Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 10, 2015

Chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh – Phạm Thị Ngoạn

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:22 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 3 tháng 8 năm 2015.

 TÌM HIỂU PHẠM QUỲNH

CHỦ NHIỆM KIÊM CHỦ BÚT PHẠM QUỲNH

Phạm Thị Ngoạn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bà Phạm Thị Ngoạn là con gái thứ tư trong tám con gái của Phạm Quỳnh, sinh năm 1921 tại Hà Nội, định cư và đã mất tại Pháp năm 2000

—o0o—

Gia đình…từ biệt làng Lương Ngọc để lên Hà Nội lập nghiệp. Và Phạm Quỳnh đã ra đời, khôn lớn và học hành tại Hà Nội.

Suốt đời nhà văn này vẫn có tính dè dặt và có thể nói là rất kín đáo, tự ý lựa chọn một nếp sống thu mình trong khuôn khổ gia đình. Ngay từ hồi tuổi trẻ người đã sớm tạo nên một loại “tháp ngà” để sống riêng biệt, sự kiện trái ngược đối với một người mà sau này lịch sử sẽ xô đẩy vào đời sống chánh trị, có liên qua đến vận mệnh quốc gia, đảm nhiệm những chức vụ trong các hội đồng và sau hết trở nên Thượng thư Triều đình Huế

Mâu thuẫn này – nếu đây quả là mâu thuẫn – được giảng giải bằng luật di kế và gánh nặng của trách nhiệm gia đình. Nhưng tuy không mong đợi mà Phạm Quỳnh đã được đền bù thoả đáng, vì chính trong khung cảnh gia đình êm ấm mà ông được mãn nguyện về tình cảm

Ngay từ buổi thiếu thời, ông đã phải đương đầu với những thử thách khắc nghiệt. Pham Quỳnh gần như không có mẹ, vì người mất đi khi con mới được chín tháng. Sau đó, khi ông chín tuổi, lại đến cha từ trần. Nhờ bà nội mà Phạm Quỳnh côi cút được biết thế nào là tình thương trong gia đình, cùng là cắp sách theo đòi sự học.

Dù nói hay viết, mà nhất là viết, Phạm Quỳnh rất dè dặt bộc lộ tâm tình. Tuy nhiên, đôi khi ông cũng đã nhắc tới một số kỉ niệm buổi ấu thời, thật hồn nhiên giản dị.

Trong cuốn Pháp du hành trình nhật ký, ông tâm sự như sau:

“Hỏi đến lịch sử của riêng mình, mình cũng lấy lòng thành thực mà đáp; kể những lúc lênh đênh cơ khổ buổi thiếu thời, nhờ bà nội nuôi đi học. Từ khi khôn lớn biết nghĩ tới giờ chỉ nuôi một cái chí trong lòng là đối với nhà làm thế nào nối được nghiệp của ông cha, đáp được cái nền “sĩ phong” cho xứng đáng (…),đối với nước, làm thế nào giúp cho quốc hồn được tỉnh tao, để mong quốc vận được sáng sủa (…) không dám đem cái chí nguyện mà hi sinh cho sự giàu sang…”

Về đời học sinh và những thành tích đầu tiên trên đường học vấn cũng như về cuộc đời công chức, Pháp du hành trình nhật ký đã cho ta biết

“Bấy giờ mới tốt nghiệp ở trường Bảo Hộ ra (…) mình đỗ đầu đang khét tiếng là “Cậu thủ khoa tây”! Thậm chí có người nói: “Lương Ngọc có đất thật, thi chữ tây mà cũng đỗ thủ khoa!” (…) Hồi bấy giờ mới đặt ra thi Diplôme trong dân gian còn lấy làm trọng lắm, trọng hơn là thi cao đẳng bấy giờ…”

Những lời tâm sự đó rất ít khi được kí thác trong các tác phẩm. Phạm Quỳnh còn cho ta biết ông đã học chữ nho, kiên trì và lao khổ tới mực nào:

“Mình bấy giờ còn nhỏ dại quá (…) lại thật thà hiền lành, đến nỗi anh em đặt tên là “Anh lý nhà quê!” Thủ khoa tây mà chữ nho chỉ biết viết được hai chữ tên, còn thì mịt mù cả. Kỳ thi có một bài Hán tự dịch ra chữ tây, dịch giỏi đến nỗi chấm được một nửa điểm (1/2)! Đáng thì phải 0, hỏng “toẹt” không được đỗ vì dịch sai cả, làm hẳn một bài chữ tây khác không giống gì nguyên văn chữ Hán cả (…) Sau ngày vào làm việc ở Bác Cổ, gia công học Hán tự trong mấy năm”

Khi trở nên Thượng thư Bộ Học, ông đã tuyên bố như sau, nhân một cuộc phỏng vấn:

“Nghề này vốn là tổ nghiệp của nhà tôi; chính tôi cũng đã từng dạy học ở trường Đại học Hà Nội. Thân phụ tôi, các cụ tôi đời trước đều là nhà nho dạy học cả. Cho nên nay tôi ra chủ trương Bộ Học chẳng qua cũng chỉ là nối lại nghiệp nhà mấy mươi đời làm thầy dạy học” (Chánh trị ở Huế – Nam Phong, số 189)

Mới hai mươi lăm tuổi, ông đã có chín năm thâm niên trong ngạch Trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ

Kể từ năm 1914, theo đề nghị của Phủ Toàn quyền, ông phụ trách thêm một công tác mới: cùng với Nguyễn Bá Trác, phiên dịch cuốn Lịch sử chiến tranh của Hanotaux đã xuất bản tại Pháp, nhằm hướng về các độc giả Trung Hoa. Thật là mâu thuẫn của số mệnh nếu chúng ta nhớ lại lời tự thú của Phạm Quỳnh là cho đến năm 1908, ông rất “dốt” chữ nho.

Ông đã trở nên một nhà báo “có hạng”, một văn sĩ thời danh, nhờ ở những bài đăng trong Đông Dương tạp chí từ năm 1913

Trông bề ngoài, Phạm Quỳnh có vẻ mặt cương nghị. Cận thị tử nhỏ, ông không hề rời cặp kính trắng đã trở nên mật thiết. Trước khi có dịp qua Pháp, cho đến năm 1922, ông vẫn trung thành với cái búi tó củ hành giấu trong vành khăn nhiễu. Ông tồn cổ ngay cả với chi tiết nhỏ nhặt này cũng như về y phục: một chiếc áo đen khuy cài nghiêm chỉnh, một chiếc quần trắng ủi thật thẳng. Lưng hơi còng (lưng “tôm”) toàn thể cho ta một cảm tưởng diêm dúa, nghiêm trang, có thể nói là hơi lãnh đạm. Ông cao một thước bảy ba, vai rộng. Nhà thơ Mai Nhạc đã mô tả như sau:

Vai không rộng lắm, sức không dài

Đem tấm lòng văn gánh việc đời

Gót đạp đất,

Đầu đội trời.

Giương mắt mà coi,

Đẹp là ai?

Xấu là ai?

Câu khôn câu dại chứa đầy tai…

(“Đề tấm ảnh ông P.Q” Nam Phong số 100, trang 183)

Và gần đây nữa, một tấm hình được thực hiện nhờ nét bút của kí giả Vân Bình Phạm Văn Bính, trong tuần báo Đời:

“Cụ Phạm Quỳnh là một học giả hào hoa phong nhã. Cụ người dong dỏng cao, nước da trắng xanh, lúc nào cũng mang một cặp kính trắng, đạo mạo như một nhà giáo sư triết học.Cụ ăn mặc chải chuốt lịch sự; mỗi câu chuyện cụ nói ra đều đượm vẻ văn hoa bóng bảy. Nhiều người gặp cụ lần đầu tưởng cụ kiêu ngạo khinh người. Nhưng khi gần cụ lại thấy cụ dễ dãi nói chuỵên có duyên, trung thực và chân thành.

“Khi cụ còn là một chủ báo, tôi thấy hằng ngày cụ đi bộ từ số 5 Hàng Da ra bờ hồ Hoàn Kiếm, làm việc tại trụ sở Khai Trí Tiến Đức. Cụ đi làm giản dị như một viên thư kí đi làm ở một công sở, đều đặn, đúng giờ, chăm chỉ.

“Khi cụ được vua Bảo Đại triệu vào Huế làm Ngự tiền văn phòng và Thượng thư Bộ Giáo dục, cụ cũng không đổi phương làm việc. Vẫn cần mẫn siêng năng, vẫn chu đáo như khi còn làm chủ báo” (Vân Bình Phạm Văn Bính: Hai quái kiệt của làng báo Bắc Việt, báo Đời số 33, ngày 21-5-1970, Sài Gòn)

Đào Hùng nhà phóng viên Phụ Nữ Tân Văn Sài Gòn năm 1931, ra Bắc phỏng vấn chủ bút Nam Phong cũng cho ta biết thêm một vài nét về hình dung và tính nết Phạm Quỳnh:

“Phạm tiên sinh…dáng người hoà nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều có ý tứ gìn giữ, tỏ ra một người có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo một cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn luôn trên cửa miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự đại mà thường thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…” (Đào Hùng: Phụ Nữ Tân Văn, Sài Gòn, 18-6-1931)

Người ta đã nói đã viết rằng Phạm Quỳnh “kín đáo”, hay có vẻ mặt “kín đáo”. Ngay trong Nam Phong số 168, phần phụ trương Pháp văn, độc giả có thể thưởng thức đoạn văn sau đây trong bài tường thuật về một phiên họp của Đại Hội Đồng Kinh Tế và Tài Chính Đông Dương. Tác giả là một nhà báo Pháp:

“Phạm Quỳnh mà văn hoá và tài năng làm vinh dự cho giống nòi đã là một chiến lược gia cho buổi tranh luận. Theo dõi phản ứng trong hội nghị một cách thiệt tài tình, ông làm chủ buổi hội, điều khiển buổi họp mà lại cho ta có cảm tưởng như ông chỉ là người ngoại cuộc. Kỹ thuật của ông tế nhị cũng như vẻ mặt ông kín đáo, đã tỏ ra rất hiệu nghiệm” (La question des alcools au Grand Conseil, Revue “Indochine”, Sài Gòn, Nam Phong số 168, tháng giêng năm 1932, phụ trương Pháp văn trang 14)

Thực ra, vỗn dĩ và nhất là từ năm 1917, học giả Phạm Quỳnh đã kiên trì nuôi dưỡng đức tính trầm lặng đó. Ông là một thanh niên Khổng học, dòng dõi nho phong, ông quan niệm có bổn phận trung thành với tập quán cổ truyền. Nhưng một khi đã lên tiếng, đã chấp nhận đối thoại, ông trở nên hùng biện, qua sức hấp dẫn của đề tài, qua giọng nói cao thấp, nhịp câu nhanh chậm, lại qua lập luận bắt nguồn từ cả một tấm lòng giàu nhiệt thành, đầy xúc cảm và say sưa biết chừng nào đối với một vài loại sự kiện hay tư tưởng. Bằng chứng là đoạn văn sau đây của kí giả René Lays:

“Ngài tiếp đón chúng tôi một cách rất nhã nhặn. Chúng tôi bèn đánh bạo hỏi ngài có muốn tuyên bố gì cho các độc giả của báo Impartial không. Quan Thượng thư Phạm Quỳnh vốn tính ôn hoà nho nhã, liền bảo chúng tôi rằng xin tuỳ ý phỏng vấn, ngài sẽ tường tận trả lời (…) Quan Thượng thư tủm tỉm cười, đáp lại rằng: “Tôi cám ơn ông đã có bụng yêu mừng như vậy. Tôi lấy làm cảm động, vì là lời mừng của một bạn đồng nghiệp cũ, vì tôi đây cũng đã từng viết trong các báo. Ngày nay, vì địa vị, vì chức vụ, không thể viết được nữa, nhưng nghề làm báo thực là một nghề có hứng thú làm ai đã làm qua, vẫn giữ như vết in trong tâm não, không bao giờ phai được…” (Chánh trị ở Huế – Nam Phong số 189, tháng 8 năm 1933)

Phạm Quỳnh không phải là con người vô cảm giác, nhưng ông đã khéo chế ngự cảm giác đó vào khuôn phép. Và lẽ dĩ nhiên khía cạnh này của cá tính – nghĩa là ý chí cương quyết chế ngự cảm giác – đã ảnh hưởng rất nhiều tới quan niệm của ông trên lãnh vực văn chương và xã hội.

Khi còn thanh niên, ông đã có dịp bàn về “ý chí kỉ luật” này trong bài “Làm văn”. Và ông kể lại mặc dầu say sưa trước sức cám dỗ của Pháp văn, ông đã cương quyết từ bỏ tham vọng phù phiếm Pháp văn để hoàn toàn quay về với tiếng mẹ đẻ.

“Vào khoảng mười năm về trước mà xướng ra làm văn quốc ngữ tưởng cũng là liều mà bạo thật…Thầy không có, tuổi còn trẻ, học còn ít, thế mà dám hăm hở làm văn, phỏng có liều không? Nhưng liều mà cũng bạo, bạo là thế này: một bên các thầy tây học lãnh đạm, một bên các cụ khủng khỉnh, thế mà dám không nho, không tây, giở nghề quốc ngữ lơ láo một mình, chẳng ai thiết đến, tưởng không bạo cũng là gan. Nhưng gan nhất là tự mình miễn cưỡng với mình. Tôi từ thuở nhỏ ham mê chữ tây lắm (…) Nhưng đương ham mê như thế mà phấn nhiên miễn cưỡng lại được, chợt tỉnh lại mà tự nghĩ rằng: “Làm thằng An Nam mà không tập làm văn An Nam, lại học văn tây, cho dẫu hay tám vạn cũng không bằng người ta được, mà phí công vô ích (…) Tôi cũng ví như người nghiện văn tây mà tự mình bắt buộc (…) là chỉ vì một chút khốn tâm, khốn tâm về văn quốc ngữ, chỉ vì một chút hi vọng, hi vọng có một ngày người mình cũng làm văn được như người” (Làm văn – Nam Phong số 67, tháng 1 năm 1923, trang 19)

Trong thời gian làm Thượng thư, Phạm Quỳnh thường có dịp tiếp phóng viên các báo đàn bà (tỉ dụ: tuần báo Phụ nữ thời đàm) muốn phỏng vấn về cuộc đời tình cảm hay các cuộc “phiêu lưu” của ông, Câu trả lời của Phạm Quỳnh thời đó: “Đời tình  cảm của tôi là một con số không” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) đã làm nhiều người rất lấy làm lạ, trong khi ông chỉ muốn ngụ ý ông không có tình cảm nào khác hơn là gia đình (Lẽ dĩ nhiên câu trả lời đó không có ý nghĩa là Phạm Quỳnh vô tình hay chủ trương không có cảm xúc… Để làm sáng tỏ vấn đề, chúng tôi xin kể vài giai thoại sau đây:

“Phạm Quỳnh đôi khi cùng với bạn bè, cũng có lúc tới các ca lâu tửu điếm thưởng thức hát ả đào. Theo tập quán cho phép, người ta hỏi ông có chấm một cô đào nào không. Ông trả lời: “Tôi có con sớm quá, khiến khi các đào nương còn ít tuổi đến với tôi, tự nhiên tôi liên tưởng đến các con gái tôi, và vì vậy nên không bị cám dỗ”. Tuy vậy, ông rất là ưa ca và nhạc. Khi đã làm Thượng thư ở Huế, ông hân hoan mỗi khi tiếp đón các nhân vật hay ký giả từ Hà Nội, Sài Gòn hay cả  từ Paris tới, được dịp tổ chức những buổi họp mặt văn nghệ rất bình dân, ngồi cùng chiếu với các đào nương hay nhạc công chuyên nghiệp. Đó là những buổi họp mặt đặc biệt, không thể lấy gì mà so sánh hay đánh giá. Nhưng trong đời sống thường ngày, Phạm Quỳnh giản dị đến mức có thể gọi là nôm na, không đòi hỏi gì hơn là được ru ngủ bằng một chiếc máy hát với mấy cái đĩa ca nhạc quen thuộc. Khi còn ở Hà Nội, thị hiếu chính của ông là sưu tầm những đồ sứ Giang Tây cổ. Vào Huế, ông khám phá ra vẻ đẹp nên thơ của các cổ y Trung Quốc, làm bằng lụa Tàu hay gấm dệt. Ông mua rồi đưa may thành áo dài xếp trong tủ.

“Ông không có sức khoẻ; do đó phải dùng thuốc luôn và kiêng khem thận trọng. Ông đau bao tử nên chỉ ăn được cơm nếp; quanh năm và cứ mỗi hai giờ phải uống hai thìa thuốc than chiêu bằng  nước trà; ông không uống rượu vang, rượu mạnh, mà cũng không hút thuốc lá. Trái lại, ông nghiện trà Tàu, và khi có  dịp, thú vui của ông là từ tốn nhắp chén nước thơm để ngâm nga mấy câu Đường thi. Ông không thích chơi bài, đánh bạc, tuy nhiên, sau cùng ở Huế, ông cũng học đánh “mà chược”. Trước hết là để khỏi mang tiếng lập dị khi vào yết kiến đức Từ Cung và sau nữa là để cùng với gia đình tiêu khiển trong mùa mưa. Tất cả lòng thương mến ông đã dành cho gia đình. Tôi rất cảm động khi nhớ lại những buổi họp mặt gia đình, các con quây quần xung quanh cha, nhân dịp nhà có giỗ và cha tôi ôn lại tiểu sử các bậc tiền nhân đã qua đời, hay nhắc lại một vài kỉ niệm liên quan đến đại gia đình”). Trách nhiệm gia đình đó ngày thêm đè nặng lên vai ông, người con một, mồ côi từ nhỏ, đã vậy còn lập gia đình sớm và đông con. Ông không thể hi sinh, xao lãng con, vì vậy không thể làm khác những gì ông đã làm. Nói tóm lại, ông chỉ có thể chủ trương cải cách, mà không thể là một nhà cách mạng…

Ngay từ năm 1917, lúc Nam Phong mới chào đời, niềm tin của ông đã rõ rệt. Ông tin tưởng nhận lãnh một sứ mệnh. Tất cả niềm tin mãnh liệt đó là di sản ông được thừa hưởng là do bản tính, có thể nói là do bối cảnh trong đó ông đã sống đời côi cút cô đơn. Về một vài khía cạnh nào đó, “cô đơn” dường như là một trong số các yếu tố chánh mà ta phải lưu ý khi phân tích thái độ, hành động và toàn thể sanh hoạt của ông, thuần nhất và bất khả phân, cho đến khi ông vĩnh biệt cõi đời. Ông không muốn cô đơn. Ông không tìm cô đơn nhưng định mệnh đã muốn ông phải là một thanh niên cô đơn, để sau này trở nên một chủ gia đình cô đơn mặc dầu sống giữa các người thân mến. Ông sẽ tiếp tục đời sống cô đơn đó, nhưng nhờ văn chương mà gặp bạn tri âm.

Và như vậy, Nam Phong ra đời. Đối với Phạm Quỳnh, tạp chí trở thành một phương tiện khả dĩ giải thoát ông khỏi vòng vây của cô đơn. Cũng như lịch sử cổ kim đã từng chứng tỏ khía cạnh này của nghề làm báo. Giữa các độc giả và Phạm Quỳnh, một sợi dây thường xuyên cảm thông được tạo nên dưới hình thức một cuộc đối thoại (kể từ số 26 tháng 4 năm 1919, Nam Phong đã đặt ra mục “Thư cho người bạn”). Ông nhận thấy mỗi cuộc bút chiến đã dạy cho ông biết phải làm thế nào để truyền bá tư tưởng và truyền cảm tâm tư.

Có thể nói Nam Phong chẳng khác nào một trường học, quy tụ một số môn sinh. Trong môn phái đó, một tiếng nói Việt Nam tiến bộ được rèn luyện, một nền văn hóa canh tân được chủ trương. Ít hay nhiều, một biên tập viên là một giáo sư, mỗi độc giả là một học sinh hay phụ giáo, có nhiệm vụ truyền bá sau khi đã thấm nhuần “lời đẹp”… “Lời đẹp” đó phù hợp với tập quán chỉ chấp nhận những bài viết nhằm mục đích giáo huấn hay đạo lý. Chúng ta cần chú ý đến tánh cách đặc biệt này của văn chương Việt Nam và Trung Hoa.

Trọn đời Phạm Quỳnh không hề sáng tác một bài thơ hay một cuốn tiểu thuyết. Mặc dù tự học về chữ nho, ông lại rất khắt khe trong việc áp dụng những khuôn phép cổ truyền, hơn các vị khoa bảng xuất thân từ các kỳ thi hương thi hội. Ông không chấp thuận “nghệ thuật vì du hí”, mà cũng không tán thành “nghệ thuật vì nghệ thuật”. Phần khác do văn hoá Pháp đào tạo, ông không chủ trương một nền văn chương sáo ngữ, chứa đầy những dẫn văn hay hình bóng mượn trong lịch sử Trung Hoa và Việt Nam. Tác luyện một nền văn hóa mới thuần tuý Việt Nam, rèn luyện sao cho tiếng nói của đất nước có đủ khả năng diễn tả những tư tưởng mới và những kiến thức mới, đó là tôn chỉ giáo huấn mà Phạm Quỳnh đã lựa chọn và thực hành, nhờ tạp chí Nam Phong. Ông sẽ rất thẳng tay đối với tất cả những người mà ông cho là “tài tử”, làm phí thì giờ của độc giả bằng những sáng tác giải trí, kể cả giải trí bằng cách tự thoát ly trong phạm vi nghệ thuật thuần tuý.

Vì bất đồng ý kiến về điểm này, một số văn hữu cộng tác buổi đầu đã ra đi; các vị này, trong số có Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, và sau này có Trương Dân và Mân Châu, chủ trương đứng bên lề truyền thống Khổng học để có thể tạo nên một nếp sống phóng khoáng

Và như vậy, Phạm Quỳnh thản nhiên tiếp tục tiến hành dồn hết tâm trí vào công cuộc hướng dẫn văn chương Việt Nam tới các đề tài mà ông cho là nghiêm chỉnh. Ông sáng suốt viết những dòng sau đây trích trong Nam Phong số Tết năm 1918 (năm Mậu Ngọ) là số Tết duy nhất đặc biệt phát hành nhân dịp Tết và cũng là ông tổ của các số Tết của các báo chí sau này (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

“Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung cả mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân. Trong thế giới dễ không có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui; vui ngày Tết là cái vui dễ truyền nhiễm vậy

“Bản báo đối với các bạn đọc báo những ngày thường vẫn giữ một thái độ quá nghiêm, tựa hồ như lạnh nhạt, chỉ chuyên trọng đường tư tưởng học vấn, không hề chú ý đến lối văn tiêu khiển, như câu hát lẳng lơ, nhời thơ bay bướm. Sự đó là bản báo cố ý như thế; đã từng nhận cái tật hư văn, cái thói ngâm vịnh hại cho nước ta nhiều lắm, nên phàm lập ngôn khởi luận vẫn thiên trọng sự “thực” hơn sự “phiếm”. Nhưng cái thái độ nghiêm khắc ấy tuy ngày thường là phải, mà gặp những thời tiết vui vẻ như hội Tân Xuân này, đối với cảnh, đối với người, đối với lòng hoan hỉ của mấy triệu quốc dân, tựa hồ như gảy khúc đàn sai nhịp vậy

“Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cản chung của xã hội trong buổi đầu xuân năm mới, giời ấm khí hoà, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại không muốn trái với chữ nghĩa lúc bình thường, bèn định in riêng ra tập ngày Tết này (…)

“Nhời bàn thiết thực, nghĩa lý sâu xa, đó là món ăn chắc bổ những ngày thường; của ăn sống người, nên trọng là phải. Nhưng thỉnh thoảng cũng phải nếm miếng bánh đường, nhắp chén rượu ngọt cho khoan khoái tinh thần, nên giọng hát êm ái, truyền vui khoái trí cũng là một món không thể khuyết đươc…” (số Tết báo Nam Phong, Tết Mậu Ngọ 1918)

Đó là những nét chính yếu về Phạm Quỳnh trong những năm đầu của tạp chí Nam Phong. Lẽ dĩ nhiên trong tương lai, thời gian và các biến cố sẽ đem lại những nét bổ túc không kém quan trọng

P.T.N.

(Trích Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong 1917-1934 của Phạm Thị Ngoạn. Bản dịch Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Yerres, Pháp, 1993)

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. […] thứ hai là bài Người nặng lòng với nhà của Phạm Tôn (6.714 ), bài thứ ba là Chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh của Phạm Thị Ngoạn (6.524), thứ tư là Du lịch xứ Lào của Phạm Quỳnh (6.514), […]

    Pingback bởi Blog Phạm Tôn đầy năm (thôi nôi) -Blog PhamTon « Pham Ton’s Blog — Tháng Một 29, 2010 @ 1:23 chiều | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: