Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 6, 2015

Phạm Quỳnh: Những góc nhìn từ Huế

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:17 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 2 tháng 11 năm 2015.

PHẠM QUỲNH: NHỮNG GÓC NHÌN TỪ HUẾ

Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh?

 Nhà văn Tô Nhuận Vỹ

Lời dẫn của Phạm Hữu Thanh Tùng: Phạm Quỳnh – một góc nhìn là công trình nghiên cứu, biên khảo nghiêm túc của Tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, một người con ưu tú của xứ Huế, đang sống và làm việc ở Hà Nội. Tác phẩm To Nhuan Vyđược nhà xuất bản Công an nhân dân cấp phép và ấn hành quý 3/2011. Cuốn sách khá dày dặn, gần 300 trang khổ 13×19, tư liệu phong phú, chân thực và khách quan, được đông đảo độc giả đón nhận, dư luận đánh giá cao. Đúng một năm sau, quý 3/2012, tác giả tiếp tục cho mắt tập 2, dày hơn 300 trang, cũng do nhà xuất bản Công an nhân dân cấp phép.

Như một sự chia xẻ, và có cả lòng tri ân với tác giả Nguyễn Văn Khoan, được sự đồng thuận của Thường trực Hội đồng toàn quốc Họ Phạm Việt Nam, được sự hỗ trợ nhiệt thành của Trung tâm Du lịch Trải nghiệm Huế xưa – Huế nay, Thường trực Hội đồng họ Phạm tỉnh Thừa Thiên Huế và gia đình tác giả tổ chức ra mắt tác phẩm Phạm Quỳnh – một góc nhìn, tập 2.

Đến dự buổi ra mắt tác phẩm có ông Phạm Minh Thông, đại diện Thường trực Hội đồng họ Phạm Việt Nam. GS-TS Phạm Như Thế, Chủ tịch Hội đồng họ Phạm tỉnh Thừa Thiên Huế và các vị trong Thường trực Hội đồng. Các vị đại diện Thường trực Hội đồng Nguyễn Phước tộc, Hội đồng họ Trần, họ Lê, họ Phan, họ Thân, họ Vũ – Võ… Ông Phạm Quốc Dũng, Uỷ viên thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh uỷ. Bà Phạm Thị Bích Thuỷ, Thường trực Hội đồng Nhân đân tỉnh. Đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, sở Thông tin-Truyền thông, sở Văn hoá Thể thao – Du lịch, Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế. Các nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá tiêu biểu của Huế. Ông Nguyễn Phúc Vĩnh Mẫn, đại diện cho tác giả Nguyễn Văn Khoan. Phóng viên  HVTV, TRT, VTV4 và các báo Tiền Phong, Thanh Niên, Đại Đoàn Kết, Văn Hoá. Đặc biệt có sự hiện diện của nhạc sĩ Phạm Tuyên, đại diện gia đình cụ Phạm Quỳnh, nhân vật của tác phẩm.

Do công việc bất khả kháng nên tác giả Nguyễn Văn Khoan và GS Đinh Xuân Lâm không vào được, hai ông đã uỷ nhiệm một người bạn là ông Vĩnh Mẫn đến dự và đọc bài giới thiệu tác phẩm của GS Đinh Xuân Lâm.

Nhà văn Tô Nhuận Vỹ, người suốt 30 năm qua canh cánh một nỗi lòng với Vùng sâu. Với cụ Phạm Quỳnh, anh Tô Nhuận Vỹ cũng có một niềm sâu thẳm…

—o0o—  

          Đã có quá nhiều bài viết, nhiều dẫn chứng sinh động, cả trong nước và nước ngoài, và ngay ở cuốn sách của tác giả Nguyễn văn Khoan, về sự đóng góp của Phạm Quỳnh cho Văn hóa Việt nam. Tôi chỉ xin đi thẳng vào vấn đề cụ thể.

          1 Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh?

             Khi mà

           + Đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều cuộc kỷ niệm về Phạm Quỳnh, đã có nhiều Nhà xuất bản đã in lại nhiều tác phẩm của Phạm Quỳnh sau năm 1975… khẳng định sự đóng góp to lớn của Phạm Quỳnh đối với sự gìn giữ, phát huy nền Quốc ngữ, nền văn học văn hóa dân tộc.

          + Ai cũng biết, băn khoăn còn lại, tựu trung là Phạm Quỳnh đã từng trực tiếp hợp tác với Pháp (Từ Nam Phong cho đến việc tham chính ở cấp cao nhất của chính quyền do Pháp lập nên).

          2 Với điều băn khoăn này, suy nghĩ của tôi là:

          + Lịch sử đất nước ta liên tục bị các thế lực lớn mạnh bên ngoài chế áp, xâm chiếm. Lực lượng tiên tiến nhất, quyết liệt nhất của nhân dân yêu nước là cầm súng chiến đấu, nhưng không phải tất cả nhân dân yêu nước đều ra Liên phòng, lên chiến khu, lên R. Nhiều người phải ở lại vùng địch, buộc phải liên quan tới địch, thậm chí làm cho địch. Nhưng không phải tất cả những người ở lại đó đều không yêu nước, đều theo địch. Bác Hồ còn nói “yêu nước tùy theo sức của mình”. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn là cực khó, không phải ai cũng làm được. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã chỉ rõ: không phải chỉ có những người cộng sản mới yêu nước. Sự giỏi giang nhất là người cộng sản đã tập họp được cả những người không ưa Cộng sản mà cũng tập hợp trong mặt trận chống Mỹ, đến cả tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn cũng có hành động có lợi cho Cách mạng. Đó chính là tầm nhìn Hồ Chí Minh trong việc đãi cát tìm nhân tài, trong việc đoàn kết dân tộc, đặc biệt trong việc đối xử với các nhân vật lớn mà cả “địch” và “ta” đều chú ý.

       Với Phạm Quỳnh, Bác Hồ đã thảng thốt khi nghe tin ông bị giết.

      “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được ích lợi gì?” (Sách Phạm Quỳnh, Một góc nhìn, trang 280).Hỏi là đã trả lời, khẳng định: Phạm Quỳnh là một học giả và việc xử như vậy là sai lầm.

        Với tầm nhìn đổi mới ấy, trong những năm qua, mặt bằng dân trí cũng như mặt bằng lãnh đạo đã có những thay đổi lớn trong việc thẩm định nhiều giá trị văn hóa. Chúng ta đã trả lại đúng giá trị cho Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Tường, một số tác giả nhóm Nhân văn giai phẩm, cho Léopold Cadière… Tôi muốn nhắc lại trường hợp L.Cadière. Ông là linh mục được dòng chính thống Paris bổ nhiệm, theo chân đoàn quân thực dân Pháp đi truyền giáo xứ An Nam. Nhưng trên mảnh đất này, tâm hồn con người và đầu óc bác học của ông đã được “khai sáng”. Ông trở thành một nhà bác học lớn về xã hội học, dân tộc học, địa chất học, ngôn ngữ học, sinh vật học… của Việt Nam mà bao chục năm trời vì vấn đề chính trị (không phải là vô lý) mà chúng ta “quên” đi sự đóng góp vĩ đại của ông. Vừa qua, cuộc hội thảo đánh giá sự nghiệp của ông đã được tổ chức long trọng, chu đáo, trong ba ngày liền tại Huế đã chứng minh cho sự đúng đắn của tầm nhìn sáng rỡ này.

         3 Kết luận

         Khái niệm “địch”, “ta”, “bên này” “bên kia” trong nhiều trường hợp phải hết sức cẩn trọng, trong đó yếu tố thời gian lịch sử nếu bỏ qua sẽ “là Acid Sunfuric phá hủy hết mọi giá trị”, như J.P.Sartre đã nói.

        Cách nay hơn 30 năm, tôi có tiểu thuyết Ngoại ô, viết về cuộc sống của một vùng ngoại ô Huế sau giải phóng. Trong cuốn sách này có sự xung đột gay gắt giữa tư tưởng Ai không theo ta là địch với tư tưởng Ai không theo địch là ta. Cuối cùng tư tưởng Ai không theo địch là ta thắng thế.

         Với Phạm Quỳnh, tôi nghĩ, với nhiều lý do chính xác, đã đến lúc Nhà nước, ở đây là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, cần kết luận và vinh danh chính thức sự đóng lớn lao cho Văn hóa dân tộc của Ông.

                                                                                     Huế ngày 30/8/2012

T.N.V.

——————————

Theo Nhà văn Việt Nam hiện đại (NXB Hội Nhà Văn – 1997) thì

TÔ NHUẬN VỸ, nhà văn

*Tên khai sinh: Tô Thế Quảng, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1941. Quê gốc: Vinh Xuân, Phú Vang, Thừa Thiên – Huế. Hiện (1997) là Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên – Huế. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tốt nghiệp đại học Sư phạm ngành văn, sử. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1976).

* Từ năm 1960- 1964, Tô Nhuận Vỹ học và tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tiếp đó, từ 1964 – 1965, dạy văn ở cấp III Hậu Lộc – Thanh Hóa. Ông là phóng viên báo Cờ giải phóng Thừa Thiên – Huế (phụ trách cơ sở nội thành), cán bộ biên tập tạp chí Văn nghệ Trị Thiên – Huế, trong thời gian 10 năm (1965-1975). Từ năm 1976-1985, Nhà văn là Ủy viên thường vụ, Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình – Trị-Thiên. Năm 1986-1990, ông giữ chức vụ Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, Phó Chủ tịch hội rồi Tổng thư ký Hội Văn nghệ Bình-Trị-Thiên. Từ năm 1991 đến nay, ông là Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình-Trị-Thiên, Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên-Huế, Ủy viên ban kiểm tra Hội Nhà văn Việt nam (khóa 4), Ủy viên Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam (khóa 5). Ủy viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế.

* Các tác phẩm đã xuất bản: Người sông Hương (1970); Em bé làng chài (tập truyện ngắn, 1971); Làng thức (tập truyện ngắn, 1973); Dòng sông phẳng lặng (tập 1, tiểu thuyết, 1974, tái bản, 1975); Dòng sông phẳng lặng (tập 2, tiểu thuyết, 1977); Dòng sông phẳng lặng (tập 3, tiểu thuyết, 1981); Ngoại ô (tiểu thuyết, 1982); Phía ấy là chân trời (tiểu thuyết, 1988).

– Nhà văn đã nhận những giải thưởng văn học: Huy chương “Vì thế hệ trẻ” của Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (sau trọn bộ 3 tập Dòng sông phẳng lặng, năm 1983). Giải thưởng loại A của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bình-Trị-Thiên cho tiểu thuyết Ngoại ô. Giải thưởng “Cố Đô” hạng A cho tiểu thuyết Phía ấy là chân trời. Tặng thưởng truyện ngắn hay trong năm 1969 của báo Văn nghệ cho truyện ngắn Chuyến tuần tra đầu tiên. Tặng thưởng truyện ngắn hay nhất trong 100 số báo Văn nghệ giải phóng trao trong năm 1976, cho truyện ngắn Khoảng trời màu xanh.

* Tác giả Tô Nhuận Vỹ tâm sự: “Công hiến của tôi cho đến nay đối với văn học là bình thường. Lẽ ra tôi có thể có sự cống hiến khác hơn cho quê hương tôi và cho văn học, nhưng công việc hành chính, sự vụ đã bẻ vụn thời gian và bẻ vụn tất cả năng lực của tôi ra. Tôi đang tìm cách để thoát khỏi cái “trận đồ bát quái” này.

Những suy nghĩ của tôi về cuộc đời, về văn học? Xin hiểu tôi qua các tác phẩm mà tôi đã viết và sắp ra mắt bạn đọc, tôi không muốn nói những điều “cực kỳ” mà những điều mình đã viết và sẽ viết ra biết đâu lại “tầm thường””.

—-o0o—-

KHÔNG CHỈ LÀ CHUYỆN CỦA “CỤ PHẠM”

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

(Nhân đọc Phạm Quỳnh, một góc nhìn Tập 2. NXB Công an nhân dân, 2012)

Lời dẫn của Phạm Hữu Thanh Tùng: Phạm Quỳnh – một góc nhìnlà công trình nghiên cứu, biên khảo nghiêm túc của Tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, một người con ưu tú của xứ Huế, đang sống và làm việc ở Hà Nội. Tác phẩm được nhà xuất bản Công an nhân dân cấp phép và ấn hành quý 3/2011. Cuốn sách khá dày dặn, gần 300 trang khổ 13×19, tư liệu phong phú, chân thực và khách quan, được đông đảo độc giả đón nhận, dư luận đánh giá cao. Đúng một năm sau, quý 3/2012, tác giả tiếp tục cho mắt tập 2, dày hơn 300 trang, cũng do nhà xuất bản Công an nhân dân cấp phép.

Như một sự chia xẻ, và có cả lòng tri ân với tác giả Nguyễn Văn Khoan, được sự đồng thuận của Thường trực Hội đồng toàn quốc Họ Phạm Việt Nam, được sự hỗ trợ nhiệt thành của TruNguyen khac pheng tâm Du lịch Trải nghiệm Huế xưa – Huế nay, Thường trực Hội đồng họ Phạm tỉnh Thừa Thiên Huế và gia đình tác giả tổ chức ra mắt tác phẩm Phạm Quỳnh – một góc nhìn, tập 2.

Đến dự buổi ra mắt tác phẩm có ông Phạm Minh Thông, đại diện Thường trực Hội đồng họ Phạm Việt Nam. GS-TS Phạm Như Thế, Chủ tịch Hội đồng họ Phạm tỉnh Thừa Thiên Huế và các vị trong Thường trực Hội đồng. Các vị đại diện Thường trực Hội đồng Nguyễn Phước tộc, Hội đồng họ Trần, họ Lê, họ Phan, họ Thân, họ Vũ – Võ… Ông Phạm Quốc Dũng, Uỷ viên thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh uỷ. Bà Phạm Thị Bích Thuỷ, Thường trực Hội đồng Nhân đân tỉnh. Đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, sở Thông tin-Truyền thông, sở Văn hoá Thể thao – Du lịch, Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế. Các nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá tiêu biểu của Huế. Ông Nguyễn Phúc Vĩnh Mẫn, đại diện cho tác giả Nguyễn Văn Khoan. Phóng viên  HVTV, TRT, VTV4 và các báo Tiền Phong, Thanh Niên, Đại Đoàn Kết, Văn Hoá. Đặc biệt có sự hiện diện của nhạc sĩ Phạm Tuyên, đại diện gia đình cụ Phạm Quỳnh, nhân vật của tác phẩm.

Do công việc bất khả kháng nên tác giả Nguyễn Văn Khoan và GS Đinh Xuân Lâm không vào được, hai ông đã uỷ nhiệm một người bạn là ông Vĩnh Mẫn đến dự và đọc bài giới thiệu tác phẩm của GS Đinh Xuân Lâm.

Cùng mạch tư duy với nhà văn Tô Nhuận Vỹ, là ý kiến của nhà văn Nguyễn Khắc Phê.

—-o0o—-

Quý 3 năm 2011, khi đọc Phạm Quỳnh, một góc nhìn tập 1, với trên 30 bài viết của nhiều tác giả có uy tín, tôi tưởng là đã đến lúc nói “lời cuối” về cụ Phạm Quỳnh, thể hiện sự công bằng của lịch sử như ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau sự cố bi thảm năm 1945 đối với gia đình Phạm Quỳnh: Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này…”. Thế nhưng hôm nay, tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan lại cho công bố Phạm Quỳnh một góc nhìn tập 2, còn dày dặn hơn tập 1. Vì sao lại phải có sự “bổ sung” đó? Có phải vì sau khi Phạm Quỳnh một góc nhìn tập 1 ra mắt, tuy được bạn đọc quan tâm và tuy đã có khá đầy đủ những căn cứ tin cậy để “đánh giá lại” Phạm Quỳnh, nhưng một năm qua, vẫn chưa có tổ chức nào có trách nhiệm tuyên bố chính thức sự “đánh giá lại” đó, nên tác giả “bổ sung” thêm tập 2 để thúc đẩy tiến trình giải quyết một “món nợ” của lịch sử đối với gia đình Cụ Phạm?

Riêng tôi, có cảm giác tác giả cho Phạm Quỳnh một góc nhìn tập 2 ra đời, nhằm mở rộng, nâng tầm vấn đề lên, chứ không chỉ để “minh oan” hay “đánh giá lại” nhân vật Phạm Quỳnh mà tập 1 đã gần như hoàn tất được sứ mệnh đó.

Qua nội dung hơn hai chục bài viết trong Phạm Quỳnh một góc nhìn tập 2, chúng ta thấy cuốn sách không chỉ cung cấp thêm cho bạn đọc nhiều tư liệu liên quan đến nhân vật lịch sử Phạm Quỳnh mà điều có ý nghĩa hơn là từ trường hợp Phạm Quỳnh, chúng ta có được nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về một lớp người có vai trò không nhỏ trong việc tiếp nhận một nền văn hóa khác, trong sự giao lưu Đông – Tây nhằm canh tân đất nước ở một giai đoạn lịch sử cụ thể khá phức tạp của dân tộc – giai đoạn mà xã hội buộc phải thay đổi, nhưng con đường phía trước còn mù mờ, lại có nhiều ngả rẽ với những chủ thuyết đều muốn lôi kéo thêm tông đồ, khi cả nhân loại chưa đủ kinh nghiệm xương máu để nhận chân giá trị của chúng, chứ nói gì đến một vài nhân vật chỉ mới vượt thoát khỏi sự tù hãm của chế độ thuộc địa lạc hậu, hé cửa nhìn ra thế giới mênh mông đầy sóng gió bên ngoài. Nói như vậy để thấy, trong giai đoạn đó, lớp người như Phạm Quỳnh, nếu như có nhận thức hoặc cách thức hoạt động kém hiệu quả – thậm chí là lệch lạc – cũng nên được nhìn nhận một cách độ lượng; còn nếu có, dù chỉ là một đóng góp nhỏ cho sự tiến bộ của đất nước, đã rất đáng được quý trọng.

Các bài viết khá công phu của các tác giả Dương Trung Quốc (Nam – Bắc & Đông – Tây), Vương Trí Nhàn (Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hóa Phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ 20), Vĩnh Hoàn (Phẩm chất Phạm Quỳnh), Nguyễn Văn Khoan (Lời tạ từ – Thư gửi Phạm Tôn)… đã “khảo sát” cuộc đời và những hoạt động của Phạm Quỳnh trong bối cảnh đó, với cách nhìn đó, nên đã đánh giá Phạm Quỳnh một cách công bằng, giúp bạn đọc thấy rõ tấm lòng yêu nước và những đóng góp không nhỏ của Cụ đối với nền văn hoá dân tộc, đồng thời thông cảm với những “vai trò” mà Cụ Phạm phải đóng thời đó. Quả là phải có cái nhìn “lịch sử” mới thấy được dưới một chế độ “đô hộ nhập nhằng” (chữ của nhà khoa học Pháp P.Brocheux do Nguyễn Văn Khoan dẫn lại), bên cạnh những tên mật thám độc ác lại có người Pháp để lại trên đất nước ta những sự nghiệp bất hủ như Yersin, L. Cadière…; bên cạnh những tên tay sai cúc cung  phục vụ chính sách đàn áp, bóc lột đồng bào mình của thực dân Pháp, vẫn có những người như Phạm Quỳnh, làm với Tây, nhận tiền Tây mà lại làm nên một Nam Phong với những giá trị không thể phủ nhận. Có thể nói, cả Nguyễn Văn Vĩnh, Trương Vĩnh Ký… cũng ở trong hoàn cảnh tương tự. “Hễ là người Việt Nam, ai cũng có lòng yêu nước, yêu nước theo cách của mình.” Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói như thế.

Có lẽ cần nói thêm, với cách nhìn lịch sử và khoa học, chúng ta cũng nên thông cảm với “cách nhìn sổ tuột của một số học giả đáng kính với đóng góp học thuật của Phạm Quỳnh… khởi đi từ Ngô Đức Kế và còn tiếp nối với nhiều người khác, kể cả Thiếu Sơn…” mà nhà phê bình Vương Trí Nhàn đã nêu ra trong bài viết đã dẫn.

Như vậy, Phạm Quỳnh một góc nhìn tập 2, trong khi giúp bạn đọc hiểu thêm PQ, thấy rõ “cách thức” yêu nước của Cụ Phạm, đã đồng thời gợi nhắc chúng ta cần phải có một cách nhìn lịch sử và khách quan khi đánh giá những hoạt động của tầng lớp trí thức, nhất là khi cuộc đấu tranh ý thức hệ còn chi phối nhiều mặt của cuộc sống. Điều đó không chỉ cần đối với việc “đánh giá lại” Cụ Phạm mà còn với nhiều trường hợp khác, ở cả những giai đoạn về sau, như đối với các trí thức – do những điều kiện cụ thể – đã phải sống bên kia chiến tuyến trong thời kỳ 1945 – 1975… Đó cũng chính là bài học sử dụng nhân tài, bài học đại đoàn kết dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện ngay sau ngày đất nước được Độc lập từ 2/9/1945.

Huế, 30 tháng 8 năm 2012.

N.K.P.

—————————-

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

* Tên khai sinh: Nguyễn Khắc Phê, sinh ngày 26.4.1939 ở Sơn Hòa, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Hiện sống và viết ở Huế. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tốt nghiệp đại học. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1977).

* Từ 1959 đến 1974 Nguyễn Khắc Phê là cán bộ kỹ thuật thi công cầu đường ở Lạng Sơn, Hà Đông, Nghệ An. Cán bộ bảo đảm giao thông chống Mỹ ở đường 12A Tây Quảng Bình (đường Hồ Chí Minh) rồi cán bộ thi đua giao thông vận tải Quảng Bình.

Từ 1974 – 1975 là cán bộ binh vận, ủy viên Thường vụ Ban chấp hành Hội Văn nghệ Quảng Bình. Từ 1976 đến 1983 là cán bộ biên tập, ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên. Từ năm 1983 đến 1991 là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Phó Thổng biên tập tạp chí Sông Hương (trong đó có 8 tháng làm Tổng Biên tập). Từ 1991 đến nay tiếp tục tham gia Ban chấp hành Hội, Phó chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên-Huế. Ngoài ra còn tham gia Hội Nhà báo tỉnh (hai nhiệm kỳ) và Ban chấp hành Liên đoàn Lao động tỉnh (2 nhiệm kỳ).

– Nhà văn đã nhận được các giải thưởng: Giải ba cuộc thi viết về “Thầy giáo và nhà trường” do Bộ Giáo dục tổ chức năm 1962 với truyện ngắn Một đêm mưa. Giải thưởng văn học về đề tài công nhân 5 năm (1975-1980) do Tổng công đoànViệt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức với tiểu thuyết Chỗ đứng người kỹ sư. Giải thưởng Bông sen trắng hạng A do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Trị thiên tặng năm 1988 với tiểu thuyết Những cánh cửa đã mở; Giải thưởng Cố đô hạng B do Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế tặng năm 1994 với tác phẩm Nếu được chết thay em. Giải thưởng hạng B do Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn Hóa Truyền Thông Việt Nam tặng 1995 với tác phẩm Lê Văn Miến – người họa sĩ đầu tiên, người thầy đầu tiên.

* Tác phẩm chính đã xuất bản: Vì sự sống con đường (tập ký sự, 1968); Đường qua làng Hạ (tiểu thuyết, 1976); Đường giáp mặt trận (tiểu thuyết, 1976, tái bản có sửa chữa lần 1 năm 1985); Chỗ đứng người kỹ sư (tiểu thuyết, 1980); Miền xa kêu gọi (tiểu thuyết, 1985); Những cánh cửa đã mở (tiểu thuyết, 1986); Nếu được chết thay em (tiểu thuyết, 1989); Lê Văn Miến, người họa sĩ đầu tiên, người thầy đầu tiên (nghiên cứu, 1995); NXB Kim Đồng 2007: Những ngọn lửa xanh (tiểu thuyết, NXB Phụ Nữ, 2008), Giải C giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Cố Đô lần thứ IV (2003 – 2008), Chân dung và kỷ niệm (Nguyễn Khắc Viện) Nguyễn Khắc Phê sưu tầm và tuyển chọn, (NXB Khoa học Xã hội, 2008), Nguyễn Khắc Phê Tản văn chọn lọc (NXB Văn Nghệ 2009), Thập giá giữa rừng sâu (tiểu thuyết – NXB Phụ Nữ), Biết đâu địa ngục thiên đường (tiểu thuyết 2010 – NXB Phụ Nữ)

—-o0o—-

CHƯA NÓI, NHƯNG ĐÃ LÀM RỒI

Nhà báo, Tiến sĩ Sử học Nguyễn Việt Hồng

(Bài trong Phạm Quỳnh – Những góc nhìn từ Huế các trang 84-89)

Trong đời sống xã hội, chính trị, giao lưu… có nhiều việc, chủ trương, nói nhưng không làm, không chịu làm, không dám làm, không muốn làm, không thích làm v.v…

Tuy nhiên cũng có việc chưa/không nói ra/nói trước, nhưng vì giữ bí mật, vì quyền lợi của Nước, của Dân… vẫn được làm, âm thầm, công khai. Và dành cho công luận, lịch sử kết luận rằng: “Việc ấy đã làm rồi. Đã làm xong”.

Việc “đánh giá lại Phạm Quỳnh” theo lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trải qua gần 70 năm, hơn hai vạn năm ngàn ngày đêm! Trong khi “con cháu (Cụ Phạm) vững tâm (đã) đi theo cách mạng” (Lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh), lịch sử đã kiên trì thực hiện “Lời dặn của vị đứng đầu Nhà nước dân chủ cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á” về “một công dân của Nhà nước ấy là Cụ Phạm”, là một “con người của lịch sử” để đánh giá lại “con người của lịch sử này”.

Dưới ánh sáng của Đổi Mới, trong mười năm gần đây “lịch sử” – như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn – đã từng bước “làm”, “làm” nhiều việc, để “giải bài toán đầy ẩn số về Cụ Phạm”.

Từ năm 2011, những tác phẩm của Phạm Quỳnh đã lần lượt ra đời tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà xuất bản Văn Học mở đầu với Mười ngày ở Huế (trong sách có cả Một tháng ở Nam Kỳ), năm 2001. Tiếp đó là Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin với Luận giải văn học và triết học, năm 2003. Rồi, Nhà xuất bản Hội Nhà văn với Pháp du hành trình nhật ký, năm 2004. Kế đến là tác phẩm đồ sộ Thượng Chi văn tập với trên 1130 trang. Sự ra đời lần đầu tiên của Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 qua bản dịch của các nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyễn Xuân Khánh, Ngô Quốc Chiến, Phạm Xuân Nguyên do Phạm Toàn giới thiệu và biên tập, đã trở thành một sự kiện văn hóa lớn năm 2007 ở nước ta và cộng đồng kiều bào ở nước ngoài. Cùng năm, Nhà xuất bản Trẻ cho ra mắt bộ sách ba tập Du ký Việt nam bao gồm các bài đã đăng trên Nam Phong tạp chí, trong đó số trang văn Phạm Quỳnh viết khoảng một tập hơn 600 trang. Gần đây nhất và cũng gây chấn động nhất, là Nhà xuất bản Hội Nhà văn cho ra đời Hoa Đường tùy bút, gồm 11 bài viết cuối đời của Phạm Quỳnh và 51 bài thơ Đỗ Phủ do Phạm Quỳnh dịch thô vào mùa hạ năm 1945, rồi gửi cho bạn tri âm là Đông Hồ Lâm Tấn Phác.

Sách viết trực tiếp về sự nghiệp và cuộc đời của Phạm Quỳnh cũng bắt đầu xuất hiện. Năm 2010, Nhà xuât bản Thanh Niên cho ra mắt sách của Khúc Hà Linh, Phạm Quỳnh con người và thời gian. Năm sau, 2011, Nhà xuất bản Công an Nhân dân có sách Phạm Quỳnh – một góc nhìn của Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan. Và năm 2012, Nhà xuất bản Thanh Niên lại có Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc cũng của Khúc Hà Linh.

Hai tác phẩm ra đời năm 2007 là Du ký Việt Nam, Hoa Đường tùy bút đã mở ra hai cuộc hội thảo hẳn hoi khi các nhà xuất bản tổ chức giứi thiệu sách tại Hà Nội, đông đảo các nhà nghiên cứu văn học, lịch sử, các nhà văn đã nêu nhiều ý kiến sâu sắc đánh giá cao lòng yêu nước và tài năng của Phạm Quỳnh.

Đáng chú ý nhất là “ngày 12.6.2010, đúng vào dịp chuẩn bị kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6.2010, Đài Phát thanh – Truyền hình và Hội Nhà báo tỉnh Hải Dương có sáng kiến đồng tổ chức một cuộc tọa đàm về Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong, như để tri ân người có công trong làng báo chí một thời…

Cuộc tọa đàm đã thu hút một số nhà khoa học, các tiến sĩ, giáo sư, nhà văn, nhà sử học, nghiên cứu ở Trung ương và địa phương. Trong đó có Giáo sư Văn Tạo – nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam; Giáo sư Huệ Chi; Giáo sư Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú; Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan, một số cơ quan thông tin ở Hà Nội và các cán bộ lãnh đạo, biên tập viên của hai Nhà xuất bản Lao Động và Thanh Niên.

Ở địa phương, có sự góp mặt của các Tổng Biên tập báo Hải Dương, Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh, Chủ tịch Hội Nhà báo, Hội Sử học, Hội Văn nghệ, tạp chí Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh và các nhà báo khác trong tỉnh.

Bí thư huyện ủy Bình Giang, lãnh đạo xã Thúc Kháng, quê hương của nhà báo Phạm Quỳnh và nhạc sĩ Phạm Tuyên, Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội, con trai của học giả Phạm Quỳnh cũng có mặt tại cuộc tọa đàm làm cho không khí càng thêm thân mật.

Bà Đặng Thị Bích Liên, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh có bài phát biểu chào mừng và Giáo sư Văn Tạo phát biểu mở đầu, đã làm cho không khí của một buổi tạo đàm thêm đồng cảm và cởi mở, mà không phải khi nào cũng tổ chức được.

Giáo sư Huệ Chi đã say sưa nói về giá trị to lớn của Nam Phong và vị thế của nhà báo Phạm Quỳnh. Ông phân tích bối cảnh ra đời của tạp chí Nam Phong và những tư tưởng tiến bộ của Phạm Quỳnh thể hiện trên 210 số Nam Phong. Giáo sư Nguyễn Đình Chú rất xúc động khi nhắc lại có một thời ông nhìn nhận tạp chí Nam Phong và vai trò của Phạm Quỳnh với thái độ chưa công bằng, còn phiến diện, ông thấy mình còn có lỗi khi nhắc lại các bài viết đó.

Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan phân tích về lòng yêu nước của Phạm Quỳnh theo cách của mình. Ông có quan điểm coi trọng thiên chức nghề báo, đề cao giá trị của báo chí. Tiến sĩ Khoan còn phân tích quan điểm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh làm cách mạng là đổi cũ ra mới, từ xấu ra tốt, nghĩa là không phủ định sạch trơn. Phạm Quỳnh đã dùng phương châm Thổ nập Âu Á, nghĩa là thu nhận cái tốt của Âu vào Việt Nam và phô bày những giá trị tốt đẹp của Á với bên ngoài. Đó là giao lưu văn hóa như bây giờ ta thường nói.

Các đại biểu giới báo chí Hải Dương đều có chung ý kiến đánh giá cao sự cống hiến của nhà báo Phạm Quỳnh với báo chí nước nhà, nhưng trước nay chưa được giới thiệu đầy đủ và thấu đáo trong giới học sinh, sinh viên và xã hội… Nhạc sĩ Phạm Tuyên bày tỏ sự cảm động trong cuộc tọa đàm về người cha của mình, dẫu có muộn, vẫn là rất quý” (Trích sách Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc của Khúc Hà Linh).

Năm 2011, nhân kỷ niệm báo Nhân Dân tròn 60 tuổi (1951-2011), báo đã ra Đặc san 60 năm báo Nhân Dân, trong đó có bài của nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử Huế Nguyễn Đắc Xuân nhan đề Huế xưa nhưng chưa cũ. Tác giả viết “hàng trăm lăng mộ vua chúa, danh nhân, nhân vật lịch sử (cung điện Đan Dương – sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung, mộ của học giả Phạm Quỳnh) (…) Đảng, Nhà nước đã có những chủ trương, biện pháp đúng đắn, kịp thời để bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa Việt Nam, để giữ gìn bản sắc Việt Nam trong hội nhập”.

Không thể kể ra có bao nhiêu người ở trong nước, ở nước ngoài, nhà văn, nhà báo, nhà sử, nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà xuất bản, nhà chính trị đã góp sức cùng “Lịch sử đánh giá lại Phạm Quỳnh”. Các cơ quan công quyền, công luận phần nào đã biết/ có biết/ không biết nay cũng dần dần nhìn thấy, đã “ngộ” ra vấn đề.

Do nhiều lý do về pháp lý/ về quyền hạn, chưa thể/ không thể có một tiếng nói chính thức về Cụ Phạm. Nhưng nhìn lại nhiều “vụ” (văn nghệ, chính trị) đã được “giải oan” không cần “lập đàn”, Lịch Sử và Công Luận, Đất Nước và Nhân Dân “đã đánh giá lại Cụ Phạm”, đã xóa bỏ vụ án, và thực sự vụ án đã được xóa bỏ như “ngọn gió lịch sử sẽ thổi bạt mọi (sai lầm) dối trá” (I.Stalin: Lịch sử sẽ thổi bạt mọi dối trá, báo An ninh cuối tháng, 6.2012)

NVH

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: