Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 15, 2016

Phụ mẫu dân hay là công bộc dân?

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:22 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 7 năm 2016.

 PHỤ MẪU DÂN HAY LÀ CÔNG BỘC DÂN?

            Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là nguyên văn một bài Phạm Quỳnh viết đăng trên tạp chí Nam Phong số 102 (tháng 1 và 2 năm 1926) từ trang 1 đến trang 4.

Nhận thấy bài văn còn có tính thời sự trong tình hình hiện nay, chúng tôi mạnh dạn đưa lên Blog PhamTon  để bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo, dù đã quá xưa cũ, ngót 90 năm rồi còn gì…

Nhân tiện, cũng để biết hai chữ công bộc  đã được dùng khá lâu ở nước ta để gọi những nhân viên, quan chức chính quyền nhà nước tận lòng phục vụ nhân dân.

—o0o—

Theo cái lý tưởng cũ của Á Đông thời quan là “dân chi phụ mẫu”, nghĩa là quan đối với dân có cái oai quyền, có cái trách nhiệm, có cái bụng thương yêu chăm chút, dạy bảo ân cần, như cha mẹ đối với con cái vậy. Lý tưởng ấy là một lý tưởng gốc của xã hội cổ nước Tàu và nước ta theo về cái “chế độ gia trưởng”. Đứng đầu một nhà là người cha; đứng đầu một nước là ông vua, tức là cha chung cả nước; vua ủy quyền cho bách quan để trông nom việc nước, cai trị muôn dân, bách quan thay quyền thế mệnh vua, ở trong phạm vi quyền chức mình, cũng được cái địa vị tôn trọng, cũng có cái trách nhiệm lớn lao như vua; địa vị tôn trọng là được muôn dân kính trọng như cha như mẹ, trách nhiệm lớn lao là phải mưu sự hạnh phúc cho dân, như cha mẹ đối với con vậy. Nhà là cái đoàn thể thiên nhiên của trời đất dựng ra; nước chẳng qua là một cái nhà lớn, phạm vi có to tát hơn mà thể cách cũng vẫn là một. Thế gọi là cái “chế độ gia trưởng”, nghĩa là lấy gia đình làm khuôn mẫu cho cả quốc gia, cả xã hội, và định cái chủ quyền trong nước cũng như cái chủ quyền một nhà.

Về đời phong tục còn thuần hậu, việc nước còn giản đơn, dân trí chửa mở mang, nhân tâm còn chất phác , thời cái lý tưởng ấy rất là hay lắm. Nước ta cũng như các nước khác ở cõi Á Đông này, lập quốc là do cái lý tưởng ấy, mà xã hội ta giữ được bền chặt cho đến giờ cũng là nhờ ở cái chế độ ấy. Cho nên các tiên dân ta đều lấy đó làm điều cốt yếu trong cái công phu giáo hóa cho đời. Đối với kẻ cầm quyền thời lấy những cái gương các minh quân lương tể đời xưa mà răn dạy, khiến cho kẻ làm vua thời mong cho được cái đức cao ông thánh nhân như vua Nghiêu vua Thuấn, kẻ làm quan cũng cầu cho được cái tư cách bậc hiền nhân như Y Doãn Chu công. Còn đối với dân thời đã được những bậc thánh hiền như thế cầm cương nẩy mực, chỉ lối đưa đường, chỉ dạy cho cái nghĩa vụ biết phục tòng người trên, như ngọn cỏ theo gió, không phải khó nhọc gì, vì phàm người trên chủ trương thi thố là chỉ có một cái mục đích lợi ích cho người dưới mà thôi.

Ở cái thời đại Đường Ngu, cái xã hội Hi Hoàng như thế, thời cái chế độ gia trưởng ấy thật là hoàn toàn thích hợp.

Nhưng mà đời mỗi ngày một đổi, người mỗi lúc một khác, cuộc sinh hoạt càng phiền phức, lòng đạo đức càng suy vi, cái chế độ ấy dần dần không thích hợp nữa. Người trên đã không phải là thánh hiền cả, mà người dưới vẫn cứ phải phục tòng hoài, người trên tất lợi dụng người dưới để thỏa cái lòng tư dục của mình, bởi đó mà cái chế độ gia trưởng ở Đông phương đã biến hẳn ra cái chính thể chuyên chế. Đối với chính thể này thời vua quan là thần thánh, mà kẻ bình dân là trâu ngựa, đất bùn. Một bên gồm hết cả các quyền lợi, một bên không có một cái quyền lợi nào, đến cái quyền làm người cũng không được trọn vẹn, vì sinh mệnh tài sản của dân là ở trong tay kẻ cầm quyền cả. Chính thể ấy thật là trái với cái lý tưởng như trên kia; sở dĩ còn duy trì được là vì hai cớ: một là học thuật luân lý cũ chưa đến nỗi tuyệt hẳn, cho nên vua quan dẫu có kẻ xằng, nhưng cũng có người hay, đời đời kế tiếp được cái tinh thân lập quốc của tiên dân; hai là dân trí không có lối mở mang, chửa thoát li khỏi cái chế độ gia trưởng, đã trụy lạc vào cái chính thể chuyên chế, đời đời triền miên trong vòng khuôn hắc ám, trừ có cái phong trào nào ở ngoài tràn ngập đến mà lôi cuốn đi, không thời vĩnh kiếp mơ màng ở trong đám tối mà không mong được trông thấy ánh sáng mặt trời.

Ngày nay cái phong trào ấy ở Tây phương đã truyền tới đây, càng ngày càng mạnh, lay chuyển cả nền móng cái xã hội cổ nước Nam này. Nhất diện thời dân trí đã rạng mở, người dân đã biết coi mình là giống người, có nghĩa vụ mà cũng có quyền lợi, chứ không phải giống trâu ngựa ở dưới quyền vua quan nữa. Nhất diện thời cái học thuật cổ, cái lý thuyết cũ làm phương châm cho kẻ mục dân (vua, quan, “kẻ chăn dân” – PT chú), ngày nay đã tuyệt hẳn, kẻ làm quan bây giờ hầu coi luân lý đạo đức xưa như mớ giấy lộn, đống tro tàn, không ai muốn ngó tới nữa.

Thời thế đã thay đổi, lòng người đã khác xưa như thế, mà cái chế độ quan trường vẫn cứ giữ như cũ thì thể sao được? Quan vẫn muốn tự coi mình, dân cũng hãy còn coi quan là bậc “phụ mẫu dân” thì thật là trái hẳn với cái xu hướng đời nay. Không những trái với cái xu hướng đời nay mà lại là một sự giả dối không thực nữa. Dối mình, dối người, dối kẻ ngu dân mà lợi dụng cái oai thừa thủa trước, cái quyền hão bây giờ, để làm một cái kế doanh lợi riêng cho mình, ấy cái tâm lý tầm thường ấy đã làm cho một phần trong quan trường nước ta đắc tội với quốc dân nhiều lắm.

Cái tình trạng quan trường bây giờ thế nào, phàm người trí thức trong nước ai cũng đã rõ cả, không cần phải tả ra đây làm gì. Chắc người hay cũng có, nhưng kể dở không phải là không nhiều, và những thói tham ô có lẽ lại thịnh hành hơn cả từ xưa đến giờ. Có kẻ độc miệng đã nói một câu: “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”, lời tuy quá khắc, nhưng tưởng cũng có khi không sai vậy. Chính cụ Thân Trọng Huề năm xưa đã thuật lại câu ấy trong mấy bài “Chấn chỉnh quan trường” của cụ đăng trong báo này. Cụ là một bậc tai mắt trong quan trường,  mà trông thấy cái tệ của quan trường, cũng phải nóng lòng sốt ruột, lên tiếng hô hào, dùng những lời kích thiết để cảnh tỉnh bà con. Nhưng mà xem ra cũng là vô hiệu cả, cụ đã phải phàn nàn rằng cụ nói không khác gì như “người diễn thuyết ở giữa sa mạc” vậy. Là bởi quan trường ở nước ta ngày nay đã đến bậc không thể lấy sự đạo đức, sự nhân nghĩa mà chấn chỉnh được. Phải nhờ pháp luật của nhà nước, lời công luận của quốc dân, họa may mới chữa sửa nổi.

Về phần Chính phủ thì nay được quan Toàn quyền mới là tay lĩnh tụ một dân đảng lớn bên Đại Pháp, ba mươi năm nay ở Nghị viện vẫn giữ một cái chủ nghĩa bênh vực cho kẻ bình dân, kẻ lao động những phường tham quan ô lại, chắc không dung nào (là Alexandre Varenne, đảng viên Đảng Xã Hội Pháp, nghị sĩ, luật sư, nhà báo – PT chú). Mỗi lần có những thủ đoạn bác tước (bóc lột tàn tệ – PT chú), hay là những sự hành vi tệ lạm của bọn đó mà tố cáo tới tai ngài, chắc ngài sẽ hết sức trừng trị. Vậy ta có thể vững dạ trông mong ở cái bụng công minh của quan thủ hiến Chính phủ Bảo hộ, không sợ có kẻ tìm phương ủng tắc (che đậy sự thật – PT chú) vậy.

Nhưng cốt nhất là về phương diện quốc dân ta. Ông văn sĩ Marquet trong bài diễn thuyết về “Tiền đồ nước Nam” đã dịch trong bản chí một kỳ trước, có nói mấy câu như sau này, thật như vẽ được cái tâm lý của người dân ta đối với quan trường.

“… Quan trường nước Nam không ra gì, là dân An Nam cũng không ra gì: dân nào quan ấy, thật là đáng lắm… Tôi có biết nhiều ông quan làm việc đứng đắn và cũng muốn hết sức mưu sự lợi ích cho dân, chỉ vì dân gian lắm sự lôi thôi, nay tố tụng, mai kiện cáo, kiếm chuyện mà làm hại nhau, rồi cứ kìn kìn đem lễ đến cửa quan: thế là dân cũng xấu, chứ không phải một (như chỉ có – PT chú) quan xấu. – Nay muốn sửa đổi phải sửa đổi cả dân, vì dân không biết gì. Nếu cứ đổ tội cả cho mấy người đầu sở, thì chẳng hóa ra tiện quá dư? – vả lại các ông có muốn tôi nói thực một câu này không: mỗi người An Nam là một ông quang ngầm đó; ai cũng có cái hi vọng làm quan hết cả!”

Ấy cái thông tật của dân mình là đó. Dân xấu như thế thì trách chi quan chẳng ra gì. Nhưng mà quan trường đã không biết tự sửa, mà quốc dân vẫn cứ giữ mãi những cái thói mơ hồ như thế thì vận nước đến thế nào? Ngày nay những tư tưởng bình đẳng, tự do, cộng hòa, dân chủ, đã truyền bá sang nước ta. Những người có học thức, có tư tưởng, phải nhận lấy cái chức trách “tiên giác” (thức tỉnh trước – PT chú) mà đem những tư tưởng ấy giảng giải trong dân gian, khiến cho bỏ hết những cái thiên kiến hủ lậu từ trước đi, mà lập nhiễm lấy những điều hay lẽ phải thích hợp với thời thế bây giờ.

Một cái thiên kiến rất trái ngược với đời nay, và hiện còn phổ thông trong dân gian lắm, là cái thiên kiến coi quan là “dân chi phụ mẫu”, sợ quan như sợ cha mẹ, sợ thánh thần. Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế nên quan mới có kẻ tác ác tác hại được đến thế. Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế nên xã hội nước ta vốn là một xã hội rất bình đẳng, không có hạng quí tộc, không có hạng bình dân, nghiễm nhiên phân ra hai đẳng cấp: quan là kẻ có quyền, dân là kẻ không quyền, quan là kẻ ăn sung mặc sướng, xuống ngựa lên xe, dân là kẻ chân lấm tay bùn, dầu sương dãi nắng, quan là bọn “tư bản”, dân là bọn “lao động”! Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế, nên kẻ nào chưa được quan thì cầy cục cho kỳ được, kẻ nào đã được quan thì hết sức mà giữ lấy, cử quốc (cả nước – PT chú) đều xô đẩy nhau về một đường ấy, ngoại giả không còn có học vấn, không còn có tư tưởng, không còn có sự nghiệp, không còn có công danh gì nữa, bao nhiêu cái khôn cái khéo chỉ dùng để “ăn quẩn” lẫn nhau, diễn ra trong xã hội một cái bi kịch có thể gọi là cái bi kịch “gà què ăn quẩn cối xay!”

Ấy cái thiên kiến ấy là một thiên kiến phải mau mau mà trừ khử đi cho hết.

Quan ngày nay không phải là “dân chi phụ mẫu” nữa, chính là “dân chi công bộc” đó.

Công bộc! Công bộc! Công bộc là đầy tớ chung của cả nước. Xin ai chớ cho tên đó là đê tiện, chính là cái huy hiệu đẹp nhất ở đời này.

Quan Toàn Quyền Varenne trong bài diễn thuyết ở Hội đồng Chính phủ vừa rồi, đoạn viếng đức Khải Định có câu nói rằng: “Tôi thành tâm cảm động mà kính viếng vong linh đức Hoàng đế thủa sinh thời đã biết làm một người công bộc trung thành với nước nhà và một người bạn thân hết lòng với Bảo hộ.”

Phái hủ lậu, phái hương nguyện, nghe thấy gọi “Thiên tử” là “Công bộc” như thế, chắc rùng mình, sửng sốt, chép miệng, thở dài mà than rằng: “Đời này thật là đời luân thường đảo ngược thật!”

Không! Luân thường không đảo ngược gì cả, chỉ có tư tưởng người ta rộng ra hơn trước mà thôi. Tư tưởng người ta rộng ra hơn trước nên không mê tín những cái huy hiệu hão huyền nữa, biết rằng vua quan cũng là người như mọi người, cũng là con trong một nước cả, nếu có biết cúc cung tận tụy với nước, biết đem thân hi sinh cho nước, biết hết lòng thờ dân thờ nước, như người đầy tớ có nghĩa thờ ông chủ nhà có nhân, thời mới đáng tôn đáng trọng, chứ không phải chỉ đội một cái danh hiệu cũ, thừa sự mê hoặc của công chúng mà mong được ăn trên ngồi chốc người ta đâu.

Nhà văn nước Pháp đã nói rằng: Trong tiếng Pháp, không tiếng gì đẹp bằng tiếng Servir, nghĩa là “phụng sự”. Phụng sự là đem hết tài lực, hết tâm tư, mà thờ một cái chủ nghĩa, một cái lý tưởng cao, hoặc là thờ dân, hoặc là thờ nước, hoặc là thờ đạo, hoặc là thờ Trời, càng tận trung tận thành với cái tôn chỉ mình bao nhiêu, càng có công với đời bấy nhiêu. Duy đáng khinh đáng bỉ là những kẻ chỉ biết “thờ” cái lợi riêng của mình, phụng sự cái sự “Hà bao (hầu bao, túi đựng tiền – PT chú) chủ nghĩa” mà thôi.

Cho nên ở các nước văn minh người ra ngợi khen những kẻ có công với nước không tôn là “cha mẹ dân” bao giờ mà gọi là “công bộc nước” (serviteurs du pays). Ông quốc trưởng, ông quân chủ, chẳng qua là kẻ “đệ nhất công bộc” trong một nước mà thôi. Cái tiếng “công bộc” đó vẻ vang tốt đẹp biết dường nào!

Muốn làm một kẻ “Công bộc” cho xứng đáng, phải có sự nghiệp gì cho ích quốc lợi dân, không phải là dễ vậy. Chứ muốn bề ngoài giữ lấy cái hư danh “cha mẹ” dân mà bề trong làm “đầy tớ” riêng cho một ông “quan thầy” nào để mong che chở cho những sự hành vi bất chánh đáng của mình, thì thật là dễ lắm, mà cũng hèn lắm. Cho nên, ai ôi! làm “công bộc” mới khó,  chứ làm “tư bộc” vẫn dễ, làm “công bộc” mới danh giá, chứ làm “tư bộc” thật đê hèn!

Cái huy hiệu “công bộc” dã tốt đẹp như thế, cái địa vị công bộc đã vẻ vang như thế, các ngài trong quan trường ta không phải ngu gì mà không biết đem đổi cái tên “phụ mẫu” cũ rích kia lấy cái tên “công bộc” mới mẻ này. Các ngài làm như thế là tỏ ra người thức thời, một là cứu vớt được cái đoàn thể quan trường đương đắm đuối, hai là thuận được cái phong trào tự do bình đẳng đời nay và bớt được lòng oán giận của công chúng. Hồi Đại Cách mệnh nước Pháp, đảng quý tộc thấy lòng công phẫn của dân đã nổi lên, biết không sao địch nổi, bèn đồng lòng tự nguyện xin nhường lại cả các đặc quyền cho công dân; nhờ cái thái độ ôn hòa đó mà sau dân đảng với quý phái không đến nỗi xung đột nhau cho lắm. Gương mặt lịch sử đã rõ đấy, kẻ tri thức nên biết theo.

Còn về phần quốc dân ta thời nên nhận chân rằng nay đã đến cái thời kỳ “thay bậc đổi ngôi” đây, và từ giờ trở đi đối với quan trường không nên nệ theo cái tỉ lệ “phụ mẫu” nữa mà nên quyết theo cái tỉ lệ “công bộc”.

P.Q.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: