Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 15, 2015

Phạm Quỳnh – Nhà văn học làm chính trị

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 5 năm 2015.

 PHẠM QUỲNH – NHÀ VĂN HỌC LÀM CHÍNH TRỊ

 Chi Điền Hoàng Duy Từ

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Chắc bạn đọc còn nhớ nhà nghiên cứu Chi Điền Hoàng Duy Từ, tác giả bài Những ngày cuối cùng sống ở biệt thự Hoa Đường: Phạm Thượng Chi đã dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ đăng trên Blog PhamTon tuần thứ 5 tháng 8 năm 2009. Hôm nay, chúng tôi lại xin giới thiệu với các bạn một bài viết đặc sắc của ông nhan đề Phạm Quỳnh – Nhà văn học làm chính trị. Chúng tôi chỉ lược bỏ hai đoạn thấy không cần thiết.

*

*   *

Nhân đọc tập di cảo Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng thấy ở hai bài Văn học, chính trị; Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường có những ý kiến, cảm nghĩ đáng để cho ta suy tư về vấn đề Nhà văn học làm chính trị, một vấn đề đã làm cho nhiều nhà trí thức chân chính băn khoăn không ít.

Trong thập niên đầu thế kỷ (XX – PT chú), một nhân vật đã nổi bật trên diễn đàn báo chí cũng như trong lãnh vực văn học. Đó là học giả Phạm Quỳnh, bút hiệu Thượng Chi, sáng lập viên, chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí (1917-1934).

Ngòi bút của ông đã gây một tiếng vang lớn từ Hà Nội đến Sài Gòn và trên khắp lãnh thổ Việt Nam.

Lời hùng biện của ông gây ngạc nhiên ở kinh đô Paris, trên diễn đàn Hàn Lâm Viện nước Pháp. Những bài biên tập, khảo luận dịch thuật của ông mọi người đều biết. Văn học sử đã dành cho ông một cương vị rất quan trọng, nếu không nói là hàng đầu của thượng bán thế kỷ XX.

Những phê bình gia như Vũ Ngọc Phan (1942), Phạm Thế Ngũ (1965), Lê Văn Siêu (1974)… cũng như dư luận ở trong hay ngoài nước đều công nhận học giả Phạm Quỳnh là người công đầu và rất lớn trong việc xây dựng một nền văn học quốc gia tiến bộ trên căn bản tinh hoa của dân tộc.

Như mọi người đều biết Phạm Thượng Chi luôn luôn có một niềm tin sâu xa rằng “Nếu không có một nền văn hóa quốc gia thì không thể nào có được một sự độc lập về tư duy và tinh thần, và do đó không thể nào có được một nền độc lập chính trị”.

Để đạt được cái mục đích ấy, để thâu hồi các quyền tự trị chính trị cần thiết cho sự xây dựng một nền văn hóa quốc gia, nghĩa là để cho chính quyền thuộc địa trở về chấp hành đứng đắn và thành thật Hiệp ước Bảo hộ 1884, Phạm Thượng Chi nghĩ rằng ông phải đi vào con đường chính trị.

Chính cái quyết định này đã đem đến cho nhà văn học họ Phạm nhiều suy tư, dằn vặt giữa hai tư cách “Nhà văn học” với “Chính trị gia”.

Để có thêm ý kiến vững chắc, Phạm tiên sinh đã nghiên cứu tư tưởng của một danh nhân thế giới trong thời cận đại. Đó là cố Tổng thống (1913-1920) Thomas Wilson (1856-1924) nước Mỹ. Tổng thống Thomas Wilson sáng lập viên Hộ Quốc Liên (ONU), đoạt giả Nobel về Hòa Bình, giáo sư Đại học về khoa học Chính trị, có một địa vị quan trọng hồi Đệ nhất Thế chiến (1914-1918). Ông Wilson đã từng tán dương nhà chính trị kiêm văn học là một hạng người cao quí, thật xứng đáng ra cầm quyền trị nước.

Sau đây là nguyên văn của Phạm Thượng Chi đã viết trong tập di cảo Hoa Đường tùy bút- Kiến văn, Cảm tưởng:


“Nhưng đại khái ông Wilson cho rằng nhà chính trị kiêm văn học (ông gọi là litterary politician), là nhà chính trị mà có văn học, là có tư cách hoàn toàn. Chính trị là một nghệ thuật, cần phải lanh lợi, khôn khéo, có thủ đoạn, có mánh khóe, biết châu tuần trong thực tế, biết lợi dụng các cơ hội, thuộc tâm lý người ta, rõ hoàn cảnh xã hội, và thứ nhất là phải có cái linh tính biết dò đón việc xảy ra mà chuẩn bị để đối phó. Ngạn Tây thường nói: “Trị nước là liệu trước”. Phải có cái tài dự đoán luôn luôn mới có thể chi phối được thực tế hoặc lợi dụng được thời cơ, mà không bị thời thế cùng thực tế tràn ngập lôi cuốn đi mất. Như vậy thời nhà chánh trị là sống luôn trong thực tế, hằng ngày phải đối phó với những việc xẩy ra, dụng mưu mà ngăn ngừa hay lợi dụng. Như vậy thời chính trị rút lại chẳng qua là một thuật quyền mưu, một trường mánh khóe, người cao thượng nhiều khi bất tiết dúng tay vào. Nhưng chính trị há phải là một phương thuật kinh nghiệm mà thôi? Chính trị cũng có nghĩa lý, phải có nghĩa lý, vì phải có chủ nghĩa, phải có tôn chỉ. Nếu nhà chính trị chỉ hằng ngày châu tuần trong thực tế, mưu tính việc xảy ra thời làm sao mà bồi dưỡng được phần nghĩa lý đó, làm sao mà kiên định được tôn chỉ, làm sao mà triển minh được chủ nghĩa? Giúp cho cái công bồi dưỡng nghĩa lý đó, không gì bằng văn học. Nhà văn học thông kim bác cổ, đạt lý năng văn, hằng ngày tập luyện cái “trí tinh nhuệ” ((Binh sĩ) luyện tập rất tinh thông, sắc sảo – PT chú), khác với cái “trí khúc chiết” ((Lời biện thuyết) rất kỹ càng, nhiều manh mối – PT chú) của nhà khoa học, rất là có thể đem nghĩa lý cống hiến cho chính trị, khiến cho bồi bổ được chỗ khuyết hám (còn thiếu thốn, chưa được bằng lòng – PT chú). Vì chính trị với văn học không phải là khoa học; chính trị với văn học là nghệ thuật; chính trị là nghệ thuật về thực tế, văn học là nghệ thuật về nghĩa lý, thực tế không thể rời nghĩa lý được, cũng như thực hành phải có suy lý vậy. Nói tóm lại thời văn học giúp cho nhà chính trị suy nghĩ về công việc mình, mà suy nghĩ bằng trí tinh nhuệ, theo phép nghệ thuật, không phải bằng trí khúc chiết, theo phép khoa học vậy. Cho nên nhà chính trị mà có kiêm văn học là đủ tư cách hoàn toàn. Phàm nhà chính trị xứng đáng phải có màu mè văn học mới được.

Không dám chắc rằng Wilson lý luận đúng như thế, nhưng ý nghĩa đại khái như vậy.

Thuyết của Wilson không phải là không có lý, và không phải chỉ có lý thuộc về chính trị mà thôi. Văn học là cái học tô điểm cho người ta, khiến cho con người ta có văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà thêm ra. Như vậy thời không những nhà chính trị có văn học là hay, mà nhà khoa học, nhà nghệ thuật, nhà chuyên môn nào có văn học cũng là tốt cả, vì con người văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà làm nghề chi mà không xuất sắc, làm nghề gì mà không tăng giá trị cho nghề mình? Duy có lẽ đối với nhà chánh trị, văn học có cần hơn: nhà chính trị muốn chi phối thực tế, lợi dụng thời cơ, chế ngự quần chúng, điều khiển trị loạn, cần phải thông kim bác cổ, đạt lý năng văn hơn người thường. Nghiệm ngay một điều như sau: trong thế giới ngày nay, không có một nhà chính trị trứ danh nào là không có tài hùng biện.

Vậy thời nhà chính trị kiêm văn học, không biết đã có tư cách hoàn toàn chưa, nhưng nếu quả có tài năng, thời tài năng ấy nhờ văn học chắc được cường hóa (Làm cho mạnh mẽ lên – PT chú), thâm hóa (Làm cho sâu sắc hơn – PT chú) thêm lên.

Như vậy thời ý kiến của Wilson cũng là đúng với sự thực, hợp với lẽ phải vậy.

Nay phản thuyết lại mà nói nhà văn học kiêm chính trị: nhà văn học mà làm chính trị thì thế nào. Vấn đề thay đổi hẳn. Nếu nhà văn học vốn sẵn có tài chính trị, chỉ vì chưa có dịp mà chưa làm chính trị, thì cái “ca” cũng giống như trên không khác gì. Nếu nhà văn học bản sắc là văn học mà ngẫu nhĩ (Như: Ngẫu nhiên – PT chú) làm chánh trị, thời lại khác hẳn. Đó là một sự thí nghiệm mà thành công hay thất bại không thể quyết đoán được. Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy, không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc (Nơi hang tối – PT chú), không thể đem trưng bày nơi đầu đường góc chợ được.

Vả lại hai phạm vi văn học và chính trị, tuy có thể đắp đổi cho nhau, nhưng thực là cách biệt nhau hẳn. Có thể đắp đổi cho nhau là nhà chính trị mà có văn học thời được sắc sảo thêm ra, như trên đã nói, và nhà văn học mà làm chính trị thời cũng có lẽ được giàu thêm sự kinh nghiệm ra, tăng thêm được tài liệu cho sự nghiệp văn chương của mình. Nhưng mà vốn là hai phạm vi cách biệt nhau, vì khuynh hướng về hai mục đích khác nhau.

Âu Dương Tu là một văn hào đời Tống, lại giữ chức “tham tri chính sự” ở triều, sau bất tương hợp với thủ tướng Vương An Thạch mà về hưu. Tống sử chép rằng hồi làm quan, các học giả trong nước trọng tiếng văn hào, thường xin ra mắt. Ông vui vẻ tiếp chuyện, nhưng không hề nói đến chuyện văn chương bao giờ, chỉ bàn về việc quan mà thôi. Ông nói: “Văn chương chì dùng để nhuận thân, chính sự mới có thể trạch vật.”

“Nhuận thân”, đó là mục đích của văn học; “trạch vật”, đó là mục đích của chính trị, hai đàng vốn khác nhau.

Âu Dương Tu chính là cái “ca” nhà văn học kiêm chính trị. Tuy thời đại ấy, chính trị với văn học không cách biệt nhau lắm như bây giờ, và tuy tự ông trong lời nói trên kia, cũng có ý trọng “trạch vật” hơn “nhuận thân”, nhưng xem ra ông làm chính trị cũng không lợi gì, thì hà tất đã vội coi thường cái thuật “nhuận thân” là cái sở trường của mình?…”

Trích đoạn văn trên đây cho chúng ta thấy rõ cái suy tư cảm nghĩ của Phạm Thượng Chi và đã xác định lập trường: “Nhà văn học thuần túy không nên làm chính trị”.

*

*    *

Một vấn đề thứ hai cũng làm cho nhà học giả tài hoa và uyên bác họ Phạm suy tư và băn khoăn không kém.

Đó là vấn đề “Xuất thế” hay là “Nhập thế”. Nói một cách rõ ràng và cụ thể hơn là “chỉ làm chính trị bằng ngòi bút” hay là “thật sự tham chính”.

Chúng ta thử nghiên cứu bài Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng trong tập di cảo Hoa Đường tùy bút, Kiến văn, Cảm tưởng nói trên.

Lão Hoa Đường là bút hiệu của Cụ Lập Trai Phạm Quí Thích (1760-1825) và Thiếu Hoa Đường là một trong những bút hiệu của ông Phạm Quỳnh (1892-1945).

Hai người ở cùng làng Lương Ngọc, nhưng dưới triều Lê tên làng là Hoa Đường.

Do đó hai nhà văn nổi tiếng của thế kỷ 19 và 20 đều lấy tên làng làm bút hiệu.

Ông Phạm Quí Thích đõ tiến sĩ năm 1779, làm quan lớn dưới triều Lê. Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc, ông bỏ trốn. Năm đầu đời Gia Long bị gọi ra làm quan, giữ chức Thị Trung Học sĩ, tước Thích An Hầu, ông từ chối mà không được. Năm 1811 làm Giám thị trường thi Sơn Nam. Sau ông cáo bệnh xin về, Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) lại có chỉ triệu ra làm việc. Lần này ông đang có bệnh, viện cớ ấy từ chối. Chủ yếu cuộc đời ông không phải là làm quan mà dạy học. Ông là bạn thân của đại thi hào Nguyễn Du. Chính ông là người đầu tiên đem truyện Kiều ra bình phẩm với học trò. Ông đã làm bài thơ Tổng vịnh truyện Kiều đặt lên đầu đề truyện Kiều và cho khắc in tác phẩm này của Nguyễn Du.

Văn nghiệp của ông gồm nhiều tác phẩm, chủ yếu có Thảo Đường- Thi nguyên tập, Lập Trai văn tập, Thiên Nam long thủ liệt truyện, Chu Dịch vấn đáp toát yếu, Phó Kinh Bắc…


Viết về Phạm Quí Thích, ông Phạm Quỳnh có những dòng sau đây:

“Tôi mộ cái tài hoa danh tiết một bậc tiền bối, lại vừa là một vị chân Nho ôn hòa thuần túy, cũng lạm lấy tên Hoa Đường làm biệt hiệu, tôn cụ là “Lão Hoa Đường” mà cho mình là “Thiếu Hoa Đường” vậy.

Cụ không hề làm thơ Nôm, nhưng chắc cụ có quen biết cụ Tiên Điền Nguyễn Du, và theo phép lịch sự của các danh sĩ đời xưa, Cụ Tiên Điền chắc có đưa cụ xem tập “Đoạn Trường Tân Thanh”, để xin đề vịnh, nhân đó mới có bài tổng vịnh trên kia, và biết đâu? có lẽ cụ có điểm duyệt và nhuận sắc (Sửa chữa, trau chuốt cho (một tác phẩm) thêm hay – PT chú) ít nhiều. Vì các tác giả đời trước không có cái lòng tự ái nhà nghề như tác giả bây giờ, và bao giờ cũng nhún nhường khiêm tốn, sẵn lòng phục thiện các bạn làng văn có tài hay các bậc tiền bối đức vọng (Đức cao vì danh vọng cao – PT chú).

Nhưng cụ không làm thơ nôm, mà thơ chữ của cụ thì hay tuyệt, Thảo Đường thi tập của cụ còn lại đến hơn ngàn bài, đều một giọng trầm hồn cao nhã, đầy một lòng ưu ái chứa chan, rõ ra nhân cách một bậc cao sĩ (Kẻ học giả thanh cao – PT chú), đạo cốt tiên phong (Như tiên phong đạo cốt, phẩm cách cao thượng – PT chú) mà vẫn hằng để chí đến việc đời.

Còn nhớ một bài “Thư hoài”, đã từng biên ra để treo trước án sách, vì đọc đi đọc lại, thấy thích hợp với tâm trí mình quá.”

THƯ HOÀI

Cố quốc sơn hà dĩ đại thù

Cố viên tùng cúc bán hoang vu

Mang mang thiên địa hoàn bô khách

Nhiễu nhiễu phong trần tụ hủ nho

Bệnh cốt bình phân thu lãnh sấu

Thần tâm nhưng bạn nguyệt luân cô

Hữu nhân khuyến ngã bôi trung thú

Vị vấn Tam Lư khẳng túy phần

Chi Điền tạm dịch:

Sông núi nước xưa đà khác hẳn

Cúc tùng vườn cũ nửa hoang tàn

Mênh mông trời đất thân bô khách

Nhiễu nhương phong trần phận hủ nho

Cốt bệnh ví cùng thu núi lạnh

Lòng ta chỉ bạn mảnh trăng suông

Có người khuyên tớ vui chung rượu

Thử hỏi Tam Lư có chịu chăng?

Mênh mông trời đất thân bô khách

Nhiễu nhương phong trần phận hủ nho.

”Lão Hoa Đường” sinh vào thời Lê mạt Nguyễn sơ là đời loạn, tự biết ”phận nho quèn” không sao đương được thời cục rối ren, quyết chí ẩn dật để giữ lấy tiết tháo thanh cao, còn cao hơn biết bao nhiêu ”Thiếu Hoa Đường” này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á-Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân ”Nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời (tùy thời, thấy mạnh thì theo để có lợi – PT chú) mị chúng (như mị dân – PT chú) này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp (Lộn xộn, tạp nhạp – PT chú) hỗn hào!…

Đọc thơ cụ Lập Trai mà thẹn không biết lập chí bằng cụ, đường xuất xử ((Kẻ sĩ) ra làm quan hoặc lui về ở ẩn – PT chú) vụng về, thật kém các cụ xa.

Nhưng cụ là cố thần nhà Lê, bị đức Cao Hoàng triệu ra làm quan, còn lấy cớ đa bệnh mà từ chối được. Đến như cụ Tiên Điền cũng đồng thời ấy, không có cớ gì thoái thác, phải miễn cưỡng mà theo thời, rồi bất đắc chí mà chết, cuộc đời có phong ba hơn, mà kết quả thành một áng văn chương tuyệt tác để làm quà cho hậu thế, há chẳng phải vì ”đã đau đớn lòng” vì ”những điều trông thấy” mới làm nên sự nghiệp đó dư? Như thế thì xuất xử cũng có năm bảy đường, và có lẽ chỉ khác nhau ở một chữ “tài” vậy.

Song chữ “tài” vẫn hay liền với chữ tai một phần, chính cụ Tiên Điền đã dạy thế.”

Mấy đoạn văn trích dẫn ở trên cho chúng ta thấy các vấn đề “Xuất thế”, “Nhập thế”, “Xuất sử” không phải là đơn giản.

Xuất thế, tự đặt mình ra ngoài thế cuộc, đi tu, ẩn dật, hay sống bên lề xã hội, tuyệt đối không tham dự việc đời.

Nhập thế, trái lại, hăng say xông pha gánh vác việc đời.

Xuất sử: Ra làm quan hay là ở nhà.

Ba vấn đề tối quan trọng đối với lớp sĩ phu ngày trước.

Xã hội ta hay Trung Hoa ngày trước chỉ có hai giới chính yếu là giới làm quan và giới ở nhà, nói cách khác, giới ở trong chính quyền và giới ở ngoài dân gian. Vì thế mà sự quyết định chọn một con dường đi cho đời mình: xuất thế hay nhập thế đã làm cho giới sĩ phu băn khoăn, suy nghĩ trọn đời. Lắm lúc dấn thân rồi mà còn vẫn băn khoăn. Mấy đoạn văn trên đây của Phạm Thượng Chi rất tiêu biểu cho tâm lý chung của giới sĩ phu sinh trong thời loạn. Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp đặc biệt như ông Nguyễn Công Trứ.

Uy Viễn Tướng Công thì lập trường rất dứt khoát. Không chút do dự, ông nói rõ ràng trong bài “Chí Nam Nhi”:

Trong vũ trụ đã đành phận sự

Phải có danh mà đối với núi sông

……………..

Trót sinh ra thì phải có cái chi chi

Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu

Hoặc như:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

(Đi thi tự vinh)

Công danh, dưới mắt Nguyễn Công Trứ, là đường đưa tới sự nghiệp, và sự nghiệp là những tinh hoa tô điểm cho trời đất, đồng thời cũng là những món quà tặng lại cho tương lai. Vì thế tiên sinh viết:

Làm sao cho bách thế lưu phương.

Trước là sĩ sau là khanh tướng

(Kẻ sĩ)

Đối với dân nước, kẻ sĩ có trách nhiệm “Thượng vi đức, hạ vi dân, sắp hai chữ quân thân mà gánh vác, Nhập thế cuộc bất khả vô văn tự, xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân than”.

Đến như Đệ nhất thi hào Lý Bạch, thiên hạ cho là trích tiên, là xuất thế, mà lắm lúc vẫn thổ lộ những tư tưởng nhập thế:

Trường phong phá lãng hội hữu thi

Trực quài vân phàm tế thương hải

(Đạp sóng cưỡi mây rồi có lúc

Buồm giăng gió lớn vút trùng dương)  (Hành lộ Nam)

………………………….

Như phùng Vị xuyên hiệp

Do khả đế Vương sư

(Duyên may gặp khách sang sông Vị

Vương đế mưu thần có kém ai!

(Tặng Tiền Trung Quân Thiếu Dương)

…..

Rõ ràng hơn nữa, khi An Lộc Sơn khởi loạn, Lý Bạch đã 55 tuổi, theo Vĩnh Vương Lân (con Đường Minh Hoàng) dẹp giặc An Lộc Sơn. Cái chí lớn trị loạn an dân đã thúc đẩy ông có hành động ái quốc mạnh mẽ. Cho đến khi tạ thế, loạn An Lộc Sơn chưa dẹp, Lý Bạch thường nghĩ đến quốc sự và nói:

Trung dạ tứ ngũ than

Thường vị đại quốc ưu

(Nửa đêm than thở bốn năm lần

Thường lo về việc nước)

Xem thế, tự cổ chí kim kẻ sĩ khó có thể sống ở ngoài lề xã hội. Hơn thế nữa, châm ngôn có câu: “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”.

Thất phu còn có trách nhiệm thay, huống chi là sĩ phu! Cái lý tưởng sống nhàn nhã, tìm thú thanh tuyền, lánh xa trần thế, để giữ lấy cái tiết tháo thanh cao lỗi thời lắm rồi.

Trong thời cận đại này, người ta phải hăng say tích cực, phải làm mãi cho đến ngày kiệt sức.

Nhà thơ danh tiếng Robert Frost (1874-1963) giáo sư Harvard có hai câu thơ được truyền tụng như châm ngôn:

And miles to go before I sleep

And miles to go before I sleep

………………………

“Còn nhiều hải lý đường trần,

Phải đi đi nưa!, Chưa cần nghỉ ngơi”….

(Tô Giang Tử dịch)

Robert Frost muốn nói: Không bao giờ được coi là làm đầy đủ bổn phận dầu trên đường trần có khi đã đến mức cao nhất, ta vẫn phải tiến thêm nữa mới xứng đáng với thiên phú mà Ơn Trên đã ban cho.

Phạm Thượng chi ngày mới tròn 25 tuổi bước vào đời đã sáng lập một cơ quan ngôn luận lớn kiêm nhiệm luôn hai trọng trách chính yếu là chủ nhiệm và chủ bút. Như vậy, chí “nhập thế” quả là lớn lao và quyết liệt. Cái chí ấy đã đưa đến thành công. Mấy ngàn trang sách rất giá trị rải rác trên hai trăm số tạp chí Nam Phong ấn hành liên tục trên 17 năm từ 1917 đến 1934, tuyển chọn in thành bộ Nam Phong Tùng Thư và 5 quyển Thượng Chi Văn tập (1943, tái bản 1962) đã là một sự nghiệp văn học khá vĩ đại. Xét cho kỹ thì phần rất lớn của khối văn nghiệp này là một khối văn học chính trị nhằm mục đích kiến tạo một nền văn học quốc gia và một nền văn chương quốc ngữ (Việt Văn) cho tổ quốc đang vươn mình lột xác chứ không phải là một văn nghiệp thuần túy văn học hay văn chương.

Hơn nữa, dư luận đều biết Phạm Thượng Chi có một niềm tin sâu xa rằng: “Nếu không có một nền văn hóa quốc gia thì không thể nào có được một sự độc lập về tư duy và tinh thần. Và do đó không thể nào có được một nền độc lập chính trị” như đã nói ở đoạn đầu.

Rồi, từ một nhà đại ngôn luận với lập trường nói trên trở thành một chính trị gia, rồi tham chính là con đường tất yếu. Ý chí đã lập thì con đường tất yếu nhất định phải đi. Thành công hay không là một vấn đề khác.

Tôi thiển nghĩ sau ngày đảo chánh Nhật 9 tháng 3 năm 1945, trong những ngày hưu hạ Phạm Thượng Chi viết tùy bút Văn học, Chính trị có thể là để giải tỏa nỗi lòng. Viết ra cho vơi bớt băn khoăn, dằn vặt, những ưu tư của lòng mình, đồng thời cũng muốn cho dư luận hiểu được phần nào cái thiện chí, cái hoài bão của mình: Đem tài năng thiên phú về văn chương phụng sự quốc gia dân tộc, dùng văn học làm phương tiện tranh đấu ôn hòa trên bình diện chính trị.

Do đó, Phạm tiên sinh đã mượn chủ trương, lập luận của Tổng thống Mỹ Thomas W.Wilson để bàn về nhà văn học làm chính trị, với chủ trương là nhà chính trị mà có văn học là có tư cách hoàn toàn. Tuy nhiên, liền ngay đó, trong đoạn phản thuyết bằng một khác biệt tinh vi là “Nhà văn học thuần túy không nên làm chính trị”. Với hai chữ “thuần túy”, Thượng Chi muốn nói “Nhà văn học mà bản sắc văn học rồi ngẫu nhiên làm chính trị thì không nên.”

Phạm Thượng Chi có ở trong trường hợp “ngẫu nhiên” làm chính trị không? Tôi thiển nghĩ là không. Đúng vậy, Ông đã làm chính trị từ ngày sáng lập Nam Phong tạp chí 1917 như trên đã nói.

Đọc tiểu sử và văn thơ của ông Tiến sĩ đồng hương Phạm Quí Thích (1760-1825) “Thiếu Hoa Đường “cảm phục” Lão Hoa Đường” về văn tài cũng như về khí tiết. Khen tiền bối đã xuất sử khôn ngoan, quyết chí từ quan về ẩn dật giữ lấy tiết tháo cao thanh.

Nhưng cũng vẫn nhận thấy sự nhập thế của Cụ Tiên Điền Nguyễn Du không phải là vô ích. Mặc dầu cuộc đời có phong ba hơn nhưng những năm lăn lóc trong hoạn trường há chẳng phải vì “đã đau đớn lòng” vì “những điều trông thấy” mới cấu tạo và sáng tác được một áng văn chương tuyệt diệu: Truyện Kiều để lưu truyền hậu thế.

Thượng Chi còn tiếp: “Như thế thì xuất sử cũng năm bẩy đường, vì có lẽ chỉ khác nhau ở một chữ Tài vậy. Trong phút ấy, có lẽ Thượng Chi đã càm được đại nạn sẽ đến với mình, nên đã viết thêm một câu rất húy kỵ! “Song chữ Tài vẫn hay liền với chữ Tai một vần, chính Tiên Điền đã dậy thế!”.

Đáng tiêc thay! Và thật đáng thương thay!

(…) Giá không có cái tai nạn thảm khốc đó thì những kiến văn cảm nghĩ đã tích trữ trong 13 năm sẽ được khối óc thông minh kia sáng tạo biết bao nhiêu kiệt tác. Cố nhiên không phải là một đoạn trường tân thanh tuyệt diệu như Nguyễn Du mà là một pho sách văn học, chính trị, kinh tế, xã hội… rất quí giá cho nền văn học nước nhà trong thời kỳ canh tân kiến thiết…

C.Đ.H.D.T

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: