Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 25, 2015

Sài Gòn ngày đầu giải phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:58 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 5 năm 2015.

40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

SÀI GÒN NGÀY ĐẦU GIẢI PHÓNG

Nhà thơ Vương Trọng

(Trang 5 báo Nhân Dân ngày 10/4/2015)

Những ngày này cách đây tròn 40 năm, tôi cùng các nhà thơ Duy Khán, Gia Dũng theo cánh quân tiến vào Sài Gòn, và ở lại đấy 14 tháng liền, từ đầu tháng 5-1975 đến tháng 7-1976. Nhân dịp kỷ niệm ngày hoàn toàn giải phóng miền nam, xin giới thiệu với bạn đọc một ghi chép nhỏ cùng một bài thơ viết từ ngày đó.

Trong con mắt những người lính chúng ta, thành phố Sài Gòn những ngày mới giải phóng có nhiều điều lạ. Thứ nhất là quang cảnh hỗn độn do sự tháo chạy của ngụy quân, ngụy quyền để lại. Ðường phố nào cũng vung vãi quân phục, ba-lô lính ngụy trút ra. Dọc những trục đường về sân bay Tân Sơn Nhất, nhất là trong sân bay, không biết bao nhiêu ô-tô, xe máy vất lại khi gặp trở ngại hoặc chủ của nó đã tẩu thoát ra nước ngoài bằng đường hàng không. Trên một ngôi nhà bên đường Trương Minh Giảng, một chiếc trực thăng rơi xuống, nằm nghiêng, cánh quạt chìa hẳn ra ngoài đường phố, khiến ai đi ngang qua cũng ngước mắt nhìn lên. Chiếc trực thăng đó đã bị hỏng, cứ nằm trong tư thế chênh vênh như vậy nhiều tuần, còn ô-tô, xe máy phần nhiều còn tốt, còn xăng… nhưng lính ta không bao giờ đụng đến vì quy định nghiêm ngặt của quân đội đã được thuộc lòng trước khi vào giải phóng thành phố. Một anh bạn nhà báo nói với tôi rằng, trong mấy ngày cuối của Chiến dịch Hồ Chí Minh, mình anh đã sử dụng năm chiếc Hon-đa do chủ của nó vất lại trên đường để làm phương tiện đi lại tác nghiệp, có khi xe này hết xăng thì lấy xe khác! Ðiều lạ thứ hai là thành phố có nhiều nhà cao tầng, đường sá rộng và nhẵn, đặc biệt là xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa. Nhiều chiến sĩ ta xuất thân từ nông thôn, trước khi đến Sài Gòn chưa từng biết đến một thành phố, thậm chí một thị xã nào, chưa từng thấy một ngôi nhà hai tầng chứ nói chi đến nhà cao tầng như các khách sạn bên đường Nguyễn Huệ. Ngay những người từ Hà Nội vào cũng ngỡ ngàng nhiều thứ. Nhà cửa, đường sá chỉ là một chuyện, cái làm mọi người chú ý nhiều hơn là nếp sinh hoạt của thành phố. Vừa mới giải phóng, chính quyền cách mạng chỉ có thể tập trung vào việc bảo đảm an ninh, còn các thứ khác thì vẫn tiếp diễn theo nếp cũ. Dọc các tuyến phố có các trò giải trí để kiếm tiền như từng tốp người diễn các trò ảo thuật, bày bàn cờ thế, hoặc chọi gà… Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy một tổ gồm các chị em làm công tác quét dọn đường phố lại bị sự chỉ huy, giám sát trực tiếp của một người đàn ông đầu đội mũ phớt, tay cầm ba toong, miệng hút tẩu, gọi là cai. Ðiều ngạc nhiên lớn nhất là mỗi khi màn đêm buông xuống, tại bùng binh trước chợ Bến Thành, hàng trăm cô gái làm nghề “bán hoa” tập trung lại, để cho khách đàn ông kéo đến lựa chọn, mặc cả! Trước năm 1975, ở miền bắc nước ta không hề có một người phụ nữ nào làm nghề mại dâm, nên những chuyện diễn ra ở bùng binh đó là chuyện “chướng tai gai mắt”, “không thể chấp nhận” được đối với cán bộ và bộ đội chúng ta. Phải đến hơn nửa năm sau ngày giải phóng, chúng ta mới dẹp được “chợ người” này.

Sài Gòn có nhiều thứ lạ, nên đi xem phố là sở thích của nhiều người lính khi được phép ra ngoài doanh trại. Hơn nữa, những ngày đó, nhân dân Sài Gòn đặc biệt yêu quý bộ đội ta, nên bộ quân phục Giải phóng “có giá” vô cùng. Chủ của tất cả các phương tiện giao thông đều không lấy tiền vé bộ đội, lại bố trí cho ngồi những chỗ tốt nhất. Khi đi những tuyến xe đường dài, chủ xe còn “bao” chuyện ăn uống cho bộ đội, làm lính ta nhiều khi lâm vào hoàn cảnh khó xử, nhưng không thể thoái thác sự ưu ái đó, vì họ bảo rằng đó chỉ là một cử chỉ nhỏ thể hiện lòng biết ơn bộ đội Giải phóng. Không chỉ chủ xe ưu ái bộ đội, mà ngay các hành khách trên xe cũng đặc biệt có tình cảm với lính ta. Có người nắn sờ áo lính, khen đẹp; đặc biệt nhiều người chú ý đôi dép cao-su, loại dép đúc thời ấy lính ta thường dùng. Họ khen đẹp, khen đi nhẹ, đi êm, không phát ra tiếng động… Nghĩa là trong con mắt và ý nghĩ của người dân Sài Gòn ngày ấy, người lính chúng ta và cả những gì thuộc về người lính thật tuyệt vời. Có điều lạ nữa là khi chúng tôi mặc thường phục thì những người buôn bán mời chào: “Anh bộ đội ơi, mua cho em…”, nghĩa là người dân Sài Gòn vẫn nhận ra mình là bộ đội, điều rất khó lý giải!

Hinh ve Pham Thanh Tam

Phần đông lính chúng ta dạo phố không phải để mua bán (vì không có tiền) mà xem phố, xem những cái lạ của thành phố. Là một người lính, tôi cũng không ngoại lệ. Nhưng còn là một nhà báo, nhà thơ, ngoài việc tìm những cái lạ của thành phố, tôi còn quan sát và tìm điều lạ ngay ở những người lính đi xem phố. Như trên đã nói, khi dạo phố, hầu hết lính ta đều mặc quân phục, một mặt vì dân Sài Gòn rất yêu quý bộ quân phục, hơn nữa, lính ta làm gì có thường phục để mặc, dù có đơn vị khuyến khích bộ đội trong giờ nghỉ đi dạo phố nên mặc thường phục. Thế là trong đa sắc màu của thành phố, quân phục là một gam màu quan trọng, tạo nên sắc màu đặc trưng của Sài Gòn những ngày mới giải phóng. Khi đi xem phố, lính ta thường đi theo nhóm để khỏi lạc, cùng đi, cùng về. Trong những tốp lính dạo phố, tôi đặc biệt chú ý đến những nữ quân nhân, vốn là những chiến sĩ giao liên hoạt động nhiều năm trên tuyến đường Trường Sơn, tức là người làm nhiệm vụ dẫn đường cho các đơn vị bộ đội đi từ binh trạm này đến binh trạm khác. Ở rừng, thì chiến sĩ giao liên là người thông thạo đường nhất, ban đêm không đèn đuốc vẫn đưa quân đi không lạc đường. Thế mà trên đường phố Sài Gòn, nhiều cô giao liên đã lạc, phải nhờ người chỉ đường! Nói chung các tốp lính đi dạo phố không quen biết nhau, vì không cùng đơn vị, chỉ riêng các cô giao liên là gặp được nhiều người quen vì phần đông trước khi vào giải phóng Sài Gòn, lính ta từng đi qua nhiều binh trạm, đã từng là “khách” của các cô giao liên. Trông các cô gái giao liên đi dạo phố, đâu chỉ mầu quân phục khác với chung quanh, mà còn có một điều làm tôi chú ý: mầu da sốt rét rừng của các cô cũng khác xa sắc mặt người dân thành phố. Sau khi gặp gỡ, trò chuyện và chỉ đường cho mấy cô giao liên, trở về nơi làm việc tôi viết bài thơ sau đây:

Trên đường phố Sài Gòn

Vẫn nguyên vành mũ lá sen

Vẫn đôi dép đúc vốn quen đường rừng

Vẫn quân phục cũ nửa chừng

Dáng em không lẫn giữa rừng người chen.

– Xin chào cô gái giao liên

Lạ chưa, quên mất người quen ngày nào!

( Phố phường có dễ nhận đâu

Trách em cũng chỉ một câu trách đùa)

Em nhìn, đôi mắt mở to:

– Ơ kìa, anh cũng đã vô đây rồi

Mới đi một quãng đường thôi

Mà em gặp được bao người khách quen!

Cúi nhìn túi xách của em

Lại đùa: Chiếc gậy giao liên đâu rồi?

Căng tròn quai mũ em cười

Mắt trong em ngước nhìn trời cờ bay:

– Gậy em ngày đó cầm tay

Bây chừ thành cán cờ này, đó anh!

Chia tay, ngoảnh lại mấy lần

Nhìn theo vành mũ khuất dần phố đông

Tôi đi bước bước ngập ngừng

Thương em đôi má sốt rừng còn xanh!

V.T.

*

*      *

HÃY ĐỂ THỜI GIAN TRẢ LỜI BẰNG SỰ THẬT

ETCETERA NGUYỄN

Tổng thư ký tuần báo Việt Weekly (Mỹ)

(Bài trang 8 báo Nhân Dân ngày 14/4/2015)

LTS – Sinh tại Việt Nam, lớn lên tại Mỹ, mấy năm gần đây trong tư cách Tổng thư ký tuần báo Việt Weekly (Mỹ), Etcetera Nguyễn có dịp trở về Việt Nam để tác nghiệp. Nhân kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, Etcetera Nguyễn gửi tới Báo Nhân Dân bài viết nói lên suy nghĩ của mình về thực chất hoạt động “chống cộng” ở hải ngoại, về vai trò của Việt Weekly trong khi đưa tin khách quan, trung thực về tình hình đất nước… Chúng tôi trích giới thiệu với bạn đọc bài viết này (đầu đề là của Tòa soạn).

Trên bề mặt, nếu nhìn vào các sinh hoạt nổi bật ở Little Saigon (Sài Gòn nhỏ – PT chú) (California) vào tháng 4 hằng năm, đặc biệt là ngày 30-4, người Mỹ bản địa và những vị khách chưa hiểu biết một cách thấu đáo về vấn đề, vẫn bị thu hút bởi mầu vàng của lá cờ “3 sọc đỏ” được treo khắp các con phố, trục lộ chính, nơi có nhiều cơ sở thương mại của người Mỹ gốc Việt buôn bán, làm ăn. Rồi nhiều cuộc hội họp, lễ lạt mang tính chất “tố cộng” được tổ chức rầm rộ. Các hội đoàn chính trị, các chính khách địa phương tập hợp tại “Tượng đài Việt – Mỹ” ở trung tâm TP Westminster để kể lại trận chiến bị thua, về vết thương còn âm ỉ! Các sinh hoạt chính trị đó được các tờ báo của cộng đồng ghi lại, thổi lên thành “ngọn lửa căm thù chế độ cộng sản, căm thù chính phủ Việt Nam”. Việc này lặp đi lặp lại trong nhiều năm qua, và tất nhiên, có tác động đến những ai bị mất mát của cải, địa vị xã hội, quyền lợi chính trị từng có trước đây. Nhìn bề mặt thì như thế, nhưng theo ghi nhận của tôi, có yếu tố “đằng sau hậu trường” đáng ngạc nhiên. Và tôi có thể khẳng định rằng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là ở Nam California, không cực đoan như các tờ báo cộng đồng cố tình mô tả.

Kể từ sau năm 1995, sau khi bang giao Mỹ và Việt Nam được thiết lập, đã có những người Mỹ gốc Việt đầu tiên trở về Việt Nam để tìm lại hình ảnh quê nhà thân thương, để thăm viếng; đã có những doanh gia lặng lẽ về nước tìm cơ hội làm ăn, giao thương buôn bán. Hơn 20 năm qua, các chuyến thăm thân, du lịch, giao dịch không còn là việc làm âm thầm, đơn lẻ nữa. Con đường nhỏ nay đã trở thành đại lộ thênh thang, không hạn chế bất cứ ai. Những năm gần đây, vị thế chính trị, kinh tế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế đã trở nên quan trọng, được đánh giá là một nước có nhiều tiềm năng kinh tế, phát triển tại Đông – Nam Á.Các chuyến thăm hữu nghị của các cấp lãnh đạo Việt Nam ra quốc tế và ngược lại diễn ra đều đặn, ngày một nhiều hơn… Tuy nhiên, những thông tin tích cực ở Việt Nam đã không đến được với người dân bản địa. Có chăng thì đều bị bóp méo, xuyên tạc bởi những “nhà chính trị”, các “tổ chức chính trị” có quan điểm khác với Chính phủ Việt Nam. Bức tranh thực tế của đất nước đã bị một lớp sương mù bao phủ, làm nhiễu loạn có mục đích. Vậy mục đích, động cơ của các “nhà hoạt động chính trị cộng đồng” là gì?Họ muốn điều gì để rồi luôn luôn có thái độ thù nghịch với Chính phủ Việt Nam?

Nếu như trước đây, các cá nhân hám danh lợi, các tổ chức và hội đoàn chính trị từng có tham vọng “lật đổ chế độ cộng sản” bằng bạo lực, để phục hồi quyền lực đã có một thời, thì theo thời gian, họ biết rằng không thể làm được điều đó vì không có khả năng, thực lực. Khi biết không thể làm thay được quyền lãnh đạo đất nước, các “nhà hoạt động chính trị” này lại nỗ lực tự biến mình thành một thứ chính quyền trong cộng đồng nhỏ, họ áp đặt “chủ nghĩa chống cộng cực đoan” lên người có cùng cảnh ngộ. Họ muốn biến “cộng đồng tị nạn” thành một tập thể cực đoan, luôn hô hào chống cộng dưới mọi hình thức để trục lợi cho cá nhân, tổ chức của mình. Quyền lợi chính trị này không đến từ Việt Nam, mà đến từ chính nước sở tại vào mùa tranh cử hai hoặc bốn năm một lần ở các cấp từ tiểu bang tới liên bang. Để có lá phiếu của cử tri gốc Việt, các ứng cử viên người bản xứ tìm đến vận động, xin hay “mua” từ những nhà lãnh đạo cộng đồng qua chiêu bài “chống cộng”, hay “dân chủ, tự do, nhân quyền”. Vào mùa tranh cử, các tổ chức chống cộng cấu kết với các cơ quan “truyền thông chống cộng” thao túng sinh hoạt cộng đồng. Các khó khăn, vấn nạn xã hội, hiện tượng tiêu cực ở Việt Nam là “nguyên liệu tốt” cho những nhà hoạt đầu chính trị cộng đồng nhào nặn thành “bánh vẽ”, tạo nên chiếc khiên đỡ, che đậy các động cơ chính trị tư lợi. Vào dịp đó, cộng đồng Việt ở Nam Cali thường hoạt động rất sôi nổi, đây là dịp cho những tay hoạt đầu chính trị nhảy ra chiếm diễn đàn để chống cộng, để chụp mũ nhau loạn xạ, bất kể đúng sai, nhao nhao muôn vàn hình thức “chống cộng” như biểu tình phản đối chính quyền Việt Nam, đòi tự do cho “nhà bất đồng chính kiến” v.v… Biểu tình chống phá Việt Nam để tạo tiếng vang, ghi thành tích; biểu tình đe dọa, chụp mũ lẫn nhau là cộng sản để cạnh tranh buôn bán xảy ra thường xuyên (và biết đâu là giành cho được ngân sách tranh cử rơi vào túi của họ?). Chiếc bánh quyền lợi được chia đều cho một thiểu số tổ chức đấu tranh, các tay lãnh đạo cộng đồng; một số tờ báo, cơ quan truyền thông chống cộng cũng được hưởng quyền lợi thông qua việc quảng cáo tranh cử. Vì thế, quyền lợi vật chất, chính trị của một thiểu số sẽ tiếp tục tồn tại, nếu đa số người Mỹ gốc Việt thiếu thông tin khách quan, trung thực về Việt Nam.

Trong sự ngột ngạt đó, từ năm 2006, các phóng viên Việt Weekly quyết định tìm về Việt Nam làm tin tức tại chỗ. Với chủ trương đi tận nơi, tìm hiểu đưa tin khách quan, trung thực để một làn gió mới về thông tin từ Việt Nam được đưa thẳng tới cộng đồng. Đã có hàng loạt phóng sự về đời sống vùng miền, các cuộc phỏng vấn, trao đổi trực tiếp từ người dân đến các cấp lãnh đạo từ địa phương tới trung ương… Hoạt động này mang lại nhiều điều mới mẻ, khác lạ giúp kiều bào khắp nơi trên thế giới thấy và hiểu hơn về Việt Nam. Đặc biệt là những chuyến đi thăm biển, đảo được Nhà nước Việt Nam, qua Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức các năm gần đây, đã cho thấy thực chất những gì đang diễn ra ở vùng biển chủ quyền đất nước, giúp độc giả ở hải ngoại hiểu hơn tình hình thực địa chủ quyền biển, đảo. Từ năm 2013 tới nay, cá nhân tôi, là phóng viên người Mỹ gốc Việt duy nhất hiện sống và làm việc công khai thường trực tại Việt Nam. Tôi đã có cơ hội đi nhiều nơi, tự mình tìm hiểu đời sống thực tế của người dân. Tới đâu tôi cũng chú ý lắng nghe, ghi nhận tường tận và cụ thể những câu chuyện người thật, việc thật. Hỏi chuyện, đại đa số người dân đều muốn yên ổn làm ăn. Họ cố gắng làm việc với ước mong một cuộc sống ngày càng khá hơn. Ai nấy đều muốn hòa bình để làm kinh tế. Điều gây ấn tượng nhất đối với tôi khi làm việc ở Việt Nam chính là thế hệ trẻ. Trong những ngày ở Việt Nam, tôi chọn bờ hồ Gươm ở Hà Nội làm “văn phòng lưu động” vừa làm báo, vừa ngồi vẽ tranh cho du khách, tôi có cơ hội thấy nhiều học sinh, sinh viên ra đây gặp khách ngoại quốc để thực tập tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Nhật, v.v. Tôi chia sẻ với những ước vọng của họ, những hoạt động xã hội của họ và nghĩ đến đất nước trong tương lai. So với Mỹ hay những nước phương Tây, Việt Nam còn nhiều điều cần đổi mới, cần chấn chỉnh từ luật pháp tới hành pháp, từ kinh tế tới giáo dục và nhiều lĩnh vực khác. Nhưng tựu trung, so với thời trẻ của tôi hồi còn ở trong nước, giới trẻ hiện nay sống vui, có điều kiện hơn nhiều. Những người ngoại quốc đến làm ăn, du lịch ở Hà Nội và các vùng miền mà tôi đã gặp đều nhận xét tích cực, lạc quan về con người, đất nước Việt Nam. Mùa Giáng sinh vừa qua, tôi có dịp về quê nội ở Nam Định. Về thăm quê, tôi kinh ngạc khi thấy vô số nhà thờ lớn nhỏ, cũ mới đan xen nhau theo từng họ đạo. Tôi đã ghi hình các buổi lễ với vài nghìn giáo dân đứng tràn ra ngoài đường phố. Sau Tết Nguyên đán, tôi lại có dịp tham quan, ghi nhận nhiều lễ hội ở miền bắc. Người dân được tự do bày tỏ tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo của mình. Những gì tôi thấy thực tế ở Việt Nam là hoàn toàn khác so với hình ảnh Việt Nam “đàn áp tôn giáo” được nói đến ở hải ngoại…

Ở hải ngoại, phần lớn người Mỹ gốc Việt chọn thái độ im lặng để sống yên ổn. Con cái họ đã thành công trong công việc, nhiều người lớn tuổi đã về hưu hưởng phúc lợi xã hội. Sự thầm lặng của đám đông không đồng nghĩa với cực đoan mà chúng ta thấy. Số đông này vẫn có những mối liên hệ trực tiếp với Việt Nam. Số đông này ngày càng hiểu hơn khi được tiếp cận với các thông tin khác nhau đến từ mạng xã hội, đến từ các cơ quan truyền thông như Việt Weekly. Do đó, việc thông tin trực tiếp, khách quan từ báo chí độc lập như Việt Weekly đã góp phần tích cực, thuyết phục với những người xa xứ. Bản thân tôi có được một chút kinh nghiệm làm báo ở Việt Nam nhờ sống tại chỗ, tham gia nhiều sự kiện diễn ra hằng ngày ở Hà Nội. Các bài viết, phóng sự, video chúng tôi thực hiện trong thời gian qua, được độc giả khắp nơi đón nhận và khen ngợi, động viên. Độc giả đòi hỏi chúng tôi đi nhiều hơn, làm nhiều hơn nữa, để giúp họ được hiểu biết Việt Nam hơn. Đó chính là phần thưởng và động lực, nguồn động viên cho công việc báo chí của Việt Weekly.

40 năm suy nghĩ về sự kiện lịch sử 30-4, là một nhà báo sống ở nước ngoài trở về Việt Nam làm việc, tôi thấy công việc của mình ngày càng thú vị, hữu ích hơn cho độc giả của Việt Weekly ở khắp nơi trên thế giới. Có lẽ, chọn lựa trở về của tôi và anh chị em trong Việt Weekly chẳng khác nào những “con cá dám vượt vũ môn” từ một cộng đồng xa xôi, vẫn còn một nhóm người cực đoan, chống phá Nhà nước Việt Nam. Hãy cứ để thời gian trả lời bằng sự thật. Và chúng tôi, các nhà báo nguyện làm công việc khách quan, trung thực, để cung cấp những thông tin chính xác, nhanh nhạy đến người ở ngoài nước, không may mắn có được cơ hội tiếp cận thực tế.

E.N.

*

*    *

Chương trình cầu truyền hình đặc biệt

Hà Nội – Huế – TP Hồ Chí Minh Nghĩa tình sắt son

(Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 12/4/2015)

Kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 – 30-4-2015) và kỷ niệm 55 năm kết nghĩa ba thành phố Hà Nội – Huế – Sài Gòn, tối 11-4, Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh phối hợp Đài PT – TH Hà Nội, Đài PT – TH Thừa Thiên – Huế và Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) tổ chức cầu truyền hình đặc biệt: “Hà Nội – Huế – TP Hồ Chí Minh – Nghĩa tình sắt son“.

Chương trình diễn ra tại ba điểm cầu: Cột cờ Hà Nội (Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam)- Quảng trường Ngọ Môn (TP Huế) và Hội trường Thống nhất (TP Hchuong trinh nghia tinh sat sonồ Chí Minh). Đến dự, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; đồng chí Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư T.Ư Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; nguyên Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa và các đồng chí lãnh đạo ba thành phố và Bộ Công an. Tham dự chương trình, có các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng LLVT, tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, cựu chiến binh, kiều bào Việt Nam ở nước ngoài và đông đảo nhân dân của ba thành phố.

Cầu truyền hình đặc biệt được tổ chức, nhằm nêu bật sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc và chặng đường dài chiến đấu, hy sinh của quân và dân cả nước trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong đó có phần đóng góp quan trọng của quân và dân ba thành phố Hà Nội – Huế -TP Hồ Chí Minh. Chương trình diễn ra trong hơn 120 phút thể hiện tình nghĩa keo sơn, gắn bó thủy chung giữa ba thành phố kết nghĩa, đại diện cho ba miền bắc, trung, nam, góp phần làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975 lịch sử và quá trình 40 năm xây dựng và phát triển của ba thành phố lớn. Nhiều ca khúc hào hùng đi vào lòng người dân Việt Nam đã được các ca sĩ của ba thành phố biểu diễn trên sân khấu các đầu cầu truyền hình chào mừng ngày hội lớn của dân tộc, như: Đôi bờ Hiền Lương, Hát cho dân tôi nghe, Hà Nội – Huế -Sài Gòn, Bài ca thống nhất, hoạt cảnh:Năm cánh quân – tiến về Sài Gòn…

Đan xen các cuộc gặp gỡ là các phóng sự, phim tư liệu và giao lưu trực tiếp với những hồi ức của nhiều nhân chứng lịch sử,… góp phần tái hiện chiến dịch Hồ Chí Minh và thời khắc lịch sử của ngày thống nhất đất nước. Đó là câu chuyện đầy cảm động của những thành viên trong đội du kích 11 cô gái sông Hương kể về khát vọng chiến đấu của những người con xứ Huế để mong có ngày thống nhất, đón Bác Hồ vào thăm; là những ký ức của nhà thơ Trần Đăng Khoa về những năm tháng không thể nào quên với hình ảnh lao động và chiến đấu của hậu phương lớn miền bắc dành cho tiền tuyến lớn miền nam; chia sẻ của bà Hoàng Thị Khánh, Trưởng Ban liên lạc Cựu tù chính trị và Tù binh TP Hồ Chí Minh về cuộc đấu tranh của phụ nữ miền nam cho sự nghiệp thống nhất nước nhà. Đặc biệt là những kỷ niệm đẹp và đầy cảm xúc trong ngày đầu tiếp xúc giữa bộ đội ta và nhân dân thành phố Sài Gòn mới giải phóng của đại tá, họa sĩ Phạm Thanh Tâm, một trong những văn nghệ sĩ quân đội đầu tiên đi theo Quân đoàn 2 tiến vào thành phố khi đó…

Khach tham quan trien lam chuyen de tuong tung bi giam

Chương trình được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh và hai Đài PT-TH Hà Nội, Thừa Thiên – Huế cùng nhiều đài truyền hình địa phương trong nước.

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: