Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 23, 2015

Về bài viết mới của ông Kiều Mai Sơn: Về 70 năm ngày mất Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 8:30 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 5 tháng 10 năm 2015.

Về bài viết mới của ông Kiều Mai Sơn:

Về 70 năm ngày mất Phạm Quỳnh

Blog PhamTon

Cũng như nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hoàn trước kia, ông Kiều Mai Sơn là người “chăm sóc Phạm Quỳnh” kỹ càng và hết lòng. Mong ông mạnh khỏe, không như nhà nghiên cứu lão thành kia, ra đi khi chưa giành phần thắng về mình…

Ông viết: “Tôi theo dõi rất kỹ càng và sát sao vấn đề Phạm Quỳnh và vụ án Phạm Quỳnh năm 1945 kể cả trong tư liệu năm 1945 cho đến những năm gần đây (trên tạp chí Hồn Việt, tạp chí Xưa và Nay, cả trong Blog PhamTon – cháu ngoại cụ Phạm Quỳnh”

Tất nhiên, “cho đến những năm gần đây” như ông viết là trước năm 2010.

Chúng tôi nói như vậy là vì: năm 2010, Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành Phạm Quỳnh, con người và thời gian của Khúc Hà Linh, 2011 Nhà xuất bản Công An Nhân Dân ấn hành Phạm Quỳnh – Một góc nhìn của Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan và 2012 ấn hành Phạm Quỳnh một góc nhìn (tập 2) của cùng tác giả; 2013, NXB Tri Thức ấn hành Chúng tôi đã sống như thế hồi ký của Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết với Lời mở sách của nhà thơ Trần Đăng Khoa; cũng năm 2013, NXB Văn Học ấn hành Những dấu chân của Mẹ, tiểu thuyết lịch sử của nhà văn xứ Huế Hà Khánh Linh, có hai chương cuối viết về Phạm Quỳnh, con gái, con rể và cháu ngoại. Và mới nhất là sách của NXB Thuận Hóa ấn hành tháng 9/2015 nhân 70 năm ngày mất Phạm Quỳnh để kịp đưa đến tay con cháu chắt chút Phạm Quỳnh và những người có tâm đến thắp nhang tưởng niệm và dự Lễ cầu siêu cho ông tại chùa Vạn Phước. Trong số khách quý đến dự lễ, có nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm; ông đã dự từ đầu đến cuối và nhận cuốn sách mới của nhiều tác giả, do Dương Hoàng chủ biên: Phạm Quỳnh những góc nhìn từ Huế.

Toàn là những sách viết những điều ông Kiều không muốn biết…

Chúng tôi lấy làm mừng là đọc bài mới này của ông thì thấy là ông đã… hơi đổi mới tư duy, vì đã dám nhìn thẳng vào… một phần sự thật khi ông viết: “Ý kiến của tôi: Phạm Quỳnh phải được phân định rạch ròi giữa một bên là người làm văn hóa – có đóng góp về văn hóa và một bên là người làm chính trị. Phạm Quỳnh bị xử tử tại Huế năm 1945 là vì chính trị.” Tất nhiên lối nghĩ như của dân làng Mùi vẫn còn đậm lắm…Cuối bài, ông còn viết thêm: “Cá nhân tôi cũng trân trọng những tác phẩm văn hóa của cụ Phạm Quỳnh, trân trọng và yêu mến những người con của cụ như Giáo sư Phạm Khuê, nhạc sĩ Phạm Tuyên, nhưng lịch sử vốn đã xảy ra như vậy, tôi không thể viết khác đi để “mặc áo gấm cho lịch sử”. Nếu có điều kiện, một dịp nào đó, tôi sẽ viết vềÁn Phạm Quỳnh – năm 1945”. (Chúng tôi Ho Chi Minh_1945nhấn mạnh-PT chú)

Ông đã dám nói trước thì chúng tôi cũng xin chúc ông mạnh khỏe, minh mẫn để “bước cho qua”.

Ông còn viết một đoạn cuối cực kỳ có trọng lượng như sau: “Câu chuyện này (Án Phạm Quỳnh – 1945 – PT chú) không như truyền tụng dân gian mà gần đây một số sách in lại.

Cụ Phạm Quỳnh không phải chết vào ngày 6/9/1945 vì mấy anh dân quân xứ Huế như các ước đoán của gia đình (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) và một số nhà viết sử bằng mồm. Tòa án Quân sự tỉnh Thuận Hóa đã kết án và xử tử Phạm Quỳnh vào tháng 11/1945”.

Đến nước này thì chúng tôi phải cất tiếng “kêu oan”.

Vì ngay trong bài Người nặng lòng với nước trên Xưa & Nay từ tháng 9/2006, chúng tôi đã viết:

“Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi, bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.) Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôiHoang huu Nam giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

“Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang). Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó. (Phạm Thị Giá, Thư gửi con trai, tháng 4/1988)”

“Tháng 2 năm 1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà chị là Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha, đã biết thêm nhiều điều, do gặp nhiều nhân chứng còn sống. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của bác sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị. Đó là một nơi xa xôi, khó đi lại. Để tìm kiếm hài cốt, chính quyền Sài Gòn phải huy động công binh phát quang, san ủi đất làm đường, bắc cầu…trên hơn 15 km cho xe hơi đi và điều động binh sĩ giữ an ninh quanh vùng. Người canh gác xưởng kể: một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng mười một giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò. Người chèo đò kể: đi quanh đi quất trên sông Bồ, gần một giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người. Người chèo đò không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân!” sau đó là ba phát súng. (Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân đều nói giọng đặc Huế). Rõ ràng, cho đến trước khi bị giết, Phạm Quỳnh vẫn không hề nghĩ là những người đã hi sinh xương máu đồng chí đồng bào để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc lại đi giết hại một người suốt đời nặng lòng với nước như ông. Chúng chỉ là những “quân sát nhân” mà thôi.

“Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc rồi mới bị bắn ba phát. Ngô Đình Khôi không bị đánh chỉ bị bắn ba phát. Ngô Đình Huân hoảng sợ vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu. (Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bangMinesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ) “Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất”. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi, Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông. Khi cải táng, ông Phạm Tuân thấy sọ của thân phụ có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào, “ba bộ hài cốt nằm chồng chất lên nhau…Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh tôi nhận ra được đôi mắt kính cận” (Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bangMinesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ)

Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức ngày 6/9/1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có bốn ngày”.

Có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra”.

Chúng tôi đã viết như thế, không hề là “vì mấy anh dân quân xứ Huế”

Mượn lối viết ông Kiều Mai Sơn gửi cho bác PXP, chúng tôi cũng kết bài này bằng câu: “Tạm thời chúng tôi có thể trao đổi với ông như vậy. Trân trọng!”

B.P.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: