Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 15, 2015

Tình bạn Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:24 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 5 năm 2015.

TÌNH BẠN PHẠM QUỲNH – NGUYỄN VĂN VĨNH

 Dã Thảo

Nguyễn Văn Vĩnh xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, quê quán làng Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, nay là huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Bố mẹ nghèo, phải bỏ làng ra Hà Nội kiếm sống và sinh ông ở 46 phố Hàng Giấy, ngày 15/6/1882. Nguyễn Văn Vĩnh hơn Phạm Quỳnh 11 tuổi.

Lên tám, phải đi làm thằng nhỏ kéo quạt ở Trường Thông ngôn của Pháp vừa mở ở đình Yên Phụ. Ngồi cuối lớp kéo quạt, nhưng ông vẫn chăm chú nghe giảng, do đó nói và viết được tiếng Pháp. Hiệu trưởng Đác-giăng-xơ (D’Argence) chú ý và sau ba năm học, cho phép cùng thi tốt nghiệp. Ông đỗ thứ 12 khi mới 11 tuổi, nên được đặc cách nhận vào làm học sinh chính thức, được học bổng để theo học khóa tiếp theo (1893-1895) và đã đỗ thủ khoa khóa học này. 14 tuổi, làm thông ngôn tòa sứ Lào Cai, rồi chuyển về tòa sứ Hải Phòng, Bắc Giang, ông bắt đầu cộng tác với các báo tiếng Pháp. Công sứ Bắc Giang đánh giá tài mẫn tiệp và nói tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh đã đặc cách bổ nhiệm làm chánh văn phòng. Khi được cử làm Đốc lý  Hà Nội cũng đưa ông về theo.

Ông giúp vận động người Việt làm đơn xin mở trường và các hội nên đã trở thành người sáng lập Hội Trí Tri, Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Hội Dịch sách, Hội giúp đỡ người Việt du học Pháp. Năm 1906 được sang Pháp giúp tổ chức và quản lý gian hàng Bắc Kỳ tại Hội chợ Thuộc địa mở ở Marseille. Học hỏi được nhiều về nghề báo và nghề in, nên khi về nước, ông từ chức ở phủ thống sứ và đứng ra làm báo và nghề in… Năm 1913, Nguyễn Văn Vĩnh từ Sài Gòn trở về Hà Nội làm chủ bút tờ Đông Dương tạp chí, sang năm sau, kiêm cả tờ Trung Bắc tân văn, hai tờ này đều của Snây-đe (Schneider) người Pháp.

Sau Nguyễn Văn Vĩnh đỗ thủ khoa Trường Thông ngôn năm 1895, Phạm Quỳnh cũng học tại trường này và cũng đỗ thủ khoa năm 1908, khi trường Thông ngôn kết hợp trường Thành chung Nam Định thành trường Trung học Bảo hộ (tức trường Bưởi). Nguyễn Văn Vĩnh đi làm công chức khi 14 tuổi, thì Phạm Quỳnh đi làm công chức năm 15 tuổi ở trường Viễn Đông Bác Cổ. Chính trong thời gian làm việc tại đây, được học tập nghiên cứu nhiều, Phạm Quỳnh đã viết bài cho Đông Dương tạp chí và dần dà trở thành cây bút được bạn đọc tin cậy và cũng là cộng tác viên thường xuyên của báo.

Họ thân nhau từ đấy.

Lý do sâu xa hơn của tình thân ấy chính là cả hai đều học chữ Pháp, làm việc dưới quyền người Pháp, nhưng đều yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ và cố dốc hết tâm sức để vun trồng chăm sóc cho quốc ngữ ngày một lớn mạnh, phong phú, đủ để giữ được hồn nước. Ngay từ năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết: “Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở như chữ quốc ngữ” (Lời tựa bản dịch Tam Quốc Chí của Phan Kế Bính), cũng tha thiết tin tưởng như sau này Phạm Quỳnh nói “Tiếng ta còn, nước ta còn” trong lễ Kỷ niệm Nguyễn Du đầu tiên ở nước ta năm 1924.

Năm 1922, hai ông cùng đi dự Đấu xảo Thuộc địa Marseille và tranh thủ đi Paris. Nguyễn Văn Vĩnh đã đi Pháp năm 1906, có kinh nghiệm hơn, lại tháo vát, có khiếu về kinh doanh, đã mua xe hơi, đưa Phạm Quỳnh đi tất cả những nơi mà Phạm Quỳnh muốn đến “xem tận mắt, nghe tận tai”. Trong Pháp Du Hành Trình Nhật Ký, ngày 23/7/1922, Phạm Quỳnh viết: “Sẵn có ô tô của ông V., hai anh em định suốt tuần lễ này đi xem cho thật nhiều không những trong châu thành Paris, mà đi cả các nơi phụ cận ở ngoài nữa”. Chính nhờ có ông V. tự lái xe của mình cho Phạm Quỳnh đi cùng mà hậu thế chúng ta được biết thêm bao nhiêu cảnh và người nước Pháp hồi ấy, chứ Phạm Quỳnh thì chỉ có đi bộ và đi các phương tiện giao thông công cộng, làm sao mà tung hoành theo ý mình được.

Chính vì tình bạn vong niên đó mà năm 1926 khi Thống sứ Bắc Kỳ Rơ-nê Rô-banh (René Robin) có “nhã ý” trợ cấp cho Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong thì ông đã nhân cơ hội này xin trợ cấp cho Nguyễn Văn Vĩnh mà trong thư gửi cho Robin ông trình bày là Nguyễn Văn Vĩnh đã làm rất nhiều việc cho xã hội và còn gặp khó khăn lớn hơn ông.

Cùng yêu tiếng ta, một lòng với tiếng ta, mục đích chỉ là nhằm giữ hồn nước, khơi dậy lòng yêu nước thương nòi trong nhân dân ta. Nhưng khi gặp được cơ hội trực tiếp đấu tranh chính trị để đem lại lợi ích cho nhân dân, nâng cao vị thế của người dân thì hai ông cũng không bỏ qua, mà luôn luôn tận dụng.

Năm 1908, Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, Nguyễn Văn Vĩnh cùng bốn người Pháp ký tên yêu cầu chính quyền Đông Dương thả Phan Châu Trinh đang có mặt ở đấy. Vì việc này, ông đã bị Toàn quyền Pháp gọi lên đe dọa. Sau, nhờ có sự can thiệp của Hội Nhân quyền, Phan Châu Trinh được trả tự do trước hạn và đưa về quản thúc ở Mỹ Tho (1911).

Năm 1925, Phan Bội Châu bị đưa ra xét xử tại Tòa Đề hình Hà Nội, bị kết sáu án chung thân và hai án tử hình. Nhà báo Phạm Quỳnh đã viết bằng tiếng Pháp trên báo Indochine Républicaine (Đông Dương cộng hòa) có thế lực cả ở Đông Dương lẫn chính quốc, lên tiếng bênh vực Phan Bội Châu là “người chỉ có một tội là tội yêu nước như bao anh hùng liệt sĩ Pháp chống giặc ngoại xâm” và yêu cầu khoan hồng. Kết quả là, cùng với phong trào đấu tranh của nhân dân sôi nổi cả nước, Phạm Quỳnh đã góp phần giảm án cho Phan Bội Châu từ tử hình xuống chỉ còn quản thúc ở Huế, để Phan Bội Châu thành “ông Già Bến Ngự” nổi tiếng cả nước.

Năm 1930, trên diễn đàn của Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương, nhà báo Phạm Quỳnh đã lớn tiếng bênh vực công nghiệp còn non trẻ, yếu ớt của nước nhà, chống lại và làm thất bại chính sách độc quyền kinh doanh của thực dân Pháp, điển hình là đã làm phá sản chính sách độc uyền về sản xuất và bán rượu gạo ở Việt Nam của công ty Fontaine. Cũng trên diễn đàn ấy, năm 1932, Nguyễn Văn Vĩnh đã thay mặt giới doanh nghiệp phản đối việc chuyển đồng tiền Đông Dương từ ngân bản vị sang kim bản vị vì có lợi cho ngân hàng Pháp và có hại cho Đông Dương.

Tuy cùng một mục đích nhưng không phải khi nào hai ông cũng nhất trí với nhau về con đường và cách thức đi tới mục đích đó. Cho nên mới có cuộc tranh luận trực trị hay lập hiến sôi nổi một thời mà hai ông đứng ở hai phía đối lập . Tuy thế cả hai đều hòa nhã, chừng mực, lấy việc tìm ra con đường tốt nhất cho dân cho nước làm trọng, bình tĩnh thảo luận tìm ra chân lý. Hai ông bao giờ cũng “hòa nhi bất đồng” (tức: hòa với mọi người, nhưng không về hùa với ai) theo đúng kiểu người quân tử. Đó là một cuộc tranh luận có văn hóa.

Nhưng, rốt cuộc, tất cả những việc các ông tham gia hoạt động chính trị chỉ càng chứng tỏ là cả hai ông chỉ là những nhà văn hóa, nhà văn hóa lớn như nhà văn Nguyên Ngọc có lần gọi là “những người khổng lồ”, nhưng không thể là những nhà chính trị. Sự nghiệp các ông để lại vẫn chỉ là về văn hóa, văn học mà thôi.

Năm 1932 khi Nguyễn Văn Vĩnh đang họp Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương ở Sài Gòn thì có trát tòa án đòi tịch biên gia sản vì ông thiếu nợ do vay tiền dựng tòa soạn báo An Nam Nouveau (Nước An Nam mới). Vỡ nợ, ông phải đi sang Lào đào vàng và chết trong một cơn sốt rét ác tính, trên con thuyền độc mộc ở sông Sêbăngghi, gia sản chỉ còn hai bàn tay trắng (ngày 1/5/1936).

Lễ tang ông được tổ chức ở Hà Nội với đông đảo giới báo chí ba kỳ dưới dòng chữ kính viếng “ông tổ của nghề báo”.

Bấy giờ, Phạm Quỳnh đang ở Huế, là Tổng lý Đại thần Ngự tiền Văn phòng và Thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục. Vậy mà ông lại làm một bài thơ Khóc Nguyễn Văn Vĩnh, sau này có người tìm thấy khi được giao nhiệm vụ tịch thu gia sản Phạm Quỳnh khi ông bị bắt tháng 8/1945. Bài thơ có bốn câu cuối rất lạ:

Sống lại như tôi là sống nhục

Chết đi như Bác, chết là vinh

Suối vàng Bác có dư dòng lệ,

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

Người đương thời cũng thường gắn tên hai ông với nhau như trong việc kể tên bốn tác giả kiệt xuất thời đầu thế kỷ XX là “Quỳnh (Phạm Quỳnh), Vĩnh (Nguyễn Văn Vĩnh), Tố (Nguyễn Văn Tố), Tốn (Phạm Duy Tốn.

Hai ông đều là “nhưng người dân thuộc địa, qua ứng xử với nền văn hóa đô hộ, đã tiếp biến văn hóa phương Tây để tạo ra những giá trị mới (lắm khi chống lạinằm ngoài toan tính của kẻ xâm lược)” (trích bài của Hữu Ngọc, Việt Nam và “sốc văn hóa”, báo Nhân dân cuối tuần, 27/6/1999 trang 5.)

Thành ra cảm thấy … hụt hẫng khi đọc bài Nhớ “người Nam mới” đầu tiên của Thu Hà đăng trên Tuổi Trẻ chủ nhật 12/9/2010 đoạn văn sau:

“Có quá nhiều điều chúng ta hôm nay chưa biết về Nguyễn Văn Vĩnh và những người ông chịu ảnh hưởng hay chia sẻ tâm huyết (Chúng tôi nhấn mạnh-D.T.) như Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Tố, các đồng chí trong Đông Kinh Nghĩa Thục…”

Hụt hẫng vì không thấy nhắc đến tên người bạn thân thiết nhất, người đồng chí đồng tâm nhất với Nguyễn Văn Vĩnh là Phạm Quỳnh.

Vì sao đến cuối năm 2010 rồi mà vẫn cứ phải né tránh một tên tuổi cả nước đã biết từ gần 100 năm nay

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18/11/2010.

D.T.

Trong bài sử dụng chủ yếu tư liệu trong Từ điển văn học-bộ mới (NXB Thế Giới, 2004) và Blog PhamTon.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: