thôi, tức là bị nghi vấn, có thể bị bắt tạm giam, nhưng không đủ để đem đi giết, mà lại giết một cách dã man, chém nứt sọ bằng cuốc xẻng rồi mới bắn ba phát súng vào lúc đêm khuya, bên rừng vắng?!

Thật tình đọc bài viết của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn nặng tính chất “xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm”, chúng tôi không có ý muốn đáp lại, nhưng đọc đến phần cuối thì lại thấy nên nói vài điều vì giáo sư viết “khi nói về người đã chết thì phải hết sức thận trọng, phải hết sức khách quan và trung thực, không được vì một động cơ cá nhân nào mà cố ý nói sai sự thật, dù theo hướng tô hồng hay bôi đen; hơn nữa cần nhớ rằng: trong lĩnh vực lịch sử và khoa học xã hội nói chung, dù có thiện chí cũng rất khó nắm bắt được chân lý chính xác trăm phần trăm. Trên tinh thần đó, tôi thành thật mong nhận được sự giám định và bổ sung tư liệu của đông đảo bạn đọc” (bài đã dẫn của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn).

Tôi cũng xin thành tâm cố gắng “giám định và bổ sung tư liệu” cho bài của giáo sư như trên. Mong giáo sư vui lòng nhận cho tấm lòng thành của tôi.

Phạm Tôn

30.11.2008

Chuyen mot dem mot ngay

Phần đầu bản thảo viết tay của Phạm Quỳnh bài số 6 – Chuyện một đêm một ngày (9-10 tháng 3 năm 1945). Ở trang 18 tập Hoa Đường Tùy Bút – Kiến Văn Cảm Tưởng I

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: