Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 1, 2016

Viết tiếp về học giả Phạm Quỳnh: Những nỗi niềm chưa thỏa

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 11 năm 2016.

Tạp chí Đại Đoàn Kết-Tinh Hoa Việt số 33 từ 10.8 đến 25.8.2016

tua-de-noi-niem-chua-thoa

Đề cập quan điểm của một số người Tây học đương thời đòi thay tiếng Việt “nghèo nàn” và “thô thiển” về vốn từ bằng tiếng Pháp “cao thượng, “văn minh” để được “tiện lợi” cho con đường tiến thân, ông gọi đó là “tư tưởng kỳ khôi”, “râu ông nọ cắm cầm bà kia”, ông phản biện: “Các ông nói không nên lấy tình mà xét, phải lấy lợi mà xét mới được, lợi bao giờ vẫn mạnh hơn tình. Chúng tôi vẫn biết như vậy,  nhưng chúng tôi cũng biết rằng người ta có tình mới là người và phàm dân nào chỉ biết trọng lợi mà thôi là dân ấy sắp đến ngày suy đồi”, bởi lẽ “quốc âm (tiếng nói – VTK) tức là một biểu hiện tự nhiên của quốc hồn”. Rồi ông cảnh tỉnh: “Một giống người đến quốc âm cũng không giữ được là một giống can tâm tự diệt vậy” (Chữ Pháp có dùng làm quốc văn Việt Nam được không?Nam Phong, 1918). Phạm Quỳnh ước vọng: “có ngày người mình cũng “làm văn” được như người, nghĩa là làm văn bằng tiếng mình, không phải mượn tiếng người (tức hoàn toàn bằng tiếng Tầu hay tiếng Tây! – VTK)” (Nam Phong, số 67, tháng 1/1923). Làm thế nào để khắc phục hiện trạng nghèo nàn từ vựng và cách diễn đạt của tiếng Việt thời buổi ấy mới đang chập chững bước lên con đường hiện đại hóa? Trong bài báo viết bằng tiếng Pháp năm 1931, kí giả Phạm Quỳnh kể với độc giả Pháp ông  đã làm việc đó như thế nào: “Việc đầu tiên phải làm là hợp nhất hai ngôn ngữ của nhà Nho (“đồ theo văn phong Hán”) và của dân chúng, thông tục hóa ngôn ngữ nhà Nho bằng cách nhúng nó vào các nguồn mạch sâu xa của khẩu ngữ; nâng cao ngôn ngữ dân chúng bằng cách thêm vào nó một số ngữ điệu văn chương và bồi đắp cho nó tất cả vốn từ Hán – Nôm đã được công nhận và sử dụng. Nhưng…như vậy vẫn chưa đủ để nó làm được nhiệm vụ của một ngôn ngữ văn hóa. Nó vẫn còn thiếu vốn từ kỹ thuật và triết học để dịch và diễn đạt các tư tưởng và quan niệm hiện đại. Làm thế nào để lấp được chỗ trống đó? Có thể tiến hành vay mượn cả từ tiếng Hán lẫn tiếng Pháp…” 8. Vay mượn như thế nào – học giả Phạm Quỳnh trình bày khá rõ trong bài “Chữ nho với văn Quốc ngữ” viết năm 1918, có trong Thượng Chi văn tập và trên mạng, mời bạn đọc tự tham khảo.

Hơn 20.000 trang của 210 số Nam Phong tạp chí có thể dùng làm tư liệu sống cho những ai muốn nghiên cứu quá trình hình thành ngôn ngữ văn hóa Việt Nam hiện đại: ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cổ dân gian, truyện nôm được biên tập lại, vẫn giữ nguyên “cách nói độc đáo,… khéo léo và lí thú”, nhưng “bớt đi “sự thô thiển”; mặt khác, hàng mấy trăm tác phẩm của hơn trăm tác giả “Âu – Mỹ, Chi-na” và Việt viết bằng tiếng Pháp và Hán tự như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Hữu Trác, Phạm Đình Hổ v.v… được dịch giới thiệu trên Nam Phong đã bổ sung một lượng lớn từ ngữ, đặc biệt thuộc các lĩnh vực triết học, khoa học tự nhiên, được giải thích kỹ lưỡng ý nghĩa trong các bảng từ vựng kèm theo mỗi số. Khi đưa tác gia Phạm Quỳnh vào bộ “Việt Nam văn học sử yếu” của mình, Giáo sư Dương Quảng Hàm ghi nhận: “Ông Quỳnh có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới”.

Nhưng khác với Nguyễn Văn Vĩnh, trong sự nghiệp truyền bá chữ quốc ngữ học giả Phạm Quỳnh không chỉ sử dụng hoạt động báo chí mà ông đã tiếp tục một chủ trương quan trọng hơn, sâu sắc hơn của Đông Kinh nghĩa thục, đó là – thông qua giáo dục, đặc chữ quốc ngữ làm căn bản cho nền quốc học nhằm “gây lấy cái hồn độc lập cho quốc dân”. Cũng trong bài diễn thuyết đã đề cập ở trên, kí giả học giả họ Phạm mới 30 tuổi đã tỏ ra có một tầm tư duy chiến lược khi ông phản đối cái nền giáo dục Pháp – Việt của Albert Sarraut dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ trong nhà trường và “chỉ dành cho tiếng Việt một vị trí hết sức nhỏ bé chẳng cso chút ý nghĩa gì ở đầu bậc tiểu học”. Ông yêu cầu chính quyền bảo hộ “đưa cho người Nam một nền giáo dục tiểu học bằng tiếng mẹ đẻ của họ để tạo cho họ một nền quốc học thực sự <…> Chúng tôi đòi hỏi nền giáo dục Pháp hãy đào luyện không phải những người Nam què quặt, mà là những người Nam thực sự, những người Nam toàn diện, vừa biết hấp thụ khoa học và văn minh Tây phương, vừa gắn bó với ngôn ngữ và truyền thống lâu đời của chủng tộc mình” 9

Để thực hiện đường lối dùng giáo dục “gây lấy cái hồn độc lập”, học giả họ Phạm tất yếu mở rộng phạm vi hoạt động của mình sang lĩnh vực giáo dục và xã hội. Năm 1919 ông tham gia sáng lập Hội Khai trí tiến đức (tức mở mang trí tuệ, tu dưỡng đạo đức), tổ chức những buổi diễn thuyết và thảo luận về học thuật và đạo lí Đông Tây. Năm 1922, với tư cách là đại diện cho Hội, Phạm Quỳnh được cử sang Pháp dự hội chợ triển lãm Marseille, được mời đến diễn thuyết về các vấn đề xã hội An Nam và chính sách cai trị thuộc địa của nước Pháp, trong đó có buổi đăng đàn tại Viện Hàn lâm, tiếng tăm dậy báo giới Paris. Về nước, ông được thỉnh giảng về các chuyên đề triết học, ngôn ngữ và văn chương tại các khoa Bác Ngữ học, Văn hóa, Ngữ Ngôn Hoa – Việt của Trường Cao đẳng Hà Nội

Năm 1924 diễn ra một sự kiện gây nên trên văn đàn một cuộc tranh cãi trong nhiều năm. Tại lễ kỷ niệm ngày Giỗ thi hào Nguyễn Du trong trục sở Hội Khai trí tiến đức ở phố Hàng Trống, trước một cử tọa đông đảo, có nhiều quan ta và quan Tây tham dự, ký giả Phạm Quỳnh đọc một bài diễn văn vừa thống thiết vừa hùng hồn ca ngợi Truyện Kiều, kết thúc bằng một câu nay đã trở nên bất hủ: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn…”. Ví thử ký giả họ Phạm không là công chức được Chánh mật thám Đông Dương “đỡ đầu”, được phủ Toàn Quyền Đông Dương trợ cấp làm báo, thì câu nói đó chắc gì đã làm nên vụ sóng gió trên văn đàn. Nếu đặt nó trong hệ quan điểm của học giả Phạm Quỳnh về quốc ngữ quốc văn quốc học quốc hồn và đặc biệt, không cố ý tách khỏi văn cảnh một lời thề trước hương án Tiên Điền quốc sĩ, thì không thể hiểu nó theo cái ý biện hộ cho nền Pháp thuộc đương thời. Thử cùng ngẫm mà xem:

“… nhân ngày Giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, chiêu hồn Quốc sĩ”

Thác là thể phách, còn là tinh anh

Áng tinh trung thấp thoáng dưới bóng đèn, chập chừng trên ngọn khói, xin chứng nhận cho lời thề của đồng nhân đây. Thề rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin rầu lòng giốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh tao, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây! (VTK nhấn)

Rõ ràng câu văn dậy ba đào đương thời và vẫn còn lưu dư ba đến ngày nay, chỉ thổ lộ ý tác giả nguyện sẽ quyết tâm gìn giữ tiếng mẹ đẻ, chữ Quốc ngữ, văn chương Quốc ngữ – cái nền tảng của quốc hồn; còn cái “quốc ngữ là hồn trong nước” ấy thì còn có cơ đòi lại độc lập tự chủ, đương nhiên, theo mộng tưởng về đường lối đấu tranh ôn hòa, bất bạo động của ông, cũng là một trào lưu chung của nhân loại. Một thời người ta lên án thuyết “đấu tranh bất bạo động” của Mahatma Gandhy, gọi quan điểm “không chống cái ác bằng bạo lực” của Lev Tolstoi là “phản động”. Vậy mà nay, trong xu thế toàn nhân loại, sau khi đã trả giá đắt cho con đường đấu tranh bạo lực, đang chuyển từ thế kỷ đối đầu và bạo lực sang kỷ nguyên đối thoại và hòa bình, người ta cũng đang nhận thức lại giá trị vĩnh hằng của những học thuyết nhân bản, đưa luận đề không phản kháng cái ác bằng bạo lực lên tầm văn hóa xử thế – văn hóa không bạo lực. Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố lấy mười năm từ 2001 đến 2010, là năm kỷ niệm tròn 100 năm mất của Lev Tolstoi, làm “Thập kỷ hòa bình và không bạo lực vì lợi ích của trẻ em toàn hành tinh”. Tiếp theo, năm 2007 lại lấy ngày sinh của Mahatma Gandhi 2-10 làm “Ngày Thế giới Không bạo lực”10

Dưới ảnh hưởng của các trào lưu dân tộc dân chủ những năm 25-30 (dẫn đến thành lập Việt Nam Quốc dân đảng và một số tổ chức Cộng sản đầu tiên), năm 1930 Phạm Quỳnh bắt đầu tham gia diễn đàn chính trị: viết bài đăng báo bằng tiếng Pháp phản đối án tử hình Phan Bội Châu, khẳng định cụ Sào Nam “chỉ có một tội là yêu nước như bao anh hùng liệt sĩ Pháp chống giặc ngoại xâm”, đề xướng chủ thuyết quân chủ lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải ban hành hiến pháp để quy định rõ ràng những quyền cơ bản của nhân dân, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ. Năm 1931, ông được giao chức phó hội trưởng Hội địa dư Hà Nội. Năm 1932, giữ chức Tổng thư ký Ủy ban cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

Tháng 11 năm 1932, diễn ra bước ngoặt định mệnh trong cuộc đời ký giả học giả Phạm Quỳnh. Sau 6 năm du học ở Pháp, vua Bảo Đại trở về canh tân đất nước. Ngài bắt đầu bằng việc hạ chiếu chỉ thay một số lão thần Thượng Thư cựu học bằng những người trẻ tuổi Tây học: Tổng đốc Thanh Hóa Thái Văn Toản làm Thượng Thư bộ Công, Tổng đốc Hồ Đắc Khải – Thượng thự bộ Hộ, Tuần vũ Ngô Đình Diệm – Thượng thư bộ Lại, Tuần vũ Bùi Bằng Đoàn – Thượng thư bộ Hình, và kí giả Phạm Quỳnh – Thượng thư bộ Học.

Có thể thấy: trong 5 vị tân thượng thư chỉ có Phạm Quỳnh xuất thân hàn sĩ và từ “chân trắng” một bước lên đại thần! Năm 1942 ông còn được Bảo Đại bổ giữ chức Thượng thư bộ Lại, đứng đầu triều đình. Điều này chứng tỏ lúc ấy uy tín học giả họ Phạm với tờ Nam Phong của ông đã lên đến tột đỉnh. Thực vậy: đánh giá về ảnh hưởng xã hội của Nam Phong, về vai trò hướng đạo tư tưởng của nó mà Chủ nhiệm Phạm Quỳnh mong ước, Giáo sư Thanh Lãng ở Đại học Văn khoa Sài Gòn viết năm 1972: “Nam Phong là linh hồn, Nam Phong là tất cả văn hóa thế hệ 1913 – 1932 <…> Thực vậy, trong mười mấy năm trường Nam Phong hầu như giữ vai trò một Viện Hàn Lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều hay, văn Nam Phong viết ra là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người theo, chữ Nam Phong chế (tức tạo ra – VTK) mọi người dùng… Người ta coi Nam Phong là bậc thày”11

Vậy hà cớ gì học giả Phạm Quỳnh bước lên hoạn lộ vốn thường đầy chông gai? Vì tham quyền? Vì hám lợi? – như báo chí đương thời cạnh khóe? Câu trả lời rõ ràng nhất, thật bất ngờ, lại chính từ trùm thực dân – Thống sẽ Trung Kỳ Healewyn trong Báo cáo ngày mồng 8 tháng 1 năm 1945 gửi cho đô đốc Decoux và cho tổng đại diện Mordant: “Vị thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí, cho sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình… Những yêu sách mà Phạm Quỳnh đòi hỏi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ), khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không (gì) lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu đi tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hỹ. Cho tới nay, đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng”12 (VTK nhấn)

Về non nửa sau trong đời hoạt động của học giả Phạm Quỳnh – hoạt động chính trị trên cương vị Thượng thư Nam triều, hiện còn rất ít tài liệu, có lẽ đã thất lạc sau cái chết bất ngờ bi thảm của ông. Hiện nay, mới chỉ có thể biết là riêng trong lĩnh vực giáo dục ông đã đòi được người Pháp trả lại cho bộ Học quyền quản trị cấp tiểu học, nhờ vậy điều quy định của Học chính tổng quy (Règlement général de l’instruction publique – có sửa đổi năm 1924 sau cái đòi hỏi và kiến nghị khẩn thiết trên Nam Phong), yêu cầu ở 3 năm đầu cấp tiểu học (gọi là sơ học yếu lược) cho dạy bằng tiếng Việt và phải thi lấy bằng quốc ngữ, từ năm 1933 mới bắt đầu thực thi nghiêm túc. Thiết nghĩ, vị Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục trong Chính phủ Lâm thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biết ba chuc năm trước, nhân Lễ kỷ niệm 60 năm Hội Truyền bá quốc ngữ (1938-1998) tại hội trường viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, hoàn toàn công bằng khi đề nghị: “Thiết tưởng ta cũng nên ghi công cho ông Thượng thư này và ông Vua tân thời này (Bảo Đại – VTK) về chủ trương đặt cấp cơ sở của hệ thống giáo dục chính quy thành hẳn một cấp chuyên dạy bằng tiếng Việt, có thi hết cấp với văn bằng đàng hoàng mang tên Bằng sơ học yếu lược”13

Cũng nên ghi nhận điều báo Lao Động ngày 29/6/2009 đưa tin và ảnh vệc việc ngày 26/9/2009, tại Văn phòng Ủy ban Nhân dân Thừa Thiên Huế, nhà nghiên cứu Phan Thuận An đã trao cho bộ Ngaoij giao bản tấu của ông Phạm Quỳnh, Ngự tiền Văn phòng Hoàng đế Bảo Đại về việc khen thưởng cho những người lính có công bảo vệ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa.

Một chi tiết nữa, không phải việc công mà là chuyện cá nhân, nhưng cho biết thêm về nhân cách vị Thượng thư bộ Học. Nhà nghiên cứu Khúc Hà Linh, chuyên sưu tầm về cuộc đời và sự nghiệp của học giả Phạm Quỳnh, viết trong công trình mới nhất của ông: “Nhận chức chỉ sau 2 tháng 7 ngày, với tư cách quan Ngự tiền văn phòng, Phạm Quỳnh đã làm một việc có thể coi là mạo hiểm đối với ông trên chốn quan trường. Sự việc như sau: Nguyễn Công Nghi 18 tuổi, em ruột Nguyễn Công Kính (chủ hãng thuốc lào Giang Ký nổi tiếng Hà thành bấy giờ)… là con rể làng Nhân Vực (quê vợ Phạm Quỳnh) bị Pháp coi là một chiến sĩ cộng sản, bắt giam tại nhà tù Hòa Lò – Hà Nội, chờ ngày đi đày viễn xứ. Phạm Quỳnh đã viết thư đề ngày 18/1/1933, gửi Louis Marty, Giám đốc Vụ chính trị phủ Toàn quyền Đông Dương nhờ can thiệp xin khoan hồng giảm án cho anh <…> Không biết kết quả sự can gián của Phạm Quỳnh đến đâu…” 14

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Quan Ngự tiền Văn phòng Thượng thư bộ Lại Phạm Quỳnh là chứng nhân, còn kịp thuật lại diễn biến tại Huế trong bài viết nhan đề “Chuyện một đêm một ngày (9-10 tháng 3 năm 1945)”, đoạn kết như sau: “Sau cuộc tiếp kiến (đặc sứ Yokoyama và hai lãnh sự Watamata và Ishida – VTK), liền có cuộc hội đồng đặc biệt Viện Cơ mật trong phòng nhỏ Hoàng đế tại lầu Kiến Trung vào 7 giờ tối. Rồi 10 giờ đêm hôm ấy các cụ Cơ Mật lại họp ở bộ Lại để tiếp quan đặc sứ và thảo tờ Tuyên bố Độc Lập. Hai cuộc hội đồng đó cũng như cuộc hội kiến trên, đều là những việc quan trọng, thuộc về lịch sử, tôi may mắn dự vào, đóng một vai chính, sau này sẽ có dịp tường thuật.”15

Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim được thành lập. Phạm Quỳnh xin về hưu trí để trở lại với văn chương. Nhưng ông không bao giờ có cơ hội ấy nữa… 2 giờ chiều ngày 23/8/1945, ngay khi cuộc Việt Minh cướp chính quyền ở Huế thành công, ông Phạm quỳnh bị tiểu độ vũ trang của Thanh niên tiền tuyến Huế bắt rời biệt thự Hoa Đường trên bờ sông An Cựu ra xe “Phạm Quỳnh lên xe đi và không bao giờ trở lại”16

“Báo “Quyết Thắng”, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, số 11 ra ngày 9/12/1945 cho biết: “cả 3 tên Việt gian đại bợm (Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân) bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền, 2 giờ (chiều) ngày 23/8 và đã bị Ủy ban khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”.

Cho đến nay chưa thấy một ai đưa ra được bất cứ một bằng chứng xác thực nào về những tội ác làm Việt gian bán nước của học giả Thượng thư Phạm Quỳnh. Còn nếu bảo  hễ đã làm việc trong chính quyền thực dân tức thị là làm tay sai bán nước thì phải đánh giá thế nào về Thượng thư bộ Hình Bùi Bằng Đoàn và Khâm sai đại thần Phan Kế Toại – hai thành viên quan trọng trong Chính phủ Hồ Chí Minh?!

Tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan trong cuốn sách đã nhắc đến trên đây, viết: “Ngày 28, Hồ Chí Minh đến làm việc tại nhà số 12 Ngô Quyền, dành thời gian soạn Tuyên ngôn Độc Lập. Được báo cáo là Trần Huy Liệu cùng phái đoàn đã vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại thoái vị, Bác nói với Hoàng Hữu Nam (Thứ trưởng Nội vụ – VTK): “Chú tìm một người thay chú vào Huế gặp Phạm Quỳnh, đưa thư tôi mời Cụ Phạm”18.

Nhà văn Sơn Tùng, nửa thế kỷ nay chuyên nghiên cứu và viết về Hồ Chí Minh, cho biết hay tin dữ từ miệng ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thừa Thiên – Huế Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp. Đó không phải là người xấu”19

Tiếp hai người con gái của ông Phạm Quỳnh ngay sau khi sự cố bi thảm xảy ra, Cụ Hồ nói: “Trong lúc Tổng khởi nghĩa bùng nổ, khó tránh được sự nhầm lẫn. Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. (tác giả NKK nhấn) Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng” 20

Đánh giá lại những nhầm lẫn đâu phải “đòi lật lại lịch sử”, như có kẻ vội lu loa!

Những người con của Cụ Phạm đã tuân theo lời căn dặn ấy. Người con trai thứ bảy Phạm Khuê trở thành giáo sư y khoa, Viện trưởng Viện Lão khoa, Nhà giáo Nhân Dân. Người con trai thứ chín Phạm Tuyên từng là học viên trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, Đại đội trưởng Thiếu sinh quân, nay là nhạc sĩ Giải thưởng Hồ Chí Minh. Đấy là về họ, cũng là về không ít người chung cảnh ngộ bi thương ấy, nhà thơ Bằng Việt viết trong bài thơ tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên:

            Nhưng nén mình sỗng cao lên, có bao giờ là dễ?

            Biết vượt qua đỉnh nỗi đau, đâu có thua phẩm cách anh hùng!

*

*   *

Vì lí tưởng khai dân trí, chấp nhận cộng tác với chính quyền thực dân Pháp để được công khai làm báo, phát triển ngôn ngữ văn hóa Việt, dấn thân làm quan với chính quyền thực dân để có cơ hội xây nền quốc học nhằm chủ đích cứu nước bằng con đường ôn hòa, học giả Phạm Quỳnh ý thức rõ thế hiểm nghèo chí mạng của con đường ông lựa chọn: đi giữa hai làn đạn. Trong bức thư ngày 30/12/1933 gửi Chánh mật thám Marty, Phạm Quỳnh trần tình riêng với người “đỡ đầu”: “Tôi là người của buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông <…>. Là một người ái quốc Việt Nam, tôi yêu nước tôi với tất cả tâm hồn tôi, thế mà người ta buộc tội, bảo tôi là phản quốc, đã cộng tác với kẻ xâm lược và phụng sự họ!… Là một thân hữu chân thành của nước Pháp, một đằng khác, người Pháp trách cứ tôi đã che đậy một tinh thần quốc gia cực đoan chống Pháp dưới một bề ngoài thân Pháp”21

Nỗi niềm uẩn khúc khó thanh minh của mình, ký giả kiêm đại thần họ Phạm một lòng trung quân ái quốc chỉ có một cơ hội gửi gắm trong bài thơ năm 1936 khóc Nguyễn Văn Vĩnh, bạn đồng môn thông ngôn và đồng nghiệp báo chí:

            Vừa mới nghe tin vội giật mình,

Thôi thôi thôi cũng kiếp phôi sinh!

Trăm năm sự nghiệp bàn tay trắng,

Bảy thước tang bồng nắm cỏ xanh.

Sống lại như tôi là sống nhục,

Chết đi như bác chết là vinh,

Suối vàng bác có dư dòng lệ,

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình!

lang-pham-quynh

Quê Cha đất Mẹ Hoa Đường mà Thượng Chi một đời đau đáu nhớ thương, nay là Làng Văn hóa Lương Ngọc Bình Giang – Hải Dương, đã từ lâu tin vào tấm lòng trong trắng của đứa con trung chính, hiếu thảo, nên đã giữ gìn nguyên vẹn qua bao biến thiên của đất nước lăng mộ thân phụ Tú Điển do nam tử Quỳnh xây năm 1933, gần đây, ngày 22/11/2014 lại cho dựng Bia tưởng niệm Nhà văn hóa Phạm Quỳnh, khắc trên hai cột mặt tiền câu nói bất hủ bằng chữ Nôm và Quốc ngữ:

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn,

Tiếng ta còn, nước ta còn.

(Hà Nội, Xuân Bính Thân 2016)

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: