Pham Ton’s Blog

Tháng Một 1, 2017

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí-P2: Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 2: NAM PHONG TẠP CHÍ

1.      Gốc gác và trường hợp ra đời

“Hai căn phố lầu rộng lớn ở ngay đầu con đường Hàng Da, giữa có cổng sắt làm lối ra vào, qua phía tay mặt thì thấy có tấm bảng đề hai chữ Nam Phong làm bằng Hán tự, đó tức là nơi toà soạn của báo Nam Phong, còn qua bên tay trái thấy có bóng đàn bà con nít tức là nhà riêng của ông chủ nhiệm Phạm Quỳnh. Nam Phong mỗi tháng có một kỳ, hèn chi trong toà soạn không có cái vẻ đông người nhộn nhịp như ở các báo khác. Qua lớp nhà dưới lên trên lầu mới là nơi làm việc của Phạm tiên sinh. Buổi chúng tôi lại thăm thì tiên sinh tuy trong người khó ở nhưng ngài cũng gắng gượng khăn áo chỉnh tề ngồi tiếp chuyện với chúng tôi trong hai giờ đồng hồ. Phạm tiên sinh tuổi ngoài bốn chục, vóc vạc ốm o, dáng người hoà nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều có ý tứ giữ gìn, tỏ ra một người đã có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo một cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn luôn trên cửa miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự đại mà thường thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…” (Tiện đây để bổ túc chương trên và cũng để thấy rõ sự tương phản giữa hai người, biểu hiện cho hai khuynh hướng của thời đại, chúng tôi cống hiến bạn đọc một đoạn về Nguyễn Văn Vĩnh cũng dưới con mắt của phóng viên Đào Hùng trong một số báo Phụ Nữ Tân Văn kế sau (16/7/1931).

“Ở giữa thành phố Hà Nội, mặt tiền trông ra hồ Hoàn Kiếm, một toà nhà lầu đứng nghênh ngang như có ý phô bày trước con mắt muôn người qua lại cái vẻ lớn lao hùng vĩ. Trên các khung cửa đều có gắn những chữ bằng đồng chói lọi như Trung Bắc Tân Văn, Học báo, Âu Tây tư tưởng, Niên lịch thông thư v.v… Từng dưới là cửa hàng bán sách vở, liếc mắt ngó qua thì thấy nào là Ba người ngự lâm pháp thủ, Những kẻ khốn nạn, nào là Nho giáo, Kim Vân Kiều, và các sách dịch về Âu Tây tư tưởng.

“Tầng trên lầu là toà soạn Trung Bắc Tân Văn, Học báo L’Annam nouveau (Nước An Nam mới – PT chú) người làm đông đúc, tiếng máy chữ rền tai, rõ là một nơi công việc bộn bề khác với cảnh tịch mịch trong toà soạn báo Nam Phong của ông Phạm Quỳnh. Thấy cảnh đủ biết tính người, khác nhau như đen với trắng, bên ưa hoạt động, bên thú êm đềm, vậy thì hai bên không hợp tác được với nhau cũng không lấy chi làm lạ, và người xướng lên vấn đề lập hiến người tán dương trực trị cũng là lẽ thường. “Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh đang ngồi nơi bàn giấy đọc các thơ từ thì chúng tôi vào thăm. Tiên sinh năm nay tuổi đã ngũ tuần mà người coi sức lực mạnh mẽ lắm. Diện mạo khôi ngô, đôi mắt long lanh sáng suốt, cử chỉ tự nhiên nói cười vui vẻ…”)

Trên đây là những hàng mở đầu một bài của ông Đào Hùng trong báo Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn (18/6/1931), khi lần đầu ra Bắc tìm viếng báo Nam Phong. Bài phỏng vấn này đặc biệt cho ta hay gốc gác và trường hợp ra đời của tờ báo, qua lời của chính chủ nhân như sau:

“Tạp chí Nam Phong ra đời 1917 nhưng thật ra thì đã có lâu và không phải tôi đứng tên sáng lập. Lúc trước nó là một bộ Âu Châu chiến sử xuất bản hồi Âu chiến, viết bằng chữ Hán, chủ tâm chỉ viết cho người Tầu bên Trung Hoa đọc thôi. Nguyên hồi dó chính phủ Đông Pháp thấy ở bên Thanh Đảo người Đức làm báo chữ Tầu in hàng muôn số phát không cho dân chúng, chuyên nói về chiến tranh và tán dương nước Đức Chính phủ Đông Pháp cũng lo cái thế lực của người Đức ở bên Tầu mỗi ngày một lớn bèn vời tôi lên phủ Toàn quyền, bảo tôi cùng ông Nguyễn Bá Trác làm một tờ báo chữ Nho lấy các tin tức của sở điện tín Arip, nói rộng chuyện chiến tranh, viết bài kể từ nguyên nhân gốc rễ cuộc Âu chiến, tuyên bố hết những việc tàn khốc dã man của người Đức. Các bài thì ký tên người Tàu và báo cũng in ra hàng muôn số rồi đem sang Trung Quốc phát không, để làm cách chống lại cuộc tuyên truyền của bên địch và đánh đổ thế lực của Đức ở Viễn Đông. Vậy trong mấy năm, tờ Âu Châu chiến sử chỉ là một tờ báo chữ Hán và không có lưu hành trong xứ Đông Dương. Đến năm 1917 thì phủ Toàn quyền mới bàn với tôi rằng sẵn có các tin tức và bài vở đó thì nên mở ra một bản quốc văn để làm một cái cơ quan tuyên truyền tin tức trong xứ. Từ đó Nam Phong mới xuất hiện và cùng với bạn đồng nghiệp Đông Dương tạp chí là hai tờ báo quốc văn ở đất Bắc…”

Những lời thuật trên có thể coi như đã nói lên tất cả sự thật về mầm mống tờ Nam Phong, nếu ta thêm vào vai trò cốt yếu một nhân vật người Pháp, Louis Marty (Trưởng phòng Chính trị Đông Dương) người cầm đầu tất cả công việc nói trên tại phủ Toàn quyền.

2.      Mục đích

Vậy tờ báo do chính nhà cầm quyền Pháp lập ra với một mục đích chính trị rõ rệt, hơn nữa một mục đích chính trị cấp thời, phục vụ cho việc chiến thắng của Pháp trong trận chiến bấy giờ. Do đó ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy ở trang đầu ngay trên hai chữ lớn NAM PHONG, mấy hàng chữ Pháp nhỏ “L’information Française: La France devant le monde –Son rôle dans la guerre des nations” (Thông tin Pháp: Nước Pháp trước thế giới – Vai trò của Pháp trong cuộc chiến tranh các nước – PT chú). Thấy ở bìa sau tờ báo một hình vẽ mà người ta đã giải thích là “Rồng Nam phun lửa (Theo chúng tôi là phun bạc – PT chú) diệt Đức tặc”. Thấy ở bên trong, những bài tin tức hoặc bình luận về chiến tranh rất dồi dào nhất là ở phần Hán văn. Thấy ngay ở vài bài quốc văn, một giọng tuyên truyền tán tụng quá hăng, như dưới ngòi bút của Tuyết Huy: “Vái trời phù hộ mẹ nuôi ta, mau mau giết hết lũ yêu ma, mà vun lại mầm dân tộc”. (Số 2)

Ngoài mục đích cấp thời ấy tất nhiên Marty cũng còn nhắm một mục đích lâu dài hơn, là đem những cái hay cái đẹp của văn minh Pháp tuyên truyền ra dân chúng và dưới khẩu hiệu “khai hoá”, gây một cơ sở vững chắc là cơ sở tinh thần cho cuộc bảo hộ, tức cũng là cái mục đích của tờ Đông Dương tạp chí khi trước.

Còn về phía người Việt khi đứng ra biên tập tờ báo, phải chăng họ chỉ có biết phục vụ chủ trương ấy. Ở dây có lẽ cũng cần điểm qua các cá nhân. Ở mấy số đầu ta thường thấy một giọng tán tụng đôi khi quá trắng trợn dưới ngòi bút của Tuyết Huy Dương Bá Trạc, Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác. Ta không nên quên, hai ông đó đều là những người “đới tội lập công”. Tuyết Huy thì sau vụ Duy Tân đi Côn Đảo dược ân xá trở về. Tiêu Đẩu thì xuất ngoại bất hợp pháp, lang thang bên Tàu bên Xiêm, trở về đem ngòi bút ký giả Hán văn đến đầu quân Marty. Riêng với Phạm Quỳnh, trở lại bài phỏng vấn của Đào Hùng, ông có tuyên bố chủ ý của ông khi làm tờ báo như sau: “Sở dĩ tôi nhận mở báo Nam Phong là vì chính phủ tự lòng cho phép chứ không phải tôi yêu cầu. Vả tôi cũng muốn lợi dụng làm một cơ quan để bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây…” (Lời này trong ẩn ý Phạm Quỳnh phải hiểu rành rọt và nôm na ra là: “Tờ báo không phải tôi cầu cạnh, chạy chọt mà có –như lắm kẻ chạy chọt để được Tây cho một cái manchetle (Tên báo – PT chú) – chẳng qua Tây thấy tôi có tài, nên vời tôi, muốn DÙNG tôi cho mục đích của họ – mà tôi ưng nhận là vì thấy có thể LỢI DỤNG để làm việc cho cái mục đích của tôi”

Cái việc LỢI DỤNG nhau này, thật ra rất tế nhị. Ở ngoài không dễ nhìn ra. Mà bên trong cũng không luôn luôn suông sẻ. Nhất là đối với một đối phương tầm cỡ như Marty. Thanh Lãng cho rằng đem cái sứ mạng khai hoá nhân đạo của Đại Pháp – cũng như cái tiêu ngữ Tự do – Bình đẳng – Bác ái ra mà cực lực tán dương (ngay ở số đầu) chính là cách chửi xỏ, nói móc bọn thực dân ngồi đó – Chẳng biết có phải do đề xuất của Marty không mà về sau báo luôn luôn nêu ra bìa ngoài câu châm ngôn: “Có đồng đẳng mới bình đẳng” (Íl n’y a d’égaux qu’entre semblables). Nghĩa là phải đạt trình độ như người mới nên đòi hỏi bình đẳng với người. Nam Phong không phải không có những bài làm cho vài người Tây tức giận, cho là bài Pháp, lên tiếng đả kích trên báo L’avenir du Tonkin (Tương lai của Bắc Kỳ – PT chú), sau đó Phạm Quỳnh đã phải hết sức biện bạch, vuốt ve.)

Nên nói thêm là đối với Phạm Quỳnh việc phiên dịch và truyền bá tư tưởng Âu Tây ấy là trong một mục đích rộng rãi hơn, mà ông từng ấp ủ ngay từ ngày viết trên Đông Dương, ấy là xây dựng cho nước nhà trong buổi Âu Á giao thoa, một nền học thuật mới để thay thế cho Hán học suy tàn. Điều đó ông có nói rõ trong “Nhời nói đầu” số Nam Phong ra mắt. Sau nữa cũng cần thêm vào một mục đích thầm kín khác mà mới đầu người chủ trương Nam Phong không dám nói lên nhưng dần dà ông đã hướng tới là gây lấy trong quốc dân một chủ nghĩa quốc gia ôn hoà dựa trên cơ sở văn hoá. Tất nhiên làm ba công việc trên là với sự công nhận, sự thoả hiệp hoặc sự trục lợi của người Pháp nữa – là điều ta sẽ có dịp xét sau – song cũng hiển nhiên đó là ba mục tiêu mà Phạm Quỳnh và báo Nam Phong đã đặt ra và để công thực hiện.

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: