Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 28, 2015

Đôi lời về những ý kiến khác nhau về Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:16 sáng

                                               Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 9 năm 2015.

ĐÔI LỜI VỀ NHỮNG Ý KIẾN KHÁC NHAU VỀ THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH

(Bài này mới lên Blog PhamTon kỳ I/8-2013, vậy mà bất ngờ đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước tìm đọc. Tính đến ngày 4/9/2013 đã có 30.752 lượt người truy cập, trở thành bài có số lượt người truy cập nhiều thứ nhì trong hơn bốn năm qua. Điều đó chứng tỏ không ít người Việt Nam ta ở trong và ngoài nước quan tâm đến Phạm Quỳnh, nhất là về số phậm bi thảm và cái kết thúc mất lòng dân ta nhất trong lịch sử hiện đại nước nhà.)

*

*    *

Blog PhamTon

Trong mục Bạn hỏi chúng tôi trả lời đăng trên Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 5 năm 2013, chúng tôi đã viết:

Chúng tôi chân thành cảm ơn sự quan tâm của các bạn đã vì quí mến Phạm Quỳnh mà quan tâm đến những gì Blog PhamTon chúng tôi đã đưa lên từ hơn bốn năm nay. Chỉ xin thưa rõ đôi điều như sau…

Sau mấy chục năm trời con người và sự nghiệp của Thượng Chi – Phạm Quỳnh bị chôn vùi dưới lớp bụi mù đen tối, năm 2001, Nhà xuất bản Văn Học xuất bản cuốn sách đầu tiên của Phạm Quỳnh ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ta: Mười ngày ở Huế, bao gồm hai thiên du ký Mười ngày ở Huế Một tháng ở Nam Kỳ ông viết năm 1918 và đầu năm 1919.

Mãi đến tháng 2/2005, sau gần 20 năm nước ta đi vào Công Cuộc Đổi Mới (1986-2005), từ quê hương Hải Dương của mình, Phạm Quỳnh đã được một bạn đồng hương làm sử là giáo sư Văn Tạo nhắc đến trong một bài báo nhỏ, đăng trên một tạp chí cũng nhỏ của quê chung hai người Khoa học và Ứng dụng: bài Phạm Quỳnh, chủ bút báo Nam Phong. Cuối năm 2005 ấy, trên báo Tiền Phong chủ nhật đã có ngay bài báo của nhà báo Xuân Ba đăng liên tiếp ba số liền 44, 45, 46 Những uẩn khúc trong cuộc đời của ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của ông đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên, “sau khi đã xén của tôi đi một nửa” (chữ của Xuân Ba).

Tháng 10/2005, trên tạp chí Sao Việt, rồi tháng 2/2007 trên tạp chí Nhà báo và công luận, ông còn cho đăng bài Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục.

Chúng tôi là con, cháu, chắt Thượng Chi – Phạm Quỳnh không bao giờ quên đức nhân hậu và lòng dũng cảm của nhà sử học và nhà văn đã lên tiếng sớm từ năm ấy, để mở đầu cho nhiều người viết sau này lên tiếng về Thượng Chi – Phạm Quỳnh, viết báo, viết sách về ông và nhiều nhà xuất bản tái bản và xuất bản những tác phẩm khác của ông như các Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, Văn Học,  Tri Thức, Công an Nhân Dân, Trẻ.

Đọc những gì xưa nay người đời viết về Thượng Chi – Phạm Quỳnh từ thời ông còn sống, đến sau này khi ông đã mất, ở cả hai miền Nam, Bắc thời đất nước ta còn bị chia cắt và cả trên thế giới nữa, nhất là ở Pháp, Mỹ và Canada, chúng ta đều thấy có những ý kiến khác nhau, đưa ra những tư liệu rất khác nhau. Và theo chúng tôi nghĩ đó là điều bình thường trong nghiên cứu khoa học lịch sử và văn hóa, văn học. Ngay cả bà Phạm Thị Ngoạn là con gái Phạm Quỳnh trong luận văn tiến sĩ Sorbonne Tìm hiểu tạp chí Nam Phong cũng viết khác chúng tôi viết sau này. Rồi khi tên ông lại xuất hiện trong các từ điển của Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam như Từ điển Văn Học của nhà xuất bản Thế Giới, Tự điển bách khoa Việt Nam của nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa Việt Nam những năm 2003, 2004, 2005 cũng viết khác nhau. Chúng tôi đã đăng nguyên văn những tư liệu đó trên Blog PhamTon vì trân trọng và tôn trọng những nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, nhà văn và đông đảo bạn viết trong và ngoài nước, xưa và nay.

Blog PhamTon chúng tôi, như tên gọi đã nói rõ là tiếng nói chính thức của con, cháu, chắt Phạm Quỳnh và những người bạn đồng tâm đồng chí. Tất nhiên, vì là “người nhà”, chúng tôi có điều kiện biết những điều mà người ngoài không thể biết. Song, cũng vì tình người trong nhà, mà chúng tôi lại có thể thiếu khách quan và dễ phạm sai lầm hơn. Tất nhiên, muốn xua đi đám bụi mù đen tối bao phủ con người và sự nghiệp của ông, chúng tôi đã cố gắng hết sức thận trọng, cân nhắc đủ mọi mặt, lật đi lật lại từng vấn đề, cố tìm ra sự thật về cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Quỳnh. Chúng tôi biết, muốn xua đi bóng tối thì phải tìm ra ánh sáng mới soi rọi vào những góc tăm tối nhất. Chúng tôi đem cả tấm lòng thành của mình và cố gắng vắt óc, dốc sức để tìm cho ra từng hạt chân lý một. Trong quá trình đó, chúng tôi may mắn được sự giúp đỡ của nhiều bạn trong và ngoài nước. Tuy vậy, chúng tôi luôn tự nhủ phải lắng nghe tất cả các lời nói khác mình, nhất là những gì trái với điều mình tin và biết. Vì không ai có đặc quyền nắm và ban phát chân lý. Chân lý thuộc về tất cả mọi người. Và chúng tôi tự biết “lực bất tòng tâm”, cho nên càng trông chờ những đóng góp của những ai quan tâm đến Thượng Chi – Phạm Quỳnh.

Người ta vẫn nói, “cái quan định luận”, đóng nắp quan tài lại thì mới có thể nhận định đúng về một con người, về sự nghiệp cả một đời người.

Chúng ta đã biết rạng sáng ngày 7/9 năm 1945 Phạm Quỳnh đã bị thủ tiêu bí mật tại khu rừng Hắc Thú, rồi vùi nông xuống một con mương cạn. Năm 1956, con cái ông mới tìm thấy di hài và đưa về mai táng ở khuôn viên chùa Vạn Phước (Huế) giữa đêm đông lạnh, trong một cái tiểu sành nhỏ. Ông không hề được “cái quan”, vì làm gì có áo quan đêm ấy. Có lẽ vì thế, mà đến nay vẫn “chưa định luận được”.

Mặc dù trong hội thảo tháng 8/2012 vừa qua ở Huế, nhà văn Tô Nhuận Vỹ đã lên tiếng hỏi: “Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh?”. Và kết luận: “Với Phạm Quỳnh, tôi nghĩ, với nhiều lý do chính xác, đã đến lúc Nhà nước, ở đây là Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch, cần kết luận và vinh danh chính thức sự đóng góp lớn lao cho Văn hóa dân tộc của Ông”. Còn nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì mở rộng  vấn đề hơn: “Không chỉ là chuyện của Cụ Phạm”.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11/5/2013.

B.P.T.

*

*      *

GÓP THÊM TƯ LIỆU VỀ NGÀY RA ĐI CỦA PHẠM QUỲNH [NĂM 1945]

Kiều Mai Sơn

(Bài thu trên http://vanhoanghean.com.vn phát vào 16:49 ngày chủ nhật, 07 tháng 7 năm 2013)

 Báo Tân Thế kỷ, số 7, ngày 26-12-1945, viết về Vụ án Phạm Quỳnh

Trường hợp Phạm Quỳnh, Vấn đề Phạm Quỳnh, hay Vụ án Phạm Quỳnh, hoặc nhiều cụm từ khác dành cho Thượng Chi tiên sinh đã được bàn thảo trong khoảng co duỗi hơn nửa thế kỷ nay, vượt hẳn phạm vi trong nước để sang Tây Âu và tới cả Bắc Mỹ.

Nhân vật lịch sử Phạm Quỳnh đã tốn nhiều giấy mực của công luận và sẽ còn tốn thêm nữa trong tương lai. Trong bài viết nhỏ này, tôi chỉ muốn góp thêm tư liệu về ngày ra đi của Phạm Quỳnh năm 1945 trên cơ sở báo chí đương thời.

“CÁI CHẾT CỦA PHẠM QUỲNH” TỪ GÓC NHÌN NGƯỜI TRONG CUỘC

Báo Năng lượng mới đã dành 6 số liên tục (từ số 204 đến số 209) đăng thiên phóng sự tư liệu dài kỳ của nhà báo Xuân Ba về Nhà văn hóa Phạm Quỳnh: “Đương tỏ dần góc khuất một gia tộc”. Kỳ thứ 5 (Năng lượng mới, số 208, ra ngày Thứ Sáu, 29-3-2013) – theo tôi, đó cũng là điểm mấu chốt nhất: “Cái chết của Phạm Quỳnh”.

Tác giả Xuân Ba viết: “Có không ít tư liệu lẫn sự đồn thổi về cái chết của nhà văn hóa Phạm Quỳnh rằng, ông bị cách mạng xử án tử hình (!?). Có hẳn cả một phiên tPham Quynhòa! Ngay cuốn “Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XX”, mục về Phạm Quỳnh (1892-1945) cũng có một dòng: “Đến Cách mạng Tháng Tám 1945 chính quyền nhân dân khép án tử hình!”

Từ góc nhìn của mình, Xuân Ba ghi lại lời kể của GS Văn Tạo – nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam về cái chết của Phạm Quỳnh như sau: “Gần đây vẫn có người cho rằng, vì ông (Phạm Quỳnh – KMS) phản động nên Việt Minh đã thủ tiêu ông? Với những tài liệu mà tôi (Văn Tạo – KMS) có được thì thấy thực không hẳn là thế!”.

Vị nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam cho biết, sau khởi nghĩa Huế thì Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi (anh ruột Ngô Đình Diệm) và con trai Ngô Đình Khôi được nhóm du kích áp tải trên một chiếc xe ọc ạch. “Chẳng may nhóm du kích áp tải đến một quãng rừng cách xa Huế thì nghe tiếng tàu bay Pháp ầm ì ở trên đầu, tưởng đâu như tiếng máy bay thả biệt kích nên các bố du kích nhà ta hoảng quá, thần hồn nát thần tính, sợ không hoàn thành trách nhiệm di dời nên đã tự động thủ tiêu cả 3 người mà không chờ chỉ thị của cấp trên!”.

Từ góc nhìn của mình, tôi thấy Hồi ký của các nhân chứng lịch sử ở Huế năm 1945 viết việc  đi bắt Phạm Quỳnh và cái chết của ông chủ bút báo Nam Phong khác hẳn.

Về việc bắt Phạm Quỳnh, trong bài Chiếm thành Huế do Tố Hữu (1920-2002) – Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Thừa Thiên Huế kể cho Tô Hoài ghi, được đăng trên Đặc san Cứu quốc (8-1946, trang 31), có đoạn: “Mười hai giờ rưỡi, một chiếc ô tô lớn đi về phía Hương Cựu (thực ra là An Cựu – PT chú) đỗ trước ấp Hoa Đường. Một người thanh niên mặc áo the, khăn đóng chỉnh tề bước vào trong dinh Phạm Quỳnh. Vào khỏi ngõ, người thanh niên cởi áo dài, lộ dưới ngực một dấu hiệu sao vàng nền đỏ và một khẩu súng sáu giắt bên dây lưng.

Hai cụ và con cái đương ăn cơm. Ngó thấy cái miệng súng sáu, lão biến sắc, run đứng lên không được. Lão bị điệu ra xe, chở đi. Ngay lập tức vợ con lão được mời xuống đường cái. Bao nhiêu đồ đạc trong gia đình niêm phong hết lại. Và cách mạng quân bắt đầu gác”.

Nguyên Phó Thủ tướng Hoàng Anh (1912), Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời tỉnh Thừa Thiên (8-1945), trong Hồi ký của mình cho biết: Việc bắt Phạm Quỳnh là quyết định của tập thể đã được bàn bạc rất kỹ lưỡng trong Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên Huế. Đồng thời, việc bắt Phạm Quỳnh và các nhân vật khác là “theo danh sách được duyệt” của tập thể gồm đoàn cán bộ của Trung ương và Ủy ban Khởi nghĩa Huế như Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Duy Trinh, Tố Hữu… : “Đoàn đi giành chính quyền trong Thành cổ Huế (riêng Đại Nội chưa động đến) lần lượt tiếp nhận hết cơ quan này đến cơ quan khác, phải làm việc liên tục từ 5 giờ sáng đến 7 giờ chiều mới tiếp nhận hết các nơi (…) Những tên Việt gian nguy hiểm đã được bắt gọn theo danh sách được duyệt trong đó có Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Huân… (Hoàng Anh – Hồi ký “Quê hương và Cách mạng, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1990, tr. 159).

Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Văn Ngọc (1908-1999), người từng làm Giám đốc Nha Công an Trung Bộ ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945 viết trong Hồi ký: “Từ điệp viên nhảy dù đến Giám đốc Nha Công an Trung Bộ” (Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 1988, tr. 198), cũng nhắc đến việc sau khi khởi nghĩa, nhân dân đã bắt xử Phạm Quỳnh.

GÓP THÊM TƯ LIỆU VỀ “NGÀY RA ĐI” CỦA PHẠM QUỲNH

Trong bài Người nặng lòng với nước của tác giả Phạm Tôn (Tạp chí Xưa & Nay, số 267, tháng 9-2006) cho biết: Tháng 2 năm 1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha. Chuyến này “do gặp nhiều nhân chứng còn sống” nên đã biết thêm nhiều điều (sau 11 năm – KMS): “Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại (Phạm Quỳnh – KMS) thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức ngày 6-9-1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có bốn ngày”.

Ngay sau đó một tháng, cũng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 269, tháng 10, tác giả Nhật Hoa Khanh có bài: Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông. Trong bài, Nhật Hoa Khanh công bố tư liệu là “hai tờ báo khổ nhỏ phát hành hẹp tại Huế năm 1945. Đó là nhật báo Quyết Chiến khổ A3, mỗi số 2 trang, là “Cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân Cách mạng Huế”. Số 88, ra ngày thứ tư, 5-12-1945 có đăng bản tin: “Ba tên Việt Gian tối nguy hiểm Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân đã bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kết án tử hình và bị bắn ngay trong thời kỳ thiết quân luật. Tài sản và vật dụng của ba tên phản quốc ấy đều bị tịch thu và quốc hữu hóa”… Cuối bản thông báo, chỉ ghi “Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương”, mà không có ai đứng tên thay mặt ký cả”.

Có lẽ, căn cứ theo bài viết của Phạm Tôn hai số báo trước đó (số 267), viết về ngày ra đi của Phạm Quỳnh là “mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức ngày 6-9-1945”mà trong lời tòa soạn in chữ đậm, cỡ lớn, Tạp chí Xưa & Nay nhấn mạnh: “Ở đây vẫn còn một điểm nghi vấn. Đó là hai bài báo được viết vào tháng 12-1945, bốn tháng sau khi Phạm Quỳnh đã bị hành quyết, như vậy để nhằm mục đích gì?” 

Câu trả lời của đoạn in đậm (sapo) trên Tạp chí Xưa & Nay là nội dung chính trong bài viết này của tôi. Bằng tư liệu trên Báo chí đương thời: “ngày ra đi” của Phạm Quỳnh không phải là ngày 6-9-1945.

Lật giở báo chí trong nước thời điểm hai năm 1945-1946 hiện còn lưu trữ, tôi thấy có một số tờ báo viết về Vụ án Phạm Quỳnh và cái chết của học giả này.

Tuần báo Việt Nam hồn, do Lê Văn Trương làm Chủ nhiệm, trụ sở đóng tại số 10 Phố Huế – Hà Nội; tuần báo Tân thế kỷ, trụ sở tại 64 Hàng Trống – Hà Nội, Chủ nhiệm Trần An Cẩn, Chủ bút Nguyễn Đức Chính và tờ Hà Nội mới, tuần báo văn chương và tranh đấu, tòa soạn 15 Nhà Chung – Hà Nội, Chủ nhiệm Lê Ngọc Vũ, đều có đăng về “Vụ án Phạm Quỳnh”.

Tuần báo Tân thế kỷ, số 7, ra ngày 26-12-1945 đăng bài “Để trả lời những ai thương tiếc Phạm Quỳnh” của Thành Sơn, mở đầu, tác giả viết:

Ủy ban Nhân dân Trung Bộ mới thông cáo cho quốc dân biết rằng Tòa án Quân sự Thuận Hóa họp ngay sau khi thành lập chính quyền nhân dân, đã khép Phạm Quỳnh vào tội phản quốc và kết án tử hình. Bản án ấy đã thi hành trong thời kỳ thiết quân luật”.

Nội dung của tuần báo Tân thế kỷ trùng với hai tờ tuần báo Quyết Chiến (bản lưu tại Thư viện Quốc gia – 31 Tràng Thi, Hà Nội, ký hiệu: JO. 545) và Quyết Thắng (bản lưu tại Thư viện Quốc gia – 31 Tràng Thi, Hà Nội, ký hiệu: JO. 520.

Sự việc được viết rõ ràng hơn là trong bài Vụ án Phạm Quỳnh, tác giả Hồng Lam, mục Trước lịch sử và dư luận, số 6-1946, báo Hà Nội mới:

“Một buổi sáng mùa đông về tháng 11 năm 1945, giời mới tinh sương, gầm giời rất thấp, phong cảnh sông Hương núi Ngự mà Quỳnh đã dùng ngọn bút tài hoa của mình bao lâu ca ngợi cái vẻ đẹp thiên nhiên êm dịu, hôm đó dường như rất lãnh đạm nghiêm khắc với y. Quỳnh bị giải từ nhà lao ra pháp trường, một bãi cỏ trên bờ sông Hương.

Vì trong lúc còn thiết quân luật, nên hôm đó người qua lại rất thưa thớt, người xem không có mấy. Sau một loạt súng xé tan cảnh tịch mịch buổi sáng, Quỳnh đã ngã gục đầu, nhưng vẫn quỳ trên bãi cỏ, tóc rũ rượi, mắt nhắm nghiền…

Sau khi chết, Quỳnh vẫn cúi đầu chịu tội trước quốc dân trong mấy phút rồi thi thể mới được mang đi.

Đến lúc này thì nào đâu là công danh phú quý, vợ đẹp con khôn, nào đâu là mũ cánh chuồn, cân đai “bối tử”, nào đâu là phẩm phục, áo đại hồng…

Công hầu khanh tướng trăm năm trắng/ Phú quý vinh hoa một giấc vàng.

Cái đời khanh tướng của Quỳnh là một giấc mộng, giấc mộng đó đã kết liễu bằng một cái chết nhơ nhuốc, nhục nhã, cái chết mà ô danh còn để lại ngàn năm, không những cho riêng mình Quỳnh, mà cho cả họ Phạm làng Hoa Đường mà Quỳnh vẫn tự xưng là dòng giõi.

Ôi, một đời tài hoa lỗi lạc như Quỳnh, ngờ đâu đã kết liễu đến thế!”./.

K.M.S.

* Ghi thêm của Blog PhamTon: http://vanhoanghean.com.vn đăng vào thứ tư 18/1/2012 lúc 22:24 bài Ông Phạm Quỳnh và phái Nam Phong của Dương Quảng Hàm lấy từ Blog PhamTon, có cả lời dẫn của PhamTon.

*

*   *

TƯ LIỆU CỦA THIẾU TƯỚNG PHAN HÀM KỂ LẠI VIỆC ĐI BẮT PHẠM QUỲNH

Chúng tôi (Blog PhamTon) may mắn có trong tay bản sao chụp tư liệu 10 trang viết tay của Thiếu tướng Phan Hàm viết ngày 8/11/1993, Tuyên huấn Thừa Thiên Huế nhận chiều 14/11/1993, xin trích đăng phần Thiếu tướng kể về việc đi bắt Phạm Quỳnh để bạn đọc có điều kiện biết được sự thật đã xảy ra như thế nào. Thiếu tướng Phan Hàm viết như sau:

“Tôi chỉ xin kể lại việc đi bắt Phạm Quỳnh. Còn các nơi khác không rõ chi tiết, chỉ biết chung chung:

Phan HamTôi nhận lệnh, nghiên cứu thì được biết thêm là trong nhà Phạm Quỳnh cũng như nhà Ngô Đình Khôi đều có rất nhiều súng ống. Vì vậy buổi sáng hôm ấy, anh Hồ (Võ Quang Hồ – PT chú) và tôi phải cải trang đi trinh sát địa hình trước. Kết quả chỉ biết được đích xác nhà (biệt thự Hoa Đường), sân, còn trong nhà không rõ. Đến trưa, ông Phan Tử Lăng trực tiếp chỉ thị cho tôi: đến trại Bảo An binh, ông ta sẽ phối thuộc cho hai tiểu đội lính Bảo An (một tiểu đội do tôi chỉ huy, một tiểu đội cho anh Việt (Đặng Văn Việt – PT chú) chỉ huy) để giúp vào việc đi bắt hai tên Việt Gian đầu sỏ này. Ông ta còn nói thêm: “Bắt được rồi đem về lao Thừa Phủ, rồi báo xuống sân vận động Huế người ta biết, mở màn cuộc mít tinh.”

“Mệnh lệnh rất ngắn mà chúng tôi mang theo chỉ thấy nói “Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc”. Tôi được trang bị một khẩu súng lục St.Etienne 6.35. Khi xe của tôi vòng vào sân, thấy Nguyễn Tiến Lãng (con rể Phạm Quỳnh – PT chú) trong nhà chạy ra. Lúc bấy giờ trên áo tôi đã có cái băng cờ đỏ sao vàng nên Lãng biết, toan chạy. Tôi đưa súng lên bắn thì kẹt đạn, nên bắt lên xe luôn. Anh Hồ lên lầu bước vào phòng Quỳnh đang chuẩn bị nghỉ trưa. Đưa giấy “mời” ra ông ta thản nhiên đứng dậy mặc áo ra đi. (PT nhấn mạnh)

“Tôi lục soát khắp nhà (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) chẳng thấy súng đạn đâu cả ngoài khẩu súng săn cỡ 12 ly của con trai ông ta và ít đạn săn. Con trai của ông ta là Phạm Khuê cũng đi dự mít tinh, ở nhà chỉ còn hai cô con gái là học sinh trường Khải Định trước đây” (…) “Đây là ý kiến tôi muốn đóng góp với những bản tổng kết quân sự, Đảng, chính quyền của tỉnh nhà.

Nhớ đâu viết đấy. Miễn là nói lên sự thật (Chúng tôi nhấn mạnh-PT)”

*

*   *

Trích bài NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Phạm Tôn

(Tạp chí Công giáo và Dân tộc số 140 tháng 8 năm 2006 và tạp chí Xưa và Nay số 267, tháng 9 năm 2006)

“Tháng 2 năm 1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà chị là Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha, đã biết thêm nhiều điều, do gặp nhiều nhân chứng còn sống. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của bác sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị. Đó là một nơi xa xôi, khó đi lại. Để tìm kiếm hài cốt, chính quyền Sài Gòn phải huy động công binh phát quang, san ủi đất làm đường, bắc cầu…trên hơn 15 km cho xe hơi đi và điều động binh sĩ giữ an ninh quanh vùng. Người canh gác xưởng kể: một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng mười một giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò. Người chèo đò kể: đi quanh đi quất trên sông Bồ, gần một giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người. Người chèo đò không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân!” sau đó là ba phát súng. (Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân đều nói giọng đặc Huế). Rõ ràng, cho đến trước khi bị giết, Phạm Quỳnh vẫn không hề nghĩ là những người đã hi sinh xương máu đồng chí đồng bào để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc lại đi giết hại một người suốt đời nặng lòng với nước như ông. Chúng chỉ là những “quân sát nhân” mà thôi.

“Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc rồi mới bị bắn ba phát. Ngô Đình Khôi không bị đánh chỉ bị bắn ba phát. Ngô Đình Huân hoảng sợ vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu.“Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất”. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi, Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông. Khi cải táng, ông Phạm Tuân thấy sọ của thân phụ có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào, “ba bộ hài cốt nằm chồng chất lên nhau…Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh tôi nhận ra được đôi mắt kính cận” Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bangMinesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ))

“Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức rạng sáng ngày 6/9/1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có bốn ngày”

*

*    *

Nhà văn Tô Hoài:

HAM SỐNG ĐỂ ĐƯỢC HAM VIẾT

Đức Triết

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần đầu bài viết của bạn Đức Triết đăng trên trang 17 mục Đời nghệ sĩ báo Tuổi Trẻ ngày Chủ Nhật 14/7/2013.

—o0o—

Giữa tháng 6, nhà văn Tô Hoài phải nhập viện. Ở tuổi 94, với nhà văn cũng như với mỗi người, chuyện thăm khám bệnh viện là điều được xem bình thường. Nhưng lần nhập viện này của “cha đẻ” Dế mèn phiêu lưu ký thì khác…

To hoaiBuổi sáng của những ngày đầu tháng 7, tôi đến thăm ông ở khu tập thể Nghĩa Tân (Hà Nội). Những tưởng còn mệt ông sẽ khó ngồi dậy. Nhưng kìa, nhà văn đã ngồi “lọt thỏm” trong ghế salon đệm mút màu xám, trong phòng khách nho nhỏ có bình cúc tím đặt trên bàn, hướng ánh nhìn cùng nụ cười rất tươi đón khách. Ông mặc bộ lụa màu mỡ gà mong manh với nước da xanh yếu và nói những chuyện mong manh trong tuổi 94 của mình…

Bác đi mổ cái… nhọt

Run run chỉ tay về phía sau lưng, nhà văn bảo: “Bác đi mổ cái… nhọt ở sau lưng vậy mà mất đến 20 ngày. Ấy là bác giục bọn trẻ xin về điều trị ngoại trú chứ không đến giờ chắc vẫn nằm viện. Ôi chao, những tháng ngày ấy ở viện sao dài hơn cả thời gian của cuộc đời!” – tiếng than của nhà văn Tô Hoài nhỏ, nhẹ và “thổi” qua những lỗ hổng của hàm răng giờ chỉ còn… mươi chiếc.

Ngừng lời đôi chút, nhà văn nhắc: “Nếu làm bảng thống kê thì khéo phải dành hết vài trang giấy A4 may ra mới ghi đủ số lần bác vào viện. Nhưng lúc còn trẻ, khỏe, vào viện… nhẹ tênh. Giờ có tuổi rồi vào viện… run lắm. Cũng vì bác ham sống để còn được ham viết!” – ông nén tiếng thở dài.

Nhớ đến lần vào viện năm 2009, xoa xoa đôi bàn tay xương xương, nhà văn Tô Hoài tự khâm phục mình: “Bác đã đi qua “tử thần” một cách dễ dàng. Ai đời nằm viện trong tình trạng không biết trời biết đất ở đâu, hồn phiêu lạc về những nơi đã từng đặt chân đến suốt tháng trời. Vậy mà giữa lúc con cháu lục tục chuẩn bị lo hậu sự, bác lại trở về… Lúc ấy mở mắt ra thấy mình nằm trên giường bệnh, thấy con cháu đang đứng vây quanh nức nở khóc, bác thấy lạ quá. Thì ra mình vẫn còn được ở lại với tất cả những gì mình đang yêu mến”.

Ðận ấy, qua cái tuổi 89 gặp bệnh hiểm nghèo, nhà văn Tô Hoài hồi phục sức khỏe rất nhanh, tưởng như đấy là lần hồi sinh của cuộc đời ông. Kê đôi tay xuống ghế, đu đưa đôi bàn chân, dáng điệu ông khi ấy giống như một cậu bé mới lên mười, nhà văn xuýt xoa: “Lúc trẻ khỏe, bận trăm công nghìn việc nên viết không được bao nhiêu. Thoắt cái đã thành ông lão – ông lão ấy từng cận kề “tử thần” nên tiếc thời gian lắm…”.

Nỗi tiếc thời gian của nhà văn được bắt đầu bằng việc chăm chỉ ngồi vào bàn viết hơn. Ông cặm cụi viết báo là những câu chuyện gắn liền với ký ức xưa nhưng giờ kể ra vẫn chẳng xưa chút nào. Ông cặm cụi sửa những trang bản thảo, tất cả vẫn nằm trong sổ tay, trên những trang giấy nâu sẫm. Tính ra nhà văn có đến cả trăm cuốn sổ hồi ký được viết theo từng ngày, từng giờ, có chồng giấy bản thảo cao đến cả sải tay. Một nửa số đó ông giữ trong nhà, còn một nửa ông gửi Cục Lưu trữ quốc gia. “Vậy mà, phải đến 20 cuốn sổ bị nhòe mực. Ðành giữ để làm kỷ niệm. Số sổ ấy nhà thơ Hữu Thỉnh đã đăng ký: Khi nào bán chúng thì gọi cho ông ấy để ông ấy cho vào bảo tàng văn học” – khẽ chép miệng, Tô Hoài tiếc.

Đ.T.

  • Ghi thêm của Phạm Tôn: Trong bài của Đức Triết có dẫn lời nhà văn Tô Hoài nói: “Lúc trẻ khỏe, bận trăm công nghìn việc nên viết không được bao nhiêu. Thoắt cái đã thNhat ky To hoaiành ông lão – ông lão ấy từng cận kề “tử thần” nên tiếc thời gian lắm…”. Ông còn để lại “có đến cả trăm cuốn sổ hồi ký được viết theo từng ngày, từng giờ, có chồng giấy bản thảo cao đến cả sải tay. Một nửa số đó ông giữ trong nhà, còn một nửa ông gửi Cục Lưu trữ quốc gia” và nói: “Bác chuyển toàn bộ những bản thảo này cho con trai Phương Vũ. In vào lúc nào là việc của bọn trẻ. Nhưng bác dặn Phương Vũ một nguyên tắc: Không được thay đổi bất kỳ nội dung nào, câu chữ nào. Nhà xuất bản nào đồng ý thì in. Nếu không, thà để ở dạng bản thảo còn hơn…”.

Chắc chắn trong các sổ hồi ký đó có ghi về lần gặp Tố Hữu để nghe kể và viết bài Chiếm thành Huế cho số Đặc san Cứu Quốc (8.1946, trang 31).

Bao giờ dân ta mới được đọc phần nhật ký này để hiểu và thông cảm hơn với nhà văn mà mình vẫn yêu quí vì tài, vì đức...


Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: