Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 29, 2015

Không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 6 năm 2015. 

“KHÔNG NÊN ĐÀO BỚI NHỮNG CHUYỆN CŨ RA LÀM ÁN MỚI”

Thủy Trường

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Từ kỳ này, chúng tôi sẽ lần lượt đăng lại để bạn đọc không có điều kiện theo dõi thường xuyên đọc được những bài được đông đảo bạn đọc truy cập trong ba năm qua, mong bạn đọc chú ý theo dõi.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

* Bài Không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới này của Thủy Trường mới lên Blog PhamTon tuần 4 tháng 3 năm 2012 mà tính đến ngày 3/7/2012 đã có 9.873 lượt người truy cập.

—o0o—

Trên Tạp chí  Thanh Tra  (Cơ quan của Thanh Tra Chính Phủ và Ngành Thanh Tra) Xuân Nhâm Thìn 2012 có viết: Nhà văn Sơn Tùng đã ghi lại lời của cụ Vũ Đình Huỳnh, bí thư tâm phúc của Bác Hồ từ tháng 8/1945 đến cuối năm 1953 như sau: Bác Hồ rời Tân Trào, Tuyên Quang, Việt Bắc làm việc ở Bắc Bộ phủ, 12 phố Ngô Quyền. Một phái đoàn Trung ương – ông Nguyễn Lương Bằng, ông Trần Huy Liệu, ông Cù Huy Cận đã vào Huế dự lễ vua Bảo Đại thoái vị. Hôm phái đoàn lên đường rồi, Hồ Chủ tịch mới về Hà Nội; như chợt nhớ, Người nói với ông Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Tổng Chỉ huy Quân đội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ; ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Lê Giản, Tổng Giám đốc Nha Công an Việt Nam; Vũ Đình Huỳnh: “Chú Bằng, chú Liệu, chú Cận vô Huế rồi mình mới về thì đã trễ, giờ chú Nam hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế, gặp cụ Phạm Quỳnh, trao thư tôi mời cụ…”.

Hai hôm sau, ông Nam báo cáo với Hồ Chủ tịch: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt…”. Hồ Chủ tịch để điếu thuốc đang hút dở xuống gạt tàn, nói lửng: “Bất tất nhiên!”. Sau đó, trong buổi ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên – Huế đến làm việc với Bác tại nhà số 8 phố Vua Lê Thái Tổ và báo với Bác là: “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi!” thì Bác thu hai cánh tay vào sát ngực tựa lên mặt bàn, lặng ngắt một lúc… Người nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì?”. Người duỗi hai tay ra mặt bàn: “Tôi đã gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu”. (Bài Cách dùng người của Đảng và Bác Hồ).

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” vào ngày 17 tháng 9 năm 1945, sau khi được tin ngày 23 tháng 8 Phạm Quỳnh bị bắt và ngày 6 tháng 9 bị “Ủy ban Khởi nghĩa kết án tử hình” (và “đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”. (Báo Quyết Thắng, cơ quan tuyên truyền tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, ngày 9 tháng 12 năm 1945).

Trong thư có đoạn:

“5. Ở các địa phương, những khuyết điểm to nhất là:

a)      Khuynh hướng chật hẹp và bao biện. Việc gì cũng do người Việt Minh làm, không biết đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc.

b)      Lạm dụng hình phạt. Những đứa phản quốc có chứng cớ rõ ràng phải trừng trị đã đành. Nhưng chúng ta không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người không nguy hiểm lắm, thì nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung, không nên bắt bớ lung tung, không nên tịch thu vô lý, làm cho dân kinh khủng (sợ hãi) (…) (Hồ Chí Minh toàn tập , tập IV, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995, trang 20)

Những chỉ đạo này đã đưa đến Đại Đoàn Kết tạo nên những Đại Thành Công mà cho đến nay – 2012, vẫn không phải dễ tiếp nhận đối với một số người.

Nhưng, với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, tư tưởng này đã nảy mầm trong quá trình tìm đường cứu nước bùng phát trong những năm cách mạng, kháng chiến cứu nước, và nở rộ trong xây dựng đất nước.

Rời Tổ quốc ra đi với hai bàn tay lao động “để kiếm sống”, để “xem nước Pháp và các nước khác, xem xét họ làm như thế nào, để trở về giúp đồng bào”, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã có gần mười năm làm bồi bếp, thủy thủ, quét tuyết, đã tiếp xúc với nhiều hạng người, đã thấu hiểu được nỗi cơ cực, nhục nhã của nhiều dân tộc thuộc địa bị đàn áp, bóc lột.

Mười năm sau, Nguyễn Tất Thành đã trở thành Nguyễn Ái Quốc – lần đầu tiên bộc lộ một suy nghĩ độc đáo về sự đoàn kết trong bài Phong trào cách mạng ở Ấn Độ đăng trên Tạp chí Cộng sản, bản tiếng Pháp số 18-19, ra tháng 8-9 năm 1921. Nguyễn Ái quốc đã trình bày trong bài này một luận điểm riêng của mình: “Thảm họa của đất nước đã xóa bỏ sự phân biệt đẳng cấp và tôn giáo, người giàu, người nghèo, quý tộc và nông dân. Hồi giáo và Phật giáo đều hiệp sức đoàn kết”.

Tiếp tục dòng tư duy này, trên tờ Le Paria (Người cùng khổ) tháng 5/1924, từ nhận định: “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người, giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Ở Đông Dương có hai con người: “người được bảo hộ” và “người đi bảo hộ”. “Người được bảo hộ” này là nhân dân Đông Dương bị áp bức, bị đè nén, bị hút máu xương trong cuộc đời nô lệ. Như vậy, Nguyễn Ái Quốc – từ bấy giờ – đã “dàn” ra hai mặt trận ở Đông Dương: Một bên là bọn đi bóc lột, đàn áp, cùng với bè lũ tay chân, một bên là tất cả những ai chống lại chúng, không muốn bị bóc lột, đàn áp, sống kiếp nô lệ.

Ý nghĩa, tư duy, tư tưởng này của Nguyễn Ái Quốc được chính Người chính thức công bố trong một buổi giảng dạy cho các đảng viên cộng sản Đức tại Mátxcơva năm 1924 với tư cách là “một người am hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác và thực tế lịch sử Việt Nam trong quá khứ và hiện tại”. Bài giảng mang một đề mục khiêm tốn “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” (Đã công bố lần đầu tiên ở Việt Nam trong Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.467-460). Trong bài giảng này, Nguyễn Ái Quốc, có thể là người đầu tiên đã can đảm tuyên bố “cuộc đấu tranh giai cấp ở đây (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) không diễn ra giống như ở phương Tây”. Đi xa hơn nữa, Nguyễn Ái Quốc phân tích: Xã hội Đông Dương về mặt cấu trúc kinh tế không giống các xã hội phương Tây thời trung cổ cũng như thời cận đại và đấu tranh giai cấp ở đó (nhấn mạnh trong nguyên văn) không quyết liệt như ở châu Âu. Vì sao vậy? Theo Nguyễn Ái Quốc: Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử; nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu, mà châu Âu, là gì?” Nguyễn Ái Quốc đặt ra câu hỏi rồi tự trả lời: “Châu âu chưa phải là toàn thể nhân loại”. Do đó theo Nguyễn Ái Quốc “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng ở đó (Đông Dương). Dù sao cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được, và Nguyễn Ái Quốc kiến nghị “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông” (tất nhiên trong đó có dân tộc học Việt Nam) mà thực chất là “chủ nghĩa dân tộc còn là động lực lớn nhất của đất nước”.

Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, đã đưa ra thông qua tại hội nghị này “Chánh cương vắn tát, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình vắn tắt, điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng Sản Việt Nam – và được coi như chính cương chính thức của Đảng”.

Trong Sách lược vắn tắt của Đảng, Nguyễn Ái Quốc viết: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt… Còn đối với bọn phú nông, trung tiểu địa chủ (nhấn mạnh trong nguyên văn) và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng… ít ra làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ”.

Bản Sách lược này tuy rất “tế nhị” dùng hai chữ “sách lược” (chứ không phải “chiến lược”, “đường lối”) nhưng cũng cho thấy rõ cuộc đấu tranh giai cấp, giành giải phóng dân tộc ở Việt Nam diễn ra giữa hai “giống”, hai “hạng người”, người bị áp bức và kẻ đi áp bức cùng đồng bọn tay chân, trên hai mặt trận, hai giới tuyến.

Dù sau này, trải qua một thời gian dài bạn bè quốc tế, một số cán bộ trong Quốc tế Cộng sản, trong Đảng Cộng sản Đông Dương vì nhiều lý do mà không hiểu, hiểu sai, phản đối quan điểm này của Nguyễn Ái Quốc – thì thực tế lịch sử cũng phải công nhận, chứng minh rằng Nguyễn Ái Quốc đã đúng.

Năm 1939, Nguyễn Ái Quốc xin ý kiến của Quốc tế Cộng sản 8 điểm về đường lối cách mạng Đông Dương, điểm 3 có nói “Phải có thái độ khéo léo, mềm dẻo lôi kéo tư sản dân tộc vè phía mặt trận”. Nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11/1939 cũng đã chỉ rõ: “Phải liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương, tất cả các giai cấp, các đảng phái, các phần tử phản đế… sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản, tư sản bổn xứ; trung, tiểu địa chủ có căm tức đế quốc….” (Văn kiện Đảng 1930-1945, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Hà Nội, 1977, tr.56-60)

Trước tình hình chiến tranh thế giới giữa phe đồng minh và phe phát xít sẽ diễn ra ở châu Á, Thái Bình Dương, tiên liệu thời cơ giải phóng dân tộc, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Nguyễn Ái Quốc đã nói với các đại biểu dự hội nghị những lời đúc kết bằng máu thịt của mình: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những quốc gia, dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được…”

Và Người kêu gọi: “Toàn thể đồng bào trong nước không phân biệt ấu, lão (trẻ, già), sang, tiện (giàu, nghèo), Nùng, Thổ… kể cả người làm việc cho Tây, đi lính cho Tây hãy đoàn kết lại, vào Hội Việt Minh”…

Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân ta lại buộc phải cầm súng kháng chiến chống Pháp. Năm 1950, trên tờ Sinh hoạt nội bộ do Ban Chấp hành Liên chi khu bộ in, ký tên X.Y.Z, trong bài Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (tư liệu hiện còn lưu trữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam), Hồ Chí Minh viết: “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc. Việc gì cũng phải đúng với địa điểm, điều kiện, thì giờ mới thành công”.

Sau các đợt cải cách ruộng đất, trước nhiệm vụ chiến lược củng cố miền Bắc, giải phóng miền Nam, Đảng ta, nhân dân ta đã thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đọc lời chúc mừng Đại hội Mặt trận, ngày 5/9/1955, Hồ Chủ tịch nói: “Mặt trận dân tộc thống nhất cần mở rộng hơn nữa, củng cố hơn nữa, đoàn kết tất cả những người thật sự yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, tầng lớp nào và quá khứ của họ đã hợp tác với phe nào” (chúng tôi nhấn mạnh) (Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, Chính trị Quốc gia, 1996, tr.61. Xin nhắc lại từ năm 1946, Hồ Chủ tịch đã chủ trương “tập trung nhân tài, bất phân đảng phái” (Báo Đại Đoàn Kết, số 338, 16/2/2003). (Xưa sau khi thắng Nguyên Mông vua Trần cũng đốt hết giấy tờ của cá nhân liên quan đến quân giặc).

Tại lễ bế mạc đại hội này, ngày 10/9/1955, Người lại khẳng định: “Mặt trận sẵn sàng đoàn kết tất cả những người yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, tín ngưỡng tôn giáo, v.v… Như vậy là mặt trận sẽ bao gồm những người hiện nay tỏ ra thành tâm, thành ý phụng sự Tổ quốc, dù trước đây họ đã theo phe phái nào” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXB Sự Thật, 1987, tr.330. Xin lưu ý “Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, sách đã dẫn, tr.67 bỏ sót câu “như vậy… phe phái nào”. (Chúng tôi nhấn mạnh).

Những ý kiến này rất trùng hợp với một số ý kiến phê bình mà Bác Hồ đã viết trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà  (Nghệ An) ngày 17/9/1945 như sau: “Việc gì cũng do người của Việt Minh làm, không biết đem những người có danh vọng hoặc tài cán ở địa phương vào giúp việc (Xin lưu ý: Trong chính phủ ta bấy giờ chỉ có 6 đảng viên, còn 9 người khác là ngoài đảng, thuộc thành phần tiểu tư sản). Không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới” (Chúng tôi nhấn mạnh). Đối với những người không nguy hiểm lắm thì nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung, không nên bắt bớ lung tung, không nên tịch thu vô lý, làm cho dân kinh khủng” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập IV, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.20).

Bác biết rõ ông Vũ Đình Hòe đã theo thuyết Đại Đông Á của Nhật Bản – học thuyết bịp bợm “châu Á thuộc người châu Á”, thực ra là thuộc Nhật Bản, nhưng vẫn mời ông lên dự Hội nghị Tân Trào, giao nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Giáo Dục rồi Bộ trưởng Bộ Tư Pháp. Đó cũng là trường hợp Bác bổ nhiệm ông Hoàng Minh Giám làm Bộ trưởng Ngoại Giao, dù biết trước đó chính phủ Trần Trọng Kim đã mời ông cộng tác. Đó cũng là trường hợp của nhiều người mà tên, tuổi, cống hiến của họ đã làm vẻ vang cho đường lối của Đảng ta, của chủ trương đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết của Bác Hồ như Trần Huy Liệu, Nguyễn Phương Thảo, Đào Duy Anh, Tôn Quang Phiệt, Huỳnh Thúc Kháng…

“Bài học lớn nhất là Đảng ta phải độc lập suy nghĩ, giải quyết các vấn đề của cách mạng Việt Nam trên cơ sở đánh giá đúng đắn tình hình thực tế của Việt Nam. Những lúc nào ta quên điều đó, học tập một cách giáo điều kinh nghiệm nước ngoài thì khi đó cách mạng ta gặp khó khăn” (Lê Duẩn, sách Lê Duẩn, một nhà lãnh đạo lỗi lạc, Chính trị Quốc gia, 2000, tr.599). Vì “Đại đoàn kết thực sự là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của Việt Nam” (Đỗ Mười, phát biểu tại lễ kỷ niệm 65 năm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Nhân Dân số ra ngày 19/1/1995).

Ngày nay, sau bao nhiêu năm tháng thành công, chưa thành công của những bài học, của những “học phí” phải trả vấn đề “đoàn kết, đại đoàn kết với ai” một trong những di sản vô giá của Hồ Chí Minh phải được coi là “kim chỉ nam” cho hành động của chúng ta.

Phạm Quỳnh sinh năm Nhâm Thìn cách nay vừa đúng 120 năm. Năm Nhâm Thìn 2012 này, khi Tổ quốc ta đang ngày càng tiến mạnh, tiến nhanh trên con đường dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh, thì ánh sáng tư tưởng đại trí, đại nhân, đại nghĩa của Hồ Chí Minh sẽ soi rọi vào đám khói đen bao phủ cuộc đời và sự nghiệp của Thượng Chi – Phạm Quỳnh đã kéo dài gần 70 năm nay. Và chân lý sẽ sáng tỏ, con người thật của Thượng Chi – Phạm Quỳnh sẽ được trả lại đúng bản chất là con người Tận Trung với nước, Tận Hiếu với dân trọn cuộc đời.

T.T.

(2004-2012)

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: