Pham Ton’s Blog

Tháng Một 31, 2017

Nhìn nhận Phạm Quỳnh dưới góc độc quan điểm Hồ Chí Minh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:23 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 2 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

NHÌN NHẬN PHẠM QUỲNH DƯỚI GÓC ĐỘ QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH

Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan

(Bài trong sách Thượng Chi – Phạm Quỳnh từ trang 83 đến trang 101)

Ngày 26 tháng 12 năm 1920, trong lần tham dự Đại hội Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tán thành đi theo đường lối của Quốc tế Cộng sản (còn gọi là Quốc tế 3, Đệ tam quốc tế) và trở thành một trong những thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Tán thành “đi” theo Quốc tế Cộng sản, có lẽ Nguyễn Ái Quốc nghĩ nhiều về đường lối ủng hộ các dân tộc, thuộc địa giành độc lập trong đó có Tổ quốc Việt Nam, về một điểm tựa, một hậuThuong Chi Pham Quynh phương lớn mạnh, duy nhất bấy giờ cho cách mạng Việt Nam.

Trước và sau năm 1920 cho đến 1923, Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài về sự tàn bạo của các đế quốc, về nỗi khổ đau của các dân tộc thuộc địa nô lệ, đã ra báo Le Paria, thành lập “Hội Liên hiệp Thuộc địa”, trong khi Đảng Cộng sản Pháp và cả Quốc tế Cộng sản chưa làm gì được nhiều về vấn đề này.

Năm 1923, dự Đại hội Quốc tế Nông dân, được bầu vào Ban chấp hành quốc tế này, thuộc Quốc tế Cộng sản, đúng ra phải theo đúng chủ trương của Quốc tế Cộng sản về “giai cấp nông dân”, “đấu tranh giai cấp”, “tiêu diệt địa chủ”. Nhưng năm 1924, trong “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ”, Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thắn bác bỏ luận điểm “đấu tranh giai cấp là hòn đá tảng để xem xét người đó có phải là đảng viên cộng sản hay không?” bằng một lập luận mới, chưa có ai trước. Nguyễn Ái Quốc nêu lên, rằng: “đấu tranh giai cấp ở Đông Dương không quyết liệt như ở phương Tây” và đề nghị: “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước”. Khẳng định ý kiến mình, Nguyễn Ái Quốc “yêu cầu” – như một dạng chỉ thị, phân công: “đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm”. (Hồ Chí Minh toàn tập (tập 1), NXB, Chính trị Quốc gia, 1995)

Đến Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc còn dùng những danh từ nặng nề hơn về “các đồng chí Quốc tế Cộng sản chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng của Lênin về vấn đề thuộc địa, “cảnh cáo” rằng “tôi sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần, sẽ thức tỉnh các đồng chí”.

Năm 1930, với “Chính cương, Điều lệ tóm tắt” khi thống nhất, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam “chia giai cấp địa chủ ra đại, trung, tiểu”, lôi kéo các tầng lớp trí thức vào hàng ngũ Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã bị “phê bình” là “quốc gia chủ nghĩa”. Và Đảng Cộng sản Việt nam do Nguyễn Ái Quốc thành lập, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản đã không được chính thức công nhận là một chi bộ của Quốc tế Cống sản.

Bất đồng ý kiến với Nguyễn Ái Quốc, lo lắng cho chặng đường tiếp sau, Quốc tế Cộng sản đã điều động Trần Phú đang học tập tại trường đại học của những người lao động Phương Đông (còn gọi là trường Stalin, mang tên Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản), quán triệt những chỉ thị mới của Quốc tế Cộng sản như “đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương”, “thủ tiêu Điều lệ, Chính cương cũ” (của Nguyễn Ái Quốc), lập Ban chấp hành mới.

Sau đó ít lâu, khi những chỉ thị này đã được căn bản thực hiện, Quốc tế Cộng sản đã công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một chi bộ của Quốc tế Cộng sản.

Có thể sự “bất đồng” này liên quan đến việc Nguyễn Ái Quốc, sau Đại hội V Quốc tế Cộng sản, đáng lẽ được nhận tiền và và về châu Á, Trung Quốc, Đông Dương nhưng Ban Phương Đông và Quốc tế Cộng sản trì hoãn mãi (để xem xét, cân nhắc?).

Cuối cùng, Nguyễn Ái Quốc đã xin phép được rời Mátxcơva, không được phụ cấp tài chính, không có giấy giới thiệu với Đảng Cộng sản Trung Quốc, với tổ chức “Những người yêu nước tại địa phương sẽ đến…”

Để “văn kiện hóa” chỉ thị của mình, để giúp Trần Phú có cơ sở “pháp lý”, ngày 13 tháng 10 năm 1930, Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, bấy giờ có trụ sở ở Thượng Hải – Trung Quốc đã có thư gửi Đảng Cộng sản Đông Dương khoanh vào những điểm trọng tâm như sau:

  1. Động lực cách mạng ở Đông Dương là giai cấp công nhân và nông dân. Đồng minh trực tiếp của bọn đế quốc là địa chủ, phong kiến, kỳ hào, tư sản dân tộc. Giai cấp tiểu tư sản và tầng lớp tri thức xét trong toàn bộ sẽ dao động…
  2. Cốt lõi của cách mạng điền địa là triệt để tiêu diệt bọn địa chủ. Đừng rơi vào sai lầm nguy hiểm là phân địa chủ thành loại “tốt” và “xấu” (Văn kiện Đảng toàn tập (tập 2), NXB. Chính trị Quốc gia, 1998, tr.274-283)

Ngày 3 tháng 8 năm 1934, sau khi Xô viết Nghệ Tĩnh (với khẩu hiệu mang đầy đủ quan điểm của Quốc tế Cộng sản “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” thông qua chỉ đạo trực tiếp của ủy viên Trung ương Đảng Nguyễn Phong Sắc tại Trung Kỳ), bị đàn áp, Nguyễn Ái Quốc bị “mất tích”, khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư cho Đảng Cộng sản Đông Dương “khẳng định lại tính chất và nhiệm vụ cách mạng Đông Dương, chỉ rõ động lực chủ yếu cách mạng Đông Dương là giai cấp vô sản, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng hiện nay là nhen lên và tổ chức ở khắp nơi đấu tranh của nông dân đòi ruộng đất…” (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, 2004, tr.104)

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhiều lần yêu cầu và cũng đã được Quốc tế Cộng sản cung cấp tài chính “buộc” phải chấp hành chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, nhưng cũng sớm thấy “có gì đó không đúng với thực tiễn xã hội, thực tiễn cách mạng Việt Nam”. Về phần mình, qua nhìn nhận tình hình Đông Dương, trước nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới sắp xảy ra do chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Đức khởi xướng, Quốc tế Cộng sản cuối cùng cũng đã thay đổi ý kiến, tức là chấp thuận quan điểm mới, chính xác của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề các dân tộc thuộc địa đấu tranh cách mạng giành giải phóng dân tộc.

Từ ngày 25 tháng 7 đến 20 tháng 8 năm 1935, Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản đã đề ra và chủ trương “cần phải thành lập mặt trận thống nhất của giai cấp vô sản để tập hợp các khuynh hướng chính trị, xã hội, tín ngưỡng khác nhau để chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh. Mặt trận thống nhất sẽ có những hình thức khác nhau ở các nước, những nét riêng của từng nước mà trình độ, đặc điểm kinh tế xã hội, quan hệ giai cấp và phong trào quần chúng khác nhau”. (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sđd, tr. 116)

Mặc dù trong bài tham luận của đồng chí Lê Hồng Phong đọc tại phiên họp lần thứ 9, chiều ngày 28 tháng 7 năm 1935, trong Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản còn nói: “Chính quyền Xô viết (Nghệ Tĩnh) mới chỉ tịch thu ruộng đất của những địa chủ có trên 100 mẫu (khoảng 30 ha). Giới hạn này đã làm giảm mất nhiều khí thế đấu tranh giành ruộng đất của nông dân, vì trong các tỉnh mà chính quyền Xô viết được thành lập, chỉ có rất ít đại địa chủ”. Lê Hồng Phong còn phát biểu rằng “đó là tàn dư của cương lĩnh các nhóm cộng sản cũ đã máy móc chia giai cấp địa chủ thành hạng đại và trung (Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, các tác giả PGS Trần Thành; Hoàng Tùng; PTS Nguyễn Văn Khoan; PTS Lê Văn Tích; PTS Trình Mưu; PGS, PTS Phạm Xanh, PTS Nguyễn Thanh Tâm; Lê Doãn Hợp (Phó Bí thư thường trực tỉnh ủy Nghệ An); Đồng chí Lê Hồng Phong, một lãnh tụ xuất sắc của Đảng, NXB CTQG, II, 1997, tr 85 và 91. Xin lưu ý rằng, theo một số tư liệu, Nguyễn Ái Quốc, bấy giờ đang ở Mátxcơva “có góp ý kiến” vào các bản tham luận của Hoàng Văn Nọn, Minh Khai). Cuối bản tham luận, đại biểu chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương, chi bộ trực thuộc Quốc tế Cộng sản, đang giữ vai trò lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương, kết luận: “Công nhân và nông dân (không có các tầng lớp khác – NVK) ở xứ thuộc địa xã hội này của Pháp, hướng về Mátxcơva, chưa chan hy vọng và tin tưởng. Và họ mang trong tâm trí và trên miệng họ tên tuổi Stalin vĩ đại, quen thuộc và thân yêu, cái tên vang dội như một lời hiệu triệu chiến đấu cho cuộc cách mạng, chống đế quốc và phong kiến”.

Cho dù Lê Hồng Phong tự ý hay buộc phải “lấy lòng” Quốc tế Cộng sản và Stalin, tình hình thực tiễn ở Việt Nam do phép kết luận rằng ngày 28 tháng 7 năm 1935 là ngày “khai tử, chấm hết cho quan điểm đấu tranh giai cấp kiểu phương Tây trong xã hội phương Đông, cụ thể là ở Việt Nam, trong một xứ thuộc địa đế quốc cai trị, đang tiến hành cuộc đấu tranh giành giải phóng dân tộc. (Năm 1950, trong bài “Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử” đăng trên tờ Sinh hoạt nội bộ ở Việt Bắc, ký tên X.Y.Z, Bác Hồ viết: “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc” (Nguyễn Văn Khoan, Đi tới mùa xuân –Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Công an Nhân dân, 2007)

Trong thời gian Mặt trận Bình dân thắng cử ở Pháp, tại Việt Nam, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư và ngày 30 tháng 10 năm 1936, Đảng Cộng sản Đông Dương đã “thay đổi chiến sách” trên những điểm chủ yếu sau:

  1. “Hiện thời ở Đông Dương, đế quốc Pháp là kẻ thù áp bức dân tộc, bóc lột quần chúng lao động, là địch nhân chung (khác với chỉ thị Quốc tế Cộng sản đã coi “cách mạng thổ địa là hàng đầu”)
  2. Phải liên hợp các giai cấp trong toàn dân tộc… chống chế độ thuộc địa…
  3. Không những phải thâu phục đa số thợ thuyền mà còn cần phải thâu phục quảng đại quần chúng nông dân và tiểu tư sản thành thị. (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sđd, tr.155)

Tháng 9 năm 1937, Hội nghị mở rộng, Ban Trung ương Đảng “kiểm điểm, đánh giá sự lãnh đạo, chỉ đạo phong trào qua hai năm thực hiện Mặt trận dân chủ” đã phê bình “các đồng chí mắc phải bệnh thiên về thợ thuyền lao động quá, có khi chỉ biết có đám người ấy thôi mà quên hết cả quyền lợi của các tầng lớp, giai cấp khác (Văn kiện Đảng toàn tập (tập 6), NXB, Chính trị Quốc gia, 2000, tr.201-262)

Ngày 26 tháng 6 năm 1940, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, khóa này do Nguyễn Văn Cừ (Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư tại Hội nghị Trung ương, họp khóa 6 vào tháng 3, năm 1938, bị thực dân Pháp bắt vào tháng 6 năm 1940, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sđd, tr.249) làm Tổng Bí thư (Trường Chinh dược cử vào Ban Chấp hành Trung ương tại hội nghị lần thứ 7, tháng 11 năm 1940) đã ra lời kêu gọi “toàn dân đứng dậy đấu tranh trong hàng ngũ mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương”. Lời kêu gọi – tuyên ngôn này ra đời sau khi đế quốc Pháp quy hàng Hitler. Trung ương Đảng coi đây là “cơ hội tốt có một không hai để đánh đổ đế quốc thuộc địa” và kêu gọi tinh thần đoàn kết rộng rãi từ các bậc thương lưu trí thức (chúng tôi nhấn mạnh vì Phạm Quỳnh là thành viên của các “bậc” này) đến các hàng viên chức, hội tề, cho đến các công, nông, binh các lớp dân chúng cần lao và các chị em phụ nữ và các giới, tất cả những ai yêu nước” (Chúng tôi nhấn mạnh vì theo lời Hồ Chí Minh: “Hễ là người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước và mỗi người yêu nước theo cách của họ chứ không phải chỉ có đảng viên cộng sản mới yêu nước hoặc cộng sản là người yêu nước hơn”)

Sau khi Nguyễn Ái Quốc về nước (đầu năm 1941), Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp tại Pác Bó (Cao Bằng) vào tháng 5 ngày 19 năm 1941 gồm có Nguyễn Ái Quốc, Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt… do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã bầu Trường Chinh làm Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị đã xác định: “Cuộc cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc”. Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc (bao gồm cả sĩ, nông, công, thương, binh, các tôn giáo, dân tộc…-NVK) còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Do đó, Hội nghị đặt ra yêu cầu cần có những thay đổi căn bản trong chính sách đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới và chỉ rõ: “Phải thống nhất lực lượng cách mạng toàn Đông Dương, tất cả các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư sản, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất thành mặt trận cách mạng chung”.

Để thực hiện đường lối đoàn kết rộng rãi ấy, đường lối đại đoàn kết, Hội nghị đã thành lập “Mặt trận Việt Minh” (Những sự kiện lịch sử Đảng (tập 1), NXB, Sự Thật 1975, tr.513-515). Mặt trận Việt Minh kêu gọi: “Nông dân phải vào Nông dân cứu quốc hội; phụ nữ vào Phụ nữ cứu quốc hội; trẻ em vào Nhi đồng cứu quốc hội; binh lính vào Binh lính cứu quốc hội; các bậc văn sĩ, phú hào vào Việt Nam cứu quốc hội (Báo Việt Nam độc lập, số 133, tháng 12 năm 1941 nguyên bản lưu trữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Hà Nội).

Nhân dịp Hội nghị Trung ương lần thứ 8 Nguyễn Ái Quốc ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng (Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB. Chính trị Quốc gia, 1996, tr.198)

Tháng 8 năm 1943, nhận định ràng sau thất bại nặng nề ở Stalingrát, phát xít Đức đang đứng trước nguy cơ thua trận cuối cùng, thời cơ khởi nghĩa sắp đến dần, cần phải tập trung, thống nhất lực lượng đông đảo hơn nữa, để một lần nữa nói rõ quan điểm của Việt Minh, báo Việt Nam Độc lập số 12 ra ngày 21 tháng 8 năm 1943, với khẩu hiệu “Tiến lên vũ trang khởi nghĩa” đã nhắc nhở: “Chúng ta phải nhớ rằng lực lượng chúng ta là ở chỗ đoàn kết, đoàn kết toàn dân, đoàn kết đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con, đoàn kết người làm ruộng, làm thợ, bán buôn, người làm việc cho Tây (tức thực dân, đế quốc Pháp – NVK), người đi lính cho Tây (Bản gốc lưu trữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam) (Chúng tôi nhấn mạnh)

Như vậy là đã quá rõ ràng. Phạm Quỳnh, một nhà viết báo, viết văn, một người “vào bậc thượng lưu trí thức”, một người đã “làm việc cho Tây” cũng đã được Đảng Cộng sản Đông Dương và Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh cũng như Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1935 đưa vào diện đoàn kết – đoàn kết rộng rãi – đại đoàn kết, để cùng đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hai năm sau khi bài viết này công bố – bài viết mà nhiều nhà khoa học, nghiên cứu lịch sử Đảng, nghiên cứu Hồ Chí Minh nghĩ rằng “chỉ có Bác, với tư cách của mình mới viết được rõ ràng như vậy”, cũng đúng vào tháng 8 – tháng 8 năm 1945, nhân dân ta đã tổng khởi nghĩa giành được chính quyền, giành thắng lợi to lớn, bước đầu rất quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất cuối cùng sẽ đến vào năm 1975.

Có thể cho phép chúng ta suy luận là khi ở khu căn cứ Việt Bắc, Khu Giải phóng, nơi đã thành lập Ủy ban nhân dân – Hồ Chí Minh đã nghĩ tới một chính phủ của nước Việt Nam mới trong tương lai gần. Và một trong những thành phần của chính phủ ấy là sự có mặt của các bậc “thượng lưu, trí thức, văn sĩ, phú hào”, cả những người “đã đi lính cho Tây, làm việc cho Tây”. Lịch sử sau này đã ghi lại một danh sách dài những vị trí đó, từ vua Bảo Đại, Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, các Thượng Thư Bùi Bằng Đoàn, Phạm Phú Tiết… và các Bộ trưởng của chính phủ Trần Trọng Kim như Phan Anh, Trịnh Đình Thảo… cùng rất nhiều trí thức tư sản khác: Lê Văn Hiến, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Đặng Phúc Thông, Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện, ngay cả những Tổng đốc đã một thời “đàn áp” cộng sản như Vi Văn Định…

Như vậy, công bằng mà xét, Phạm Quỳnh cũng được đứng vào hàng ngũ những người kể trên.

Nhưng không phải riêng Phạm Quỳnh mà nhiều người khác, trước tháng 8 năm 1945 đã bị quy tội là “theo Pháp”, “phản động”… “làm cho Pháp”. Đúng vậy, nhưng Phạm Quỳnh vẫn được xếp trong “danh sách” những người “làm việc cho Tây, đi lính cho Tây”, để thu hút vào Việt Minh, để đoàn kết với mọi “giai tầng” khác. Phạm Quỳnh “phản động” nhưng chưa có chứng cứ gì trực tiếp đàn áp phong trào cộng sản, làm chỉ điểm. Còn giữ chức Thương thư Bộ Lại, Bộ Học, như bài viết trước đã nói, cũng chỉ để làm vì, để lấy cớ làm việc khác mà mình ưa thích mà thôi.

Phạm Quỳnh yêu nước theo cái cách của ông làm “quân chủ lập hiến”. Ngoài ra ông viết báo, viết sách “mở tai, mở mắt” cho đồng bào, tài sản trí tuệ của ông để lại cho dân, cho nước không phải là nhỏ. Ý kiến của Phạm Quỳnh về mặt tư tưởng đã không thống nhất với các đảng viên cộng sản. Xin nhớ rằng trên báo Thanh niên, từ năm 1925, Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh) có căn dặn các hội viên thanh niên: “phải tôn trọng ý kiến người khác”, “phải biết hy sinh ý kiến”.

Nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Phạm Quỳnh cần được làm rõ, vì tư thù cá nhân, vì “vô chính phủ”, vì e ngại khi bọn Pháp vào Thuận An hỏi về Phạm Quỳnh (trong khi chưa có chứng cứ gì là Phạm Quỳnh liên lạc với chúng (Tham khảo sách Việt Nam 1945-1975 của Lê Xuân Khoa, năm 1956 dạy học ở Hà Nội, nguyên Phó Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn: “Trường hợp Phạm Quỳnh, Ngự tiền Văn phòng (tương đương chức Thủ tướng) là một học giả yêu nước, nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hòa…”, tr56). Có một thực tế là những người con của Phạm Quỳnh cũng rất “ôn hòa”. 13 người con trai, gái, cô Giá thì là vợ Tôn Thất Bình, Hiệu trưởng Trường Thăng Long (nơi quy tụ những Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Quang Đạm…), cô Thức là vợ Giáo sư Đặng Vũ Hỷ, chuyên gia ngành da liễu Chính phủ Cụ Hồ, cô Phạm Thị Hảo – vợ dược sĩ Phùng Ngọc Duy, cô Phạm Thị Ngoạn – vợ Nguyễn Tiến Lãng. Ông Lãng từng là “trợ thủ” của tướng Nguyễn Sơn ở Liên khu 4 (bà Ngoạn đã đỗ tiến sĩ văn chương ở Pháp). Còn ông Phạm Khuê là Viện trưởng Viện Lão khoa, ông Phạm Tuyên là “Nhạc sĩ của nhân dân” với bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Còn phải kể đến cô Phạm Thị Hoàn, vợ nhạc sĩ Lương Ngọc Châu mà ông Châu là cháu nội cụ cử Lương Văn Can, tác giả bài hát mà các anh vệ quốc quân thường hát: “Một đi là không trở về…” Cũng có thể nghiêm khắc hay thông cảm mà nói rằng trong số hơn 10 người con của Phạm Quỳnh cũng có người vì nhiều lý do đã “hồi cư” ra nước ngoài… nhưng gia đình này đã không trực diện làm gì hại đến dân tộc, Tổ quốc. Họ đã ít nhiều nghe theo lời Hồ Chí Minh: “Nên nghĩ đến tương lai, chuyện giáo dục, chuyện cải thiện mức sống (vật chất, tinh thần) của nhân dân”. Họ đã thực hiện lời dặn của Hồ Chí Minh: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng (Tư liệu của gia đình Phạm Quỳnh, trong buổi gặp với gia đình Phạm Quỳnh năm 1945). Cũng nên đối chiếu thêm trường hợp các con trai, con gái của Phạm Quỳnh mất cha, cùng chung một lần với Ngô Đình Diệm mất anh (Ngô Đình Khôi) và cháu (Ngô Đình Huân, con trai Ngô Đình Khôi). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Khi dân chúng bị ức hiếp nổi dậy, lỗi lầm không thể tránh khỏi và chuyện bị thảm đã xảy ra. Nhưng tôi vẫn luôn luôn tin rằng nhân dân sẽ vượt lên trên những lỗi lầm đó. Ông (Ngô Đình Diệm) có những điều oán hận chúng tôi, ta hãy nên quên đi”. (Stanley Karnow, Viet Nam: A History (Lịch sử Việt Nam), New York, 1991, bản dịch của Lê Xuân Khoa)

Khi được tin Phạm Quỳnh không còn nữa, có thông tin cho rằng Bác Hồ đã nói: “Các chú làm hỏng việc rồi”. “Việc” có thể là “việc” của Bác đã suy nghĩ về cách mời Phạm Quỳnh làm gì đó cho “việc” dân, “việc” nước chăng? Dù sao cũng đã lỡ rồi nhưng cũng rất cần “lịch sử đánh giá lại” Cụ Phạm như lời Hồ Chí Minh…

Tháng 5/2011

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: