Pham Ton’s Blog

Tháng Hai 15, 2016

Phạm Quỳnh Nặng Lòng với Quốc Phục

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:57 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 2 tháng 2 năm 2016.

PHẠM QUỲNH

NẶNG LÒNG VỚI QUỐC PHỤC

Dã Thảo

“Sau phong trào Cần Vương chống Pháp xâm lược, những thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX bước vào thế kỷ XX, thời kỳ Hoc tro chu Taybình định và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lòng yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam vẫn bùng lên mạnh mẽ dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước với các phong trào Đông Du, Duy Tân, chống thuế…

(…) Khi Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa, thì bộ mặt xã hội đã biến đổi (…) Rồi trong thực tế, một lớp người mới đã xuất hiện làm thông ngôn, ký lục, bồi bếp hay lái xe cho quan Tây (…) tiếp thu nhanh chóng văn minh phương Tây: nói tiếng Tây, mặc đồ Tây và hớt tóc ngắn. (…) đã xuất hiện bóng dáng của cậu học trò “học chữ Tây” với chiếc bình mực lủng lẳng nơi ngón tay – thay thế cho cái nghiên ngày trước – và cái ô đen cắp trên nách”. (Trích bài Một vài hình ảnh của Hà Nội buổi giao thời đầu thế kỷ XX của Nguyễn Mạnh Hùng, trang 22-24, tạp chí Xưa và Nay, số 418 tháng 12 năm 2012).

Phạm Quỳnh sinh năm 1893, thời đi học trường tiểu học Pháp Việt, khi đi mít tinh đòi cho tiếp tục mở cửa trường Đông Kinh Nghĩa Thục phố Hàng Đào của cụ Cử Can chỉ mới 15 tuổi, nên bị Tây bắt giam một ngày một đêm rồi cũng thả vì còn vị thành niên. Hồi học trường Thông Ngôn ở Bờ Sông, và cả khi vào Trường Bưởi, rồi trở thành thủ khoa đầu tiên của trường Trung học Bảo hộ này, cũng vẫn đánh bộ quốc phục, áo dài khăn đóng. Cả khi là nhân viên trợ lý Trường Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ, đồng sự của Nguyễn Văn Tố, tất nhiên cũng vẫn bộ quốc phục như Nguyễn Văn Tố. Ông chủ bút trẻ tạp chí Nam Phong chẳng những mặc quốc phục mà còn giữ cả búi tó củ hành nhỏ xíu như trong giấy căn cước làm năm 1918, sau khi Nam Phong ra đời một năm. Mãi đến năm 1922, trước khi đi Pháp dự khánh thành Đấu xảo thuộc địa ở Marseille, “Tôi bắt đầu thử mặc Tây tự Sài Gòn đi, để tiện xuống chơi các bến tàu đỗ.” (Trang 95 Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2004). Và tất nhiên là cũng cắt đi cái búi tó củ hành. Sang Pháp, ông mới thường mặc Tây, chỉ vì: “Mình sang đây là để xem người, khônTruong Buoig phải cho người xem mình” (Sách đã dẫn, trang 95), chứ thực lòng ông vẫn thapham quynh_tre thiết với quốc phục, nặng lòng với quốc phục. Điều này thể hiện rõ nhất trong chuyến đi Pháp của ông năm ấy.

Thứ bảy 13 tháng 5 năm 1922 (ở khách sạn Terminus, Lyon), Phạm Quỳnh ghi: “những đồ quần áo trong hòm cũng không dùng đến, vì phần nhiều là quần áo An Nam cả, khi ở nhà đi, tưởng sang bên này cứ giữ quốc phục, sang đến đây mới biết rằng không tiện. Mình sang đây là để xem người, không phải cho người xem mình; như vậy mà cứ thướt tha như anh lễ sinh, đi nghênh ngang ngoài đường phố, thời khác nào như làm một cái vật “đấu xảo” giong đường cho người quý quốc xem, nghĩ nó cũng dơ dáng dạng hình quá! Bởi thế nênPham Quynh - Nguyen Van To từ ngày tới Pháp đến giờ, phải bận Âu phục luôn, trừ những khi dự các hội tiệc thời mặc quốc phục cho trọng thể. Còn nhớ mấy ngày đầu mới ăn mặc Tây, rõ phiền quá. Tôi bắt đầu thử mặc Tây tự Sài Gòn đi, để tiện xuống chơi các bến tàu đỗ. Hôm xuống Tân Gia Ba là ngày mặc Âu phục lần thứ nhất: hôm ấy trời lại nóng nực, mình quen mặc rộng rãi thênh thang, bây giờ bó buộc như thằng hình nhân, lấy làm khổ quá; nào là quần trong, quần ngoài, nào là áo “sổ mi”, nào là “bờ-lơ-ten”(dây đeo quần – DT chú) ; khổ nhất là đeo cái “phô-côn” (cổ cồn, cổ giả – DT chú) cho ngay ngắn, thắt cái “cà-vạt” cho dễ coi. “Cà vạt” có thứ đã thắt sẵn, chỉ việc cài vào mà thôi; có thứ mình phải thắt lấy. Trước khi mua đã phải hỏi ý các ông sành mặc Tây, ông nào cũng bảo rằng thứ thắt sẵn chỉ để cho các ông già dùng, còn người trẻ phải thắt lấy mới là lịch sự. Nhưng khốn quá, mình tập thắt mãi mà nó vẫn cứ nghiêng vẹo, lệch lạc, xô xếch, răn reo, không thấy “lịch sự” một chút nào cả! Cực nhất là lúc tàu đã đến bến rồi, anh em đợi để lên ăn cơm ở cao lâu trên phố, mà mình ở trong buồng cứ loay hoay thắt với buộc mãi không xong, bấy giờ đỏ mặt tía tai lên, muốn quăng cả đi, nghĩ bụng rằng: “Thôi, chẳng Tây thì đừng Tây, mỗi lần thế này khổ quá”. Sau cũng phải nhờ có tay giúp mới buộc xong. Nhưng mà cho hay muôn sự tại thói quen cả, hôm đầu khó nhọc như thế, đến ngày thứ nhì thứ ba đã thấy dễ rồi; cách một tuần lễ thời buộc cái “cà-vạt”, thấy dung dị (dễ dàng – DT chú) như thường, và soi gương coi đã ra vẻ lắm rồi! Khi đến Marseille thời ngPham Quynh 1918hiễm nhiên như ông Tây “đặc”, tưởng hình như mình vẫn mặc Tây đã mấy mươi năm rồi; không những cách ăn mặc mà dáng bộ cũng hệt: tay bỏ túi quần, tay cầm gậy “can”, không còn ngượng ngập gì nữa. Nghĩ bụng giá bấy giờ cứ thế mà hiện hình về giữa phố Hàng Đào Hàng Ngang Hà Nội thời chắc ai cũng phải cho là một cậu “công tử bột” chân chủng! Lại nghĩ rằng nếu văn mình mà chỉ có thế thôi, thời cũng dễ quá: chỉ mất sáu trăm quan là được cái lốt văn minh như hệt, và theo “mốt” tối tân, các “công tử” nước nhà không sao theo kịp: áo thắt ngang lưng, quần nếp thẳng băng, cổ là bóng nhoáng, giầy sơn đen nháy, lại phủ một miếng da trắng ở trên cho khỏi bụi (thế mới hợp “mốt” năm nay)… Nhưng mà mình vẫn biết đã lâu rằng văn minh không phải ở cái lốt ngoài đó. Chẳng qua là đến đâu phải theo tục đó mà thôi. Nhưng mà có một điều nên biết, là người mình có tính mềm mại, uyển chuyển, không bắt chước người thì chớ đã bắt chước thì cũng chẳng kém gì ai, nhất là về cách ăn mặc, có khi người mình ăn mặc Tây lại còn óng ả riêm rúa hơn nhiều người quí quốc…

Vậy bao nhiêu hành lý để cả Marseille và chỉ đem hai cái vali đựng quần áo Tây với mấy bộ quần áo An Nam để phòng khi dùng đến; còn thiếu cái gì, lên Paris sẽ mua.” (Sách đã dẫn trang 94-97). Trong chuyến Pháp du ấy của Phạm Quỳnh, sự kiện nổi bật nhất là việc ông đăng đàn diễn thuyết ở Viện Hàn Lâm Pháp. Một việc hoàn toàn do ông tự lo với sự giúp đỡ nhiệt tình, không vụ lợi của những người bạn Pháp mới quen mà đã quí trọPham Duy Ton - Pham Quynh - Nguyen Van Vinhng ông. Một dịp may hiếm có để cho giới tinh hoa của nước Pháp là nước bảo hộ, “nước mẹ” hiểu rõ nền văn hóa lâu đời của người Việt Nam và lòng dân ta quyết bảo vệ nền văn hóa và Tổ quốc ông cha để lại. Chính trong dịp trọng đại, nghìn năm có một đó, Phạm Quỳnh đã suy nghĩ nhiều về quốc phục để rồi hành động đúng đắn và còn có thể nói là dũng cảm nữa. Ông ghi: “Thứ bảy 22 tháng 7: “Sáng nay không đi chơi đâu, chỉ bữa ăn đi một lát, rồi về nghỉ ngơi để sửa soạn ra Hội Hàn lâm. Phân vân không biết mặc Tây phục hay mặc quốc phục. Đã có bộ jaquette, nếu mặc Tây thì cũng tùng tiệm được. Nhưng nghĩ lại, gặp những cơ hội như lúc này mà nỡ bỏ quốc phục đeo Tây phục, thì cũng tủi cái áo cái khăn anh đồ quá; thôi thì cứ mặc An Nam (DT nhấn mạnh), chỉ dẫu đi ngoài phố thiên hạ chỉ trỏ nữa cũng chẳng hề gì.” (Sách đã dẫn trang 330)

“Ngày 22/7/1922, trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng giản dị mà trang trọng, ông (Phạm Quỳnh – D.T chú) “cả gan” trình bày trước Ban Luân Lý Chính trị Viện Hàn lâm Pháp về Một vấn đề dân tộc giáo dục. Lời nói thật khúc chiết, hùng hồn, tha thiết, bằng một giọng văn tiếng Pháp mẫu mực, khiến các viện sĩ Pháp phải phá lệ, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi ông vừa dứt lời. Một hiện tượng chưa hề có trong lịch sử viện hàn lâm đầy uy tín này. Báo chí Pháp đương thời đã loan tin lạ này trên trang nhất, đăng lại bài diễn văn, kèm theo là bức ảnh ông mặc áo gấm, bế trong lòng cô con út mới sinh cu be ba Ngoanđược mấy tháng.

(…) “Chống lại chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp đang thi hành ở nước ta, ông dõng dạc nói trước những đại biểu của tinh hoa trí tuệ và lương tâm Pháp hiện diện tại Viện Hàn Lâm Pháp những lời sau và đã được họ tán thưởng hoàn toàn:

“- Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc tính, để biến thành một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của Pháp kia.” Nhà báo Nguyễn Trung đã viết như thế trong bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta (Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 141 tháng 9 năm 2006).”

“Ở Hội Hàn lâm ra, về thẳng đường Saint Germain để nói chuyện cho hai cụ biết. Hai cụ lấy làm mừng lắm. Lại nghe nói khi đọc xong cử tọa có vỗ tay, hai cụ lấy làm lạ, nói xưa nay ít khi như thế, lần này thế là các cụ Hàn có ý biệt đãi khách phương xa lắm đó (DT nhấn mạnh). Hai cụ lại nói rằng các ngài Hàm lâm thường không hay đến hội đồng đông bao giờ, ngay như ở ban Văn học phải làm Tự điển mà mỗi lần cũng chỉ mươi lăm vị là cùng”  (Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2004, trang 335).

Sự kiện một người dân thuộc địa lên diễn đàn Viện Hàn lâm mà được vỗ tay khiến các báo đổ xô đến xin bài diễn văn và xin cả ảnh để đăng cho nổi bật. Phạm Quỳnh hồi ấy đã diện đồ Tây xịn đi chơi nhiều nơi với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn và chụp khá nhiều ảnh, vậy mà khi ấy, ông lại cho họ cái ảnh mặc áo dài bế con, vợ mới gửi sang: Trong ảnh, ông mặc áo gấm bế bé Phạm Thị Ngoạn sinh năm 1921, người sau này làm luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong và trở thành tiến sĩ của trường Sorbonne danh tiếng ở Paris. Tấm lòng Phạm Quỳnh với quốc phục thật sâu đậm. Pham Quynh 1930 - Truong Thang Long

Ở Hà Nội cũng như sau này về Huế, người ta vẫn thấy mỗi khi ông xuất hiện đều trong bộ quốc phục.

Ngày sinh nhật ngũ tuần của ông bà đồng tuổi nhâm thìn thì ông, bà, con trai, con gái, con dâu, con rể, cho đến các cháu mẹ còn bế trên tay, đều mặc quốc phục. Năm 2006 các bạn ở tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Huế) có đăng bài của Phạm Tôn nhan đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà kèm ảnh đại gia đình mừng sinh nhật năm 1942 ấy, thì các bạn ở tạp chí vui mừng báo cho chúng tôi biết là cả toà soạn đều vui, vì năm ấy nước ta đăng cai hội nghị APEC, tất cả các nguyên thủ quốc gia đến dự đều mặc quốc phục Việt Nam, từ Tổng thống Pu-tin đến Bush… Chủ tịch Nguyễn Minh Triết của ta thì mặc quốc phục màu vàng. Thật là một cuộc biểu dương vẻ đẹp quốc phục ta. Sinh nhat 50 tuoi hai cu

Mùa hạ năm 1945 đặc biệt oi bức vậy mà Phạm Quỳnh, vẫn ngồi dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ, viết Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Tất nhiên là mặc quốc phục trang trọng theo lệ của riêng ông khi đọc sách hay viết lách.

Chúng ta may mắn có được bức ảnh năm cuối đời, khi ông tha thẩn ở khuôn viên biệt thự Hoa Đường những ngày ấy. Biet thu Hoa Duong

Thiếu tướng Phan Hàm sau này (1993) nhớ lại là trưa hôm 23/8/1945 ấy ông cùng một số bạn sinh viên Trường Thanh niên Tiền tuyến đến đưa giấy “mời Phạm Quỳnh ra Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa làm việc” thì “ông ta thản nhiên đứng dậy, mặc áo (tất nhiên là quốc phục rồi) ra đi”.

Ngày nay, vẫn thấy còn nhiều bàn luận về việc mặc quốc phục , may quốc phục nam giới. Chúng tôi đồng tình với ý kiến của họa sĩ Thành Chương: “Bàn gì thì bàn, nói gì thì nói, áo dài của phụ nữ và áo dài khăn đóng của nam giới luôn luôn là lễ phục gợi lên hình ảnh người Việt Nam. Đã gọi là quốc phục thì tinh thần cối lõi vẫn là hồn cốt dân tộc”. (DT nhấn mạnh) (báo Tuổi Trẻ ngày 22/12/2012)

Thành phố Hồ Chí Minh 26/12/2012.

D.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: