Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 17, 2015

Trên quê hương yêu dấu (tuần 4 tháng 7 năm 2015)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:02 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4  tháng 7 năm 2015.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 13/7/2015:

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ

Chiều 12-7, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã về đến Hà Nội, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Hợp chúng quốc Hoa Kỳ theo lời mời của CNguyen Phu Trong tai lien hiep quochính quyền Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma.

Trong thời gian chuyến thăm (từ ngày 6 đến 10-7), tại thủ đô Oa-sinh-tơn D.C, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Tổng thống B.Ô-ba-ma; tiếp Đại diện Thương mại Hoa Kỳ M.Phrô-man; tiếp các lãnh đạo tôn giáo Hoa Kỳ, gặp đại diện các tầng lớp xã hội Việt Nam – Hoa Kỳ và các nghị sĩ Hoa Kỳ.

Nhân dịp này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu quan trọng và trao đổi ý kiến về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong giai đoạn phát triển mới tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS); dự tọa đàm với các doanh nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ; chứng kiến lễ ký nhiều văn kiện hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, giữa Việt Nam và Ngân hàng Thế giới.

Tại TP Niu Oóc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hội kiến Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Mun; đến thăm gia đình nguyên Tổng thống Bin Clin-tơn tại Kít-tơn Hao-dơ; tiếp đại diện lãnh đạo Đảng Cộng sản Hoa Kỳ và gặp bạn bè cánh tả Hoa Kỳ; nói chuyện thân mật với đông đảo bà con Việt kiều và lưu học sinh Việt Nam tại Hoa Kỳ; gặp, trao đổi với nhóm trí thức đại học Harvard…

Nhân chuyến thăm, hai bên đã thông qua Tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt Nam – Hoa Kỳ.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 10/7/2015:

Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong giai đoạn phát triển mới

(Bài nói chuyện của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Hoa Kỳ (CSIS), Oa-sinh-tơn, chiều 8-7-2015.)

Xin chào tất cả các quý vị và các bạn,

Nhân dịp sang thăm chính thức Hoa Kỳ, hôm nay tôi rất vui mừng được gặp gỡ các quý vị tại đây. Tôi chân thành cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) đã mời tôi đến trao đổi với các quý vị. Tôi được biết, Trung tâm là cơ quan nghiên cứu và trao đổi học thuật hàng đầu của Hoa Kỳ, có vai trò quan trọng trong việc tăng cường trao đổi học thuật và đối thoại giữa chính giới, học giả, nhân dân các nước về các vấn đề quan trọng và thiết thực liên quan đến an ninh, hoà bình và phát triển trên thế giới. Xin chúc mừng Trung tâm về những thành tựu đã đạt được và xin cảm ơn sự có mặt của tất cả các quý vị.

Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của tôi và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Đây chính là thời điểm thích hợp và có ý nghĩa để đánh giá, nhìn nhận về quan hệ hai nước và chia sẻ tầm nhìn “hướng tới tương lai”.

  1. Trước hết, tôi xin nhắc lại đôi điều về lịch sử quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.

Có những sự kiện về lịch sử quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ chưa được biết đến một cách rộng rãi. Ngài Tô-mát Gie-phơ-xơn trước khi trở thành Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ đã từng nỗ lực tìm cách nhập giống lúa tốt của Việt Nam để trồng ở trang trại Sát-oen của mình tại bang Vơ-gi-ni-a. Cách đây hơn 100 năm, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành – sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong khi tìm con đường để giải phóng cho dân tộc Việt Nam đã đến Bô-xtơn – nơi khởi đầu của cuộc cách mạng giành độc lập ở Hoa Kỳ. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Việt Nam và Hoa Kỳ đã từng là đồng minh trên mặt trận chống phát- xít; Việt Minh do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã cứu giúp những phi công Hoa Kỳ bị Nhật bắn rơi ở Việt Nam và những người nước ngoài duy nhất có mặt bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày Cách mạng Tháng Tám là những người bạn Hoa Kỳ. Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới năm 1945 được mở đầu bằng trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Một trong những quốc gia đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn thiết lập quan hệ hữu nghị chính là Hoa Kỳ; Người đã gửi 14 lá thư cho lãnh đạo Hoa Kỳ, trong đó có Tổng thống Tru-man, đề nghị thiết lập quan hệ “hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ”. Tuy nhiên, thật đáng tiếc là có những cơ hội lịch sử đã bị bỏ lỡ và chúng ta đã phải trải qua một giai đoạn đầy thăng trầm và đau thương cho đến khi bình thường hoá quan hệ năm 1995.

Ngày nay, tại Hoa Kỳ vẫn còn những ý kiến khác nhau về chiến tranh mà Hoa Kỳ đã tiến hành tại Việt Nam trong thế kỷ 20. Đối với nhân dân Việt Nam, đó là cuộc kháng chiến để giành độc lập, tự do cho dân tộc mình, giải phóng, thống nhất đất nước mình; không phải là cuộc chiến tranh nhằm chống lại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, càng không phải để chống nhân dân Hoa Kỳ. Ngay trong thời kỳ chiến tranh đang diễn ra, nhân dân Việt Nam vẫn giữ tình hữu nghị với nhân dân Hoa Kỳ, rất biết ơn nhiều người dân Hoa Kỳ đã đứng lên phản đối chiến tranh, bày tỏ tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam. Trong đó, mục sư Mác-tin Lu-thơ King là một trong những người tiêu biểu.

Sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”. Mặc dù còn chịu hậu quả rất nặng nề của chiến tranh, trong đó có ba triệu người chết; bốn triệu người bị thương; 4,8 triệu người bị phơi nhiễm chất da cam/đi-ô-xin và hàng trăm nghìn người đang mất tích trên chính quê hương mình, nhưng Chính phủ và người dân Việt Nam đã rất tích cực hợp tác và hợp tác rất hiệu quả với phía Hoa Kỳ để tìm kiếm những quân nhân Hoa Kỳ mất tích ở Việt Nam. Ngày nay, mọi công dân Hoa Kỳ, kể cả các cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam, khi đến Việt Nam đều được chào đón một cách thân thiện, đều có thể cảm nhận được thái độ hữu nghị, chân thành của người dân Việt Nam. Điều đó có thể không dễ hiểu đối với một số người nhưng lại là sự thật mà tất cả những ai đã từng đến Việt Nam đều có thể tận mắt chứng kiến.

Tôi nhắc lại những câu chuyện lịch sử này để khẳng định truyền thống hoà hiếu và mong muốn nhất quán của nhân dân Việt Nam về quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp giữa hai nước chúng ta.

  1. Về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ những năm qua.

Cách đây 20 năm, có lẽ ít ai hình dung được bằng cách nào mà hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ có thể vượt qua được nỗi đau của chiến tranh để xây dựng một mối quan hệ phát triển mạnh mẽ và tích cực như hiện nay. Trong suốt chặng đường 20 năm qua, quan hệ giữa hai nước đã phát triển năng động, liên tục và ngày càng sâu rộng, trải qua nhiều dấu mốc phát triển quan trọng, từ thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995, đến ký kết Hiệp định Thương mại song phương năm 2000, và thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện năm 2013.

Quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực đã đạt được những tiến triển tích cực và thực chất. Hợp tác kinh tế có sự phát triển vượt bậc và Hoa Kỳ ngày nay là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Hợp tác trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo đã có những bước tiến rất tích cực. Hiện nay, có hơn 16.500 sinh viên Việt Nam đang du học tại Hoa Kỳ. Kim ngạch thương mại hai chiều trong 20 năm qua tăng gấp 90 lần (từ hơn 400 triệu USD năm 1995 lên hơn 36 tỷ USD năm 2014). Hợp tác quốc phòng – an ninh cũng có những tiến triển quan trọng với Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng ký năm 2011 và đặc biệt là Tầm nhìn chung Việt Nam – Hoa Kỳ về quan hệ quốc phòng vừa được ký kết tại Hà Nội tháng 6 năm 2015. Hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ cũng đã phối hợp tốt trên nhiều vấn đề quốc tế và khu vực, từ không phổ biến vũ khí hạt nhân, chống khủng bố, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, đến bảo đảm an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an toàn an ninh hàng hải, an ninh hạt nhân, duy trì hoà bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác ở châu Á – Thái Bình Dương… Hợp tác nhân đạo giữa hai nước, trong đó có việc khắc phục hậu quả chiến tranh, đã và đang được triển khai ngày càng tích cực. Việt Nam coi việc tìm kiếm binh sĩ Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam là vấn đề nhân đạo và sẽ tiếp tục hợp tác tốt với Hoa Kỳ trong hoạt động này. Quan hệ giao lưu nhân dân phát triển ngày càng sâu rộng, là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau và hữu nghị giữa hai nước.

Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ phát triển tích cực trong 20 năm qua trên cơ sở tôn trọng những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đó là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau và hợp tác cùng có lợi. Những năm qua, Việt Nam và Hoa Kỳ đã từng bước đạt được nhận thức chung về những nguyên tắc này. Đây cũng chính là một nhân tố quan trọng cho việc xây dựng lòng tin chính trị giữa hai nước.

Có thể khẳng định rằng, sự phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong 20 năm qua là tích cực, đúng hướng, đem lại lợi ích thiết thực cho hai nước và nhân dân hai nước, có lợi cho hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới. Đó là kết quả nỗ lực của lãnh đạo và nhân dân hai nước với tinh thần gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai. Đó cũng là thí dụ thành công về quan hệ giữa các nước từng đối đầu trong quá khứ, có thể chế chính trị khác nhau, phù hợp với xu thế hoà bình, hợp tác của thời đại.

Nhân dịp này, tôi muốn cảm ơn các chính khách, tổ chức và cá nhân của cả hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ đã nhiệt tình ủng hộ và nỗ lực đóng góp thiết thực để thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong những thập niên qua; đặc biệt cảm ơn những người bạn Hoa Kỳ đã tích cực giúp đỡ Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, đoàn kết, ủng hộ sự nghiệp phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Các kết quả và bài học kinh nghiệm trong 20 năm qua cho phép chúng ta lạc quan về triển vọng sáng sủa của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian tới.

  1. Tình hình thế giới và chủ trương đối ngoại của Việt Nam.

Thế giới đang chuyển biến nhanh chóng, phức tạp và sâu sắc, đòi hỏi chúng ta phải có những tư duy mới và phương thức hành động mới. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, các xu thế hợp tác và phát triển, toàn cầu hoá, dân chủ hoá đang mở ra những cơ hội mới cho sự phát triển và hợp tác giữa các quốc gia. Các cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế, khủng hoảng xã hội – nhân văn đang đặt ra những yêu cầu mới về mô hình phát triển công bằng và bền vững, về quan hệ hợp tác kinh tế giữa các quốc gia và trật tự kinh tế quốc tế. Những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, trong đó có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ nghĩa khủng bố, cực đoan, tôn giáo, an ninh mạng, an ninh hàng không, an toàn hàng hải… nổi lên với những đặc điểm mới, tác động mạnh tới hoà bình, ổn định và phát triển của thế giới, đòi hỏi phải có tư duy và cách tiếp cận mới đối với vấn đề an ninh. Các vấn đề khủng hoảng môi trường – sinh thái, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến ngày càng phức tạp đang đặt ra những yêu cầu mới về phương thức sản xuất và sinh hoạt của con người, về xử lý mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Trong một thế giới toàn cầu hoá, sự tuỳ thuộc giữa các quốc gia ngày càng tăng cả về phát triển và an ninh thì luật pháp quốc tế, sự tôn trọng lẫn nhau và hợp tác giữa các quốc gia càng cần được đề cao hơn bao giờ hết.

Châu Á – Thái Bình Dương – khu vực tăng trưởng năng động nhất thế giới – vừa có đầy đủ các đặc điểm chung của thế giới, vừa có những đặc điểm riêng của khu vực. Trong khi quá trình hợp tác, liên kết kinh tế đang được thúc đẩy nhanh chóng, mạnh mẽ với nhiều sáng kiến kết nối trong và với ngoài khu vực, thì những thách thức đối với hoà bình, an ninh và ổn định đang đặt ra ngày càng gay gắt, nhất là do sự gia tăng căng thẳng trong tranh chấp chủ quyền trên biển. Trong khi sự tuỳ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các nước ngày càng gia tăng thì ở khu vực vẫn chưa có được các thoả thuận, cơ chế hoặc cấu trúc an ninh tập thể hữu hiệu để đối phó với các nguy cơ, thách thức đang nổi lên, đặc biệt là chủ nghĩa dân tộc, tôn giáo cực đoan, chủ nghĩa đơn phương đang có xu hướng trỗi dậy.

Tình hình đó đòi hỏi sự quan tâm và nỗ lực hợp tác của tất cả các nước, trong đó có Việt Nam và Hoa Kỳ, vì hoà bình, an ninh và thịnh vượng của khu vực và thế giới.

Về kinh tế, chúng tôi ủng hộ các mô hình hợp tác vì phát triển công bằng và bền vững, cùng có lợi giữa các quốc gia; ủng hộ các sáng kiến thúc đẩy thương mại và đầu tư đem lại lợi ích công bằng cho tất cả các bên, nhất là cho người lao động ở tất cả các nước. Chúng tôi cho rằng, phương thức hợp tác tốt nhất là trên nguyên tắc bổ sung, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển, góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các quốc gia.

Về chính trị – an ninh, chúng tôi ủng hộ quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng giữa các quốc gia trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hoà bình phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, không sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ lực.

Chúng tôi ủng hộ việc hình thành các thoả thuận, các cơ chế hợp tác kinh tế và an ninh giữa các nước trong khu vực và trên thế giới phù hợp với các nguyên tắc trên.

Chúng tôi ủng hộ một châu Á – Thái Bình Dương hoà bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển thịnh vượng, được kết nối bằng các liên kết kinh tế và các quan hệ hợp tác kinh tế cùng có lợi trong và ngoài khu vực, có các thoả thuận và cơ chế bảo đảm an ninh chung, an toàn và tự do hàng hải, hàng không…, trong đó việc phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong các cấu trúc an ninh-chính trị đang hình thành ở châu Á – Thái Bình Dương là phù hợp và có lợi cho hoà bình, an ninh của khu vực và thế giới. Chúng tôi cho rằng châu Á – Thái Bình Dương có đủ cơ hội cho tất cả các nước trong và ngoài khu vực, trong đó có Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga và các nước EU.

Trên tinh thần đó, Việt Nam chủ trương tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Việt Nam đã mở rộng quan hệ ngoại giao với hơn 180 nước trên thế giới, hình thành quan hệ đối tác toàn diện, đối tác chiến lược với các nước đối tác quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Trong lĩnh vực kinh tế – thương mại, Việt Nam đã tham gia và đang tích cực đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, trong đó có TPP, một hiệp định có quy mô rất lớn, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ và khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

  1. Về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian tới.
  2. a) Hai nước chúng ta đã thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện. Đó là tiền đề rất quan trọng cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước trong những năm tới. Trước mắt, chúng ta phải cùng nỗ lực không ngừng làm sâu sắc, phong phú thêm quan hệ Đối tác toàn diện tạo cơ sở nâng quan hệ hai nước lên tầm cao mới trong tương lai. Động lực quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ theo định hướng đó là những lợi ích chung mà hai nước chúng ta cùng chia sẻ, theo tôi, đó là :

– Thứ nhất, chúng ta có lợi ích chung trong tăng cường hợp tác song phương một cách toàn diện vì sự phát triển và phồn vinh của mỗi nước, vì hạnh phúc của nhân dân hai nước;

– Thứ hai, chúng ta có lợi ích chung trong thúc đẩy hợp tác ở khu vực để góp phần bảo đảm hoà bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng ở châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là việc duy trì hoà bình, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, tự do hàng không ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế;

– Thứ ba, chúng ta cũng có lợi ích chung trong hợp tác, phối hợp các nỗ lực để đóng góp cho các vấn đề chung của thế giới với tư cách là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Một nước Việt Nam giàu mạnh, ổn định, độc lập tự chủ, hội nhập và đóng góp có trách nhiệm cho cộng đồng quốc tế là phù hợp với lợi ích của hoà bình, an ninh, hợp tác và phát triển ở châu Á – Thái Bình Dương và thế giới, là phù hợp với lợi ích của Hoa Kỳ và các nước trong và ngoài khu vực.

  1. b) Trong thời gian tới, chúng ta có rất nhiều việc cần làm để đưa quan hệ song phương không ngừng tiến lên phía trước:

– Trước hết, việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, xây dựng và củng cố sự tin cậy chính trị giữa lãnh đạo, chính giới và nhân dân hai nước là hết sức quan trọng để đưa quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ phát triển ngày càng sâu rộng, bền vững. Nhằm mục đích đó, chúng ta cần tăng cường trao đổi, tiếp xúc cấp cao, giữa các kênh nghị viện, giữa các chính đảng, mở rộng các cơ chế tham vấn, đối thoại trên các lĩnh vực cùng quan tâm. Đó cũng chính là một trong những mục đích của chuyến thăm Hoa Kỳ lần này của tôi và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam. Chúng tôi cũng mong sớm được đón Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma sang thăm chính thức Việt Nam trong thời gian tới.

– Hợp tác kinh tế – thương mại – đầu tư là một trọng tâm, là nền tảng và là động lực phát triển quan hệ song phương, cần được đẩy mạnh hơn nữa. Đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam cho đến nay còn khá khiêm tốn, mới đứng thứ 7 trong số các quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư ở Việt Nam. Hoa Kỳ chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, vẫn áp dụng nhiều rào cản thương mại đối với Việt Nam. Tôi hy vọng việc hoàn tất đàm phán TPP sắp tới sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho thương mại giữa hai nước, giữa Hoa Kỳ và ASEAN bởi lẽ hàng hoá Hoa Kỳ vào thị trường Việt Nam 90 triệu dân, được kết nối với thị trường ASEAN hơn 600 triệu dân. Việc Hoa Kỳ sớm công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam là bước đi cần thiết cho cả hai bên theo hướng đó.

– Hợp tác trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo, y tế, môi trường, v.v… là điểm sáng và là lĩnh vực hợp tác đầy tiềm năng trong quan hệ hai nước. Đây cũng là những lĩnh vực liên quan đến chất lượng của phát triển bền vững của Việt Nam và Hoa Kỳ với nhiều thế mạnh có thể chia sẻ. Trong chuyến thăm lần này, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ trao giấy phép chính thức để xây dựng Trường Đại học Fulbright tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi cũng khuyến khích và kêu gọi các doanh nghiệp, các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức và cá nhân Hoa Kỳ tăng cường đầu tư và hợp tác với Việt Nam trên các lĩnh vực nói trên.

– Hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng – an ninh là yếu tố làm gia tăng sự tin cậy và giá trị chiến lược của quan hệ song phương, cần được tăng cường với các bước đi phù hợp với lợi ích của hai nước. Hai bên cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Bản Ghi nhớ về hợp tác quốc phòng ký năm 2011 và đặc biệt là Tầm nhìn chung Việt Nam – Hoa Kỳ về quan hệ quốc phòng vừa được ký kết tại Hà Nội tháng 6 vừa qua; đồng thời mở rộng hợp tác về thực thi pháp luật, chống khủng bố, bảo đảm an toàn an ninh hàng hải…, qua đó góp phần duy trì hoà bình, ổn định và hợp tác ở châu Á – Thái Bình Dương.

– Hợp tác trong lĩnh vực nhân đạo cần tiếp tục được đẩy mạnh để góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng lòng tin, tăng cường hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Hậu quả chiến tranh ở Việt Nam còn hết sức nặng nề. Nhiều thế hệ người dân Việt Nam vẫn đang phải tiếp tục vật lộn với những hậu quả chiến tranh khắc nghiệt. Thời gian qua, nhiều tổ chức, cá nhân, trong đó có các cựu chiến binh Hoa Kỳ, đã triển khai nhiều hoạt động rất thiết thực để hỗ trợ khắc phục hậu quả chiến tranh; Quốc hội Hoa Kỳ hằng năm đã thông qua ngân sách hỗ trợ giải quyết các vấn đề do chiến tranh để lại, trong đó có việc tẩy độc các vùng bị ô nhiễm, rà phá bom mìn… Tuy nhiên, kết quả vẫn còn khiêm tốn so với yêu cầu thực tế. Để làm tốt chủ trương gác lại quá khứ, chúng ta nên chung tay hàn gắn những vết thương chiến tranh. Đây là vấn đề rất nhạy cảm, tác động mạnh đến tâm tư, tình cảm của nhân dân, vì vậy việc hai bên phối hợp giải quyết tốt sẽ là góp phần quan trọng tăng cường quan hệ giữa hai nước.

– Giao lưu nhân dân là lĩnh vực rất quan trọng để tăng cường hơn nữa hiểu biết lẫn nhau và hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Việt Nam và Hoa Kỳ chia sẻ một lịch sử quan hệ không dễ dàng. Tôi được biết nhiều định kiến về Việt Nam tại Hoa Kỳ còn khá phổ biến. Nhưng tôi cũng biết một thực tế khác là hầu hết người Hoa Kỳ sau khi đến Việt Nam đều có cách nhìn tích cực và khách quan hơn về Việt Nam, đều có ấn tượng sâu sắc về một xã hội năng động, không kỳ thị, giàu tính nhân văn, về người dân thân thiện, lạc quan, cởi mở. Trong 20 năm qua, chúng ta đã hiểu thêm về nhau nhưng sự hiểu biết lẫn nhau đầy đủ hơn vẫn cần được tăng cường. Đây là điều hết sức cần thiết để xây dựng lòng tin và quan hệ hữu nghị. Tôi mong rằng, chúng ta sẽ đẩy mạnh tiếp xúc, giao lưu trên tất cả các kênh, nhất là giữa các tổ chức phi chính phủ và nhân dân hai nước. Đặc biệt, còn có một nhân tố hết sức quan trọng đối với quan hệ hai nước là cộng đồng đông đảo người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Họ là công dân Hoa Kỳ và cũng là đồng bào của chúng tôi. Tôi mong chính quyền Hoa Kỳ quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống, công việc và học tập của người Việt Nam tại Hoa Kỳ, tạo điều kiện để họ hội nhập tốt và đóng góp tích cực cho sự phát triển của Hoa Kỳ và cho quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.

– Vấn đề nhân quyền là vấn đề mà chính giới và dư luận Hoa Kỳ rất quan tâm, cũng là vấn đề nhạy cảm trong quan hệ hai nước. Tôi khẳng định Việt Nam hết sức coi trọng vấn đề quyền con người. Đất nước chúng tôi tuy còn không ít vấn đề cần tiếp tục phải giải quyết, trong đó có vấn đề quyền con người, nhưng chúng tôi đang nỗ lực không mệt mỏi để xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người. Tôi hiểu trong vấn đề này, hai bên còn có những khác biệt về nhận thức và cần tiếp tục thông qua đối thoại thẳng thắn, xây dựng để có cách nhìn tổng thể về những thay đổi cơ bản mang tính hệ thống, từ đó có đánh giá khách quan hơn về vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam, không để vấn đề này cản trở đà tiến triển tốt đẹp của quan hệ, cũng như ảnh hưởng tới việc xây dựng lòng tin giữa hai nước.

– Hợp tác trên các vấn đề khu vực và quốc tế là lĩnh vực ngày càng quan trọng trong quan hệ hai nước. Việt Nam sẵn sàng tăng cường phối hợp với Hoa Kỳ trong các vấn đề quốc tế cùng quan tâm, trong đó có vấn đề chống khủng bố, an ninh mạng, đối phó với dịch bệnh và biến đổi khí hậu.

Việt Nam đã và đang cùng với các nước thành viên ASEAN khác tích cực phối hợp với Hoa Kỳ xây dựng quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN – Hoa Kỳ thành mối quan hệ có tác dụng ngày càng tích cực đối với hoà bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, phát huy vai trò trung tâm của ASEAN, bảo đảm hiệu quả của các diễn đàn ARF, ADMM+ và làm cho APEC đóng vai trò quan trọng thực chất hơn trong các dàn xếp về kinh tế và Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) trở thành cơ chế hợp tác hữu hiệu đối với các vấn đề chiến lược và chính trị ở khu vực.

Chúng tôi đánh giá cao việc Chính phủ Hoa Kỳ ngày càng quan tâm đến tình hình Biển Đông, bày tỏ kịp thời và nhất quán quan điểm ủng hộ việc giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hoà bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, không sử dụng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực, không đơn phương thay đổi nguyên trạng, quân sự hoá hoặc áp đặt kiểm soát trên biển, trên không, ở Biển Đông. Việt Nam hoan nghênh các nước, trong đó có Hoa Kỳ, đóng vai trò tích cực và có trách nhiệm trong việc duy trì hoà bình, an ninh, ổn định, an toàn, tự do hàng hải và hàng không, thúc đẩy hợp tác phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Thưa quý vị và các bạn,

Những bài học kinh nghiệm của lịch sử và những kết quả thực tế trong 20 năm qua cho thấy rất rõ rằng, hữu nghị và hợp tác là hướng đi duy nhất đúng của quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ, là có lợi cho hai nước, phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước, của khu vực và thế giới. Những khác biệt giữa hai nước là thực tế khách quan và là tất yếu trong một thế giới đa dạng mà trong đó các dân tộc có quyền tìm kiếm, lựa chọn con đường phát triển của riêng mình. Nhưng thực tế trong 20 năm cũng cho thấy, hai nước chúng ta có thể chia sẻ nhiều lợi ích tương đồng, và những khác biệt không thể là trở ngại cho việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ.

Trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng hiện nay, lợi ích tương đồng giữa hai nước càng được mở rộng, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian tới cần hướng tới mục tiêu phát triển ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả, hướng tới tầm cao mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước và góp phần vào hoà bình, ổn định, hợp tác, thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới. Bài học kinh nghiệm và những thành tựu đã đạt được trong 20 năm qua cho phép chúng ta tin tưởng và lạc quan vào điều đó.

Tôi muốn nhắc đến một câu nói của Tổng thống Hoa Kỳ Thê-ô-đo Ru-dơ-ven: “Khi tin là có thể, thì bạn đã đạt được một nửa thành công”. Tôi tin tưởng rằng, chúng ta có thể cùng nhau xây dựng một tầm nhìn tươi sáng cho quan hệ hai nước trong tương lai, để hai dân tộc chúng ta, con cháu chúng ta luôn là bạn và đối tác tốt của nhau.

Xin cảm ơn các quý vị và các bạn.

  • Tin trang 4 báo Nhân Dân ngày 11/7/2015:

Các mốc quan trọng trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ

Ngày 30-4-1975: Hoa Kỳ áp dụng lệnh cấm vận thương mại đối với toàn bộ Việt Nam sau khi áp dụng lệnh này đối với miền bắc Việt Nam từ năm 1964.

Từ ngày 1 đến 3-8-1987: Đặc phái viên Tổng thống Hoa Kỳ, Tướng G.Ve-xi lần đầu đến thăm Việt Nam để trao đổi các vấn đề nhân đạo hai bên cùng quan tâm.

Ngày 11-11-1991: Chính phủ Hoa Kỳ chính thức cho phép khách du lịch, cựu chiến binh, nhà báo, doanh nhân Hoa Kỳ thăm Việt Nam.

Ngày 14-12-1992:Tổng thống Hoa Kỳ G.Bu-sơ cho phép các công ty Hoa Kỳ mở văn phòng đại diện tại Việt Nam và ký các hợp đồng sau khi lệnh cấm vận thương mại được bãi bỏ.

Ngày 25-4-1993: Vatico trở thành Công ty Hoa Kỳ đầu tiên mở văn phòng tại Việt Nam.

Ngày 2-7-1993: Tổng thống Hoa Kỳ B.Clin-tơn ủy quyền cho Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tái tài trợ cho Việt Nam số tiền 140 triệu USD, mở đường cho các tổ chức quốc tế hỗ trợ tài chính cho Việt Nam.

Ngày 3-2-1994: Tổng thống Hoa Kỳ B.Clin-tơn thông báo quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam.

Ngày 28-1-1995: Hai nước mở văn phòng liên lạc.

Ngày 12-7-1995: Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt và Tổng thống Hoa Kỳ B.Clin-tơn thông báo quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Ngày 5-8-1995: Đại sứ quán Việt Nam tại Thủ đô Oa-sinh-tơn và Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội chính thức khai trương.

Ngày 11-3-1998: Tổng thống Hoa Kỳ B.Clin-tơn lần đầu quyết định bãi bỏ áp dụng điều khoản Giắc-xơn Va-ních đối với Việt Nam.

Tháng 1-1999: Việt Nam dành Quy chế tối huệ quốc đối với các công ty Hoa Kỳ làm ăn ở Việt Nam.

Ngày 14-7-2000: Hai nước ký kết Hiệp định thương mại song phương (FTA).

Từ ngày 16 đến 19-11-2000: Tổng thống Hoa Kỳ B.Clin-tơn thăm Việt Nam.

Ngày 11-9-2001: Chủ tịch nước Trần Đức Lương gửi điện chia buồn tới Tổng thống và nhân dân Hoa Kỳ sau vụ khủng bố tòa tháp đôi tại Niu Oóc.

Ngày 8-10-2001: Thượng viện Hoa Kỳ thông qua FTA Việt Nam – Hoa Kỳ.

Ngày 24-11-2001: QH Việt Nam thông qua FTA Việt Nam – Hoa Kỳ.

Ngày 2-4-2004: Thông báo thành lập Nhóm Những người bạn Việt Nam tại Quốc hội Hoa Kỳ.

Ngày 9-12-2004: Hãng hàng không United Airlines (Hoa Kỳ) có chuyến bay trực tiếp đầu tiên từ Hoa Kỳ tới Việt Nam.

Từ ngày 19 đến 25-6-2005: Thủ tướng Phan Văn Khải thăm chính thức Hoa Kỳ.

Ngày 31-5-2006: Ký thỏa thuận về Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Từ ngày 17 đến 20-11-2006: Tổng thống Hoa Kỳ G.Bu-sơ dự Hội nghị cấp cao APEC 2006 và lần đầu thăm Việt Nam.

Ngày 8 và 9-12-2006: Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Luật dành Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho Việt Nam.

Từ ngày 18 đến 23-6-2007: Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm chính thức Hoa Kỳ.

Từ ngày 23 đến 26-6-2008: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Hoa Kỳ.

Từ ngày 24 đến 26-7-2013: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm chính thức Hoa Kỳ. Hai nước thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện.

Từ ngày 6 đến 10-7-2015: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ. Hai nước kỷ niệm 20 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao.

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng

Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là kết quả nỗ lực của cả hai bên

Tôi nghĩ rằng quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam -Hoa Kỳ thiết lập năm 2013 là kết quả của một chuỗi cố gắng của cả hai bên từ năm 1995, khi hai nước bắt đầu bình thường hóa quan hệ. Đầu tiên là xây dựng lòng tin. Mặc dù còn nhiều khác biệt, có những khác biệt rất cơ bản, nhưng hai nước gạt những bất đồng đó sang bên lề, nhất là những bất đồng mang tính chất lạc hậu và phát triển quan hệ song phương. Thứ hNguyen Chi Vinhai là bình đẳng, tôn trọng độc lập tự chủ, chủ quyền lãnh thổ, tôn trọng chế độ chính trị và lợi ích của nhau. Một điểm nữa là quan điểm an ninh của Việt Nam và Hoa Kỳ. Quan điểm này giữa hai nước hoàn toàn khác biệt trong suốt thời chiến, tuy nhiên, với sự vận động chung của thế giới, đã dần xuất hiện nhiều nét tương đồng.

Ý nghĩa của dịp kỷ niệm 20 năm này là chúng ta đã chứng minh được cho nhân dân ta và cộng đồng quốc tế rằng, Việt Nam đã giành thắng lợi trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước và sau đó đã làm tất cả để duy trì nền hòa bình, ổn định, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với các quốc gia khác, bất kể nước đó từng là kẻ thù trong quá khứ. Hơn nữa, mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ còn đóng góp cho hòa bình, ổn định ở khu vực.

Điều mà phía Hoa Kỳ ấn tượng nhất đối với nền quốc phòng Việt Nam 20 năm qua là họ phục Việt Nam ở sự ổn định trong bối cảnh tình hình thế giới rất nhiều biến động phức tạp, chiến tranh, biểu tình diễn ra liên miên. Tiếp đó là sự kiên định của Việt Nam trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Chúng ta không chạy theo việc xây dựng quân đội chuyên nghiệp và phía Hoa Kỳ thấy được hiệu quả của nền quốc phòng dựa vào dân này.

TUẤN HẠNH

Ông C.Xia-xi, phó chủ tịch VFP, cố vấn quốc tế dự án RENEW:

Giải quyết hậu quả chiến tranh là trách nhiệm của người Mỹ

Dự án rà phá bom mìn tại Việt Nam (RENEW) và Hội cựu chiến binh Mỹ vì hòa bình (VFP) những năm qua đã thực hiện nhiều chương trình giúp xây dựng, sửa chữa nhà cho các gia đình có thành viên bị di chứng chiến tranh; hỗ trợ đào tạo nghề, tăng thu nhập và kiếm việc làm phù hợp cho những người tàn tật, khiếm thị và tạo cơ hội cho trẻ em đến trường.

Là quân nhân Mỹ đã từng chiến đấu tại Việt Nam từ năm 1967, 1968 và là một trong những cựu binh đầu tiên trở lại Việt Nam từ năm 1995 bắt tay vào các công tác xGiai quyet hau qua chien tranhã hội giúp người dân Việt Nam, tôi cho rằng Chính phủ và người dân Mỹ phải nhận thức được rằng, rất nhiều hậu quả mà chiến tranh để lại, gồm bom mìn chưa nổ và vấn đề chất độc da cam hay nhiễm độc đi-ô-xin, là phần trách nhiệm của chúng tôi. VFP đi đầu trong việc giải quyết các vấn đề này. Dù có phần muộn màng bởi 40 năm đã trôi qua, song đây là việc làm đúng đắn mà chúng tôi phải làm. Ít nhất, để giúp xoa dịu nỗi đau cho các gia đình là nạn nhân của chiến tranh, những người xứng đáng được công lý bảo vệ.

Tôi quyết định trở lại Việt Nam năm 1995 vì cho rằng mình cần góp sức vào quá trình tái thiết ở đất nước này. Đây là bổn phận, là trách nhiệm của tôi -một công dân Mỹ và cựu binh chiến tranh. Hồi đó, tôi cũng không có ý định lưu lại Việt Nam lâu. Vậy mà tôi đã ở đây 20 năm! Người Việt Nam đã trở thành gia đình và bạn bè lớn của tôi.

Ông C.Pa-la-dô, thư ký VFP, thành viên danh dự hội nạn nhân chất độc da cam / Đi-ô-xin Việt nam tại Đà Nẵng:

Việt Nam là quê hương của tôi!

Tôi từng đến Việt Nam và đóng quân tại Đà Nẵng trong những năm 1970-1971. Hồi đó tôi 18 tuổi, thuộc đội quân lính thủy đánh bộ Mỹ. Trước khi đến đất nước các bạn, Chính phủ Mỹ nói rằng, chúng tôi đến để cứu đất nước các bạnViet nam la que huong chung toi. Nhưng sau khi chứng kiến những gì diễn ra, đối mặt sự khốc liệt và tàn nhẫn của chiến tranh, tôi nhận ra việc mình đang làm là không đúng. Tôi quay về Mỹ năm 1972. Nhưng trong tâm trí, tôi vẫn cảm thấy mình còn món nợ lớn đối với Việt Nam, về những gì mà những người Mỹ đã gây ra cho đất nước các bạn. Tôi quyết định trở lại Việt Nam năm 2001.

Lần đầu quay lại Việt Nam sau 30 năm, tôi vẫn nhớ cảm giác lo lắng và hồi hộp khi bước xuống sân bay quốc tế Nội Bài, lo rằng người Việt Nam khi biết mình là lính Mỹ từng xâm lược đất nước họ sẽ không cho tôi nhập cảnh, thậm chí là bắt giữ tôi. Nhưng tôi đã nhầm. Nhân viên làm công tác nhập cảnh tại sân bay lúc đó nhìn vào hộ chiếu của tôi, rồi anh ta mỉm cười nói: “Chào mừng đến Việt Nam”, rồi chúc tôi có một chuyến đi vui vẻ. Đó là ấn tượng sâu đậm đầu tiên về đất nước các bạn mà tôi không bao giờ quên. Suốt những năm qua, tôi luôn muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã tạo điều kiện cho những người như tôi quay trở lại để giúp đỡ những hoàn cảnh éo le do chất độc da cam gây ra, như một sự “trả nợ”.

Giờ đây, được chứng kiến môi trường giao lưu thương mại dần rộng mở giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, cũng như với các quốc gia khác, dù chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào sự phát triển, tôi cảm thấy rất tự hào. Việt Nam bây giờ là quê hương của tôi!

Liên Hà

  • Tin trang 4 báo Nhân Dân ngày 11/7/2015:

Nối dài nhịp cầu hữu nghị

Với tinh thần “Gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ bước sang trang sử mới kể từ khi hai nước chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngày 12-7-1995. Hai thập niên trôi qua đánh dấu những bước phát triển quan trọng của mối quan hệ ấy, nhất là hoạt động hữu nghị, giao lưu giữa nhân dân hai nước.

Hai mươi năm không phải là khoảng thời gian dài, song đã để lại nhiều dấu mốc đáng ghi nhớ trong trang sử quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Từ thế đối đầu ở hai bờ chiến tuyến, nay hai nước cùng bắt tay xây dHoat dong ra pha bom minựng nhịp cầu hữu nghị vững chắc trên nhiều phương diện. Trong đó, lĩnh vực giao lưu nhân dân ngày càng được Chính phủ hai bên quan tâm mạnh mẽ, đóng vai trò tích cực thúc đẩy quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ. Các tổ chức, hội hữu nghị như Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO), Hội Việt – Mỹ, Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (VAVA)… luôn là cầu nối vững chắc, tiếp sức cho các chương trình tăng cường tình hữu nghị giữa hai quốc gia. Các cuộc trao đổi đoàn, mở rộng hợp tác với các tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước diễn ra thường xuyên, với mục tiêu cao nhất là hàn gắn đau thương, tăng cường hiểu biết và gắn kết nhân dân hai dân tộc vì hòa bình, ổn định và lợi ích chung.

Một trong những thành quả của quan hệ Việt Nam -Hoa Kỳ những năm qua là hợp tác y tế, nhân đạo, khắc phục hậu quả chiến tranh. Từ chỗ chỉ mang tính phối hợp một chiều trong vấn đề tìm kiếm quân nhân mất tích và tù nhân Mỹ trong chiến tranh (POW/MIA), đến nay, vấn đề này đã nhận được sự quan tâm từ cả hai phía. Bên cạnh việc nhờ Việt Nam hỗ trợ tìm kiếm hài cốt binh sĩ Mỹ mất tích trong chiến tranh, phía Hoa Kỳ cũng tích cực cung cấp thông tin, hồ sơ về các trường hợp bộ đội Việt Nam mất tích. Theo số liệu thống kê, gần 300 bộ hồ sơ liên quan gần 10 nghìn trường hợp do phía Hoa Kỳ cung cấp đã giúp tìm và xác định được hài cốt của khoảng một nghìn liệt sĩ Việt Nam; và hoạt động này hứa hẹn được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa thời gian tới.

Vấn đề giải quyết di chứng chất độc da cam/đi-ô-xin và rà phá bom mìn còn sót lại sau chiến tranh cũng nằm trong “vùng rốn” hợp tác giữa hai nước. Là một tổ chức phi Chính phủ hoạt động hoàn toàn bằng sự thiện nguyện của các cựu binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam, Hội cựu chiến binh Mỹ vì hòa bình tại Việt Nam (VFP) những năm qua đã tích cực triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ cuộc sống của những trường hợp không may là nạn nhân da cam hoặc bị ảnh hưởng vật liệu nổ do quân đội Mỹ rải xuống từ hơn 40 năm trước.

Sự khởi sắc trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ kéo theo đà tăng dần của ngân sách dành cho các dự án tẩy độc da cam và hạn chế thương vong do vật liệu nổ ở nhiều tỉnh, thành phố Việt Nam. Với số tiền tài trợ trị giá 21 triệu USD ủy quyền cho tổ chức USAID tại Việt Nam trong thời hạn năm năm, Chính phủ Hoa Kỳ hy vọng phần nào chia sẻ nỗi đau hậu chiến tranh. Song song đó là các dự án nổi bật, như tiếp tục đưa các đoàn bạn bè Mỹ đến thăm Việt Nam, thực hiện hành trình từ bắc đến nam để gây quỹ hỗ trợ nạn nhân chiến tranh, đẩy mạnh tuyên truyền thông tin ra thế giới, hay xây dựng trung tâm chăm sóc nạn nhân da cam… là bằng chứng thuyết phục cho những cố gắng không ngừng nghỉ của những “người thợ” cần mẫn nối dài thêm cây cầu hữu nghị giữa hai dân tộc. Nói như ông C.Pa-la-dô, Thư ký VFP, đó như một “món nợ” mà những người Mỹ yêu mến Việt Nam tình nguyện trả đến hết đời.

Tại triển lãm ảnh “Việt Nam – Cuộc chiến tranh qua ảnh” do hãng thông tấn Associated Press (AP) của Hoa Kỳ tổ chức đầu tháng 6 vừa qua ở Hà Nội, trong khuôn khổ kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, nhà nhiếp ảnh Huỳnh Công Út (Nick Út), người nổi tiếng với bức ảnh đi vào lịch sử báo chí thế giới “Em bé na-pan Việt Nam”, đã xúc động nêu bật vai trò của các hoạt động giao lưu văn hóa và nhân dân giữa nhân dân Việt Nam và Hoa Kỳ: Chiến tranh đã kết thúc hơn 40 năm nhưng những bài học nhân văn về tình người vẫn còn mãi dù là trong thời chiến hay thời bình. Đây sẽ là hành trang về tinh thần, đạo lý làm người cho thế hệ sau này của hai nước trân trọng và nỗ lực hết sức gìn giữ, duy trì nền hòa bình có được ngày hôm nay.

THẠCH VŨ VÀ BẠCH LIÊN

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 11/7/2015:

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp cựu chuyên gia Xô Viết

Ngày 10-7, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp thân mật gia đình ông Ta-điép Phơ-li-u, cựu chuyên gia Xô-viết đang thăm Việt Nam. Ông Ta-đi-ép từng công tác tại Việt Nam trong những năm kháng chiến, làm chuyên gia quân sự, tham gia huấn luyện phi công Việt Nam. Lãnh đạo Quân đội Việt Nam và Liên Xô (trước đây) đánh giá cao những đóng góp của ông trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Trở về quê hương Ca-dắcxtan, ông tiếp tục có nhiều đóng góp cho quan hệ hữu nghị Việt Nam – Cadắc-xtan.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao những đóng góp của ông Ta-đi-ép giúp Không quân Việt Nam thời kỳ sơ khai. Chủ tịch nước nhấn mạnh, sự giúp đỡ chân thành của các chuyên gia quân sự Xô-viết ngày ấy, trong đó có ông Ta-đi-ép mãi là biểu tượng của tình hữu nghị giữa Việt Nam và Ca-dắc-xtan, luôn được người dân Việt Nam khắc ghi. Chủ tịch nước hoan nghênh chuyến thăm Việt Nam của ông Ta-đi-ép; mong muốn các chuyên gia Liên Xô tiếp tục trở lại thăm Việt Nam khi có dịp, để chứng kiến những cống hiến của các thế hệ chuyên gia trước đây đã mang lại nhiều thành quả tốt đẹp cho đất nước Việt Nam. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chúc ông Ta-đi-ép và gia đình có nhiều trải nghiệm thú vị trong chuyến thăm Việt Nam như chính tại quê hương thứ hai của mình.

Ông Ta-đi-ép cảm ơn Chủ tịch nước Trương Tấn Sang quan tâm và gặp gỡ, không chỉ tại thủ đô A-xta-na khi Chủ tịch nước thăm Ca-dắc-xtan, mà dành nhiều tình cảm nồng nhiệt cho ông tại Việt Nam. Ông Ta-đi-ép xúc động cảm ơn Đại sứ quán Việt Nam tại Ca-dắc-xtan, các cơ quan chức năng Việt Nam đã tạo điều kiện cho gia đình ông trở lại thăm những địa chỉ từng gắn bó với thời thanh niên của ông và đồng đội.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/7/2015:

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp mặt Đoàn đại biểu thanh niên kiều bào

Ngày 14-7, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp hơn 100 đại biểu thanh, thiếu niên Việt Nam đang học tập ở nước ngoài đến thủ đô Hà Nội dự Trại hè Việt Nam năm 2015, theo lời mời của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.

Hoan nghênh các đại diện tiêu biểu cho thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài từ 22 quốc gia và vùng lãnh thổ về Việt Nam dự Trại hè năm 2015. Chủ tịch nước nhấn mạnh, thông qua Trại hè Việt Nam năm 2015, những chính sách của Đảng, Nhà nước dành cho kiều bào đang được cụ thể hóa và dần đi vào cuộc sống, tạo cơ hội để mọi tầng lớp bà con được về với quê hương, chứng kiến sự đổi thay của đất nước. Chủ tịch nước bày tỏ vui mừng, cùng với sự phát triển hội nhập của đất nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng phát triển ở nhiều nước trên thế giới, có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt với nước sở tại, luôn ủng hộ quê hương đất nước. Chủ tịch nước tin tưởng rằng, qua các hoạt động bổ ích của trại hè, với lộ trình xuyên suốt đất nước, tại ba miền bắc – trung – nam, các thanh niên, sinh viên kiều bào thêm yêu quê hương, đất nước, phát huy lòng tự hào dân tộc, trở thành những sứ giả văn hóa, giới thiệu với bạn bè thế giới, chung vai với thế hệ trẻ trong nước phấn đấu xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh. Chủ tịch nước mong muốn các cháu sinh viên học tập thành tài, tích lũy tri thức khoa học – công nghệ tiên tiến của nước ngoài, tôn trọng pháp luật nước sở tại, giữ liên lạc thường xuyên để sớm trở thành nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam với các nước.

Truong Tan Sang gap doan dai bieu thanh nien

Tại buổi gặp mặt, đại diện thanh niên kiều bào từ các nước đã bày tỏ niềm tự hào được mang dòng máu “Con Lạc, cháu Hồng”, mong muốn các cơ quan Nhà nước của Việt Nam sẽ tổ chức nhiều hoạt động giao lưu, kết nối giữa thanh niên Việt Nam và thanh niên kiều bào; cung cấp sách học tiếng Việt cho học sinh kiều bào; nguyện tiếp tục học tập phấn đấu và trở về phụng sự Tổ quốc khi trưởng thành.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 11/7/2015:

Bộ Giao thông vận tải gặp mặt cựu thanh niên xung phong

Ngày 10-7, tại Hà Nội, Bộ Giao thông vận tải (GTVT) tổ chức gặp mặt đại biểu cựu thanh niên xung phong (TNXP) qua các thời kỳ. (…)

Ngày 15-7-1950, Đội TNXP được thành lập theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lúc đầu có 225 người, sau tăng lên 3.000 người. Giai đoạn 1965 – 1975, trước tình thế khẩn cấp của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, BỘ GTVT đã thống nhất với Ban Bí thư T.Ư Đoàn, đề nghị T.Ư Đảng, Chính phủ thành lập tổ chức TNXP chống Mỹ cứu nước. Ngày 21-5-1965, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 71 thành lập các đội TNXP chống Mỹ, cứu nước tập trung, coi đây là lực lượng lao động đặc biệt, quân sự hóa, có vũ trang và xây dựng trên ba mặt trận sản xuất, chiến đấu và học tập. Trong hơn 10 năm, đã có hơn 150 nghìn TNXP tham gia chống Mỹ, cứu nước, cùng cán bộ, công nhân ngành GTVT và bộ đội công binh làm mới, sửa chữa, nâng cấp 16.700 km đường dã chiến các loại; 6.800 km đường trục dọc bắc – nam (gồm đường sắt, quốc lộ 1, đường 15A, 15B, 15C); 5.000 km đường từ đông sang tây của sáu tuyến đường; 5.000 km đường vòng, đường tránh, bảo đảm giao thông, trấn giữ 2.500 trọng điểm thường xuyên bị đánh phá ác liệt. Thời gian qua, ngành GTVT đã góp phần cùng cả nước chăm lo, hỗ trợ các cựu TNXP; thường xuyên tu sửa, viếng thăm các nghĩa trang liệt sĩ TNXP. Từ năm 2014 đến nay, Quỹ xã hội, từ thiện do BỘ GTVT thành lập, qua T.Ư Hội cựu TNXP Việt Nam, đã ủng hộ hơn 30 tỷ đồng, hỗ trợ các TNXP có cuộc sống khó khăn.

(…)

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 10/7/2015:

Tiếp tục tôn vinh, khuyến khích các nhà sáng tạo

Ngày 9-7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Hội đồng bảo trợ Quỹ hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC) nhiệm kỳ 2015-2020. Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam, Chủ tịch danh dự Quỹ VIFOTEC tới dự và phát biểu ý kiến.

Từ năm 2009 đến nay, Quỹ VIFOTEC liên tục tổ chức thành công năm lần Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ (KHCN) Việt Nam, các Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc, Cuộc thi sáng tạo thanh niên, thiếu niên, nhi đồng toàn quốc… Các công trình đoạt giải thưởng đã áp dụng vào sản xuất và đời sống, đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao, góp phần thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và chuyển giao công nghệ vào cuộc sống. Trong 5 năm tới, Quỹ tiếp tục triển khai các hoạt động tôn vinh các nhà sáng tạo của Việt Nam, trong đó chú trọng tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các tác giả tích cực tham gia các cuộc thi sáng tạo; tập huấn cho các cán bộ chuyên trách của địa phương, hướng dẫn phương pháp luận và cách thức tổ chức hoạt động sáng tạo ở địa phương, các hội thảo về sáng tạo KHCN, các đoàn tham dự triển lãm quốc tế về sáng tạo KHCN…

Nhân dịp này, Tập đoàn GFS ký kết thỏa thuận hợp tác, tài trợ bốn tỷ đồng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ VIFOTEC.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 14/7/2015:

Khen thưởng đoàn học sinh tham dự Ô-lim-pích Vật lý quốc tế năm 2015

Chiều 13-7, tại Sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội), Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức gặp mặt, chúc mừng thành tích của đoàn cán bộ, học sinh Việt Nam tham dự Ô-lim-pích Vật lý quốc tế năm 2015 tổ chức tại Ấn Độ vừa trở về.

Đoàn học sinh Việt Nam thi Ô-lim-pích Vật lý quốc tế năm 2015 đã đạt thành tích cao nhất từ trước tới nay khi cả năm học sinh dự thi đều đoạt huy chương (Ba Huy chương vàng, hai Huy chương bạc). Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển chúc mừng và trao Bằng khen của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo cùng phần thưởng cho các học sinh xuất sắc đoạt giải.

Theo đánh giá, những năm gần đây, các bộ môn khoa học thực nghiệm như: Vật lý, Hóa học, Sinh học, học sinh Việt Nam vượt qua những khó khăn làm thực hành, thí nghiệm và đạt thành tích cao. Điều đó thể hiện sự cố gắng của học sinh, của các trường, viện nghiên cứu trong việc tổ chức dạy và học cũng như ôn luyện cho học sinh trước khi đi thi…

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 13/7/2015:

Xuất quân “Hành trình đỏ” khu vực phía Bắc

Ngày 12-7, tại TP Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc), Viện Huyết học – Truyền máu T.Ư tổ chức xuất quân “Hành trình đỏ” khu vực phía bắc năm 2015. “Hành trình đỏ” mang theo sứ mệnh kết nối dòng máu Việt đến chín tỉnh, thành phố khu vực phía bắc nhằm tuyên truyền và kêu gọi chia sẻ giọt máu yêu thương. Trong ngày đầu xuất phát, ban tổ chức đã tiếp nhận khoảng 1.000 đơn vị máu phục vụ điều trị người bệnh.

* Ngày 12-7, Đoàn cơ sở và Hội Phụ nữ Cục An ninh Tây Nguyên đã tổ chức chương trình hiến máu nhân đạo với chủ đề “Giọt máu nghĩa tình”. Tham gia hiến máu tình nguyện có hơn 100 cán bộ, chiến sĩ trẻ của Cục An ninh Tây Nguyên, khoảng 100 thành viên là các chiến sĩ thuộc Trung đoàn 728 (thuộc Binh đoàn 16, Bộ Quốc phòng), Kho 864 (Cục Quân khí, Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng), đoàn viên, thanh niên của Đoàn Thanh niên phường Tân An, TP Buôn Ma Thuột và sinh viên của Câu lạc bộ “Giải pháp xanh” của Trường đại học Tây Nguyên. Ban tổ chức thu được hơn 160 đơn vị máu, đóng góp vào “Hành trình đỏ” năm 2015 tại Đác Lắc.

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 14/7/2015:

Ngày hội “Tình người Tây Nguyên” tiếp nhận gần 1.300 đơn vị máu

Ngày 13-7, tại TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đác Lắc, Ban Chỉ đạo hiến máu quốc gia phối hợp Viện Huyết học và Truyền máu T.Ư tổ chức Chương trình “Hành trình đỏ” và Ngày hội hiến máu tình nguyện “Tình người Tây Nguyên” năm 2015. Hơn 1.700 đoàn viên, thanh niên, công nhân viên chức của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Đác Lắc tham gia và hiến 1.298 đơn vị máu.

Cũng trong dịp này, Chương trình cũng đã tuyên truyền về các bệnh máu bẩm sinh, di truyền, nhất là bệnh tan máu bẩm sinh cho khoảng 2.500 lượt người về hiến máu tình nguyện; đăng ký cho hơn 100 người tham gia vào các câu lạc bộ hiến máu dự bị để sẵn sàng truyền máu khi người bệnh cần truyền máu cấp cứu…

  • Tin trang 2 báo Nhân Dân ngày 11/7/2015:

JICA hỗ trợ phát triển các hợp tác xã nông nghiệp

Ngày 10-7, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) cho biết, Dự án “Tăng cường chức năng hợp tác xã nông nghiệp (HTX NN) ở Việt Nam, giai đoạn 2” do JICA hỗ trợ thực hiện sẽ kết thúc trong tháng 7-2015. Thực hiện trong ba năm, giai đoạn 2 đạt được mục tiêu là thiết lập một cơ chế bền vững hỗ trợ phát triển các HTX NN thông qua các khóa tập huấn về xây dựng kế hoạch trung hạn, dịch vụ tiêu thụ tập trung, cung ứng tập trung và hoạt động tín dụng nội bộ tại năm tỉnh: Thái Bình, Hòa Bình, Hải Dương, Bình Định và An Giang, nhằm tăng cường chức năng của các HTX NN, hướng tới cải thiện đời sống cho nông dân tại năm tỉnh.

Trước đó, giai đoạn 1 của dự án (thực hiện từ năm 2006 đến 2010) tập trung xây dựng mô hình HTX nông nghiệp điển hình nhằm đáp ứng các nhu cầu của nông dân ở hai tỉnh thí điểm phía bắc.

  • Tin trang 1 báo Tuổi Trẻ ngày 14/7/2015:

Không để bêtông vây hãm tháp Bà Po Nagar Nha Trang

Giải pháp được đặt ra là cần giảm độ cao và mật độ xây dựng để tránh cảnh thành lũy bêtông vây hãm không gian tháp Bà.

Chiều 13-7, thường trực UBND tỉnh Khánh Hòa đã họp với các sở ngành, Hội Kiến trúc sư để xem xét báo cáo đề xuất phương án quản lý quy hoạch, kiến trúc đối với khu vực quần thể tháp Bà Po Nagar Nha Trang.

Thap Ba Po Nagar

Theo đó, có các đề xuất giảm độ cao và mật độ xây dựng để tránh tạo hình ảnh giống như thành lũy bêtông vây hãm không gian tháp Bà.

Lãnh đạo UBND tỉnh Khánh Hòa đã giao Sở Xây dựng tiếp nhận các ý kiến để bổ sung, hoàn chỉnh phương án rồi trình lại UBND tỉnh ban hành thực hiện.

Trước đó, vào tháng 3-2015 lãnh đạo UBND tỉnh Khánh Hòa cùng các ngành đi kiểm tra thực tế và thừa nhận đã có tình trạng một số công trình nhà ở, khách sạn xây dựng tại khu vực xung quanh làm che khuất tháp Bà Po Nagar nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, cũng như tầm nhìn cảnh quan bị hạn chế khi quan sát từ tháp Bà Po Nagar.

P.S.N.

  • Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 11/7/2015:

Tạm ngưng dự án xây mới Trường THPT Châu Văn Liêm

Ông Lê Hùng Dũng – chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cần Thơ – cho biết như trên tại phiên bế mạc kỳ họp thường kỳ giữa năm của Hội đồng Nhân dân thành phố Cần Thơ sáng 10/7.

Theo ông Dũng, trước mắt lãnh đạo thành phố đã thống nhất ba phương án xử lý đối với Trường THPT Châu Văn Liêm (Tuổi Trẻ ngày 7, 8 và 9/7). Một là tạm thời ngưng triern khai dự án và mời các cơ quan chuyên môn ở trung ương xuống, kể cả của nước ngoài, để thẩm định chất lượng công trình và thực hiện theo ý kiến của các nhà chuyên môn. Hai là giữ lại dãy trường còn tốt, xây lại dãy hư hỏng nhiều vì trường này có ba lần xây dựng khác nhau và cuối cùng là đập bỏ xây lại hết. “Trước mắt tạm ngưng dự án xây mới, mời cơ quan chuyên môn thẩm định, nếu kết luận còn sử dụng, trùng tu tốt thì chúng tôi sẵn sàng lắng nghe, trùng tu để giữ lại trường. Đập trường này thì không ai muốn nhưng nếu đặt tính mạng học sinh, cô giáo, tính mạng con người lên trên hết thì chúng ta cũng phải làm” – ông Dũng khẳng định.

Chí Quốc – Thùy Trang

  • Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 10/7/2015:

Bàn giao hai tàu hiện đại cho cảnh sát biển

Sáng 9-7, tại cảng Sông Thu (Đà Nẵng), Tổng công ty Sông Thu (Tổng Cục Công nghiệp Quốc phòng) đã chính thức bàn giao hai tàu cảnh sát biển (CSB) 8002 và 9004 cho Bộ tư lệnh Cảnh sát biển VN.

Theo đó tàu CSB đa năng 8002 được thiết kế hiện đại, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế với vận tốc tối đa 21 hải lý/giờ, có khả năng hoạt động trong điều kiện gió cấp 12, với thời gian hoạt động liên tục trên biển 40 ngày đêm, tầm hoạt động 5.000 hải lý.

Tau canh sat bien moi

Ngoài ra tàu CSB 8002 được thiết kế một sân đỗ trực thăng cùng một hệ thống thiết bị y tế như bàn mổ, phòng cứu thương… cùng 2 hệ pháo loại 23 mm và 2 súng loại 14,5mm.

Chức năng chính của tàu là tuần tra, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thực thi pháp luật trên các vùng biển, thềm lục địa, tìm kiếm cứu nạn khi có yêu cầu, chuyển quân chi viện hậu cần cho các lực lượng hoạt động trên biển đảo.

Trong khi đó tàu CSB 9004 là loại tàu kéo cứu hộ biển có công suất 3.500 mã lực, tàu có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, cấp sóng với thời gian hoạt động liên tục trên biển là 30 ngày.

Đây là loại tàu kéo cứu hộ hiện đại, lớn nhất lần đầu tiên đóng tại Việt Nam với nhiệm vụ chính là tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn ngư dân, tuần tra, bảo vệ chủ quyền, an ninh trên vùng biển và thềm lục địa.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm, Tư lệnh CSB Việt Nam, tàu CSB 8002 sẽ được biên chế về Bộ Tư lệnh Vùng cảnh sát biển 2, trong khi đó tàu CSB 9004 sẽ được biên chế về Bộ Tư lệnh Vùng cảnh sát biển 1.

Nhân dịp này, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Thiếu tướng Nguyễn Đức Hải – phó chủ nhiệm Tổng cục công nghiệp quốc phòng (Bộ Quốc phòng) trao Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba cho lãnh đạo, cán bộ công nhân viên chức Tổng công ty Sông Thu.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 12/7/2015:

Khánh thành dự án nâng cấp đường Hồ Chí Minh đoạn qua khu vực Tây Nguyên và Bình Phước

Sáng 11-7, tại phường Tân An, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đác Lắc, Bộ Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cùng với các tỉnh Đác Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Đác Nông, Bình Phước tổ chức Lễ khánh thành Dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng đường Hồ Chí Minh đoạn qua khu vực Tây Nguyên và Bình Phước.

Dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng đường Hồ Chí Minh đoạn qua khu vực Tây Nguyên và Bình Phước là một trong năm công trình trọng điểm quốc gia, là tuyến đường xuyên Việt thứ hai, phá thế độc đạo của quốc lộ 1, cùng với quốc lộ 1 giữ vai trò trục đường xương sống bắc-nam, tạo thế liên hoàn vững chắc để phát triển hệ thống đường ngang, các trục hành lang đông-tây và cùng với đường xuyên Á tạo sự thông thương với các nước láng giềng.

Theo Bộ GTVT, Dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng đường Hồ Chí Minh qua các tỉnh Tây Nguyên và Bình Phước (trùng với quốc lộ 14 cũ) có tổng chiều dài 663 km từ Đác Zôn, tỉnh Kon Tum đến Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Trong đó, đoạn từ Đác Zôn đến Tân Cảnh, tỉnh Kon Tum có chiều dài 110 km, được đầu tư trong giai đoạn 1 từ năm 2000 đến năm 2007. Đoạn từ Tân Cảnh, tỉnh Kon Tum đến Chơn Thành, tỉnh Bình Phước có chiều dài 553 km, được đầu tư xây dựng trong giai đoạn 2, trong đó khoảng 134 km các đoạn qua đô thị các tỉnh Tây Nguyên và đoạn nối Kon Tum với thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai được triển khai từ cuối năm 2007 và hoàn thành vào cuối năm 2013. Dự án còn lại 419 km chia làm 11 dự án thành phần, được đầu tư trong giai đoạn 2013-2015.

Trong điều kiện ngân sách Nhà nước còn khó khăn, Bộ GTVT đã xây dựng phương án đầu tư với các cơ chế chính sách đặc thù như cơ chế huy động vốn để đầu tư bằng hình thức xã hội hóa, cho phép ứng trước vốn để triển khai công tác giải phóng mặt bằng, thực hiện chỉ định thầu trong công tác thiết kế, thi công, lựa chọn nhà đầu tư… nhằm huy động tối đa các nguồn lực đầu tư từ xã hội để thi công công trình. Nhờ vậy, dự án đã được Quốc hội, Chính phủ cho phép đầu tư nâng cấp 419 km đường Hồ Chí Minh với tổng mức đầu tư 13.074 tỷ đồng. Dự án do Bộ GTVT làm chủ đầu tư và giao cho Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh làm đại diện chủ đầu tư, trong đó có sáu dự án vốn trái phiếu Chính phủ, với tổng chiều dài 212 km, có tổng mức vốn đầu tư 7.080 tỷ đồng và năm dự án còn lại được đầu tư theo hình thức BOT, tổng chiều dài xây dựng là 207 km, với tổng mức vốn đầu tư 5.994 tỷ đồng.

Quy mô đầu tư toàn tuyến theo tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng, một số đoạn qua đô thị được mở rộng bố làn xe cơ giới và hai làn xe thô sơ. Hướng tuyến cơ bản bám theo đường quốc lộ 14 và mở rộng hai bên để hạn chế giải phóng mặt bằng, cải tạo một số đoạn qua khu vực đèo dốc, địa hình khó khăn… Sau 1,5 năm triển khai xây dựng, toàn bộ tuyến đường Hồ Chí Minh qua Tây Nguyên đã được hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng về đích trước tiến độ một năm so với dự kiến, tiết kiệm được hơn 2.000 tỷ đồng.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 13/7/2015:

Tái cơ cáu nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt nhiều thành tựu quan trọng

Sáng 11-7, tại TP Cao Lãnh (Ðồng Tháp), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Hội nghị sơ kết hai năm thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp (TCCNN) vùng đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL).

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến nay đã có 12 trong số 13 tỉnh, thành phố khu vực ÐBSCL xây dựng đề án hoặc kế hoạch thực hiện TCCNN theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Sau hai năm triển khai, toàn vùng đã chuyển gần 80 nghìn ha đất trồng lúa sang trồng rau, đậu tương và các loại hoa màu khác. Nhiều diện tích chuyển đổi đem lại hiệu quả kinh tế cao so với trồng lúa, trung bình tăng từ 20% đến 30%. Các tỉnh, thành phố đã quy hoạch cánh đồng lớn sản xuất nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu và chọn một số cây trồng chủ lực, có lợi thế để ưu tiên phát triển theo hướng VietGAP, vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong vụ lúa đông xuân 2014-2015, các địa phương đã lập kế hoạch xây dựng cánh đồng lớn quy mô gần 170 nghìn ha, diện tích hợp đồng thu mua đạt 47%. Ðến nay, diện tích lúa thu hoạch bằng máy đạt bình quân 96%.

Các địa phương đã chọn được vùng và vật nuôi chủ lực của từng vùng để tập trung phát triển chăn nuôi; lựa chọn, phê duyệt 142 dự án đóng mới, nâng cấp tàu theo Nghị định 67 của Chính phủ. Toàn vùng có hơn 620 nghìn ha nuôi tôm, sản lượng hơn 475 nghìn tấn; gần 6.600 trang trại; 1.200 HTX, chiếm 11,5% số HTX cả nước. Tính đến cuối năm 2014, bình quân mỗi tỉnh có 1.367 tổ hợp tác nông nghiệp, tăng 163 tổ so với năm 2013. Mô hình liên kết sản xuất theo hợp đồng đã tác động tích cực đến từng xã viên HTX, các tổ hợp tác và doanh nghiệp. Ðã hình thành các liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo.

  • Tin trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 10/7/2015:

Tặng bằng khen cho 19 người tham gia cấp cứu bệnh nhân nhiễm HIV

Chiều 9-7, giám đốc Sở Y tế Hà Nội Nguyễn Khắc Hiền đã tặng bằng khen cho êkip 19 y bác sĩ, hộ lý, nữ hộ sinh của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. 

 Đây là những người đã dũng cảm trong việc cứu chữa bệnh nhân cấp cứu bị nhiễm HIV hôm 4-7.

Trước đó hôm 4-7, một nữ bệnh nhân đi ôtô từ Quảng Ninh về Hà Nội, đến địa bàn Phố Nối, tỉnh Hưng Yên thì bị băng huyết ồ ạt không rõ nguyên nhân. Sau khi được sơ cứu, bệnh nhân được chuyển về Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.

Tại đây, bệnh nhân bị trụy mạch do chảy máu quá nhiều, nên các bác sĩ của bệnh viện đã mổ cấp cứu cho bệnh nhân ngay tại phòng khám, không kịp chuyển lên phòng mổ, đồng thời truyền 4 lít máu cho bệnh nhân.

Tuy nhiên khi phẫu thuật được 1/2 ca cấp cứu, bộ phận xét nghiệm trả kết quả xét nghiệm cho thấy bệnh nhân nhiễm HIV, 19 nhân viên y tế, y bác sĩ tham gia cấp cứu bệnh nhân có nguy cơ phơi nhiễm HIV.

Theo ông Hiền, êkip tham gia cấp cứu bệnh nhân có đầy đủ dụng cụ phòng hộ, tuy nhiên mức độ phòng hộ không thể bằng trường hợp đã biết trước bệnh nhân nhiễm HIV. Nhưng những người bê đỡ bệnh nhân, người có liên quan ở vòng ngoài lại không đủ thiết bị phòng hộ.

Ông Hiền cho rằng cả 19 nhân viên này đều được uống thuốc dự phòng HIV, xét nghiệm hiện nay cho kết quả âm tính.

L.Anh

  • Tin trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 12/7/2015:

Tưởng niệm các liệt sĩ Vị Xuyên

Sáng 11-7, hàng trăm cựu chiến binh thuộc sư đoàn 356 từng chiến đấu tại chiến trường Vị Xuyên đã tổ chức lễ thắp hương tưởng niệm, cầu siêu cho vong linh những liệt sĩ đã hi sinh trong chiến tranh biên giới phía Bắc. 

Ngày 12-7 hằng năm được sư đoàn 356 coi là ngày giỗ trận của sư đoàn, ngày cách đây 31 năm (12-7-1984), hơn 600 cán bộ chiến sĩ sư đoàn đã ngã xuống để giành lại các cao điểm 772, 685… trước quân xâm lược Trung Quốc.

Cuu binh Vi Xuyen

(…)

Cuối tháng 4-1984, Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự đánh vào biên giới tỉnh Hà Tuyên (tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang bây giờ) kéo dài hơn 100km, từ huyện Vị Xuyên, Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc mà huyện Vị Xuyên là chiến trường khốc liệt nhất.

Ngày 12-7-1984, ta mở chiến dịch trên toàn mặt trận nhằm lấy lại các cao điểm mà Trung Quốc xâm chiếm. Tham gia trận đánh có các sư đoàn 313, 314, 316, 356… Riêng sư đoàn 356 được chọn làm đơn vị chủ công đánh các điểm cao 1100, 772 685, 233, đồi cô X, 1509, 1030, 1250.

Ta đã lấy lại được những điểm then chốt nhưng trong chiến dịch này, khoảng 600 cán bộ chiến sĩ sư đoàn 356 hi sinh, 400 cán bộ chiến sĩ sư đoàn 316 và 312 cũng ngã xuống. Phần lớn hài cốt các liệt sĩ hi sinh trong trận đánh này đến nay vẫn chưa được tìm thấy và quy tập về nghĩa trang liệt sĩ.

Tối 11-7, tại nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên (Hà Giang), UBND huyện Vị Xuyên cùng lực lượng thanh niên tình nguyện, các cựu binh sư đoàn 356 đã thắp nến tri ân các liệt sĩ hi sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Hà Phương

  • Tin trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 15/7/2015:

Hoàng Nam mở đường cho các tay vợt trẻ

Chiều 14-7, Lý Hoàng Nam đã về nước cùng chiếc cúp vô địch đôi nam trẻ Giải quần vợt Wimbledon 2015. Hoàng Nam đã được đón chào nồng nhiệt tại sân bay Tân Sơn Nhất (TP.HCM).

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Lê Việt Cường – tổng giám đốc Công ty cổ phần Kinh doanh thể thao Bình Dương – cho biết: “Tôi có lý do khi đưa tất cả tay vợt trẻ của Becamex đến đây. Tôi muốn họ lấy Hoàng Nam làm gương để phấn đấu với niềm tin: Hoàng Nam làm được thì các bạn cũng làm được, chỉ cần tự tin và cố gắng”.

Ông Lê Việt Cường cho biết thêm: “Thật ra, chúng tôi cũng đang cùng Hoàng Nam dò dẫm trên con đường tiếp cận quần vợt chuyên nghiLy Hoang Namệp. Nhờ Hoàng Nam dự Grand Slam trẻ, chúng tôi mới biết được nhiều chuyện, chẳng hạn như quần vợt chuyên nghiệp rất cần HLV thể lực, bác sĩ, chuyên gia tâm lý… Từ con đường của Hoàng Nam, chúng tôi sẽ có kinh nghiệm đầu tư hợp lý cho các tay vợt trẻ khác. Trước mắt, Becamex sẽ tìm HLV nước ngoài cho nhà vô địch U-14 nhóm II châu Á Nguyễn Văn Phương như từng đầu tư cho Hoàng Nam trước đây”.

Ông Lê Việt Cường khẳng định sẽ không thưởng tiền cho chức vô địch đôi nam Wimbledon trẻ của Hoàng Nam. Ông giải thích: “Hoàng Nam hiểu rằng phần thưởng lớn nhất là đã vượt qua ngưỡng của chính mình. Thay vì thưởng tiền, chúng tôi sẽ dùng tiền để thực hiện kế hoạch tiếp theo là đưa Hoàng Nam vào top 10 trẻ thế giới vào cuối năm và top 200 chuyên nghiệp thế giới vào năm 2018”.

Trở về VN, Hoàng Nam sẽ tập luyện tại Bình Dương chuẩn bị cho Giải quần vợt trẻ Mỹ mở rộng 2015, giải Grand Slam trẻ cuối cùng sự nghiệp. Đến năm 2016, Hoàng Nam sẽ thi đấu khoảng 30 giải Men’s Future và không chú trọng việc thi đấu đôi nam tại Wimbledon 2016 dù đã có được suất đặc cách.

  • Tin trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 15/7/2015:

Khách nhậu say sẽ được taxi đưa về miễn phí

Khách nhậu say, nhà hàng sẽ cung cấp dịch vụ trông xe qua đêm, đồng thời hỗ trợ khách gói dịch vụ taxi miễn phí để đưa khách về nhà.

Đó là một trong những nội dung được Ủy ban An toàn giao thông quốc gia và Công ty Grab taxi Việt Nam ký kết về chương trình mô hình thí điểm “Nhà hàng an toàn giao thông – lái xe văn minh, trách nhiệm” giai đoạn 2015 – 2018 diễn ra tại TP Đà Nẵng ngày 14-7.

Giai đoạn 1 của chương trình sẽ được thí điểm tại TP Đà Nẵng từ tháng 7-2015 đến tháng 7-2016 với 10 nhà hàng kinh doanh đồ uống có cồn.

Các nhà hàng tham gia chương trình cam kết có trách nhiệm tuyên truyền, nhắc nhở khách hàng không nên điều khiển phương tiện giao thông sau khi sử dụng rượu bia.

Trường hợp khách nhậu say, nhà hàng sẽ cung cấp dịch vụ trông xe qua đêm và bảo đảm tài sản cá nhân cho khách hàng, đồng thời hỗ trợ khách gói dịch vụ taxi miễn phí thông qua ứng dụng Grab taxi để đưa khách về nhà.

Sau Đà Nẵng, chương trình sẽ tiếp tục triển khai tại TP Hà Nội và TP.HCM.

Phan Thành

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 15/7/2015:

Vĩnh biệt thầy Đình Quang!

Sân khấu luôn ẩn chứa những bất ngờ và sự ra đi của Cây đại thụ sân khấu Việt Nam cũng đầy bất ngờ và đột ngột. Ở tuổi 87, thầy Đình Quang vẫn mê xem sân khấu và mỗi lần đi đều a lô hỏi tôi có đi không, để ngồi cùng và ở cùng, dù chỉ loanh quanh trong TP Hà Nội hay ra Quảng Ninh, vào Huế dự Liên hoan sân khấu suốt 15 ngày của Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam (NSSKVN), của Cục Nghệ thuật biểu diễn (NTBD) tổ chức. Có khi chỉ tới trại sáng tác Đại Lải đôi ngày “để xem có thêm tác giả trẻ nào không, để thắp lửa cho họ chứ đội ngũ sáng tác bây giờ già quá”; hoặc bay vào TP Hồ Chí Minh dự, phát biểu ý kiến tại những Hội thảo chuyên đề về văn học – nghệ thuật do Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật T.Ư tổ chức….

Hôm nhận được thư mời làm khách dự cuộc thi Nghệ thuật sân khấu kịch nói chuyên nghiệp toàn quốc năm 2015 tại Thanh Hóa của Cục NTBD, thThay Dinh Quangầy vui lắm khi biết tôi cũng là khách của Hội NSSKVN. “Đi nhé, chả mấy khi ngồi một chỗ “xơi” gần ba chục vở diễn!”. Thế rồi cháu ngoại sắp đi học xa, thầy đành gác lại bữa tiệc sân khấu ở Thanh Hóa để cùng cả gia đình đi Hội An du lịch, trước khi tiễn cháu lên đường.

Ngày thứ sáu, 3-7-2015, thầy gọi điện cho tôi, hẹn mai bay ra Hà Nội. Thế nhưng, hôm sau thầy phải vào bệnh viện, và mấy hôm nay, Liên hoan nghệ thuật sân khấu toàn quốc “Hình tượng Người chiến sĩ Công an nhân dân” đang diễn ra mà cuộc hẹn với trò mãi mãi không thành!

Giản dị, thân tình và bình đẳng với bất kỳ ai, dù là cấp dưới hay học trò là điều ai cũng thấy ở GS, TS, Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) Đình Quang. Sự giản dị, thân tình và bình đẳng của một người thầy đầy tâm huyết, đam mê nghề nghiệp và nội lực của người thừa “vốn”, không ngại bị coi thường!

Sinh năm 1928 tại Hà Nội, NSND Đình Quang là người tiên phong trong mỗi vị trí được giao. Là người thầy, ông là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, dìu dắt lớp diễn viên “thế hệ vàng” như Doãn Hoàng Giang, Trọng Khôi, Đoàn Dũng, Hà Văn Trọng, Thế Anh, Mỹ Dung, Bích Thu, Xuân Chính… Ông cũng là hiệu trưởng đầu tiên của Trường đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội, nơi có những nghệ sĩ tên tuổi hiện nay “ra lò” từ đây.

Là nhà lý luận sân khấu, ông là người đầu tiên giới thiệu “sân khấu thế hệ Xta-nít-xláp-xki” và “phương pháp Béc-tôn Brếch” vào Việt Nam; viết hàng loạt tác phẩm lý luận như: “Mấy vấn đề về nghệ thuật biểu diễn” (năm 1962), “Kỹ thuật tâm lý diễn viên” (1968), “Nghệ thuật biểu diễn hiện thực tâm lý” (1978), “Sân khấu tiểu luận” (1975), “Phương pháp sân khấu Béc-tôn Brếch” (1983), “Bàn về sân khấu tự sự” (1982), “Sân khấu Việt Nam” (1998).

Là đạo diễn sân khấu, ông là người đầu tiên lồng ghép điện ảnh vào sân khấu để thể hiện tâm lý nhân vật qua “Đại đội trưởng của tôi”. Và “Hão”, “Bệnh sĩ”, “Bạch đàn liễu”, “Một đêm giông tố”, “Vòng phấn Cáp-ca-dơ”… của ông đầy hiện đại, với những thủ pháp tiếp thu của nước ngoài, nhưng được Việt hóa bằng những trình thức của sân khấu truyền thống.

Là nhà quản lý, ông là một trong những người đi tiên phong trong đổi mới nghệ thuật sân khấu, đi trước thời gian… Sau này, với tư cách Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), phụ trách nghệ thuật, ông đã “cứu” không ít vở diễn trước thềm Đổi mới như “Tôi và chúng ta”, “Hồn Trương Ba da hàng thịt”, “Nửa ngày về chiều”… trở thành những vở diễn kinh điển của sân khấu cách mạng.

Không chỉ sân khấu, GS, TS, NSND Đình Quang còn là tác giả của kịch bản “Khăn tang kháng chiến”, “Hạt vàng” và gần đây nhất là tập “Tạp cảm” . Ông cũng còn là một nhà văn hóa với các công trình: “Còn văn hóa còn nhân loại”, “Văn hóa và sự phát triển nhân cách”, “Nhận thức và xử lý văn hóa trên thế giới”, “Văn học nghệ thuật và sự hình thành phát triển nhân cách”, “Văn học nghệ thuật Thăng Long – Hà Nội, quá khứ và hiện tại”, “Nghệ thuật Việt Nam với sự phát triển nhân cách và văn minh Việt Nam”…

GS, TS, NSND Đình Quang được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật năm 2007. Ở ông có sự trộn lẫn của bộ óc nghệ sĩ và bộ óc nhà khoa học, trái tim nhà lãnh đạo với trái tim bình dân. Ông lớn, nhưng vẫn gần gũi không xa vời là vì vậy. Ông dẫn dắt, hướng đạo học trò, nhưng luôn là người đồng hành trong mọi buồn vui, tìm tòi sáng tạo, làm nên sự giản dị của một người “giàu có”!

Thầy ơi!

Có ai tin được vị giáo sư già ở tuổi 87 vẫn hằng ngày “lướt nét”, “chơi phây”. Thầy hẹn tôi sau khi xem xong đợt “sân khấu Công an” sẽ viết về đề tài này trong sân khấu, vấn đề kia về xã hội và rảnh thì nhảy vào mạng, cũng là hình thức giải trí và bồi bổ thêm hiểu biết. Những ý định dang dở, những lời hẹn bị cắt ngang như cái kết đột ngột bất ngờ của sân khấu chăng?

Không! Cây đại thụ của sân khấu đã ra đi nhưng bóng mát và gốc rễ còn để lại.

NHÀ BIÊN KỊCH LÊ QUÝ HIỀN

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 12/7/2015

Triển lãm 100 Ngọc Xá Lợi Phật và tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ

Kỷ niệm Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27-7 và Mùa Vu lan, được sự chỉ đạo và ủng hộ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các ban, ngành liên quan ở Trung ương và Hà Nội, Giáo hội Phật giáo huyện Ðông Anh phối hợp Công ty CP Truyền thông Việt cùng các doanh nghiệp tổ chức lễ đón rước 100 Ngọc xá lợi Phật tại chùa Hưng Thạnh (Phú Quốc, Kiên Giang) và chùa Linh Ứng (Ðông Anh, Hà Nội). Theo Ban tổ chức, chiều 12- 8, lễ tưởng niệm, cầu siêu các Anh hùng liệt sĩ sẽ diễn ra tại nhà tù Phú Quốc và Nghĩa trang liệt sĩ huyện đảo Phú Quốc; 18 giờ ngày 14-8, lễ cầu siêu anh linh Anh hùng liệt sĩ cũng được tổ chức tại chùa Linh Ứng. Trong dịp này, Ban tổ chức sẽ triển lãm 100 Ngọc xá lợi Phật, tổ chức lễ Vu lan và chương trình nghệ thuật Mẹ Việt Nam ơi tại chùa Linh Ứng, đồng thời các phật tử sẽ phát tâm công đức xây dựng Bảo tháp Ngọc Xá Lợi Phật tại chùa Linh Ứng (xã Xuân Canh, huyện Ðông Anh, TP Hà Nội).

Thành lập Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội

UBND thành phố Hà Nội vừa quyết định thành lập Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội trên cơ sở tổ chức lại Ðoàn Xiếc Hà Nội trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố. Ðây là đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng biểu diễn và tổ chức biểu diễn nghệ thuật xiếc và tạp kỹ, sưu tầm, nghiên cứu thể nghiệm và phát triển nghệ thuật xiếc và tạp kỹ. Nhà hát gồm bốn đoàn diễn viên với nhiệm vụ xây dựng các chương trình, tiết mục xiếc, tạp kỹ bảo đảm tính dân tộc và hiện đại; tổ chức biểu diễn phục vụ khán giả trong nước và nước ngoài…; biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị; sưu tầm, nghiên cứu phát triển; sáng tạo thể nghiệm và phát huy những giá trị nghệ thuật xiếc đặc sắc của Việt Nam…

Thu hút du khách quốc tế từ chính sách miễn thị thực nhập cảnh

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa đưa ra Kế hoạch hành động số 2648/KH-BVHTTDL ngày 2-7-2015 về “Tăng cường quảng bá, xúc tiến nhằm thu hút khách du lịch từ Anh, Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, I-ta-li-a và Bê-la-rút đến Việt Nam” nhằm khai thác có hiệu quả chính sách miễn thị thực nhập cảnh. Kế hoạch hành động tập trung vào các nội dung: làm việc với Ðại sứ quán của sáu quốc gia kể trên để giới thiệu chính sách thu hút khách du lịch; phối hợp các đơn vị liên quan tại sáu nước trên tăng cường công tác thông tin; họp báo quốc tế giới thiệu chính sách miễn thị thực nhập cảnh; tổ chức hội nghị phổ biến và triển khai các giải pháp thu hút khách quốc tế đến từ sáu quốc gia trên, tổ chức đón sáu đoàn đại diện các cơ quan truyền thông đến Việt Nam khảo sát; tham dự Hội chợ Du lịch Thế giới WTM 2015 tại Luân Ðôn (Anh).

Liên hoan đờn ca tài tử Nam Bộ giải “Hoa Sen Vàng” năm 2015

Sáng 11-7, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trung tâm Văn hóa TP Hồ Chí Minh tổ chức Liên hoan đờn ca tài tử Nam Bộ giải “Hoa Sen Vàng” năm 2015 với sự tham gia của hơn 250 tài tử đàn và tài tử ca. Ðây là lực lượng tài tử hạt nhân, nòng cốt ở 24 câu lạc bộ đờn ca tài tử xuất sắc nhất thuộc 24 trung tâm văn hóa, thể dục thể thao trong thành phố. Tại Liên hoan, các câu lạc bộ tham gia biểu diễn nhiều nội dung như: ca ngợi Ðảng Cộng sản Việt Nam, ca ngợi Bác Hồ; tình yêu quê hương, gia đình, đất nước, tình yêu đôi lứa và các thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội trong công cuộc đổi mới của TP Hồ Chí Minh, các địa phương. Lễ trao giải sẽ diễn ra vào ngày 26-7.

Don ca tai tu

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: