Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 20, 2015

Phạm Quỳnh, nhà chính trị

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:32 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 11 năm 2015.

PHẠM QUỲNH, NHÀ CHÍNH TRỊ

Nhà nghiên cứu Văn hóa, Văn học Nguyên Hương

(Bài trong sách Phạm Quỳnh, những góc nhìn từ Huế, từ trang 160-173)

Văn học, cần thiết cho cuộc sống tinh thần, trước hết phải là một phương tiện giáo dục, nâng cao dân trí. Viết là biểu hiện một thái độ, một quan niệm sống, một sự ứng xử với cuộc đời đang trải qua.

Viết không phải để thỏa mãn nhu cầu trí thức hay trình bày tự mãn và tự hào những điều hiểu biết của mình đến người đọc, mà phải có mục đích đề cao tinh thần đạo lý, cá nhân và dân tộc. Khi nâng cao được dân trí, tuyên dương được đạo lý và đó là cứu cánh xã hội, văn học như vậy đã phục vụ cộng đồng dân tộc, đã phụng sự nhân sinh.

Trên đây là đại cương quan niệm văn học của Phạm Quỳnh. Cũng theo Phạm Quỳnh, văn học là cái tô điểm cho con người. Văn học ấy khi đã nhuận trạch rồi, nghĩa là phát triển đầy đủ,Pham Quynh nhung goc nhin tu Hue còn có tác dụng nhuận thân, bồi bổ, phát triển cho thân mình thêm tiến bộ về trí và đức. Văn học ấy cần cho mọi người, nhà khoa học, nhà chuyên môn, nhà chính trị …

” … Duy có lẽ với nhà chính trị, văn học có cần hơn; nhà chính trị muốn chi phối thực tế, lợi dụng thời cơ, chế ngự quần chúng, điều khiển trị loạn, cần phải thông kim bác cổ, đạt lý năng văn hơn người thường.

 Vậy thời nhà chính trị kiêm văn học, không biết đã có tư cách hoàn toàn chưa. Nhưng nếu quả có tài năng, thời tài năng ấy nhờ văn học chắc được cường hóa và thâm hóa thêm lên.

Hai phạm vi văn học và chính trị tuy có thể đắp đổi cho nhau nhưng thực tế là cách biệt nhau hẳn. Có thể đắp đổi cho nhau là nhà chính trị mà có văn học thời được sắc sảo thêm ra, và nhà văn học mà làm chính trị thời cũng có lẽ được giầu thêm sự kinh nghiệm ra, tăng thêm chất liệu cho sự nghiệp văn chương của mình”. (1)

Nhắc lại Âu Dương Tu, một nhà văn hào đời Tống làm chính trị, trong bài Di cảo Phạm Quỳnh kể:

“Lúc làm tham tri chính sự ở triều, các học giả trong nước trọng tiếng văn hào thường xin ra mắt. Âu Dương Tu vui vẻ tiếp nhưng không nói chuyên văn chương bao giờ mà chỉ bàn chuyện chính trị mà thôi. Âu Dương Tu nói văn chương chỉ dùng để nhuận thân, chính sự mới có thể trạch vật. Nhuận thân đó là mục đích của văn học, trạch vật đó là mục đích của chính trị, hai đàng vốn khác nhau”.

Nhìn thấy con đường nhuận thân và trạch vật như trên, tại sao Phạm Quỳnh từ bỏ tháp ngà Nam Phong dấn thân vào con đường chính trị mặc dù biết rằng đó là con đường nhiều chông gai cạm bẫy? Tại sao Phạm Quỳnh không giữ mãi vai trò học giả, lý thuyết gia văn học, nhân sĩ số một Bắc Hà, lại dấn thân vào con đường hành động đầy khó khăn? Còn khó khăn hơn trong hoàn cảnh chế độ thuộc địa mà bất cứ tư tưởng cải cách, sáng kiến chính trị nào có vẻ phóng khoáng tiến bộ đều có thể bị người Pháp nghi ngờ là chống đối, phản loạn.

Một mặt bản chất, cốt cách học giả và đạo đức (atavisme intellectual et moral) cũng như truyền thống gia đình giáo dục (2) níu kéo Phạm Quỳnh ở lại với tháp ngà Nam Phong; một mặt bị thôi thúc về ý thức văn học và chính trị, nghĩ rằng đã đến lúc có thể thực hiện được, Phạm Quỳnh sau cùng quyết định con đường dấn thân, hành động.

Từ ý niệm quốc gia tiềm tàng trong ý thức văn học của mình; tin tưởng rằng một nền văn học phát triển tốt đẹp sẽ khai sinh một nền văn hóa độc lập, và khi gặp thời cơ sẽ chuyển hóa sang ý thức dân tộc tự quyết, Phạm Quỳnh chọn con đường chính trị hoạt động.

Trái với chủ trương trực trị của Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh cho rằng phải đánh đổ chính sách cai trị này. Chừng nào còn chế độ trực trị đang thâu tóm tất cả quyền bính vào Phủ Toàn Quyền, chừng ấy Hòa ước Pâtenôtre 1884 còn là một mảnh giấy vô nghĩa, và như vậy chủ trương văn học của mình trước sau vẫn là một ảo tưởng (3). Chế độ cai trị thực dân không cho phép đảng phái, hội đoàn chính trị hoạt động công khai, vậy chỉ còn một cách tự mình dấn thân hành động bằng con đường tham chính may ra tạo được cơ hội. Không thực hiện được nhiều, ít ra cũng bước được bước đầu, từ từ từng giai đoạn một, sẽ tạo được kết quả dài lâu.

Phạm Quỳnh công khai hoạt động bằng con đường tham chính, không phải một mình, mà tin tưởng hy vọng sẽ còn nhiều người khác, cùng thế hệ, cùng chí hướng sẽ tham gia, gây bầu không khí chính trị mới cần thiết cho sự hồi sinh của quốc gia.

Phạm Quỳnh không chủ trương bạo động, không nói đến cách mạng, không phải là Phạm Quỳng không trì chí quyết tâm, quyết liệt trong chủ trương quốc gia, đã đến lúc Phạm Quỳnh gọi đó là một bổn phận.

Trước ngày được mời giữ chức Đổng Lý Ngự Tiền Văn Phòng, năm 1931, trả lời một câu hỏi:

 – Trong tương lai, nếu được mời, ông có nhận lời làm Thượng Thơ không?

Phạm Quỳnh nói: “Có thể có, nếu người ta thấy rằng ý kiến, chủ trương của tôi có thể thực hiện được. Nếu người ta cần sự hợp tác của tôi, tôi xem đó là một bổn phận, bổn phận phải chấp nhận. Tôi nói bổn phận, và quí vị có thể tin lời tôi, vì tử trước đến nay chẳng bao giờ tôi mong mỏi hay ước mơmột chức vụ thượng thơ, cho dù là thượng thơ trong một thể chế quân chủ lập hiến. Tôi không thích gì hơn là sự trầm lặng cho cá nhân, vì như vậy tôi sẽ có dịp suy nghĩ và mơ mộng nhiều hơn“. (4)

Tháng 9 năm 1932, vua Bảo Đại du học xong trở về nước chấp chính. Tháng 11 cùng năm ấy, Phạm Quỳnh được triệu mời về Huế giữ chức Đổng Lý Ngự Tiền Văn Phòng.

Để tạo bầu không khí thuận lợi cho việc cải cách chính trị, thánh 5 năm 1933, vị tân quân thành lập nội các mới. Tiếp theo Dụ ngày 2 tháng 5 năm 1933 thành lập nội các, nhiều sắc dụ kế tiếp được ban hành ấn định nhiệm vụ và quyền hạn quan lại, thể lệ thi cử và tuyển chọn quan trường, việc tổ chức nền giáo dục tiểu học phổ thông … . Dư luận xôn xao, cả nước đưa mắt nhìn về kinh đô Huế chở đợi, ngóng trông. Hai nhân vật nổi bật nhất trong nội các mới là Ngô Đình Diệm và Phạm Quỳnh.

Ngô Đình DIệm, 31 tuổi, một người có phẩm giá, nổi tiếng thông minh và cực kỳ liêm khiết … và cũng nổi tiếng về tinh thần quốc gia cực đoan, bảo thủ, giữ chức vụ Thượng Thơ Bộ Lại. (5)

Phạm Quỳnh, 40 tuổi, nổi tiếng về văn học và đang ôm mộng xây dựng nền văn học quốc gia làm bàn đạp tiến đến việc thu hồi quyền tự chủ.

 “… Tôi đặt tin tưởng vào cả hai người ngang nhau, Phạm Quỳnh và Ngô Đình Diệm; ông Ngô Đình Diệm chỉ nhận chức vụ Thượng Thơ với điều kiện có thể cải tiến xã hội Việt Nam, sự nổi danh của ông làm tôi hy vọng có thể tiến xa”. (lời vua Bảo Đại…) – (6)

Ước mong hạn chế giai đoạn của mọi người là như vậy, nhưng hoàn cảnh chính trị, mà người Pháp là yếu tố quyết định lại không diễn biến thuận chiều.

Áp dụng đường lối chính trị mới sẽ làm giảm bớt quyền hành của chính phủ bảo hộ, người Pháp vừa ngập ngừng, vừa ngoan cố. Đã lâu rồi, để xoa dịu lòng dân, từ chủ trương một quốc gia Đông Dương theo thể liên bang (nation Indochinoise à type fédéral), nhà cầm quyền Pháp nhiều lần cam kết “tôn trọng các dân tộc Đông Dương trong khuôn khổ Liên Bang Pháp (respect des nations Indochinoises dans le cadre d’une Fédération Française). Đối với người Pháp đây là một sự canh cải lớn, nhưng danh từ tuy đổi khác, tựu trung vẫn là một hình thức trực trị.

Nhận thấy rõ dân chúng Việt Nam đang bất mãn về việc người Pháp không tôn trọng Hiệp ước 1884, đề phòng những cuộc bạo động chính trị có thể xảy ra, nhà cầm quyền Pháp lại công bố chương trình cải cách khác. Lần này một sự “chuyển dịch, châm chước về quyền tự chủ” (adaptation moderne de la souveraineté intérieure de l’Annam au Traité de 1884)! Người Pháp có vẻ hãnh diện về sự cởi mở tiến bộ lần này. Nhưng với thời gian vẫn là trò chơi chữ và sự hứa hẹn kéo dài năm này qua năm khác. (7)

Cuộc triển lãm thuộc địa Paris năm 1931 đối với người Pháp là biểu hiệu tột đỉnh sự thành công của chính sách thuộc địa, là niềm kiêu hãnh của đế quốc Pháp. Nước Pháp là cường quốc thuộc địa vững mạnh nhất trên thế giới. Tin tưởng vào bề ngoài có vẻ rạng rỡ đó, nước Pháp yên tâm, gạt bỏ tất cả mọi ý kiến cải cách đối với thuộc địa Đông Dương.

Lẽ dĩ nhiên thái độ ấy là một cản trở, thách đố lớn đối với “thuộc quốc” Annam. Sau mấy tháng làm việc, Thượng Thơ Bộ Lại Ngô Đình Diệm rũ áo từ quan. Còn lại một mình Phạm Quỳnh không đảng phái, không hậu thuẫn, cô đơn trong một triều đình và cũng giống bao nhiêu triều đình khác tự cổ chí kim, các mâu thuẫn, đố kỵ, tranh chấp ngấm ngầm là chuyện thường xảy ra.

Nhiều người trách Phạm Quỳnh bản chất đạo đức quân tử quá tin tưởng vào lời hứa hẹn của người Pháp; cũng nhiều người trách Phạm Quỳnh chủ quan, muốn dựa vào thế đứng công khai Thượng Thơ Bộ Học rồi Bộ Lại với định chế pháp lý sẵn có để điều đình, nhưng lại quá mềm dẻo, ôn hòa trong việc đòi hỏi quyền tự trị.

Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh.

Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy thượng thơ Nam Triều khác. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng (?), món này to hơn lương Thượng Thơ. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để lấy danh nghĩa chính phủ Nam Triều, đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884“. (8)

Không hiểu được thái độ, lập trường Phạm Quỳnh lúc bấy giờ, dưới đây tạm nghe lời giải thích của vua Bảo Đại nói với Thượng Thơ Bộ Lại Ngô Đình Diệm khi yết kiến nhà vua xin từ chức:

“Tình hình đang biến chuyển lớn, chiến tranh Âu Châu sắp xảy ra là một điều không thể tránh được, cuộc chiến tranh chắc chắn sẽ gây nhiều ảnh hưởng xáo trộn lớn lao cho toàn lục địa Á Châu, khởi đầu từ Nhật Bản (…)

Đất nước chúng ta chưa sẵn sàng, thời cơ chưa đến lúc, phải khôn khéo lợi dụng thời cơ và chờ đợi … .” (9)

Năm 1939, Phạm Quỳnh hộ giá vua Bảo Đại sang Pháp điều đình với chính phủ Daladier việc trả lại Bắc Kỳ cho triều đình Huế đúng theo Hiệp ước 1884. Việc điều đình chưa đi đến đâu thì tiếng súng quốc xã Đức mở đầu cuộc chiến Âu Châu dẫn đưa đến trận thế giới đại chiến thứ 2 bùng nổ. Nhận được công điện từ triều đình Huế, Vua Bảo Đại cấp tốc trở về.

Thế giới đại chiến lan tràn. Vì sự tồn vong của chính quốc và của cả đế quốc thuộc địa, nước Pháp phải bám chặt Đông Dương. Tháng 7 năm 1940, Đô đốc Jean Decoux thay thế đại tướng toàn quyền Catroux, lần này với chức vị mới, Thượng Sứ Pháp ở Thái Bình Dương (Haut Commissaire la France dans le Pacifique).

Một tháng sau, Hiệp ước thân hũu Pháp Nhật (30-8-1940) được ký kết: Nhật Bản nhìn nhận sự toàn vẹn lãnh thổ của Liên bang Đông Dương và tôn trọng chủ quyền Pháp trên lãnh thổ này.

Tiếp theo Hòa ước Pháp-Nhật-Thái ngày 9-5-1941 và việc 40,000 quân đội thiên hoàng lần đầu tiên đổ bộ lên Nam Kỳ, là Hiệp ước phòng thủ chung Pháp-Nhật ký kết tại Vichy.

Những cái mốc thời sự nêu trên tưởng cần nhắc lại đây khi tìm hiểu tình hình Việt Nam và những người trong cuộc trong giai đoạn đầy biến chuyển đã qua.

Tháng 12 năm 1941, quân đội Nhật tiến vào Hà Nội, trong lúc đó tại Luân Đôn Ủy ban Quốc gia của De Gaulle (Comité National Français) chính thức tuyên chiến với Nhật Bản.

Trong hoàn cảnh chính trị bất ổn đó, Phạm Quỳnh được cử giữ chức Thượng Thơ Bộ Lại cho đến ngày xảy ra cuộc đảo chính 9-3-1945. Bản Tuyên Cáo Việt Nam Độc Lập, do Phạm Quỳnh, nhân danh Thượng Thơ Bộ Lại, đại diện Việt Nam Hoàng Đế, ký tên được công bố sau đó mây hôm.

Đến đây chấm dứt giai đoạn chính trị gần 13 năm trời của Phạm Quỳnh.

Kết quả không được như sở nguyện của mình khi Phạm Quỳnh từ giã Nam Phong, từ giã bạn bè ở Hà Nội vào Huế.

Phạm Quỳnh chỉ là người của giai đoạn chuyển tiếp như ông đã tâm sự với một số đồng liêu hay bạn bè. “Tất cả những cải cách chính trị và giáo dục thực hiện khiêm tốn lâu nay chỉ nhằm mục tiêu duy nhất chuẩn bị cho ngày mai khi đất nước chuyển mình đến vận hội mới: Độc Lập và Chủ Quyền. Tôi chỉ là người của giai đoạn chuyển tiếp“.

Lui về ẩn dật tại tư thất Hoa Đường bên bờ sông An Cựu, Phạm Quỳnh trở lại với thú văn chương. Nhìn lại quãng đời chính trị đã qua, không thành công như dự tính ước mong, nhớ lại hoàn cảnh nhà văn kiêm chính trị Âu Dương Tu đời Tống, Phạm Quỳnh viết:

 “… Nếu nhà văn học bản sắc là văn học mà ngẫu nhĩ làm chính trị đó là một sự thí nghiệm mà thành công hay thất bại không thể quyết đoán được. Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy không nên làm chính trị; hoa lan phải mọc trong u cốc, không thể đem trưng bày nơi đầu đường góc chợ được (…)

Âu Dương Tu là cái “ca” nhà văn học kiêm chính trị. Tuy thời đại ấy chính trị với văn học không cách biệt nhau lắm như bây giờ, và tuy tự ông cũng có ý trọng trạch vật hơn nhuận thân, nhưng xem ra ông làm chính trị không lợi gì thì hà tất đã vội coi thường cái thuật nhuận thân là cái sở trường của mình! (10)

 Qua di cảo của người xưa, gom góp, phân tách phần nào những sự việc, biến cố đã xảy ra, độc giả ngày nay thấy rằng chủ trương chính trị của Phạm Quỳnh trước ngày rời bỏ Nam Phong vào Huế là sự thành tựu của tư tưởng đã được un đúc từ lâu. Phạm Quỳnh không thành công trong hoài bảo tốt đẹp của mình; phải chăng vì Phạm Quỳnh đã lầm một nước cờ vì quá tin tưởng vào thiện ý của người Pháp.

Phải chăng, trước sau Phạm Quỳnh vẫn nghĩ rằng mình chỉ là người của giai đoạn. Dù hoàn cảnh chưa thuận lợi, vẫn phải cố gắng làm được tới đâu hay tới đó, miễn là đem hết tài sức ra làm và không thẹn với công việc mình làm.

 Phải chăng vì hạn chế hoàn cảnh, con người chính trị Phạm Quỳnh đã không thành công so với Phạm Quỳnh nhà văn hóa.

Sau ngày thành lập nội các Trần Trọng Kim, tâm sự với một phóng viên nhóm Tri Tân từ Hà Nội vào Huế, Phạm Quỳnh nói:

 “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng.

Nhưng trong hoàn cảnh khó khăn tôi mới cảm thấy mình không làm gì được hết. Đổi lại, tôi còn bị ngờ vực.

Ông tính coi, một nhà văn bạch đinh như tôi, vụt một cái nhảy lên cái ghế danh vọng của triều đình thì tránh sao được những đố kỵ và ngộ nhận. Cảnh ngộ của tôi lúc ra làm quan thật phù hợp với hai câu:

Phấn vua Lê trang điểm ấy là duyên

Tay chúa Trịnh cầm quyền âu cũng nợ …”

(…) Hồi sang Pháp, tôi có vận động chính phủ Pháp thi hành đúng Hiệp ước 1884, mục đích thâu chủ quyền về cho Nam triều trên thực tế. Tôi đã giải bày rất nhiều với ông Mandel (Bộ trưởng Thuộc địa). Nhưng việc đó cũng không thành. (…) Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái, học hỏi thêm được “nhân tình thế thái rất nhiều”. Ngày nay trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào phong phú hơn xưa (…) .

Hiện thời chúng ta đang ở một giai đoạn lịch sử mà một nền văn hóa mới phải được tạo lập. Tất cả nhân tài phải được dung nạp, trọng dụng. Phải tạo cho họ có trường sở để thi thố phát triển tài năng của mình. Đôn đốc họ bất cứ trong trường hợp nào cũng phải đặt mình trong cái nghĩa lớn.

Trong nền văn hóa chúng ta đang vun quén tạo lập, phải làm nẩy nở được mầm tư tưởng quốc gia. Chúng ta đã chẳng làm việc để tìm cho được một Tổ Quốc mà phụng sự là gì?

Thật vậy, trong trường hợp nào chúng ta cũng phải đặt quốc gia lên trên hết, trong đia. hạt văn hóa cũng vậy. Cá nhân không có nghĩa và cũng không có sức mạnh gì cả … .” (11)

Thế giới đại chiến 1939-1945 kết liễu với cái chết của gần một triệu sinh linh, dù sao cũng đã trực tiếp ảnh hưởng tốt đẹp đến vận mạng các nước Á Phi. Các đế quốc tây phương lần lượt tan rã và các cựu thuộc địa lần hồi trước sau trở thành những quốc gia độc lập. Ngược lại, nếu không có thế chiến thứ hai liệu những biến chuyển trọng đại như vậy có xảy ra nhịp nhàng, liên tiếp với các cựu thuộc địa không? Liệu các cường quốc và đế quốc Tây phương như Pháp, Anh, Hòa Lan có bị áp lực thời cuộc để “nhả” thuộc địa của mình không?

Câu hỏi trên không thể trả lời một cách đơn giản thông thường, nêu lên đây chỉ để tìm hiểu thêm giai đoạn Việt Nam trước 1945.

Ngày nay, nhận định Phạm Quỳnh, nhà văn hóa và chính trị, chúng ta có dịp tìm hiểu thêm về con người và tư tưởng Phạm Quỳnh trước năm 1932. Một mẫu người Việt Nam có cái chí về thế đạo cương thường, vừa bảo thủ vừa tiến bộ, một nhà báo Phạm Quỳnh làm hướng đạo dư luận, một nhân sĩ mà tư tưởng chính trị đã ảnh hưởng cả một thời kỳ. Con người Phạm Quỳnh của những năm ấy đã đóng góp phần công lớn của mình, và dù sau này không suy di, đánh đổ được thời thế, trước đó cũng đã biến đổi được nhân tâm, ra công phù trì cho thế đạo trong giai đoạn khó khăn của lịch sử và có giá trị hiển nhiên về lịch sử, cả về hai phương diện văn học và chính trị.

N.H.

 —————————————-
 Chú thích:

1.- “Văn học hay chính trị”, Di cảo của Phạm Quỳnh.

2.- Phạm Quỳnh xuất thân từ dòng dõi Nho gia, không phải hạng nho gia quyền quí hiển hách, thời ấy một số có khuynh hướng xu phụ, nịnh bợ Tây để bảo vệ địa vị, chấp nhận một cuộc sống giả câm, giả điếc, mà lớp người hàn Nho, tuy cũng từng đỗ đạt theo đường lãnh hoạn, nhưng sống đạm bạc thanh bần bên luống cày của người nông dân. Cho đến sau này khi đã nổi danh học giả, trí thức, Phạm Quỳnh vẫn giữ nếp sống cần cù, ngôn ngữ và dáng điệu một ông đồ nhà quê, un lettré campagnard”, như ông thường tự gọi.

Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Phạm Thế Ngũ, Quốc học Tùng thư, Saigon 1965.

3.- Chủ trương cải cách và trực trị. Nguyễn Văn Vĩnh lúc bấy giờ là chủ nhiệm tạp chí L’Annam Nouveau, phản đối thuyết Lập Hiến của Phạm Quỳnh. Lý do phản đối là triều đình hủ bại, quan liêu tham nhũng. Muốn đổi mới, theo Nguyễn Văn Vĩnh, phải bãi bỏ triều đình, bãi bỏ quan lại để tiến đến trực trị, nghĩa là để người Pháp cai trị trực tiếp như ở Nam Kỳ. Cuộc bút chiến (bằng Pháp ngữ) về Trực Trị và Lập Hiến kéo dài khá lâu giữa Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh. Theo Phạm Quỳnh, quan lại tham nhũng cần phải có biện pháp trừng trị là một việc; tập thể quan lại nói chung là một việc khác. Quan trường là một tập thể viên chức (corps de fonctionnaires), đại diện và thừa hành mệnh lệnh triều đình Huế. Nước ta (lúc bấy giờ) có chính phủ bảo hộ mà bộ máy trực trị là phủ Toàn quyền ở Hà Nội và chính phủ Nam triều ở Huế. Theo Hòa ước 1884 ký kết giữa nước Pháp và vua nước Nam, nước Pháp nhìn nhận và tôn trọng vua nước Nam có chủ quyền nội bộ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Chính phủ bảo hộ sở dĩ có cũng do Hiệp ước 1884 mà ra. Vậy khi nói chính phủ bảo hộ không thể nào bỏ sót chính phủ Nam triều, triều đình Huế.

Bãi bỏ quan trường thì còn gì chính phủ Nam triều, còn gì bộ máy hành chánh Nam triều. Không còn vua, tượng trưng chủ quyền nội bộ như đã ghi rõ trong Hòa ước 1884, không còn bộ máy hành chánh với tập thể quan lại, thì còn gì thực thể quốc gia, ngoài chính phủ bảo hộ. Cũng theo Phạm Quỳnh, triều đình hủ bại vì vua là người cũ xưa; quan lại bất lương là vì chế độ mập mờ, vì người Pháp dung túng, vì một số là tay chân của họ lúc buổi đầu. Nay nếu có vua trẻ tân học, có chính sách tuyển lựa quan lại cẩn thận, có đường lối trừng phạt xứng đáng, những tệ hại cũ không phải là không sửa đổi được. Lại nữa với chính thể Lập Hiến, vua có quyền vua, dân có quyền dân, lại có Hội đồng Tư vấn, gọi là Viện Nhân Dân Đại Biểu, tình hình chính trị, hành chánh sẽ đổi khác là chuyện tất nhiên phải đến. Vấn đề đặt ra là chủ quyền nội bộ Việt Nam. Có chủ quyền rồi sẽ có chính sách, đường lối cai trị. Đó là bổn phận chung của mọi người trong tương lai.

4.- Nam Phong, Supplément en Francais, No. 160.

5.- Le Dragon d’Annam, bản dịch Việt ngữ, Con Rồng Việt Nam, Hồi ký chính trị, Cựu Hoàng Bảo Đại, Nguyễn Phước Tộc xuất bản, 1990.

6.- Cụ Phan Bội Châu, những ngày ở Huế, Tiếng Sông Hương, Dallas, 1990.

7.- Để hiểu rõ hơn đường lối chính trị của người Pháp, độc giả có thể đọc thêm Politique de collaboration Franco-Annamite, diễn văn trả lời ông Phạm Quỳnh của toàn quyền A. Varenne, được coi như phần tử “cấp tiến” nhất trong số các toàn quyền Pháp ở Đông Dương thời bấy giờ.

8.- Đời viết văn của tôi, Nguyễn Công Hoan, nhà xuất bản văn học, Hà Nội 1971. (Dấu hỏi (?) có đóng dấu ngoặc thêm ở trên không có trong nguyên văn) (trong thư gửi Thống sứ Bắc Kỳ Robin ngày 7/12/1926, để xin trợ cấp cho đồng nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh, viết từ tòa soạn tạp chí Nam Phong số 5 phố Hàng Da Hà Nội, Chủ bút Phạm Quỳnh đã cho biết từ khi thành lập 1917 Tạp chí Nam Phong đã được chính phủ trợ cấp đều đặn 8000 đồng – PT chú)

9.- Xem chú thích (5).

10.- Xem chú thích (1).

11.- Nguyễn Vạn An. Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, Nhật báo Tin Điển, ngày 23-3-52, Saigon.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: