Pham Ton’s Blog

Tháng Ba 27, 2016

Những đóng góp của Phạm Quỳnh và Tạp chí Nam Phong cần được nhìn nận lại – NXB Văn Học

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:39 chiều

Blog PhamTon năm thứ tám, tuần thứ 1 tháng 4 năm 2016.

 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA PHẠM QUỲNH

TẠP CHÍ NAM PHONG CẦN ĐƯỢC NHÌN NHẬN LẠI

Nhà xuất bản Văn học

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mười lăm năm sau đổi mới, chín năm sau Hội thảo (bất thành) về Phạm Quỳnh và Tạp chí Nam Phong do Viện Văn học dự định tổ chức, năm 2001, Nhà xuất bản Văn học đã cho xuất bản tập du ký của Phạm Quỳnh nhan đề Mười ngày ở Huế (Gồm cả du ký Một tháng ở Nam Kỳ), tập sách đầu tiên của Phạm Quỳnh xuất bản tại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, nhà lý luận phê bình Nguyễn Văn Lưu chịu trách nhiệm xuất bản, trực tiếp chịu trách nhiệm bản thảo là Nguyễn Cừ.

Cho đến nay, tại Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xuất bản và tái bản những tập sách sau về tạp chí Nam Phong và sách của Phạm Quỳnh: 1) Truyện ngắn Nam Phong (NXB Văn học, 1990), 2) Mười ngày ở Huế (NXB Văn học, 2001), 3) Luận giải văn học và triết học (NXB Thông Tin, 2003), 4) Pháp du hành trình nhật ký (NXB Hội nhà văn, 2004), 5) Thượng Chi văn tập ( NXB Văn học, 2006), 6) Du ký Việt Nam (NXB Trẻ, 2007; trong tổng số 1915 trang của 3 tập sách, riêng Phạm Quỳnh có 515 trang, tức 26,9%), 7) Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (Essais 1922-1932) (NXB Tri thức – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2007) và Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên (NXB Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, in lần thứ 2, năm 2002).

Chúng tôi đăng tiếp sau đây toàn văn bài Lời nhà xuất bản với đầu đề của chúng tôi như trên và trích đăng du ký Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh với đầu đề của chúng tôi là Cảnh và người xứ Huế.

—o0o—

Khi nói đến những thành tựu rực rỡ của văn học hiện đại  Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ 1930-1945 và tiếp tục về sau này của  nền văn học cách mạng, không thể không nói đến một tiền đề hết  sức quan trọng, một công cụ cơ bản nhất để tạo nên tác phẩm văn  học, đó là ngôn ngữ, là tiếng Việt La tinh hóa, tức chữ quốc ngữ như ta thường gọi lâu nay. Việc dùng mẫu tự La tinh để ghi âm  tiếng Việt (La tinh hóa tiếng Việt) đã được các nhà truyền giáo  Phương Tây thực hiện từ các thế kỷ trước. Đặc biệt phải kể đến  công lao của Alếchxăng đờ Rốt đã tiếp tục công việc của các nhà truyền đạo trước đó, biên soạn được cuốn từ điển đầu tiên  Dictionnatium anamitium lusitanun et latinum.[1]

Nhưng chữ quốc ngữ từ lĩnh vực giao tiếp truyền đạo, lĩnh  vực hành chính của chính quyền thuộc địa đến tiếng Việt như là ngôn ngữ chính thức của đời sống xã hội, của báo chí truyền thông,  của văn học nghệ thuật là cả một thời gian dài để làm quen, rèn  rũa, trau chuốt cho đến thuần thục. Thời gian chuẩn bị đó khá dài,  khoảng trên ba thế kỷ (từ thế kỷ 16 cho đến tận gần giữa thế kỷ 20 (thời kỳ 1930 – 1945)). Và, những báo, tạp chí, những công báo…  ở thời kỳ này, dù theo các xu hướng chính trị xã hội khác nhau,  đều có tác dụng khách quan thúc đẩy sự phát triển hoàn thiện của  Tiếng Việt La tinh hóa, của chữ quốc ngữ. Trong số các báo, tạp chí như Đông Pháp, Trung Bắc tân văn, An Nam tạp chí, Nam Phong tạp chí… thì tạp chí Nam Phong do Phạm Quỳnh làm chủ bút (từ 1917 đến 1934) có những đóng  góp cần được nhìn nhận lại. Trong số các cây bút chính của Nam  Phong như Nguyễn Mạnh Bổng, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, hai  cha con (Thật ra, không phải là hai cha con, chỉ là người trùng họ với nhau – PT chú) Nguyễn Bá Học, Nguyễn Bá Trác, Phạm Duy Tốn… thì cây  bút chủ báo Phạm Quỳnh là nổi bật nhất. Thượng Chi đã viết thường xuyên về nhiều thể loại trên báo này: dịch thuật, thông tin,  bình luận, khảo cứu… Các bút ký Trẩy hội Chùa Hương, Mười  ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ có thể gọi là bút ký du lịch, khi  Phạm Quỳnh mới ra làm báo Nam Phong, đầy hăm hở của một  người ham hiểu biết, yêu mến thiên nhiên, tìm hiểu các di sản văn  hóa, các phong tục tập quán. Trong bút ký Trẩy hội Chùa Hương, tác giả rất bài bác tệ mê tín buôn thần bán thánh nhưng lại tỏ ra thích thú khi thưởng ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên và tìm thấy ở Đạo Phật chân chính một nguồn cứu rỗi tâm hồn. Trong bút ký Mười ngày ở Huế, với một thời gian ngắn ngủi, tác giả đã nêu được nhiều hình ảnh phản ánh tình hình đời sống, dân tình thời ấy cùng vẻ đẹp kỳ ảo của cảnh núi non sông nước, các công trình kiến  trúc đặc sắc của cố đô Huế, gặp gỡ những gia đình quí tộc có danh  tiếng như nữ sĩ (thật ra là nữ sử – PT chú) Đạm Phương (mẹ đẻ nhà văn Hải Triều tức Nguyễn Khoa Văn…). Đặc biệt trong thiên bút ký này Phạm Quỳnh được tận mắt chứng kiến lễ tế Nam Giao. Những ghi chép  này rất có giá trị trong việc tìm hiểu phong tục cung đình thời nhà Nguyễn. Trong Một tháng ở Nam Kỳ, tác giả đã nhận biết sớm và rất  đúng tính cách đời sống Nam Bộ, ghi lại được nhiều điều về đời  sống Nam Kỳ lục tỉnh lúc đó, về tình hình của các Hội khuyến học và báo chí Nam Kỳ đương thời. Tóm lại, về mặt nội dung, các bút  ký du lịch của Phạm Quỳnh đã ghi lại được nhiều mặt về thiên  nhiên đất nước, phong tục tập quán và đời sống đương thời, cách viết hấp dẫn, suy tư phong phú, gây được tình cảm tốt cho người  đọc về nghĩa vụ của người công dân đối với quốc gia, với truyền  thống văn hóa của tiền nhân.

Cần phải khẳng định những đóng góp của tác giả Phạm Quỳnh về ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại (chữ quốc ngữ). Nếu chúng  ta nhớ lại khoảng những năm hai mươi, văn xuôi quốc ngữ chưa phải đã đạt đến trình độ thuần thục. Thời ấy, một người được dư  luận chú ý là Hoàng Tích Chu đưa ra lối văn mới chống lại thứ văn biền ngẫu truyền thống, tác giả này thường ký là Văn Tôi, và giới  văn học thường gọi là thứ văn cộc, đã được coi như một sự đổi mới  mạnh dạn. Theo Vũ Ngọc Phan (Những năm tháng ấy, hồi ký, Nxb  Văn học, 1987) thì những bút ký du lịch của Phạm Quỳnh trong  những năm 1918-1919 đã tỏ ra là một giọng văn trôi chảy, uyển chuyển, diễn đạt được nhiều nội dung phong phú.

Phạm Quỳnh hoạt động khá rộng trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa, nghệ thuật. Ông chủ trương dựa vào người Pháp để dần dần đòi lại quyền tự trị, (chủ trương thuyết lập hiến, dựa vào hiệp ước Ácmăng 1883* để đòi lại quyền tự trị) khác với Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương để cho người Pháp cai trị trực tiếp (thuyết trực  trị). Phạm Quỳnh tỏ ra thần phục văn hóa Pháp, nước Pháp cũng  như chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam, những quan hệ chính trị giữa Phạm Quỳnh với chính quyền thực dân Pháp là đề tài thuộc lĩnh vực chính trị – lịch sử. Ông đã, đang và sẽ còn được  phân tích, đánh giá, phê phán trên lĩnh vực này, nhưng về mặt  văn hóa, văn học, về tiến trình phát triển của văn xuôi quốc ngữ thì công lao đóng góp của ông cần được nhìn nhận lại. Vì vậy việc cho in lại các bút ký du lịch của Phạm Quỳnh chỉ là cụ thể hóa sự đánh giá lại tác giả này trên lĩnh vực  văn học – báo chí, với tư cách là một tác giả văn học. Để giúp cho việc nghiên cứu tiến trình văn xuôi quốc ngữ cũng như chữ quốc  ngữ, và ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại, chúng tôi giữ nguyên trạng hình thức văn phong của tác giả, chỉ lược bỏ những chi tiết xét không cần gợi lại.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và rất mong nhận được sự phê bình góp ý của các nhà nghiên cứu và đông đảo bạn đọc.

N.X.B.V.H.

[1] Tự điển Annam – Bồ Đào Nha và La Tinh. Rôme. 1651.

(*) Thật ra là hiệp ước Pát tơ nốt hay hiệp ước giáp thân, ký ngày 6/6/1884 – PT chú


Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: