Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 15, 2016

Chúng tôi đã sống như thế: Bước khởi đầu của nhạc sĩ Phạm Tuyên

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 12 năm 2016.

Chúng tôi đã sống như thế:

BƯỚC KHỞI ĐẦU CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 46 đến trang 54)

Nguyễn Ánh Tuyết.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc trung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Ba Tuyet sach chung toi da song nhu the*

*     *

Chúng tôi mời quí bạn đọc bài của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, người vợ hiền, người bạn đời của nhạc sĩ, viết về Bước khởi đầu của nhạc sĩ Phạm Tuyên, để hiểuPham Tuyen_Nguyen Anh Tuyet rõ vì sao nhạc sĩ đã chọn, và kiên trì đi theo con đường mình đã chọn nửa thế kỷ nay.

Phó giáo sư tiến sĩ tâm lý học Nguyễn Anh Tuyết sinh năm 1936 tại Đồng Hới, Quảng Bình, trong một gia đình cách mạng. Cha thoát ly gia đình đi hoạt động, ít khi có nhà. Sau đó, mẹ cũng giác ngộ cách mạng và thoát ly luôn. Bé Nguyễn Anh Tuyết được gửi về quê sống với bà ngoại và dì. Sau đó mẹ gửi vào ăn học ở trại Thiếu Sinh Quân Quảng Trị đóng trên đất Hà Tĩnh, rồi sang học trường Phan Đình Phùng. Học dở dang thì có người đến đón lên Nghệ An để “sang Trung Quốc học theo tiêu chuẩn con em cách mạng”.

Từ đó, Nguyễn Anh Tuyết sống và học tập ở Khu học xá Trung ương Nam Ninh (Trung Quốc), gặp, yêu thương rồi sau này thành vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên từ năm 1957. Nay ông bà đã có hai con gái, hai con rể, ba cháu ngoại, quá tuổi tổ chức Đám Cưới Vàng rồi mà vẫn sống hạnh phúc bên nhau: người này là điểm tựa cho người kia vươn lên trong sự nghiệp và cuộc sống vốn không ít sóng gió

Năm 2007 bà bắt đầu viết tại Hà Nội và năm 2008 thì hoàn thành bản thảo hồi ký chẵn 200 trang giấy A4 Chúng tôi đã sống như thế

Bà mất tại Hà Nội ngày 11 tháng 5 năm 2009 (tức ngày 17 tháng 4 Kỷ Sửu).

Chúng tôi trích đăng dưới đây một phần trong hồi ký của bà viết về ông “người bà yêu suốt đời mà cũng là người suốt đời yêu bà. Nhan đề bài viết là của chúng tôi.

—o00—

S

au khi có được tấm bằng tú tài, năm 1948 Phạm Tuyên liền ghi tên vào học tại trường Đại học Pháp lý do luật sư Đỗ Xuân Sảng làm hiệu trưởng, với nguyện vọng là được trang bị lý luận về pháp luật để sau này nếu có điều kiện, khi bản án Phạm Quỳnh được đưa ra phán xử (như Hồ Chủ tịch đã nói với hai người chị của anh trong lúc gia biến năm 1945: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sau này lịch sử sẽ đánh giá lại”) thì mình còn có đủ lý lẽ để lấy lại công lý cho cha mình. Nhiều tri thức mới về luật pháp lại được các giảng viên truyền đạt hay, Phạm Tuyên bị thu hút vào những bộ luật và điều đầu tiên được khắc họa và khẳng định là “Quyền tư hữu là quyền bất khả xâm phạm của con người” (lúc đó được coi là chuyện bình thường). Nhiều lý luận chính trị, kinh tế… đang làm thỏa mãn tính ham học, ham hiểu biết vốn đã có từ hồi còn thơ ấu của anh. Tài liệu trong sách báo, chủ yếu là bằng tiếng Pháp và qua những cuộc nói chuyện của các cán bộ chính trị cao cấp và các vị trí thức đi tham gia kháng chiến để bổ sung cho những gì học được trong trường. Bạn học ở trường Đại học Pháp lý lúc đó là những thanh niên trí thức tản cư lên chiến khu như: Trần Văn Tý, Lê Đạt, Đặng Hồng Miên, Lê Hồng Chi, Nguyễn Vịnh, Đặng Đình Hưng, Trương Đắc Vị...

Đang háo hức thâu nạp tri thức thì giặc Pháp đổ bộ lên Việt Bắc, trường phải giải thể. Thế là “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu!”, Phạm Tuyên cùng với một số sinh viên được cử đi học tại trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn, khóa 5- khóa chuẩn bị tổng phản công. Anh bắt đầu đời binh nghiệp. Cuộc sống gian khổ của bộ đội ta đầu kháng chiến chống Pháp cộng với một chế độ luyện tập quân sự hà khắc bởi người huấn luyện là một sĩ quan Nhật là hàng binh được nhà trường sử dụng, không làm cho anh bộ đội “thư sinh” này nao núng. Những bài tập đi, chạy, lăn lê bò toài không phải theo kiểu của bộ đội ta mà theo kiểu quân phiệt Nhật. Nhiều lần ông ta bắt học viên lăn từ trên đồi xuống rồi lại bò lên. Quần áo rách nát, da dẻ xoạc sờn, thế mà các anh lính trẻ trọc đầu vẫn ráng sức chịu đựng. Câu hát “Thuở thanh bình anh là thư sinh, Thời chinh chiến anh là chiến binh” mà đồng đội đã hát tặng anh lúc đó thật là phù hợp. Cuộc sống hết sức gian khổ nhưng các anh vẫn lạc quan và càng gắng công tập tành. Không khí hăng say luyện tập, sinh hoạt tập thể sôi nổi đã làm Phạm Tuyên quên đi những chuyện đau buồn riêng mà bắt đầu cảm thấy yêu đời, thúc giục anh sáng tác bài hát cho đồng đội để động viên lẫn nhau. Ca khúc đầu tiên là bài Vào lục quân trong đó có đoạn: “Góc trời lửa rực cháy hoang tàn. Căm hờn giặc Pháp uất hận chứa chan! Chàng thanh niên lòng căm uất! Dứt bao tình thương quyết lên đường! Vào lục quân tìm thấy ánh sáng! Vào lục quân tìm thấy chiến thắng! Hẹn ngày phá tan quân thù…” Sau những buổi tập tành nặng nhọc ở thao trường trở về trại, các anh lính trẻ hát vang bài Đường về trại (do Phạm Tuyên sáng tác): “Khi đoàn ta dồn bước tiến về! Kìa trông thoáng xa mái gianh thân yêu! Vui thao trường cố quên nhọc nhằn! Bước! Ta cùng nhau tiến bước!…”. Càng tích cực luyện tập càng mong cho đến ngày tổng phản công. Hướng về ngày tổng phản công, anh viết: “Đây! Khóa chuẩn bị tổng phản công! Náo nức bao chàng trai, từng đoàn tập hợp nuôi ý chí hùng! Mong chờ ngày tổng phản công! Giữa chốn rừng sâu, giữa hoa lá xanh gắng tập tành! Pham Tuyen_Si Quan Luc QuanKhông tiếc chi xương máu giành ngày toàn thắng!”. Những ca khúc đó ngày nay nhiều đồng đội của anh, có người đã đeo quân hàm tướng tá, hay cán bộ cốt cán trong các ngành của Đảng và Nhà nước, tuy đã về hưu nhưng vẫn thuộc, vẫn hát mỗi khi gặp nhau. Tốt nghiệp trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn năm 1950, ngay trong năm đó Phạm Tuyên được điều về làm đại đội trưởng trường Thiếu sinh quân Việt Nam, nơi học tập và rèn luyện của các em “thiếu nhi mặc áo lính”, do cấp trên nhận thấy anh có trình độ văn hóa và tính tình thích hợp với việc giảng dạy các em nhỏ.

Vào một buổi sáng đầu hè năm 1950, khi Phạm Tuyên vác ba lô đến nhận công tác tại trường Thiếu sinh quân Việt Nam ở Cao Vân, Đại Từ, Thái Nguyên, các em thiếu sinh quân ùa ra đón anh thật sôi nổi. Trường được thành lập từ năm 1949, lúc đó mới có hai đại đội, anh được giao ngay nhiệm vụ làm đại đội trưởng Đại đội Ba, là đại đội bé nhất. Học sinh của trường là các em liên lạc viên ở các đơn vị phía bắc gửi về và một số học sinh vùng tự do, các em ở độ tuổi từ 11 đến 15, đang tuổi ăn tuổi chơi.

Công việc đầu tiên là sắp xếp chỗ ăn chỗ ở cho các em vào những lán trại được dựng theo chiều dài, trong đó có hai hàng giường đan bằng tre nứa kéo dài theo chiều của nhà. Không có hội trường, cũng không có lớp học. Họp chung thì ra ngoài sân, còn sinh hoạt trung đội hay tiểu đội thì ngồi cả lên hai phía giường ngủ. Đời sống của các em thiếu thốn vô cùng.

Hằng ngày dạy các em học văn và học nhạc, anh cùng các “chiến sĩ tí hon” đào hầm, dựng nhà, tăng gia sản xuất để tự túc một phần lương thực, thực phẩm, đi lấy gạo… sinh hoạt cùng các em anh càng thấy gắn bó với bầy “thiếu nhi mặc áo lính” ấy...

Buổi sinh hoạt lửa trại đầu tiên quanh đống lửa nứa khô nổ lép bép anh đã được nghe các em hát. Một cảm giác yêu thương tha thiết tràn ngập lòng anh khi nhìn những gương mặt non tơ trong bộ quân phục xuềnh xoàng, đã sớm phải xa gia đình để lên học tập tận nơi núi rừng Việt Bắc xa xôi này. Trăn trở hơn là khi anh chỉ nghe các em hát những bài bộ đội người lớn và quanh đi quẩn lại cũng chỉ có vài bài. Với vốn liếng âm nhạc đã có từ khi còn ở nhà, anh thấy không thể không viết ra cho các em những bài hát mới phục vụ cho sinh hoạt tập thể của đơn vị, hy vọng làm cho cuộc sống của các em nơi núi rừng được sôi nổi, vui tươi hơn. Và anh đã bắt tay vào sáng tác bài hát cho các em

Thế là chỉ trong một thời gian ngắn anh đã viết được một chùm ca khúc cho các em như các bài Em vào thiếu sinh quân để tặng các em mới nhập trường: Em vào Thiếu sinh quân vì em hằng ước ao sống bên bao bạn hiền/ Được dìu dắt em càng quyết tâm học hành! Cho chóng nên người hữu ích sau này, bài Lớp học rừng tả lại cảnh lớp học rất đặc biệt ở đây. Vì phải tránh máy bay giặc Pháp, nhà trường đã chọn cho mỗi lớp học một khu rừng nứa um tùm, cạnh bờ một con suối để dễ sơ tán khi có máy bay oanh tạc. Bàn ghế làm toàn bằng tre nứa và được chôn chặt ở dưới lùm cây. Học các môn văn hóa nhưng không có bảng đen, chỉ nói và cho các em ghi vào vở. Điều kiện học tập thì thiếu thốn và đơn sơ như vậy mà các em đều học tập rất nghiêm chỉnh và có kết quả tốt. Trong bài hát có đoạn: “Ngồi quanh đây bên cây bóng mát! Rừng xanh lá che bốn bề/ Nứa uốn quanh che rợp/ Gốc cây ta để sách/ Cùng ngồi bàn tre ghế nứa mới/ Ta hứng thú học quyết tâm/ Đắp xây ngày mai giữa rừng!”. Bài Thiếu sinh quân ở một nơi thật vừa! nói lên tâm trạng của các em nhỏ lúc đó, chúng không những tỏ ra khoái chí và rất bằng lòng với lớp học của mình mà còn có phần thích thú hơn vì được học trong lớp học đặc biệt do chính tay mình làm ra: “Thiếu sinh quân ở một nơi thật vừa/ Kề dòng suối trong, rừng nứa um tùm/ Lúc thi đua thật là thú vô cùng/ Vì tre nứa ngay bên rừng/ Giá ba lô và lợp mái chuồng gà/ Bàn lúc học, ghế lúc ngồi/ Cuốc “tăng xê” vừa đan liếp nhà/ Tay ta tự làm ra”. Những bài Em tăng gia, Của công là của nhân dân, Bài ca nhân ái, Năm yêu, Đố cờ… đều được viết ra để phục vụ cho sinh hoạt của các em lúc đó.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, thế hệ thiếu sinh quân từng hát những ca khúc này năm xưa đã thành ông nội, ông ngoại, nhiều người trở thành văn nghệ sĩ, các nhà khoa học, các nhân vật trong bộ máy Đảng và Nhà nước ta như: Đặng Nhật Minh, Thúy Toàn, Phan Phúc, Chu Hảo, Lê Đức Phúc, Vũ Khoan, Vũ Mão, Vũ Mạnh Kha… Nhưng mỗi khi gặp nhau họ vẫn không quên vỗ tay hát vang nhưng bài hát ấy.

Có thể nói những bài hát đầu tiên của Phạm Tuyên dành cho đối tượng thiếu nhi được viết ra từ cái môi trường đặc biệt này. Từ đây trở đi duyên nợ của anh đối với lứa tuổi thiếu nhi cứ dần dần được bền chặt hơn, có ý thức hơn. Và anh đã trở thành Nhạc sĩ của tuổi thơ như những thế hệ thiếu nhi sau này gọi anh như thế.

Trong trường Thiếu sinh quân Việt Nam, anh là một đại đội trưởng trẻ đầy nhiệt huyết, không những giảng dạy tốt mà còn hăng hái tham gia công việc của trường. Anh cũng coi đây là một môi trường rèn luyện cho mình về tác phong sinh hoạt cũng như sức chịu đựng gian khổ, nên được đồng nghiệp nể trọng và các em yêu mến. Có thể nói một trong những công việc vất vả nhất thời ấy là đi lấy gạo trên kho về, vác nặng, đường rừng xa xôi lại phải trèo đèo lội suối. Nhiều lần vác gạo lội qua khe thì gặp nước lũ ập về. Nước khe dâng cao và chảy siết, các em thiếu sinh quân lớn thì tự bơi qua được, còn các em nhỏ, mà đại đội của anh hầu hết là các em nhỏ thì phải có người lớn giúp đỡ. Trong tình huống đó, anh phải ráng sức vừa vác gạo vừa cõng các em nhỏ vượt qua dòng nước đang chảy xiết. Và thế là việc lấy gạo thắng lợi. Với sự phấn đấu vượt bực, anh trở thành tấm gương để đồng đội và các em nhỏ học tập. Anh được đồng chí Lê Chiêu, hiệu trưởng của trường, giới thiệu kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Anh được công nhận là Đảng viên chính thức vào ngày 27 tháng 7 năm 1950, đúng ngày Thương binh Liệt sỹ, một thời điểm rất đặc biệt đối với anh. Hôm đó đang đứng trong lớp giảng bài thì máy bay giặc Pháp đến ném bom, cả lớp phải sơ tán. Anh hướng dẫn các em nhỏ xuống hầm ẩn nấp rồi mình sẽ xuống sau. Nhưng không kịp! Bom đã dội xuống và anh đã bị thương, mảnh đạn găm vào người, máu chảy lênh láng. Dứt đợt báo động, anh được đưa đi cứu chữa. Người lớn thì cáng còn các em nhỏ thì vừa chạy theo sau vừa khóc thút thít vì thương anh quá, sợ anh bị làm sao! Anh được chuyến một cái lán ở La Bằng để được cứu chữa, chăm sóc tử tế. May quá, mảnh đạn chỉ găm vào phần mềm phía bên trái người anh, đến nay mảnh đạn vẫn còn nằm ở đó. Bộ quân phục anh mặc lúc đó bị thủng nhiều lỗ. Sau này chúng tôi giữ lại như một kỷ vật thời chiến đấu của anh. Từ đó anh luôn xứng đáng là một Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Các con tôi không những tự hào về điều đó mà còn rất tự hào vì có bố là thương binh! Suốt cả thời kỳ bao cấp tấm thẻ thương binh có giá trị vô cùng. Có nó người ta sẽ được ưu tiên về nhiều mặt như không phải xếp hàng để mua hàng, đi tàu xe không mất tiền, con em thương binh liệt sĩ đi học được hưởng nhiều quyền lợi. Các con tôi rất ngạc nhiên không hiểu vì sao nhà mình lại không có thẻ thương binh để được ưu tiên? Đó là vì bố các cháu không chịu đi làm thẻ thương binh. Anh nghĩ đơn giản rằng việc anh bị trúng đạn xảy ra đã quá lâu và vết thương cũng đã lành rồi, hơn nữa thủ tục làm thẻ thương binh cũng rất rắc rối như bất cứ một loại giấy tờ nào trong thời bao cấp!

Sau này khi nước nhà đã thống nhất anh gặp lại đồng chí Lê Chiêu (lúc này đã mang quân hàm thiếu tướng) trong một cuộc họp mặt truyền thống của thiếu sinh quân, anh hỏi đồng chí Lê Chiêu: “Hồi đó anh giới thiệu tôi vào Đảng, bây giờ anh có ân hận gì không?”. Đồng chí Lê Chiêu không nói gì, chỉ đến bắt tay anh thật chặt và cười vui sướng đầy vẻ tự hào.

Năm 1951, sau chiến dịch Biên Giới, trường Thiếu sinh quân Việt Nam dời sang Quế Lâm (Trung Quốc) để có điều kiện ăn học tốt hơn do Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc dành cho. Trường Thiếu sinh quân Việt Nam lúc này trở thành trường Thiếu nhi Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và được bổ sung một số lượng đông đảo các em thiếu nhi từ trong nước sang, rồi sau đó lại sáp nhập vào Khu học xá trung ương đóng tại Nam Ninh (Trung Quốc).

(Phần này viết theo nhật ký của Phạm Tuyên hồi đó và theo lời kể của bạn bè và học trò của anh).

N.A.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: