Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 31, 2015

Tư tưởng Keyserling – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần thứ 2 tháng 8 năm 2015

 

KVCT

*BÀI SỐ 10 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

10.- TƯ TƯỞNG KEYSERLING

 Phạm Quỳnh

(Tháng 6 năm 1945)

Giữa trời nóng tháng sáu mà đọc sách triết lý Keyserling, quyết không phải là một cách tiêu khiển mùa hè. Vậy mà mấy bữa nay đã đọc hết một quyển dày ngót bốn trăm trang của nhà triết học Đức, đề là “Mặc khảo về Nam Mĩ” (Méditations sud-américaines). Kể thì cũng không phải là một cách mua vui ngày hè thật, vì tư tưởng sâu xa, lời lẽ khó hiểu, phải để ý suy nghĩ luôn không khỏi mệt trí. Có lẽ cũng không phải là ý nghĩa quá thâm trầm mà khó hiểu, chỉ vì cách lý luận phô diễn của tác giả kỳ khu (khó khăn – PT chú) mắc mỏ mà làm cho độc giả không nhẫn nại đến chán nản vậy. Lối hành văn của các nhà triết học Đức vẫn có tiếng là nghiêu khê (lắt léo, quanh co – PT chú) xưa nay: thật thế; đọc văn Keyserling như đứng giữa đêm tối mà chốc chốc có chớp loáng giữa trời, có nhiều câu sáng sủa sâu sắc lạ lùng, mà chìm đắm trong những đoạn mập mờ tối nghĩa. Mạch lạc không rõ ràng, cho nên phải để ý luôn cũng mệt. Nhưng cách tiêu khiển của người ta, mỗi người mỗi khác. Muốn bận trí cho khỏi nghĩ lan man đến chuyện khác, đọc sách Keyserling giữa trời hè nóng nực, cũng là một cách tiêu khiển riêng vậy.

Nước Đức, sau cuộc thất bại năm 1918, tâm hồn tán loạn, thần trí hoang mang, các nhà tư tưởng băn khoăn tự hỏi khống biết lẽ phải ở đâu, đường sống nẻo nào. Bá tước Hermann Keyserling là một tay lỗi lạc trong các văn nhân học giả đó, đã từng sáng lập ra một nơi học xá riêng để họp tập đồ đệ nghiên cứu về đạo lý đặt tên là “trường Đạo Lý” (Ecole de la sagesse), lại du lịch  các nước để khảo sát về nghĩa lý các dân tộc. Cách khảo sát của ông là cách “mặc khảo”, mượn cảnh vật bề ngoài, lấy tình cờ quan sát mà trầm tư mặc tưởng, suy rộng đến nguyên lý sâu xa.

Ông tự hỏi: đời người có nghĩa không, và nghĩa đời người là gì?

Xét đời người phải xét đến sự sống, vì đời người là cái khoảng người ta sống trên mặt đất. Nhưng người ta cũng là một giống trong muôn vàn giống sinh vật khác; xét sự sống của người ta là xét sự sống của hết thảy các sinh vật trên mặt đất.

Các sinh vật bắt đầu sống thế nào? Nguyên thủy của sự sống thời mịt mù trong thời gian, không biết đâu mà dò xét cho được. Cứ xét các trạng thái có thể đoán được, thì có lẽ trạng thái gần với nguyên thủy hơn cả, là trạng thái những giống bò rạp (tức loài bò sát – PT chú), những loài máu lạnh: rồng rắn, thuồng luồng, mắt lờ đờ, mình quằn quại, lúc nhúc sinh sản trong những đầm lầy rừng rậm. Suốt mặt địa cầu, duy có châu Nam Mĩ là cảnh vật còn gần giống với cảnh vật hồi đầu, khi sự sống mới xuất hiện trên mặt đất: Thổ dân châu ấy là giống Tây Ấn Độ (Da đỏ), thì nay đã hầu tàn hết rồi. Hiện cư dân toàn là người Tây Ban Nha và người Bồ Đào Nha sang thực dân đã mấy thế kỷ nay, sinh trưởng lâu đời, chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh mà hầu thành những dân tộc mới. Xét sinh hoạt và tâm lý các dân tộc ấy, như người Argentine, Brésil, Pérou, v.v… có thể trừu tượng mà ức đoán được trạng thái của sự sống hồi nguyên thủy thế nào. Sự sống ấy có mật thiết quan hệ với hoàn cảnh địa lý, với cảnh vật bên ngoài. Sự sống ấy liền với mạch đất, khí đất, toàn thuộc về đất (tellurique). Theo thuyết “âm dương” của triết học cổ nước Tầu, thì sự sống hồi đầu là toàn thuộc âm cả. Thuộc âm nên nặng nề, tối tăm âm thầm, lạnh lẽo, chính là tính cách sự sống của các giống bò rạp ở các đầm lầy đời thượng cổ vậy. Xét tâm lý người Nam Mĩ ngày nay cũng có tính cách thuộc âm như vậy. Đó là tính cách người đàn bà thuộc về thụ động. Cho nên sự sống của người đàn bà mà giữ được thuần tính chất đàn bà, vẫn là gần với trạng thái nguyên thủy, vì không đoạn tuyệt với đất, ứng với địa mạch, thuận với địa lý, thuần thuộc âm vậy.

Nay lại xét sâu hơn nữa mà thử nghiệm xem cái sống vì địa mạch, cái sống thuần âm đó, cái sống gần với nguyên thủy đó, nó biểu lộ ra những đặc tính gì.

Xét cho kỹ, nhận ra có ba tính cách như sau, tác giả gọi bằng những tên riêng lấy ở tiếng Tây Ban Nha ra: một là gana, tiếng này cũng khó dịch lắm, hẵng tạm dịch là “khuynh hướng”; hai là delicadeza, cũng tạm dịch là “cảm xúc”; ba tức là “cảm động” (chữ Pháp là émotion).

Sự sống nguyên chỉ biểu lộ ra ba cách đó mà thôi: loài sống vốn có một sức ngầm nó đưa đẩy cho nghiêng theo một đường, tức là gana, là cái khuynh hướng muốn sống; bị ngoài kích thích thì cảm xúc, như cây hàm tu thảo (Cây xấu hổ – PT chú), chạm đến thì thu rút lại ngay; nhưng kích thích mạnh thì có dao động đến cả thân thể, tức là cảm động, và ở những loại cao thì nhân đó sinh ra cảm tình, thành ra ái ố (Yêu ghét – PT chú). Tác giả chỉ nói có ba tính cách đó; nay xin lạm thêm một tính cách thứ tư nữa, là “phản động”, vì có cảm động tất có phản động lại, tức là đáp lại cái kích thích bên ngoài, hoặc thuận, hoặc nghịch.

Sự sống rút lại chỉ có thế mà thôi, chỉ là một mớ những khuynh hướng, cảm động và phản động tự nhiên, dường như vô ý thức vậy. Đã vô ý thức thì còn có ý nghĩa gì nữa?

Xét phần nhiều người cũng chỉ là quanh quẩn trong cái vòng sống tự nhiên đó mà thôi, và hết thẩy người đàn bà là sống như thế cả. Các dân tộc Nam Mĩ cũng thế. Mà cách sống đó là cách sống chân thiệt hơn cả, mà cũng là cách sống không có ý nghĩa gì cả.

Mà thiệt sự sống vốn không có ý nghĩa lý chi hết, không có nghĩa có lý đối với chi hết cả. Nghĩa lý là sự người ta ngẫu nhiên bịa đặt ra đó mà thôi.

Sự sống hồi đầu chỉ là một đám tối tăm lạnh lẽo, do mấy sức mạnh đơn sơ chuyển động, ngọ nguậy như con trăn khổng lồ nằm trong hang sâu vực thẳm…Một buổi nọ, không biết vì duyên cớ gì, cũng như không biết vì sao mà có sống, trong đám tối đó bật ra một cái tia sáng là tia sáng của Thần trí người ta. Sự tình cờ ấy đem lại cho loài người lắm chuyện lôi thôi. Tự đó mà sự sống vốn ù lì mù mịt thành ra có giác có tri. Tự đó mà loài người đương thiêm thiếp giấc mòng, vụt tỉnh lên hoạt động. Tự đó mới có cuộc đời, có lịch sử, mới khởi lên vấn đề nghĩa đời người. Nhưng đối với sự sống, đó toàn là trò chơi, là chuyền thừa cả, do Thần trí người ta vẽ vời bịa đặt ra, chứ đối với lẽ sống tuyệt nhiên không có quan hệ gì, mà thường thường lại là mâu thuẫn phản trái với sự sống vậy.

Thần trí đã can thiệp vào cõi sống – dương đã phối hợp với âm – chiếu sáng vào trong đám hỗn độn u âm, tiện thị (Ấy là- PT chú) là nhận thức sự sống, đã nhận thức liền muốn tổ chức, muốn tổ chức tức là lấy lý trí mà đặt cho sự vật thành thống hệ (Quan hệ của những sự vật có mối liên tiếp cùng nhau, tức hệ thống – PT chú) đời người có nghĩa lý.

Số là Thần trí, có cái đặc tính hay tưởng tượng, hay quan niệm. Tưởng tượng là tạo ra những hình tượng, quan niệm là trừu tượng mà hóa thành lý tưởng. Lý tưởng với hình tượng lại có sức mạnh muốn hiển hiện ra thực sự. Thành ra cuộc đời càng ngày xa với lẽ sống nguyên thủy, chỉ bằng cứ ở những lý tưởng cùng hình tượng huyền ảo do thần trí cấu tạo ra, lại do thần trí muốn đem ra diễn thành sự thực vậy. Nói tóm lại thời đời người là một tấn kịch, cuộc đời là một kịch trường, và người ta toàn là những vai đóng kịch cả. Đời người có nghĩa hay không, là chỉ đối với vai tuồng của người đóng, đối với bản tuồng của mỗi người diễn mà thôi, chứ đối với lẽ sống thiên nhiên trong Vũ trụ, thì chẳng có quan hệ mảy may gì cả. Không những thế: người ta nhiều khi mê man về trò chơi đó mà quên cả lẽ sống cốt yếu; cho nên thường phải cảnh cáo cho biết đó là chuyện giả, chuyện giả hết cả.

Thế là nghĩa làm sao? Nghĩa là sự sống vốn thuộc âm, không có nghĩa lý gì cả, cho đến ngày Thần trí (Esprit) – tức là khí Dương[1]– can thiệp vào, biến một cái thế giới tối tăm lạnh lẽo thành một vũ đài rực rỡ náo nhiệt, để cho loài người diễn một tấn tuồng thiên cổ li kỳ, thiên cổ đặc sắc, tức như thi hào nước Ý Dante gọi là cái “Hí kịch thành thần” (Divina Comedia) của Nhân loại vậy.

Nhưng phải nhớ rằng tấn tuồng đó không có quan hệ gì với sự sống cả, chỉ là cái trò chơi của người đời đặt ra để tiêu khiển trong cõi sống vậy. Nhưng cả giá trị của đời người, cả nghĩa lý của đời người là ở trong tấn tuồng đó…

Ấy tư tưởng của Keyserling như vậy. Tư tưởng ấy kể cũng li kỳ và cũng sâu sắc thật. Đây gọi là tóm tắt đại khái mà thôi, chưa chắc đã thấu hiểu được hết, mà nói ra cũng là thô lược vô cùng. Vì giá trị sách của Keyserling là nhân một việc nhỏ mà khái luận thành nghĩa lý sâu xa, dẫn chứng ba lan (Như sóng, tầng lớp trong văn chương khi lên khi xuống – PT chú), khiến cho người đọc phải nghĩ ngợi vô cùng. Nhưng cách lý luận không khỏi tần phiền (Nhiều, thường hay quấy quả – PT chú), mà cách hành văn có điều trắc trở, cũng khiến cho người đọc nhiều khi mệt trí não.

Đọc sách Keyserling quyết không phải là cách tiêu khiển mùa hè vậy. Thuật sách Keyserling cũng quyết không phải là cách tiêu khiển mùa hè vậy.

Nhưng đã trót tiêu khiển bằng cách đó, cũng phải vội vàng ghi chép lấy, gọi là kỷ niệm mấy ngày nóng nực lạ thường, giữa lúc thần trí bâng khuâng, lan man nghĩ ngợi những đường kia nỗi nọ xa gần…

Tu Tuong Keyserling

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

 

P.Q.

 


[1] Đối chiếu với thuyết âm dương, là tự thuật giả, không phải tự tác giả.

 

 

 

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. […] (5.343) và tiếp theo là Nơi táng mộ cụ Thượng Chi của Nguyễn Đắc Xuân (5.291), Tư tưởng Keyserling của Phạm Quỳnh (5.213), Có hay không vụ “Phạm Quỳnh hất cẳng Ngô Đình […]

    Pingback bởi Blog Phạm Tôn đầy năm (thôi nôi) -Blog PhamTon « Pham Ton’s Blog — Tháng Một 29, 2010 @ 1:24 chiều | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: