Pham Ton’s Blog

Tháng Ba 16, 2016

Phạm Thượng Chi đã dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:20 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, tuần thứ 2 tháng 3 năm 2016.

Những ngày cuối cùng sống ở biệt thự Hoa Đường

 PHẠM THƯỢNG CHI ĐÃ DỊCH 51 BÀI THƠ ĐỖ PHỦ

 

Chi Điền, Hoàng Duy Từ

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau cuộc đảo chính của Nhật, Phạm Quỳnh từ quan về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường của ông bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Ông tìm đọc Đỗ Phủ, lựa ra những bài mình tâm đắc nhất và đã dịch nghĩa 51 bài, kèm tư liệu ghi chép về nhà thơ. Ông gửi tất cả cho người bạn tâm giao sành thơ là thi sĩ Đông Hồ. Sau khi Đông Hồ mất, bà vợ là nhà thơ Mộng Tuyết thu xếp sách vở, tài liệu của chồng đã bắt gặp tập bản thảo này. Trong đó, Phạm Quỳnh tự tay chép  các bài thơ Đỗ Phủ bằng chữ Hán và viết bản dịch nghĩa của mình theo đúng số chữ trong câu thơ Đỗ Phủ. Tập này, bấy giờ đã đóng thành sách, bìa da đỏ, chữ mạ vàng, được nhà thơ Mộng Tuyết mang sang Paris. Và ngày 11/9/1974 trao tận tay nhà thơ Liên Trang Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh, tác giả Introduction au Nam Phong (Tìm hiểu tạp chí Nam Phong)..

Dưới đây chúng tôi xin trích đăng bài của Chi Điền Hoàng Duy Từ viết, xuân Nhâm Thân, 1992 nhan đề là Phạm Thượng Chi với thơ Đỗ Phủ (Bài viết kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Phạm Quỳnh) dưới tựa đề mới do chúng tôi mạn phép đặt (vì chưa có cách nào liên lạc được với tác giả để xin phép) là: Những ngày cuối cùng sống ở biệt thự Hoa Đường, Phạm Thượng Chi đã dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ.

Chúng tôi có lược bỏ một số đoạn và ba bài thơ Bát trận đồ, Vũ Hầu miếu Tuyệt cú mà thay thế bằng bốn bài thơ, do chính chữ Phạm Quỳnh viết nguyên tác chữ Hán và bản dịch ra chữ quốc ngữ của ông là các bài Núi Long Môn, Ngắm núi Nhạn, Lên lầu thành Duyên châu, Đề nơi ẩn cư của họ Trương.

—o0o—

Trong những thập niên đầu thế kỷ XX, một nhân vật đã nổi bật trên diễn đàn báo chí cũng như trong lĩnh vực văn hoá. Đó là học giả Phạm Quỳnh, bút hiệu Thượng Chi, chủ bút Nam Phong tạp chí. Ngòi bút của ông đã gây tiếng vang lớn từ Hà Nội đến Sài Gòn và trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Lời hùng biện của ông gây ngạc nhiên ở kinh thành Paris, trên diễn đàn Hàn Lâm Viện nước Pháp. Những bài biên tập, khảo cứu, trước thuật, dịch thuật của ông mọi người đều biết; chỉ có việc phiên dịch Thơ Đường của ông là không mấy ai biết đến. Mà làm sao biết được? Ngay chính lệnh ái của ông là nữ sĩ Liên Trang Phạm Thị Ngoạn, trong luận án tiến sĩ 1972 Introduction au Nam Phong ( Tìm hiểu tạp chí Nam Phong), cũng chỉ nói một cách mơ hồ: “Phạm Quỳnh hình như có khởi sự phiên dịch thơ Đỗ Phủ. Rất tiếc là bản thảo ấy có  lẽ đã biến mất (Nguyên văn tiếng Pháp là: Phạm Quỳnh aurait commencé aussi une traduction de Đỗ Phủ, il est regrettable que le manuscript de ce travail ait disparu).”

Biet thu Hoa Duong

Thật ra, bản thảo dịch thơ Đỗ Phủ chưa tìm thấy trong biệt thự Hoa Đường của ông, không bị thất lạc. Bản thảo này đã trôi dạt từ ngôi biệt thự bên bờ sông An Cựu, thành phố Huế vào đến tận miền Đồng Nai Gia Định hay là đến đất Phương Thành, tới tay thi sĩ Đông Hồ. Nhà thơ này nguyên là bỉnh bút của tạp chí Nam Phong, người có niềm ái mộ lớn lao đối với ông chủ bút Nam Phong. Rồi, mấy năm trước đây, bà sương phụ Đông Hồ là nữ sĩ Mộng Tuyết, nhân dịp sang Pháp, đem tặng nữ sĩ Liên Trang, tập di cảo đã đóng lại bìa da đỏ, gáy chữ vàng đẹp đẽ. Đúng là “quý vật tầm quý nhân” và “châu về Hợp Phố”!

Đọc tuyển tập dịch thơ Đỗ Phủ của Thượng Chi tôi phải tự hỏi: Tại sao tiên sinh chọn thi phẩm của Đỗ Phủ để dịch trước tiên? Tại sao không chọn thơ Lý Bạch, đệ nhất thi hào của Thịnh Đường, hay là tuyển chọn những bài Đường Thi danh tiếng nhất mà dịch trước, như các dịch giả khác đã làm từ trước đến nay?

Do PhuPhải chăng Thượng Chi đã biểu đồng tình với Đỗ Thiếu Lăng trên nhiều quan điểm về văn học nghệ thuật cũng như chủ thuyết về thi ca, nên mới chọn thơ Đỗ để khởi đầu công trình phiên dịch Đường Thi.

Phải chăng ông muốn mượn thơ Đỗ Thiếu Lăng để gởi gấm tâm sự của một nhà văn học gác sự nghiệp văn chương ra tham chính. Phải chăng những năm dài sinh hoạt trong “hí trường” ngôn luận và chính trị đã đem lại nhiều ưu tư và ray rứt, nay thoát ra ngoài vòng cương toả, ông cần phải giải toả tâm tư?

Đỗ Phủ là một nhà Nho. Tư tưởng căn bản Khổng Giáo là tư tưởng phục vụ chế độ quân chủ để giữ an ninh cho quốc gia, thái bình cho dân tộc.

Cảnh chiến tranh của thời Xuân Thu làm cho nhân dân Trung Hoa đói rách lầm than là nguyên nhân chính phát sinh triết lý Khổng Mạnh, hay là chủ thuyết nhằm “lý tưởng quốc thái dân an”, nhằm cải thiện đời sống quốc gia, mưu cầu no ấm và hạnh phúc cho nhân dân. Do đó phải xây dựng một nền triết lý đạo đức để giáo dục con người yêu chuộng hoà bình, công lý, sống trong tình người, bốn bể anh em. Thấm nhuần tư tưởng ấy, Đô Phủ, mặc dầu chỉ giữ một chức giám quan nhỏ trong một thời gian ngắn mà vẫn luôn luôn nghĩ đến việc nước nhà, thương cho dân đói rách, căm hờn ngoại bang xâm lấn biên cương, phiến loạn chiếm hãm quận thành. Những tư tưởng, ý tình này luôn luôn hiện ra trong thi ca Đỗ Phủ. Có thể nói ông đã đề cao ý thức vị nhân sinh. Ông đã thực thi chủ thuyết làm văn chương phải cho hợp với thời đại, làm thi ca phải cho hợp với sự việc. Nói cách khác “văn chương phải phản ảnh thời đại, bộc lộ hiện thực”. Đỗ Phủ là nhà thơ tiền phong của môn phái nghệ thuật vị nhân sinh.

Các nhà văn học Trung Hoa nói rằng: Thơ Đỗ Phủ là thánh phẩm có “ý nhập thế”, hay tả sự thực, chịu ảnh hưởng Nho giáo, bài nào cũng ngụ ý thương đời, hiểu thấu nhân tình thế thái, nói lên cái hoài bão lớn lao “Cứu thương sinh”. Không như thơ Lý Bạch, là tiên phẩm có ý xuất thế, lãng mạn.

Thượng Chi chọn thơ Đỗ Phủ để phiên dịch, tôi tin là vì cùng một chủ trương “tả cảnh sinh sống của nhân dân (thực tả nhân sinh)” hay là phản ảnh cái chính trị thời đại (phùng thích thời chính)”. Mấy trăm số Nam Phong từ 1917 đến 1934, bộ Nam Phong Tùng Thư (1928-1931), 5 quyển Thượng Chi Văn Tập (1943 và tái bản 1962) đã chứng minh quá hùng hồn lập trường của Thượng Chi.

Phê bình gia Vũ Ngọc Phan trong sách phê bình văn học Nhà văn Hiện Đại (1942) viết: “Ở nhà văn này người ta nhận thấy một khuynh hướng rõ ràng về học thuyết hay về những thứ mà phần tư tưởng là phần cốt yếu. Ít khi người ta thấy dưới ngòi bút ông những bài phù phiếm có giọng tài hoa, bay bướm và chỉ có một tính cách thuần tuý văn chương. Ông là người chủ trương cái thuyết: đọc sách Tây để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hoá Âu Tây, để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lấy cái hay của người mà dung hoà với cái hay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc mà còn có cơ tiến hoá được”.

Ngay trong thời gian còn tùng sự tại Trường Viễn Đông Bác Cổ (1908-1917) ông đã cộng tác với Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh (1913). Nhưng khác lập trường với ông Vĩnh. “Trong khi Nguyễn Văn Vĩnh đi tìm cái nhẹ nhàng hoa mỹ trong văn chương Pháp để diễn ra quốc văn một cách phóng túng, thì Phạm Quỳnh đã có cái khuynh hướng biên dịch những bài về tư tưởng, về lý thuyết Âu Tây. Ngay trong mấy số đầu Đông Dương tạp chí ông đã dịch những đoạn văn của Renan, Bossuet, Pascal…là những nhà văn lớn về tư tưởng và lý thuyết. Ngay từ bấy giờ (1913), giọng văn ông đã chín chắn khác thường, đọc tưởng chừng như một người đã đứng tuổi (Vũ Ngọc Phan)”.

Qua đoạn văn ngắn trên đây, Vũ Ngọc Phan xác nhận sự nghiệp văn chương của Phạm Thượng Chi đều nhắm phục vụ dân tộc, nâng cao dân trí. Vấn đề nâng cao dân trí cũng là một chính sách chủ yếu trong những chính sách của các đảng cách mạng quốc gia. Trong sách Pháp Việt Đề Huề của Phan Bội Châu (1918) cũng nói đến, “không những phải nâng cao trình độ quốc dân mà còn phải tìm những tinh thần tự tin cho mỗi người” (Phan Bội Châu, Tự Phán, NCHX, 1987).

Với chủ trương nâng cao dân trí, Phạm Quỳnh đã đem hết tài năng và tâm trí tạo dựng một nền văn hoá quốc gia mới, thích ứng cho hoàn cảnh của tổ quốc, một nước nhược tiểu có nền văn hiến mấy nghìn năm và một dân tộc thông minh can đảm, cần mẫn và cầu tiến, nhưng chẳng may bị thực dân Pháp kiềm chế trên mấy chục năm. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhân dân đã tranh đấu quyết liệt bằng nhiều phương cách. Lập chiến khu võ trang, quyết chiến thực sự như Đề Thám, Phan Đình Phùng, không chiến thắng được giặc Pháp, vì tinh thần cảm tử, chí anh hùng thì có thừa, nhưng vũ khí, chiến cụ quá sút kém không kháng cự, tấn công nổi giặc. Rồi các phong trào cần vương của đông đảo sĩ phu yêu nước, các biến cố vua Hàm Nghi, vua Duy Tân xuất cung tham gia kháng chiến, v.v…đều thất bại. Vua bị đày đi viễn xứ, sĩ phu tuẫn tiết hay lên đoạn đầu đài trong thương tiếc và oán hận của quốc dân.

Trước những thảm trạng ấy, quần chúng quá thất vọng, đâm ra chán nản, tiêu cực. Giới trí thức tân tiến và thực tiễn phải tìm một đường lối khác để tranh đấu bất bạo động, tranh đấu ôn hoà trong hoàn cảnh và luật pháp cho phép. Họ chủ trương “khai trí tiến đức” cho giới trung lưu trí thức, nâng cao dân trí cho quần chúng nhân dân bằng mọi phương tiện truyền thông báo chí sách vở, phát động phong trào truyền bá quốc ngữ đến tận thôn quê hẻo lánh. Nhóm trí thức hàng đầu đều muốn đem năng trí và tư duy tạo dựng một nền văn hoá mới cho quốc gia.

Trước bối cảnh lịch sử ấy, Phạm Quỳnh lợi dụng công cụ của nhà nước cho mượn để gây dựng và phát huy một cơ quan văn hoá thay thế Đông Dương tạp chí, hầu thực hiện hoài bão của mình. Nam Phong tạp chí ra đời từ đó (1917), với ông Phạm Quỳnh sáng lập viên, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút.

Thái độ chính trị của ông trong việc cầm đầu một cơ quan ngôn luận lớn của thời bấy giờ thật là khó khăn và tế nhị. Làm sao cho chính quyền thực dân Pháp không phật ý và không nghi ngờ, để họ tiếp tục cho mượn phương tiện và để cho mình hoạt động lâu dài. Phần khác, làm sao cho nhóm người cộng tác không trách mình lợi dụng, xây dựng địa vị trên lưng họ, và nhất là làm sao cho đồng bào khỏi hiểu lầm, nguyền rủa mình là bán nước cầu vinh, mà vẫn làm được việc hữu ích, thúc đẩy được việc gây ý thức quốc gia trong dân tộc trong quần chúng độc giả, nhất là giới thanh niên (Văn học sử thời kháng Pháp 1858-1945 của Lê Văn Siêu). Và nhất là xây đắp nền móng cho quốc văn được vững chắc để tạo dựng một nền văn học quốc gia, một yếu tố căn bản không thể thiếu, đi lần đến một nền chính trị độc lập.

Là một tài năng xuất chúng cho nên mới ngoài 20 tuổi, ông đã nắm vững một cơ quan văn hoá hàng đầu. Những bậc tiền bối như Nguyễn Bá Học, 60 tuổi, Nguyễn Hữu Tiến, 43 tuổi, cùng những bậc đàn anh như Phạm Duy Tốn, 34 tuổi, Trần Trọng Kim và Tản Đà 30 tuổi, v.v… vui lòng cộng tác.

Nhờ quy tụ được nhóm văn nhân hàng đầu của thời bấy giờ (1917-1932) và biệt tài trước tác của chính mình mà tạp chí Nam Phong đã chiếm địa vị “nguyên thủ” trên diễn đàn ngôn luận và văn học. Và cùng những cơ quan khác như Hữu Thanh, An Nam tạp chí, v.v… phát động rầm rộ một phong trào biên khảo, sáng tác, dịch thuật, v.v… khiến cho văn đàn rộn rịp hẳn lên, hơn hẳn thời Đông Dương tạp chí. Trong một thời gian ngắn chỉ có năm năm, đã thấy bừng nở nhiều bộ môn văn học và nhiều cây viết xuất sắc trong nhiều lớp người: cựu học, tân học, nhà văn, nhà giáo, công chức và ngay cả trong giới quan trường tên tuổi như Hoàng Cao Khải, Thân Trọng Huề, v.v…

Mấy nghìn trang sách rất giá trị rải rác trên vài trăm số Tạp chí Nam Phong đã được tuyển chọn in thành bộ Nam Phong Tùng Thư (1928-1931). Riêng phần ông Chủ bút, năm 1943 đã xuất bản năm quyển Thượng Chi Văn Tập, tái bản năm 1962 ở Sài Gòn bởi bộ Quốc gia Giáo dục Cộng hoà Việt Nam. Ngoài ra còn nhiều tác phẩm Pháp văn viết về nhiều vấn đề khác nhau. Khoảng trên mươi quyển.

Phê bình văn nghiệp của Thượng Chi, Vũ Ngọc Phan, một cây bút khá nghiêm khắc viết: “Cái công ông Phạm Quỳnh “khai thác” lúc đầu cho nền quốc văn có ngày nay, thật là một công không nhỏ (…)

“Văn ông, ai cũng phải nhận là hùng, là dồi dào, thường thường lại có cái giọng thiết tha kêu gọi (…)

“Đến cái công của Phạm Quỳnh đối với quốc dân, thì ai cũng phải nhận là một công lớn.

“(…)Ông đã xây đắp cho nền móng quốc văn được vững vàng bằng những bài bình luận và khảo cứu rất công phu, mà từ Bắc chí Nam người thức giả đều phải lưu tâm đến (…)

“ (…) Có người lấy Nam Phong làm sách học mà cũng thâu thái được tạm đủ tư tưởng học thuật Đông Tây (…) Một người chỉ biết đọc quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng tạp chí Nam Phong để mở mang học thức của mình.”

Nam Phong tạp chí được rực rõ như thế cũng vì được người chủ trương là một nhà văn, học vấn đã uyên bác, lại có biệt tài, có lịch duyệt (…)Ông bàn luận một cách vững vàng và sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì, từ thơ văn đến triết lý, đạo giáo, chính trị, xã hội, không một vấn đề nào là ông không tham khảo tường tận trước khi đem bàn trên mặt giấy (…) Ai đã đọc toàn bộ Nam Phong cũng phải nhận là rất đầy đủ, có thể giúp cho người học giả một phần to tát trong việc soạn một bộ Bách Khoa Toàn Thư bằng Quốc văn”

(…)Để kết luận chương V về học giả Phạm Quỳnh, Phạm Thế Ngũ, tác giả Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, 1965 viết: “Về đường tư tưởng Phạm Quỳnh là tiêu biểu cho một giai đoạn bán cựu bán tân ở nước ta trước 1932. Với một căn bản tham bác Á, Âu, ông đã đưa ra giải pháp dung hoà và bảo tồn, thoả mãn được nhiều khuynh hướng trong xã hội bấy giờ. Chủ nghĩa quốc gia của ông về đường chính trị chưa đi đến kết quả nào, nhưng về văn hoá không phải là không nuôi được một tinh thần dân tộc, làm nơi trú ẩn cho nhiều tâm trí băn khoăn thời ấy, và có thể để lại hậu quả tốt về sau nữa”.

(…) “Về đường văn học, ông đã làm nhiều để xây dựng một nền văn học mới.

“ – Ông đã tranh đấu cho câu văn quốc ngữ. Nguyễn Văn Vĩnh đã tranh đấu cho Quốc ngữ chống chữ Hán. Nam Phong ra đời, Phạm Quỳnh viết lách, tạo cho câu văn Quốc ngữ (Việt văn) một thực chất, một sinh lực. Tạo dựng một nền văn chương Việt ngữ sống động và phong phú, thừa sức diễn đạt những ý tưởng thâm thuý cao siêu, không kém gì văn chương của những nước văn minh tiên tiến.

“- Ông đã khởi công xây dựng một nền văn học mới. Một nền học có tính cách tự lập quốc gia. Ông đã lấy nhiều vât liệu và phương pháp ở Tây phương, nhưng không quên cái gốc cổ điển Á Đông và Việt Nam. Để xây dựng nó ông đã dịch thuật, giới thiệu học thuật, tư tưởng Pháp và tìm kiếm những giá trị của Hán học, đồng thời tạo ra một ngôn ngữ mới để làm phương tiện diễn đạt.

– Ông đã giúp cho văn nghệ mới tiến bộ. Ông đã dẫn đồng đội hướng vào quá khứ, làm một công cuộc “quốc ngữ hoá” cái vốn liếng tiền nhân, giới thiệu những áng văn Hán và Nôm lịch triều, bình giải những danh tác cổ văn. Công việc biên khảo này vừa cung cấp tài liệu cho quốc học, vừa cung ứng cho văn nghệ mới cái tinh hoa cổ học Hán Nôm của nước nhà từ ngày lập quốc. Đồng thời ông cũng hướng sang Tây phương để mở cho văn nghệ những đường lối mới bằng dịch thuật, bình luận. Có nhà nghiên cứu văn học đã nói rằng: ông là đạo sư văn nghệ cho cả giai đoạn.

“Một đạo sư đã đạt những sáng suốt và thích nghi. (Viết theo Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, 1965).

*

*  *

Năm 1922, Phạm Thượng Chi tháp tùng Khải Định sang Pháp dự đấu xảo thuộc địa Marseille. Sau khi vua Khải Định nhận được Thư Thất điều của chí sĩ Phan Chu Trinh rồi về nước. Riêng nhà văn vừa tròn 30 tuổi Phạm Quỳnh, không bỏ lỡ cơ hội “ngàn năm một thuở”, thay vì về nước ông lên Paris diễn thuyết và bắt liên lạc với các nhân sĩ trong chính giới Pháp. Trong một bài diễn văn ông đã nói:

“ Nếu văn minh là cái vốn và là một truyền thống, thì chúng tôi tha thiết giữ nguyên cái vốn cần cù cố gắng mà tổ tiên đã để lại. Chúng tôi không muốn với bất cứ giá nào tẩy sạch quá khứ, cái quá khứ ngàn năm đã tạo ra chúng tôi ngày nay. Chúng tôi muốn giữ lấy cái bản tính quốc gia, cái cá tính lịch sử của chúng tôi.”

Và trước ban Luân lý Chính trị của Hàn Lâm Viện Pháp, ông còn nói: “Dân Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng được đâu. Chúng tôi là một quyển sách đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai, đã mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách cổ ấy có thể đóng lại theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ được. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được cái học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi làm chúng tôi mất giống đi, mất cái quốc tính của chúng tôi, làm thành một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy cái thuộc địa cổ của người Pháp kia.” (Quelques Conférences à Paris, 1923).

Chúng ta thử tưởng tượng, thời bấy giờ, 1922, chủ nghĩa thực dân đang ở vào thời kỳ cực thịnh. Pháp vừa thắng Đức, khí thế hùng mạnh đang lên, muốn xoá bỏ các quốc gia nhược tiểu trong đế quốc mình, biến chúng thành những mảnh đất không văn hiến, không quá khứ lịch sử, chỉ còn là những lãnh thổ của Pháp quốc hải ngoại, mà một thanh niên vừa tròn 30 tuổi, không xuất thân từ các đại học danh tiếng của Pháp quốc, chỉ với vốn liếng Pháp văn tự học, đơn thương độc mã đăng đàn diễn thuyết bằng Pháp ngữ trước Ban Luân lý Chính trị của Hàn Lâm Viện Pháp, để tranh đấu cho tổ quốc được giữ trọn tính cách một quốc gia có văn hiến, có lịch sử, có quốc hồn, quốc tuý. Những bài diễn văn ấy là những áng văn tuyệt tác trên cả hai phương diện văn chương và chính trị. Nó đã đi thẳng vào văn học sử. Người Pháp và người Việt Nam đều công nhận diễn giả là một người kỳ vỹ, một thiên tài hiếm có!

*

*  *

Như mọi người đều biết, Phạm Thượng Chi luôn luôn có niềm tin sâu xa rằng nếu không có nền văn học quốc gia thì không thể nào có được sự độc lập về tư duy và tinh thần. Và do đó không thể nào có được nền độc lập chính trị. Để đạt được cái mục đích ấy, để thâu hồi các quyền tự do chính trị cần thiết cho sự xây dựng nền văn hoá quốc gia, nghĩa là để cho chính quyền thuộc địa trở về chấp hành đứng đắn và thành thật Hiệp ước bảo hộ 1884, Phạm Thượng Chi nghĩ rằng ông phải đi vào con đường chính trị.

*

*  *

Đến đây tôi xin mở một dấu ngoặc. Phải chăng chủ trương ấy đã đưa ông đến tham chính để lợi dụng cơ chế hành pháp, mặc dù chưa có chủ quyền quốc gia thực sự, nhưng ít ra cũng là một phương tiện tối thiểu để thực hiện dần dần chủ thuyết Quân chủ lập hiến trên căn bản Hiệp ước bảo hộ 1884. Rồi về lâu về dài tuần tự tiến lên tự trị, độc lập. Thực hiện cuộc cách mạng chung, chậm chạp, nhưng khỏi phung phí quá nhiều xương máu và rách mất núi sông, bần cùng hoá dân tộc. (…)

Xin trở lại vấn đề tham chính. Nhân dịp tân quân Bảo Đại vừa du học ở Pháp về, đích thân nắm chính quyền. Pháp lợi dụng lập trường quân chủ lập hiến của ông chủ bút Nam Phong, ý hiệp để vua mới chỉ triệu ông vào Huế giữ chức Thượng Thư kiêm Đổng lý Ngự Tiền Văn Phòng (10/1932).

Ngày 9/3/1945, Phạm Quỳnh, Thượng Thư Bộ Lại, với quyền hành thủ tướng, nhân danh chính phủ của Hoàng đế Bảo Đại, ký bản tuyên bố độc lập của quốc gia Việt Nam. Rồi từ giã chính quyền về hưu trí. Bấy giờ, ông mới 53 tuổi.

Ngũ tuần là tuổi của trí năng, tinh thần chín chắn, sung mãn tột độ. Đối với một học giả thông thái, tai ba xuất chúng thì tuổi này là tuổi của sáng tác, biên soạn. Nhưng Phạm tiên sinh không trở lại với sự nghiệp ngôn luận báo chí đã bỏ dở từ ngày tham chính lại bước vào một lĩnh vực mới, thuần tuý văn chương, mà một nhà văn học tranh đấu tích cực như ông ít khi nghĩ đến. Tôi thiết nghĩ cục diện nước nhà lúc bấy giờ không phải là lúc thuận tiện để bàn luận những vấn đề về lâu về dài trong công trình nâng cao dân trí hay là khai trí tiến đức. Những ngày tháng sau đảo chánh Nhật 9/3/1945 là những ngày rộn rịp xuống đường hô khẩu hiệu, tranh đấu võ trang. Nhà học giả dù muốn dù không cũng phải rút về “tháp ngà văn thơ” để tu dưỡng tinh thần. Có lẽ vì thế mà ông đã lấy công việc phiên dịch Đường Thi, viết tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến Văn Cảm Tưởng I giết thì giờ một cách có ý nghĩa trong những ngày “lưu hạ bất đắc dĩ”. Khi thanh bình trở lại sẽ vung bút biên soạn, sáng tác, tái tục cái sự nghiệp của nhà ngôn luận, văn học, chính trị khai sanh từ năm 1917, lúc vừa mới 25 tuổi, sáng lập viên và chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong, một tạp chí vô tiền khoáng hậu.

Tập di cảo tuy mới là bản thảo dịch nghĩa, nhưng cũng đã cho ta thấy phong cách dịch thơ của Thượng Chi. Nó vẫn cùng một phong cách viết tản văn của học giả. Ông chủ trương: phần tư tưởng là phần cốt yếu, lời văn phải rõ ràng trong sáng  để diễn tả hình ảnh hay ý tình một cách trung thực, không muốn dùng những từ tảo mỹ lệ hay giọng tài hoa bay bướm có tính cách thuần tuý văn chương.

Phê bình văn dịch truyện của ông, Vũ Ngọc Phan đã viết: “Ông dịch nhiều đoạn văn vừa có duyên vừa sát nghĩa, đáng làm khuôn mẫu cho những nhà dịch truyện”. Ở một đoạn khác ông Phan lại viết: “…đọc những đoạn văn trước thuật của ông người ta phải nhận là đủ giọng: nhẹ nhàng vào chỗ nhẹ nhàng, có duyên vào chỗ cần phải có duyên, chua chát cần phải chua chát” (Nhà văn hiện đại, Q.I, trang 104 & 110).

Tập di cảo có năm mươi mốt bài, gồm nhiều bài ngũ ngôn, thất ngôn, tứ tuyệt, bát cú hay trường thiên. Thượng Chi chuyển sang thơ Việt đúng y số chữ và số câu. Đấy cũng là một điều khó. Vì câu thơ Trung Quốc có khi không cần phải có đủ chủ từ, túc từ như câu thơ Việt Nam. Họ thường sắp nhiều từ sát nhau (juxtaposer les mots) thành ra ý nghĩa quá hàm súc, khó thể dịch đúng số chữ mà đủ nghĩa. Do đó mà đôi khi phải dịch với nhiều câu hơn. Bài Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị có 120 câu, Tản Đà dịch ra 132 câu, Tô Giang Tử dịch ra 128 câu. Bài Thanh Bình Diện của Lý Bạch có 12 câu, Chi Điền dịch ra 14 câu và nhiều trường hợp khác nữa. Thường thường thì những bài thất ngôn khó dịch đúng số chữ hơn những bài ngũ ngôn.

Tho Do Phu_bai 1 va 2Chữ Phạm Quỳnh viết tay nguyên văn Hán tự của Đỗ Phủ và bản dịch tiếng Việt của Phạm Quỳnh

Tho Do Phu_bai 3 va 4 Phạm Quỳnh viết tay nguyên văn Hán tự của Đỗ Phủ và bản dịch tiếng Việt của Phạm Quỳnh

(…) Viết bài này, tôi cũng muốn tìm hiểu một phần nào tâm tư nhà văn học Phạm Quỳnh ra làm chính trị có băn khoăn giữa hai tư cách nhà Văn học với Chính trị gia không?

Ở phần đầu bài có đặt câu hỏi: Phải chăng Thượng Chi muốn mượn thơ Đỗ Phủ để gởi gấm tâm tình? Đoản văn sau trích ở tập di cảo Hoa Đường tuỳ bút-Kiến Văn, Cảm Tưởng I, bài Văn học với chính trị, sẽ cho chúng ta đáp số… (Hoa Đường là bút hiệu thứ hai của Thượng Chi, thường dùng trong những năm về sau). “…Bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần tuý không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc, không thể đem trưng bày nơi đầu đường góc chợ được.

“Vả lại, hai phạm vi văn học và chính trị tuy có thể đắp đổi cho nhau, nhưng thật là cách biệt nhau lắm. Có thể đắp đổi cho nhau là nhà chính trị mà có văn học thời được sắc sảo thêm ra, như trên đã nói; và nhà văn học mà làm chính trị thời cũng có lẽ được giàu thêm sự kinh nghiệm ra, tăng thêm tài liệu cho sự nghiệp văn chương của mình. Nhưng vấn đề là hai phạm vi cách biệt nhau, vì khuynh hướng về hai mục đích khác nhau.

“Âu Dương Tu là một văn hào đời Tống, lại giữ chức “tham tri chính sự” ở triều, sau bất tương hợp với Thủ tướng Vương An Thạch mà về hưu. Tống sử chép rằng hồi làm quan, các học giả trong nước trọng tiếng văn hào, thường xin ra mắt. Ông vui vẻ tiếp chuyện, nhưng không hề nói đến chuyện văn chương bao giờ, chỉ bàn về việc quan mà thôi. Ông nói: “Văn chương chỉ dùng để nhuận thân, chính sự mới có thể trạch vật”(1)

Nhuận thân”, đó là mục đích của văn học, “trạch vật” đó là mục đích của chính trị, hai đàng vốn khác nhau.

“Âu Dương Tu là cái ca nhà văn học kiêm chính trị. Trong thời đại ấy, chính trị với văn học không tách biệt nhau lắm như bây giờ, và tuy tự ông trong lời nói trên kia, cũng có ý trọng “trạch vật” hơn “nhuận thân”, nhưng xem ra ông làm chính trị cũng không lợi gì, thì hà tất đã vội coi thường cái thuật “nhuận thân” là cái sở trường của mình.”

Đúng! Hà tất vội vã coi thường cái thuật “nhuận thân”. Văn học là hoa lan phải mọc trong u cốc, thanh cao và tĩnh mịch. Cái lý tưởng của bốn cao nhân “Thương Sơn tứ hạo” đời Hán.

*

*  *

Nửa thế kỷ trôi qua, ngồi viết bài kỷ niệm nhà đại học giả của tiền bán thế kỷ 20, người viết khó ngăn nổi những cảm nghĩ oán hận, tiếc thương. (…) Nước Việt Nam mất đi ông chủ bút Nam Phong, thời gian nửa thế kỷ chưa lấp đầy khoảng trống trên diễn đàn ngôn luận và văn học.

“Tài ba thì mệnh bạc” như ông đã thương tiếc cho Thuý Kiều mà hồi thanh niên ông đã đưa Kiều lên đàn ngôn luận. Mấy tháng trước Cách Mạng Tháng Tám 1945, ông để lại trong tập di cảo bài viết còn dở dang Cô Kiều với tôi, gián tiếp ví thân phận mình vơí số phận nàng Kiều… Một “Kim Vân Kiều nhân” sống trong một giai đoạn nhiễu nhương của … “Kim Vân Kiều Quốc”…

Đáng tiếc thay!

Nhưng cũng an ủi phần nào là thể phách dầu đã mất, nhưng tinh anh vẫn còn sáng chói trên sự nghiệp văn học.

Đúng như lời cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã nói:

Xưa nay” những đấng tài ba (2)

Thác là thể phách còn là tinh anh.

Cái tinh anh bắc đẩu trong vòm trời Văn học Việt Nam của thế kỷ XX.

C.Đ.H.D.T

Xuân Nhâm Thân, 1992

(1)   Nhuận thân: trau dồi cho thân mình ngày thêm tiến bộ.

Trạch vật: chọn lựa các sự việc, sự vật…để hành động thành công (chính trị).

(2)   Nguyên văn: “Nàng rằng” những đấng tài ba.


Chữ

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: