Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 12, 2015

Tôn Quang Phiệt và vụ án Phạm Quỳnh (năm 1945)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:50 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 3 tháng 10 năm 2015.

TÔN QUANG PHIỆT VÀ VỤ ÁN PHẠM QUỲNH (NĂM 1945)

Kiều Mai Sơn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi thu được trên Văn Hóa Nghệ An (http://www.vanhoanghean.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa) bài này (được đăng từ 11/6/2014), xin đưa nguyên văn, mong bạn đọc rộng đường tham khảo.

—o0o—

Tôn Quang Phiệt có thời gian hoạt động lâu dài tại Huế và với vai trò quan trọng của mình, ông biết rất rõ về Phạm Quỳnh cũng như những tình tiết cụ thể của câu chuyện bắt giữ và xử tử Phạm Quỳnh trong Cách mạng tháng Tám 1945.

Tôn Quang Phiệt sinh năm Canh Tý (1900) trong một gia đình nhà Nho tại xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Họ Tôn vốn gốc từ Yên Hồ (Đức Thọ – Hà Tĩnh) sau dời đến Võ Liệt. Thân sinh Tôn Quang Phiệt sinh năm 1870, đỗ Tú tài năm 1900, làm nghề dạy học chữ Nho. Khi triều đình bỏ thi cử Hán học, ông chuyển sang buôn gạo vài chuyến rồi làm gỗ trong rừng.

Thuở nhỏ,Tôn Quang Phiệt học chữ Hán ở nhà với cha trong suốt 10 năm. Năm 15 tuổi, ông đi thi hạch và học thêm chữ Hán ởmà Đốc học là Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm. Năm 1920-1921, Tôn Quang Phiệtvào học bậc Thành chung tại trường Quốc học ở Vinh, do các thầy người Việt Nam như Nguyễn Bá Luân (con rể vua Thành Thái), Lê Thước (giải nguyên Hán học) dạy dỗ, mà Hiệu trưởng là ông Jurugne – người Pháp. Bạn đồng môn với Tôn Quang Phiệtở trường này có như Đặng Thai Mai, Nguyễn Sỹ Sách, Phạm Thiều, Lê Xuân Phương, Phan Trọng Bình, Ngô Đức Trì…

Năm 1923 , Tôn Quang Phiệtra Hà Nội học Cao đẳng Sư phạm Đông Dương . Năm1925, ông cùng Đặng Thai Mai, Phạm Thiều… sáng lập tổ chức Việt nam Nghĩa Đoàn , tham gia đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu. Tổ chức này sau đó được thống nhất vớiHội Phục việt   của Giải nguyên Lê Văn Huân và Trần Mộng Bạch ở Vinh. Tôn Quang Phiệt được cử làm Hội trưởng Hội Phục Việt. Tháng11 – 1925 Hội Phục Việt đổi tên thành Hội Hưng Nam, rồi cuối cùng là Đảng Tân Việt (1928), một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.Tháng 6 năm1926, Tôn Quang Phiệt cùng Trần Phú, Vương Thúc Oánh… được Lê Duy Điếm dẫn đường sang Trung Quốc gặp các nhân vật trongViệt nam cách mạng đảng. Trên đường đi đến Móng Cái, ông bị Pháp bắt (cùng với Hoàng Tùng) sau đó bị đem về giam tại Hà Nội.

Từ1936 – 1945, Tôn Quang Phiệt tham gia vàoMặt trân dân chủ, dạy học tại trường tư thục Thuận Hóa (Huế) tham giaHội truyền bá Quốc ngữ Huế do Hồ Đắc Hàm và Nguyễn Khoa Toàn làm Hội trưởng. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, ông hoạt động trong Thành bộ Việt Minh tỉnh Nguyễn Tri Phương (mật danh của Thừa Thiên Huế).

Cáchmạng Tháng Tám thành công, Tôn Quang Phiệtlàm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng và Ủy ban Hành chính đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Phác nhanh mấy nét ở trên cho thấy, Tôn Quang Phiệt có thời gian hoạt động lâu dài tại Huế và với vai trò quan trọng của mình, ông biết rất rõ về Phạm Quỳnh cũng như những tình tiết cụ thể của câu chuyện bắt giữ và xử tử Phạm Quỳnh trong Cách mạng tháng Tám 1945.

CUỘC KHỞI NGHĨA Ở HUẾ VÀ THỪA THIÊN

Cuộc khởi nghĩa ở Huế và Thừa Thiên – là tên một bài viết riêng trong cuốn sách “Hà Nội – Huế – Sài Gòn tháng 8-1945” của 3 tác giả Minh Tranh – Quốc Quang – Nguyễn Văn Trấn, được Nhà xuất bản Văn hóa phát hành năm 1958. Tác giả bài viết về Cuộc khởi nghĩa ở Huế và Thừa Thiên là Quốc Quang.

Tự đánh giá “Cuộc khởi nghĩa ở Huế và Thừa Thiên có một tầm quan trọng đặc biệt”, tác giả đã phân tích các lẽ quan trọng như sau:

“Huế là thủ đô của Trung Kỳ, phạm vi cai trị của vua và của triều đình Huế. Các cơ quan đầu não của Trung Kỳ tập trung ở Huế, như các ngành công chính, thương chính, giáo dục, ngân hàng. Các tỉnh Trung Kỳ nhìn vào Huế là chỗ trung tâm hành chính, chính trị, văn hóa. Những biến cố xảy ra ở Huế nhất định ảnh hưởng đến cả 13 tỉnh Trung Bộ và cả nước, vì trước khi Pháp chiếm, nước ta gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ mà kinh đô là Huế. Dưới thời Nhật thuộc, chính phủ Trần Trọng Kim cũng tự coi như đã chủ tể cả đất nước, phong khâm sai cho Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Vì thế trước ngày khởi nghĩa các đồng chí lãnh đạo khởi nghĩa Huế cho rằng Huế như đầu con rắn, đánh vào đầu là giết chết cả con rắn; Huế bị đổ thì các tỉnh Trung Kỳ không dựa vào đâu nữa.

Huế là nơi nhiều quan lại, nhiều công chức hoặc đang tại chức, hoặc đã về hưu. Trong bọn quan lại về hưu có một số trước đã làm quan to trong triều đình. Bọn này phần lớn tư tưởng rất phản động. Vô hình chung họ thành ra một lực lượng phản cách mạng cần phải để ý. Tuy rằng trong đó có các nhân viên cấp dưới thì hoặc muốn yên thân, hoặc có cảm tình với cách mạng.

Vì các lẽ trên nên cuộc khởi nghĩa ở Huế rất quan trọng, không những quan trọng vì bản thân Huế mà lại quan trọng đối với Trung Kỳ, đối với toàn quốc nữa”.

Về việc bắt giữ Phạm Quỳnh, Quốc Quang viết trong chương khởi nghĩa ở Thừa Thiên – Huế, như sau:

“Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa quyết định ngày 23/8/1945 lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền.

Sở dĩ lấy ngày 23/8 là vì chính phủ Trần Trọng Kim đã quyết định lấy ngày ấy tổ chức mít tinh mừng việc Nhật trao trả Nam Kỳ cho chính phủ Nam triều. Ủy ban khởi nghĩa định biên cuộc mít tinh ấy thành cuộc biểu tình của nhân dân đánh đổ chính phủ bù nhìn.

Quyết định của Ủy ban khởi nghĩa: “Một mặt huy động một số xe ô tô của thành phố, điều động một ít lực lượng võ trang đi bắt một số Việt gian thân Nhật, thân Pháp đầu sỏ là cha con Ngô Đình Khôi (con là Ngô Đình Huân làm thư ký riêng cho cố vấn tối cao Nhật), Phạm Quỳnh và con rể hắn là Nguyễn Tiến Lãng”.

Cuốn này tuy không viết cụ thể quá trình bắt giữ Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân ra sao, nhưng có một câu quan trọng đáng chú ý: “Việc đi bắt mấy tên Việt gian cũng không xảy ra cản trở gì. Phạm Quỳnh cũng như Ngô Đình Khôi đều ngoan ngoãn theo lệnh đi lên ô tô để vào nhà lao Thừa Thiên chịu tội”.

Dành phần cuối cùng với tên gọi “Một vài nhận xét về cuộc khởi nghĩa ở Huế”, Quốc Quang viết:

Về ưu điểm: “Thái độ khoan hồng của Ủy ban nhân dân cách mạng là cứ để cho họ [những quan lại cũ và công chức trong chính phủ Trần Trọng Kim – KMS chú] tự do mà không bắt bớ giam giữ gì là hợp tình thế. Huế lại là một nơi nhiều quan lại to hoặc tại chức, hoặc đã về hưu, nếu ta có thái độ khe khắt đối với bọn Trần Trọng Kim sẽ làm cho một số đông khác hoang mang, dao động, không lợi cho lúc bấy giờ là lúc mà ta cần có một tình hình ổn định. Vì thế ở Huế lúc bấy giờ chỉ bắt những bọn đầu sỏ thân thân, thân Pháp như Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh bị nhân dân oán ghét nhiều và đang có nguy hại trước mắt mà thôi.

…Về khuyết điểm: “Đối với những tên Việt gian đầu sỏ nhân dân quá oán ghét mà phải xử trí cũng nên có sự tuyên bố tội trạng trước nhân dân trong các báo chí để về sau bọn phản động không thể xuyên tạc được sự thực. Điều đó ta không làm công khai”.

Tác giả Quốc Quang là ai? Đó chính là bút danh của Tôn Quang Phiệt./.

Hà Nội, ngày 14/5/2014

 Box1: “Bà Phạm Thị Thức, em bà Giá, là vợ cố giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1. Con trai út bà đã kể lại rằng trong một lần cùng đi máy bay sang Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức) chữa bệnh, ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng 8, đã cố tìm gặpgiáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đã nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (Phạm Quỳnh). Hồi ấy, tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không dính gì vào vụ này, chỉ biết khi chuyện đã xảy ra rồi.” Ta không thể không tin lời của một trí thức cỡ lớn nói với một trí thức cỡ lớn như vậy”.(Phạm Tôn: “Người nặng lòng với nước”, Tạp chí Xưa và Nay, số 267, tháng 2/2006)

 Box 2: “Trong hồi kí của mình Nhớ lại một thời, do nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tháng 8/2000, tại Hà Nội, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế ngày ấy, đã nêu rõ: chính ông đã đề nghị tỉnh uỷ, ngay từ khi về đến Huế, là rút khẩu hiệu “Đánh đuổi giặc Nhật, tiễu trừ Việt gian” đã nêu trước đó trong cả nước. Và trong ngày khởi nghĩa tại Huế 23/8/1945, chính ông đã tuyên bố “bảo đảm tính mạng và tài sản cho toàn thể đồng bào” trước đông đảo nhân dân tập trung ở sân vận động Huế. Trong những năm 90 thế kỉ trước, ở chỗ riêng tư, ông còn thổ lộ là: “Mấy chục năm qua, tôi vẫn áy náy, day dứt về việc cụ Phạm Quỳnh.”

Thế là cả Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế đều không biết gì về việc “xử tử hình Phạm Quỳnh”, nói gì đến xét xử, kết án…”(Phạm Tôn: “Người nặng lòng với nước”, Tạp chí Xưa và Nay, số 267, tháng 2/2006)

—o0o—

NGHỆ THUẬT DẪN ĐƯỜNG CHO NHÂN CÁCH

(Tin trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 4/10/2015)

Nhiều ý kiến đồng tình khi Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương tổ chức hội thảo “Văn học, nghệ thuật với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam”, diễn ra tại TP.HCM từ ngày 3 đến 4-10.

Theo ban tổ chức, hội thảo lần 
này nhằm bàn bạc để thống nhất khái niệm nhân cách con người là gì, và làm rõ mối quan hệ giữa văn học, nghệ thuật với việc xây dựng nhân cách.

Từ thực tế không vui

“Chúng ta cần dũng cảm thừa nhận một thực tế không vui là nhân cách, đạo đức xã hội hiện nay đang có xu hướng bị tha hóa ngày càng nghiêm trọng” – 
PGS.TS Hồng Vinh, chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương, nhấn mạnh trong phát biểu khai mạc hội thảo.

Đây cũng là cơ sở để hội thảo được tổ chức, quy tụ nhiều trí thức, chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động trên khắp các lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật.

Trong báo cáo đề dẫn, GS.TS Đinh Xuân Dũng nêu ra một thực tế khác cũng rất đáng suy nghĩ. Đó là nhiều năm qua chúng ta đứng trước một mâu thuẫn: một mặt khẳng định văn hóa, văn học, nghệ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng, mặt khác trong thực tiễn lại coi đó là phần phụ, phần ăn theo, không làm ra được bao nhiêu mà lại tốn tiền tốn sức.

Khuynh hướng đó vẫn còn ở nhiều nơi, vì thế gần đây trong tổng kết thực tiễn, Đảng đã thẳng thắn chỉ ra văn hóa, văn học, nghệ thuật chưa được coi trọng, chưa được ngang hàng với kinh tế chính trị và đó là một trong những nguyên nhân quan trọng về sự phát triển không bền vững của đất nước những năm qua.

Ông Dũng cho rằng chủ đề hội thảo thật ra là vấn đề cốt lõi: sự phát triển bền vững của một quốc gia, dân tộc trong xã hội hiện đại.

Nguyên tổng bí thư Lê Khả Phiêu trong phần phát biểu của mình đã nhắc lại quan điểm cán bộ là đầy tớ của dân có từ thời Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhắc lại nhân cách trong tầng lớp lãnh đạo. “Cán bộ là đầy tớ của dân, nhưng có người còn ác với dân, thế là không được”.

GS Nguyễn Đình Chú gọi vấn đề xây dựng nhân cách con người Việt Nam trong thời hội nhập hiện nay là “sứ mệnh cao cả của văn chương”. Ông cũng cảnh báo tiếp cận vấn đề này nên tránh lối chủ quan, tư biện, ý chí luận, mà phải căn cứ vào thực tế đất nước.

Trong đó nổi bật là xu hướng chung hiện nay chủ nghĩa duy tình đang nhường chỗ dần cho chủ nghĩa duy lý, con người thiên về thiết chế hóa để nâng cao nhân cách đã nhường chỗ dần cho con người bản năng, sinh học…

GS Nguyễn Đình Chú rất thẳng thắn nêu ý kiến “về giới lãnh đạo của đất nước thì đã không giữ được thanh danh bề thế, niềm tin vững chắc của người dân như trước vì có sự sa sút phẩm chất khá rõ, mà có vị cấp cao đã nói thẳng ra trước muôn dân trăm họ: không phải một vài con sâu mà có cả một bầy sâu”.

Kỳ vọng ở văn học, nghệ thuật

Là một lĩnh vực quan trọng cấu thành đời sống xã hội, văn học, nghệ thuật hẳn không thể chối bỏ vai trò của mình trong việc xây dựng nhân cách con người. Tuy nhiên, văn học, nghệ thuật làm được đến đâu cũng còn phải xem xét cụ thể.

Như riêng vấn đề phim bạo lực ảnh hưởng công chúng, những người làm điện ảnh như đạo diễn – NSND Đặng Nhật Minh, đạo diễn Đỗ Minh Tuấn cho rằng yếu tố bạo lực của phim ảnh có ảnh hưởng đến sự xuống cấp của nhân cách con người. NSND Đặng Nhật Minh cho biết:

“Trước đây tôi từng ngồi ở ghế hội đồng duyệt phim, thấy có rất nhiều phim bạo lực. Cách giải quyết là họ cắt bớt đi. Nhưng tôi thấy không giải quyết được vấn đề”. Theo ông, điều cốt lõi là từ sau chính sách đổi mới, văn học, nghệ thuật đã quên đi điều “văn dĩ tải đạo”.

Nói về sự xuống cấp đạo đức, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha cho rằng không chỉ văn nghệ sĩ có lỗi. Ông nói: “Văn nghệ hiện nay vẫn phục tùng, văn nghệ sĩ chưa được những người nắm quyền coi là những người bạn”. Một nguyên nhân nữa, theo vị nhạc sĩ này, là truyền thông đang đẩy xã hội chúng ta vào những giá trị ảo…

Tuy nhiên, xây dựng nhân cách con người là một khái niệm có nội hàm rộng. Nhà nghiên cứu Trần Trọng Đăng Đàn cho rằng “xây dựng nhân cách con người mà chỉ từ văn học, nghệ thuật thì hẹp lắm”.

Theo ông, ảnh hưởng giữa những tôn giáo các quốc gia cũng tác động đến nhân cách con người, mà Việt Nam cũng không loại trừ. Rồi thực tế việc thay đổi từ bạn thành thù và ngược lại của các quốc gia cũng ảnh hưởng đến việc xây dựng nhân cách con 
người Việt Nam.

Và GS Phong Lê mang đến hội thảo những ý kiến tâm huyết rằng thực trạng câu chuyện nhân cách ở nước ta có thể dẫn chứng bao nhiêu cũng được, cái khó là tìm ra nguyên nhân tại sao con người ở ta suy thoái nhân cách.

Ông chỉ ra ba nguyên nhân chính: Giáo dục nhà trường của ta hư hỏng quá lâu rồi, chương trình dạy học chưa dành thì giờ để dạy dỗ đạo đức; thứ hai là gia đình – tế bào xã hội – đang bị “đánh tử thương”, chữ hiếu bị đánh “đòn chí mạng” và đằng sau gia đình là gia tộc, gia phong bị tan rã khủng khiếp; thứ ba là bộ máy công quyền không làm gương về nhân cách đạo đức.

Như vậy văn học, nghệ thuật làm được gì cho việc xây dựng nhân cách? GS Phong Lê nhấn mạnh, “Chỉ có một câu trả lời: anh phải có 
tác phẩm hay và lớn”.

Lam Điền – Quang Thi

Hội đồng cần làm trọng tài

Trước năm 1945 chỉ có những nhà phê bình cá nhân Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, đến nay ta mới có một hội đồng to như Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương thế này, to hơn bất kỳ hội đồng nào trong lịch sử văn chương Việt Nam. Vậy sao hội đồng không thẩm định? Vừa qua, quyển tiểu thuyết Miền hoang gây tranh cãi, vậy có được thẩm định chưa? Mở rộng sang các vấn đề Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… đến nay thì ý thức thế nào, có còn chật chội như hồi đất nước chia làm hai phe không? Sao không nhìn nhận lại? Phải có hội đồng làm việc đó chứ. Sau khi thẩm định thì quảng bá, khen chê rõ ràng. Hội đồng phải làm bà đỡ cho chỗ này, phải có trọng tài cho văn học, nghệ thuật trong thời buổi hiện nay.

GS PHONG LÊ

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: