Pham Ton’s Blog

Tháng Hai 15, 2017

Ý kiến bạn đọc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:44 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 2 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917-1/7/2017)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

1

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi vừa nhận được thư điện tử của bạn Trần Sơn Bình (binh.transon@gmail.com) phát hồi 3:19 sáng ngày 11/4/2011. Toàn văn như sau: “Cháu là cháu ruột và cũng là cháu đầu của bác sỹ Ngô Văn Quỹ. Tình cờ tìm được bài viết này sau 4 năm ngày ông cháu mất, cháu và mẹ cháu (Ngô Phương Hồng) đều rất xúc động. Lúc ông đang nằm viện là thời gian cháu đang ở Pháp, cháu kịp về gặp ông đúng một ngày trước khi ông mất.

Cháu xin thay mặt gia đình, gửi lời cảm ơn đến bác / ông Tôn Thất Thành và mọi người tham gia blog Phạm Quỳnh về bài viết. Cháu xin phép được đưa bài viết này lên facebook cá nhân để chia sẻ với mọi người trong gia đình.

Xin chúc các bác / ông luôn mạnh khỏe và tiếp tục những công việc mà ông cháu và các bác đã theo đuổi.

Trân trọng,

Trần Sơn Bình.

—————-

Tran Son Binh

Mobile: 0912 42 62 81”

Nhân đây, để bạn đọc xa gần có thêm tư liệu về một con người đáng kính, một nhân cách cao thượng luôn sống hết mình vì mọi người, lại là một con người tài hoa, chúng tôi xin đăng lại sau đây bài viết về bác sĩ Ngô Văn Quỹ đã phát trước đây trên Blog PhamTon.

Vĩnh biệt bác sĩ Ngô Văn Quỹ

VIỆC NGHĨA CUỐI CÙNG CÒN DANG DỞ CỦA “CHÀNG TRAI” 87 TUỔI

  Tôn Thất Thành, Nhà báo

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bác sĩ Ngô Văn Quỹ sinh năm 1920 tốt nghiệp đại học y khoa Hà Nội năm 1954 từng làm bác sĩ pháp y ở Hà Nội, mổ hơn 2000 ca, và công tác ở các bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Viện K Hà Nội, bệnh viện E, bệnh viện Ung Bướu và giảng dạy tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 11/11/2006, tại thành phố Hồ Chí Minh.

Là một bác sĩ, tất nhiên ông viết nhiều bài báo, tập sách về y học, nhưng ông lại nổi tiếng hơn với những bài báo tập sách viết và sách biên soạn hoặc dịch về các vấn đề lịch sử văn hóa và thời sự. Ông chỉ xuất bản một tập ký và tùy bút là Con tàu mang tên nỗi nhớ (NXB Văn Học, 1998). Ông cộng tác viết bài thường xuyên trong nhiều năm cho các báo Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Pháp Luật, v.v…

Chúng tôi đăng dưới đây bài viết của nhà báo Tôn Thất Thành ngay sau khi ông mất, mong bạn đọc hiểu rõ hơn con người và tấm lòng của ông đối với việc nghĩa.

—o0o—

Tôi biết chị Nguyễn Thị Nghệ, người mà anh yêu suốt đời từ năm 1958. Nhưng được cùng công tác với chị tại phòng tư liệu báo Nhân Dân Hà Nội, 15 năm sau tôi mới được biết anh, quen anh và dần dà trở thành người bạn vong niên của anh lúc nào không biết.

Anh sinh năm 1920 tại huyện Nguyệt Hồ, tỉnh Hưng Yên. Hồi đầu Cách mạng tháng Tám, anh đã cùng đồng đội trẻ áp tải ra tận Hà Nội nguyên vẹn 45kg vàng dân Nam Bộ quyên góp ủng hộ nhà nước cộng hòa dân chủ non trẻ, hưởng ứng Tuần Lễ Vàng. Anh mê viết báo từ ấy, viết đủ các lĩnh vực: y học, văn chương nghệ thuật, chính trị, kinh tế, văn hóa… đặc biệt, anh hăng hái, nhiệt tình đấu tranh cho lẽ phải, minh oan cho những ai bị oan khuất, chiến đấu cho chân lý không mệt mỏi.

Là bác sĩ, lại từng công tác nhiều năm ở ngành pháp y, vì “yêu lẽ phải, mong muốn các xác chết “nói” lên được sự thật gần gũi nhất với bản chất vụ án, để tránh các oan khuất có thể xảy ra cho người vô tội”. Sau này làm phó giám đốc bệnh viện Ung Bướu, rồi nghỉ hưu, nhưng anh vẫn nặng tấm tình ấy của người bác sĩ pháp y năm nào. Năm 1997, báo Pháp Luật, một tờ báo anh thường cộng tác có đăng Vụ án vườn cam; bị cáo trẻ Huỳnh Văn Minh bi tuyên án tử hình vì hai tội hiếp dâm và giết người. Tòa báo có gửi hồ sơ vụ án đến cho anh nghiên cứu. Với kinh nghiệm của người từng nhiều năm làm công tác pháp y, anh thấy ngay là “có vấn đề”. Biên bản khám nghiệm tử thi ghi nhận các đầu ngón tay nạn nhân móng đều cắt ngắn, vậy mà thân thể bị cáo lại có vết xước da dài 2.5cm, rộng 0.2cm. Vết thương được khám 4 ngày sau vụ án mà vết xước vẫn còn… rướm máu! Mà lại là do bàn tay móng cắt sát gây ra. Đó là điều cực kỳ vô lý… Chàng trai không có tội, không thể để anh ta chết oan được…

Mấy năm sau, được biết ngày 9/11/2001, tỉnh Bến Tre sẽ thi hành án tử hình, thế là anh tức tốc bỏ tiền túi lấy ngay vé máy bay bay ra Hà Nội. Và ông lão 81 tuổi là anh đã ngồi ngoài đường suốt trưa nắng gắt, cốt sao gặp được người có thể giúp mình cứu một người trẻ tuổi anh chưa hề quen biết. Anh đã trực tiếp gặp phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, là người luôn chăm lo cho lớp trẻ, trình bày mọi lý lẽ và xin giảm án cho bị cáo. Nhờ vậy, Huỳnh Văn Minh chỉ bị án chung thân, thoát chết trong gang tấc! Nhưng anh vẫn chưa vui, vì mình mới chỉ làm được tới đó, biết làm sao được…

Anh yêu công lý và quyết đấu tranh cho công lý được sáng tỏ như thế đó. Quên tuổi già, sống mãi tuổi đôi mươi hồi tham gia Cách mạng tháng Tám. Tháng giêng 2004, bộ Y Tế tổ chức mừng thượng thọ anh tại Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Minh Triết bấy giờ là bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, đã tặng anh một bó hoa đẹp với lời chúc: “Tôi xin chúc mừng chàng thanh niên 84 tuổi”. Lời chúc…lạ tai mà ai nấy đều phải nhận là đúng.

Vốn được anh chị coi như em, lại biết anh thường quan tâm những chuyện gì, thấy nguyệt san Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước (số 140, tháng 8/2006) tôi gửi cho anh, đề địa chỉ theo trí nhớ là 12 Nguyễn Thị Huỳnh. Rồi số 141, tháng 9/2006 lại đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta, tôi vội gửi cho anh theo địa chỉ trên. Đến khi có trong tay bán nguyệt san Xưa và Nay (số 267, tháng 9/2006), cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đăng bài Người nặng lòng với nước viết về học giả Phạm Quỳnh, tôi càng mừng rỡ gửi cho anh ngày 2 tháng 10. Nhưng, ngày 7 tháng 10 thì bưu điện trả lại. Vì không đúng…địa chỉ! May mà có số điện thoại nhà anh, tôi gọi và con út anh, cháu Ngô Phương Điệp, cho biết: địa chỉ của anh thật ra là 12/2 Nguyễn Thị Huỳnh. May mà hai lần trước đều đến tay anh.

Hai bố con tôi tức tốc đem báo đến tận nhà cho anh. Lâu nay, thấy anh khỏe mạnh, đi xe Honda 81 chỗ này chỗ nọ, nên tôi lười, chỉ nhờ bưu điện. Không ngờ, đến nhà mới biết anh ngã bệnh đã một tháng rồi, nằm bệnh viện 20 ngày không khá lên chút nào, anh về nhà uống thuốc Đông y và châm cứu. Lúc tôi đến, anh nằm trên giấy báo lót dưới mình, mặc quần đùi, áo ba lỗ, nói thều thào. Tôi đưa anh tờ Xưa và Nay, anh xem qua đầu đề rồi nói khẽ: “Báo đăng, chưa đủ…Phải có một cái gì đó lớn hơn, cho mọi người cùng biết việc này…” Rồi anh bảo tôi là anh có một tài liệu dày ở Pháp mới gửi về, nói về Phạm Quỳnh khá nhiều, rồi anh bảo con gái lên tìm ở chỗ bên phải tủ sách, nhưng cháu tìm không thấy. Anh bảo, hôm nào tôi đứng lên được tôi lên nhà lấy cho. Tôi biếu anh hộp sữa, con gái anh nói anh chẳng chịu ăn gì, ghét cả sữa, chỉ muốn ăn trứng luộc thôi.

Chiều thứ 7 tuần sau, bố con tôi lại đến thăm anh. Anh nằm trên chiếu, mặc quần ngủ và áo ba lỗ vì trời rất nóng. Tôi biếu anh tập bản thảo các bài về Phạm Quỳnh đã đăng báo ở Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Anh bảo đó là công việc anh muốn làm trong những năm tháng còn lại, lâu nay anh nghĩ nhiều về học giả này và đã sưu tầm tư liệu, dự định làm một kịch bản phim hẳn hoi. Anh tiếc là bộ phim truyền hình dài tập Ngọn nến hoàng cung chiếu thời gian qua đã mô tả nhân vật Phạm Quỳnh sai lạc nhiều quá, khiến người xem hiểu lầm ông là người xấu, nhỏ nhen và tham quyền cố vị, muốn làm tay sai cho Pháp đến cùng. Hoàn toàn không đúng với sự thật lịch sử, nhất là với những phát hiện gần đây cho thấy đó là một người hết lòng vì nước vì dân. Anh nói rõ ràng từng tiếng một: “Phải có một bộ phim đáp trả lại bộ phim ấy, mà chắc chắn hay hơn nhiều vì trung thực và có cơ sở vững chắc, không phải là những suy đoán, hư cấu…vấn đề bây giờ là tìm cho ra được một đạo diễn dám thí mạng, làm cho được thật hay…Tôi suy nghĩ nhiều rồi, tôi ngồi dậy được là tôi bắt tay ngay vào việc thôi. Tư liệu nhiều lắm. Còn sống được mấy năm nữa, tôi muốn làm được một việc thật có ý nghĩa…” Anh vẫn uống thuốc Đông y và châm cứu. Nhưng khổ nỗi là uống thuốc này mà uống sữa thì lại bị tiêu chảy, từ sáng đến giờ ba lần rồi.

Chiều thứ bảy 21/10 bố con tôi lại đến thăm anh. Anh mệt mỏi, suốt đêm qua không ngủ được, bất kỳ cử động nào cũng làm anh đau nhức không chịu nổi. Anh phải ngồi cho đỡ nhức. Rồi vất vả lắm mới lại nằm xuống được để… “tiếp khách” là bố con tôi! Anh còn nói nhiều chuyện vui về việc nằm lâu thì đau như thế nào… Tôi thấy, con gái út anh, và cả con rể anh, phóng viên Đoàn Hiệp của báo Sài Gòn Giải Phóng đều gầy đi từng tuần tôi gặp. Thấy anh mệt, tôi xin về mấy lần, anh vẫn còn muốn trò chuyện mãi, và mấy lần nhắc lại câu: “Cuốn sách đó có nhiều tư liệu về Phạm Quỳnh, nhất định tôi sẽ đưa cho, tôi mà lên gác được là tôi tìm thấy ngay thôi…” Anh vẫn nhiệt tình, chu đáo như xưa.

Thứ bảy kế tôi bận không thăm anh được. Thứ bày 4/11, tôi đến anh, hy vọng anh đã khá hơn. Nhưng anh con rể cho biết anh vừa nhập bệnh viện hôm qua. Tôi đến lầu 7 bệnh viện Chợ Rẫy, phòng cấp cứu tim như được chỉ, thì anh đang được tiếp máu lần thứ nhất và thở ốc-xi. Con gái út anh trông nom. Tôi ra hiệu để yên anh nằm nghỉ, nhưng cháu khẽ chạm vào chân anh, anh mở mắt, nhận ngay ra tôi. Anh cố nói: “Xin lỗi…” Con anh phải nhắc: “Bố đừng nói nữa, có khó thở không…?”. Vì nếu khó thở thì phải ngưng truyền máu ngay. Tôi chưa kịp hiểu anh định nói gì, nên nói vui sao anh em mình hay gặp nhau ở bệnh viện quá nhỉ. Năm 1998 tôi bị tai biến mạch máu não, vào bệnh viện Nguyễn Trãi cấp cứu, mở mắt ra đã thấy anh cùng bác sĩ Trần Cửu Kiến bạn anh đang đứng ngay gần. Tôi thật không ngờ! Đây là lần cuối cùng tôi được nghe anh nói và hai từ anh nói khó khăn lúc đó là: “Xin lỗi”. Người như anh làm sao có lỗi được.

Thứ bảy 11/11, tôi gọi điện đến nhà anh, hy vọng anh đã về và sẽ gặp anh tại nhà. 14 giờ 35, giọng cháu Điệp run run: “Bố cháu vừa mất lúc 12 giờ 50”.

Tôi chở vợ tôi vốn cũng thân thiết với cả hai anh chị như tôi, đến ngay nhà, mong được nhìn mặt anh lần cuối. Anh mặc com-lê xanh, nằm phẳng dẹp trên giường; trên bụng đặt một nải chuối xanh. Bàn nhỏ cạnh giường có một bức ảnh lạ; cháu Điệp nói không biết bố cháu chụp hồi nào mà không giống mấy. Cháu kể: 11 giờ 30 thứ năm bố cháu nhất định đòi về nhà; sáng nay còn ăn sữa…

Anh nằm ngay cạnh cửa sổ phòng khách, gần lối ra vào. Giữa phòng khách là bàn thờ chị Nghệ, người yêu suốt đời của anh, anh tự lập bàn thờ, treo có đến ba bức ảnh to của chị từ thời con gái, đến trung niên và lúc tuổi đã cao. Anh bảo tôi: “Để bà ấy ở đấy tôi đi đâu về đều gặp; trước khi ăn cơm cũng mời bà ấy được một câu.” Hồi chị Nghệ mất, anh bắt tất cả các cây trong vườn nhà hằng ngày vẫn được chị tưới, bón phải “chịu tang”, đeo khăn trắng hết. Nhớ lại chuyện ấy, thấy vạt vạn niên thanh xanh mướt, như anh bao giờ cũng trẻ, năng nổ, sẵn sàng giúp người, tôi xin anh con rể cho mấy ngọn về trồng. Đoàn Hiệp đang bận túi bụi, chắc hiểu lòng tôi, bứt công việc tang gia ra cắt cho tôi năm nhánh. Năm nhánh ấy, nay tôi trồng trong một chậu treo xanh mướt, có dán hình anh tươi cười ôm cháu ngoại, thật đúng là anh, dưới có dòng chữ “Anh Ngô Văn Quỹ (1920-11/11/2006, 21/9 Bính Tuất)”.

Sáng nào trước khi làm việc, bắt đầu một ngày mới tôi đều tưới cây, thấy anh tươi cười. Và những ngọn vạn niên thanh anh trồng, chị chăm, nay tôi chăm, vợ con tôi cũng chăm cho mãi xanh tươi, để mãi nhớ về anh chị, những con người thật đáng làm người.

30 tháng 11 năm 2006

Tôn Thất Thành

* Trong bài có sử dụng tư liệu của bài Vĩnh biệt chàng thanh niên 87 tuổi của Ngô Ngọc Ngũ Long báo Sài Gòn Giải Phóng số 14/11/2006

2

Bạn Mình Yêu Họ Những người thầy lớn trong đời / Kim Dung / Kỳ Duyên bình luận về bài Từ một “vụ án” đã sáng tỏ trên Blog PhamTon viết về trường hợp hàm oan trong nhiều năm của nhà báo Quang Đạm, nguyên phó tổng biên tập báo Nhân Dân, một cây bút lý luận sắc xảo, uyên bác.

“Mới đây, rất may, tình cờ mình đọc được bài viết này minh oan cho ông (https://phamquynh.wordpress.com/2013/06/28/tu-mot-vu-an-da-sang-to/) của tác giả Thủy Trường. Còn khi đó, mọi cánh cửa đều đã đóng lại […]”

TỪ MỘT “VỤ ÁN” ĐÃ SÁNG TỎ

                                                      Thủy Trường

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong những ngày kỷ niệm Cách Mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 năm nay, chúng tôi cảm động nhận được bài của bạn Thủy Trường viết về một trong những con người đã một lòng trung với Nước, hiếu với Dân, nhưng có thời gian đã không được hiểu đúng, thậm chí còn bị nghi là phản dân hại nước, nhưng họ vẫn giữ vững một tấm lòng son với Dân với Nước, lặng lẽ chờ đợt sự phán xét công minh của Nhân dân, của Lịch sử. Có lẽ, đó cũng là một nét anh hùng của con người Việt Nam chúng ta…

—o0o—

Biết tôi có quen biết với gia đình anh Quang Đạm, nguyên ủy viên Ban Biên tập Báo Nhân Dân, nhiều nhà báo, kể cả ở báo Nhân Dân, đôi ba thế hệ hỏi: “Tại sao ông Đạm, tri phủ Hà Trung (Thanh Hóa) thời chính phủ ngụy thân Nhật Trần Trọng Kim, “chui vào Đảng”, bị khai trừ, mà con lại “leo” lên được Uỷ viên Trung ương Đảng? Thế là Đảng mất cảnh giác à?”

Thật là những câu nói sai trái, thiếu hiểu biết, độc ác.

Và câu chuyện “mất cảnh giác” ấy hiện vẫn còn lưu hành đâu đó. Đã đến lúc cần làm sáng tỏ.

Những năm 1939-1949, tôi sống ở làng Vạn Hà, huyện lỵ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Là học trò của cô giáo Nguyễn Thị Sâm, tôi biết chồng cô là “Thầy lục sự” Tạ Quang Đệ (Lục sự là một chức danh chính quyền cũ, lo liệu việc văn thư, hành chính, giấy tờ, yêu cầu phải biết chữ quốc ngữ, Pháp văn, chữ Hán, chữ Nôm…). Nhà tôi ở cạnh nhà cô Sâm nên vẫn thường qua lại. Năm 1941, tôi vào “Xì cút” – Hướng Đạo sinh, đoàn Vạn Hà do thầy giáo Nguyễn Chương (sau này là vệ sĩ của Bác Hồ) và thầy Đệ phụ trách.

Trước Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, từ một đề nghị nào đó của “các anh” bên đoàn thể – có thể có ý kiến của Tạ Quang Bửu – anh ruột Tạ Quang Đệ (Tạ Quang Bửu là người được Đảng ta giữ liên lạc, yêu cầu lãnh đạo “Xì cút” đứng về phía Việt Minh), Tạ Quang Đệ được bổ nhiệm làm tri phủ Hà Trung, giáp ranh hai tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình.

Tại sao không làm quan đầu một huyện, phủ khác? Sau này, anh Đạm* mới cho biết là “ý của “các anh” đưa mình về Hà Trung là nơi có chiến khu Hòa – Ninh – Thanh (Hòa Bình – Ninh Bình – Thanh Hóa), rồi chiến khu Ngọc Trạo.”

Làm tri phủ “đệm”, nên trước ngày 19/8/1945, tri phủ Tạ Quang Đệ đã liên hệ với Việt Minh, bàn giao “triện”, sổ sách, vũ khí và ra Hà Nội sau đó mấy hôm, theo một “lệnh” nào đó.

Đến Thủ đô, Tạ Quang Đệ đi dạy học ở trường Thăng Long, rồi nhận công tác ở phòng Tham mưu do Hoàng Văn Thái (sau này là Đại tướng) làm trưởng phòng. Ngày 3/9/1945, Trưởng Ban Thông tin liên lạc của Phòng Tham mưu là Hoàng Đạo Thúy (bạn Hướng Đạo của Tạ Quang Bửu) chỉ định Tạ Quang Đệ làm Tổ trưởng Tổ Mật mã, có nhiệm vụ “biên soạn một luật mật mã mới về vô tuyến điện cho quân đội ta”.Tạ Quang Đệ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được coi là “ông tổ mật mã của quân đội ta”. Công trình khoa học này, gần đây đã được nhà nước trao tặng giải thưởng Khoa học Quốc gia cho Tạ Quang Đệ cùng cộng sự.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Theo cơ quan lên Việt Bắc, Tạ Quang Đệ viết báo tường nội bộ. Bài báo của Tạ Quang Đệ đã “lọt vào mắt xanh” của đồng chí Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh. Sau đó, Tạ Quang Đệ được điều động về báo Sự thật với bút danh Quang Đạm, nổi tiếng với những bài xã luận, những bài tranh luận về pháp luật với Vũ Đình Hòe. Anh dịch tài liệu của Đảng Cộng Sản Pháp, Đảng Cộng Sản Liên Xô bằng chữ Pháp sang tiếng Việt, do một đài vô tuyến điện của ta được chính phủ Diến Điện (Miến Điện) cho đặt ở Rangun, thu rồi phát về Việt Nam. Anh còn dịch nhiều tài liệu của Đảng Cộng Sản Trung Quốc ra tiếng Việt phục vụ Trung ương Đảng, Bác Hồ, đồng chí Trường Chinh (như Trì cửu chiến – đánh lâu dài, Thực tiễn luận – bàn về thực tiễn). Anh là người duy nhất dịch được các chữ Hán cổ Bác Hồ viết theo lối tốc ký.

Năm 1954, về Hà Nội, Quang Đạm nhận nhiệm vụ ủy viên (thường trực) Ban Biên tập Báo Nhân Dân, là người về sau cùng của tòa soạn, sau khi báo đã xuống nhà in, cũng là người đến sớm nhất để thay mặt tòa soạn ghi nhận những ý kiến nhận xét của Bác Hồ, đồng chí Trường Chinh về tờ báo mới in xong. Là đại biểu Đảng Lao động Việt Nam dự Đại hội Đảng Xã Hội Thống Nhất Đức, anh đã đọc bài tham luận có tựa đề Đổi mới là sáng tạo, chân lý là cụ thể. Anh đã tham gia phái đoàn Hoàng Quốc Việt, sang thăm Triều Tiên khi Triều Tiên  đang “kháng Mỹ”.

Trong những năm cuối thập kỷ 60 thế kỷ trước, anh bị “người ta” cho là “đã dẫn nhà chức trách lùng bắt cộng sản ở Thiệu Hóa”. Theo lời anh kể cho tôi: “Có việc ấy, những đáng lẽ dẫn người đi thẳng đến thôn, nơi có cộng sản họp, anh lại cho ô tô bóp còi, đi vòng vèo để cộng sản biết mà chạy thoát”. Người có công, mang tội, anh bị chi bộ “khai trừ, lưu Đảng” – “bằng miệng”. Sự kiện được đưa lên Liên chi ủy báo Nhân Dân, Tổng Biên tập – Hoàng Tùng – Ủy viên Trung ương, thấy không phải việc nhỏ, nên đã cử người lên xin ý kiến đồng chí Trường Chinh, thay mặt Trung ương phụ trách mảng Tuyên huấn lúc bấy giờ.

Người được cử đi về nói lại rằng: “Theo anh Năm (bí danh đồng chí Trường Chinh) quyền là ở cơ sở, phải làm đúng thủ tục tổ chức Đảng. Đề nghị các anh lên xin ý kiến anh Ba (đồng chí Lê Duẩn)”. Người đi báo cáo với anh Ba về nói: “Đồng ý với đồng chí Trường Chinh. Tùy chi bộ”.

Tin đưa về đến tòa soạn thì Đảng viên Quang Đạm đã được nghỉ công tác, nghỉ sinh hoạt Đảng một thời gian rồi. Thế là việc khai trừ, lưu Đảng coi như đã xong.

Không có công tác, tiền lương bị hạ, không được sinh hoạt Đảng… anh Quang Đạm buồn lắm và rất đau khổ. Nhưng có lẽ người đau khổ nhất là vợ anh, cô giáo Sâm, cô kể cho tôi nghe: “Gia đình anh Bửu là nơi mà cô Liên, ông Cả (anh chị ruột Bác Hồ) thường đến nghỉ ngơi, trốn tránh khi có khó khăn. Mẹ anh Bửu, Đạm là nữ sĩ Sầm Phố, đã chăm nom cô Liên, ông Cả rất chu đáo. Có lần, trên Việt Bắc, Bác Hồ gặp anh (Quang Đạm) hỏi: “Bà cụ hồi này còn làm thơ nữa không? “Chắc là họ nhầm thôi”.

Có thể nói, “làm như vậy” là không được đúng, nên sau 1975, anh có được đi họp cuộc này, cuộc nọ, “mời dự các buổi thời sự” ghi rõ trong giấy là “dành cho cán bộ cao cấp”.

Cuốn sách Nho giáo, anh viết theo gợi ý của đồng chí Trường Chinh, mấy năm mới xong không được phép xuất bản vì Nho giáo là “hủ nho”, “phong kiến”, “phản động”. Sống thanh đạm, gia đình anh vẫn tin tưởng Đảng, không một lời kêu ca, oán trách.

Năm 1989, biết tôi là đồng đội với Đặng Xuân Kỳ – con trai đồng chí Trường Chinh, anh Đạm nhờ tôi gửi “Anh Năm” (đồng chí Trường Chinh) một thư viết tay trên một mảnh giấy nhỏ vài dòng. Tôi nhờ Đặng Xuân Kỳ chuyển, Đặng Xuân Kỳ nói:

– Hôm sau, cụ tới đây, anh cứ đưa trực tiếp thư của chú Đạm.

Hôm đồng chí Trường Chinh đến nhà Đặng Xuân Kỳ ở khu Giảng Võ, Kỳ kéo tôi ra cụ Năm:

– Đây là đồng chí bạn Lục quân của con, được chú Đạm nhờ chuyển bức thư.

Đồng chí Trường Chinh mở bức thư không dán, đọc ngay rồi bảo tôi:

– Đồng chí bảo Đạm cứ yên tâm. Đại hội (Đảng) xong tôi sẽ giải quyết dứt điểm cho Đạm. Tôi là một trong hai người giới thiệu Đạm vào Đảng, tôi có trách nhiệm.

Việc chưa xong thì đồng chí Trường Chinh đã “đi theo Bác”.

Tôi hỏi Tạ Quang Ngọc, con trai anh Đạm, bấy giờ đã là Thứ trưởng Bộ Thủy sản.

–          Ai là người thứ hai giới thiệu?

–          Chú Mười Hương

Nhân chuyến đi công tác vào Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin đến gặp đồng chí Mười Hương, xin đồng chí cho biết một số việc và trình bày sự việc của anh Đạm.

Ngồi trầm ngâm một lát, “ông trùm tình báo Việt Cộng Mười Hương” nói:

–          Sắp tới tôi ra Hà Nội, sẽ làm rõ việc này.

Một ngày khoảng năm 2000-2001 gì đó, Tạ Quang Ngọc đón tôi đến khu nghỉ Hồ Tây gặp đồng chí Mười Hương, người Đảng viên lão thành nói giọng buồn rầu:

–          Hôm trước, tôi và đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đến Ban Tổ chức Trung ương Đảng, lục tìm quyết định khai trừ cậu Đạm, bằng văn bản, nhưng không có, hoàn toàn không có. Quyết định miệng, không có văn bản, thủ tục khai trừ – chi bộ – liên chi bộ họp bao giờ, bao nhiêu đảng viên dự, ý kiến ra sao, tỷ lệ đồng ý, không đồng ý là bao nhiêu, chủ tịch, thư ký là ai ký vào… tất cả đều không có. Đã không có thì làm sao phục hồi được.

Tôi và Tạ Quang Ngọc ra về.

Ít lâu sau, Tạ Quang Ngọc được bầu vào Trung ương Đảng, rồi giữ chức Bộ trưởng Bộ Thủy sản. Nhớ tới câu đồng chí Lê Đức Thọ nói với vợ một cán bộ cao cấp (B.C.T.) bị quy kết oan sai, rằng: “Đảng không thể ra văn bản sửa sai được, mà chỉ sửa bằng sự việc cụ thể thôi…”, tôi nghĩ trường hợp này của anh Đạm có thể cũng là như vậy. Tôi nhân đó cũng nói đôi lời với Tạ Quang Ngọc; Tạ Quang Ngọc nói: “Cậu mợ tôi, trước khi mất vẫn tin rằng mình không có gì sai, vẫn tin tưởng Đảng”.

Trường hợp này, khiến tôi liên tưởng đến “vụ án” Phạm Quỳnh.

Không có biên bản, tòa án, không rõ ai là chánh án, thẩm phán, thư ký tòa, có hay không có luật sư, hay là có biên bản nhưng đã “mất”, “thất lạc”… Dù ba tháng sau khi Phạm Quỳnh mất đã công bố trên báo chí, nhưng nay, nếu thấy là chưa phải, chưa đúng, cần “giải oan” cho người bị oan, cũng chẳng có cơ sở pháp lý gì để xem xét lại.

Cũng giống như các vụ “Nhân văn – Giai phẩm”, “Vụ chống Đảng” (có cả Lê Trọng Nghĩa – một trong những nhà lãnh đạo Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội) đã được sửa sai: cho in thơ, tặng giải thưởng, cho phục hồi danh dự… nhưng chưa có (hay đã có mà công luận không biết) văn bản.

Bằng việc cho tái bản sách của Phạm Quỳnh, in sách về Phạm Quỳnh, chấp nhận “Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn”, thiết nghĩ đó đã là “văn bản” trả lời vụ việc rồi. Chưa kể đến những động tác khác rất đáng hoan nghênh, “nhân nghĩa”, ân tình của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Và như vậy, “có thể” coi như vụ án Phạm Quỳnh đã khép lại. Thượng Chi ở dưới suối vàng đã “nhàn du tiên cảnh”. Con cháu Phạm Quỳnh theo lời Bác Hồ dặn, cũng đã “vững tâm đi theo cách mạng” vì “Cụ Phạm – lời Bác Hồ – là con người của lịch sử sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này” – họ đã cùng với các nhà khoa học, chính trị, lịch sử, văn hóa có thể thưa với Bác Hồ rằng: “Thưa Bác, theo lời Bác dặn, lịch sử đã đánh giá đúng Cụ Phạm, xin Bác vui lòng”.

T.T.

———————–

(*) Tên thường gọi là Tạ Quang Đệ. Khi lên Việt Bắc những năm kháng chiến chống Pháp, Tạ Quang Đệ công tác ở báo Sự Thật với đồng chí Trường Chinh. Một lần bài đưa đến nhà in, bị mưa xóa nhòa tên tác giả, biết là bài của anh Đệ, là em anh Tạ Quang Bửu, tòa soạn đặt luôn tên tác giả là Quang Đạm. Đạm là chữ có từ cách “nói lái” các chữ Lam (tên con gái), Ngọc (tên con trai) và Đệ (tên bố). Từ Lam Ngọc Đệ thành Lê Ngọc Đạm.

3

Bạn Tâm Lê (email: letamsaigon@gmail.com) gởi ngày 25/9/2015 vào lúc 12:24.

Chào Anh,

Tôi rất quan tâm đến những nội dung trong quyển Phạm Quỳnh -những góc nhìn từ Huế.Khi sách được giới thiệu trong ngày ra mắt ,tôi có vào các nơi đặt mua sách trên mạng thì tìm không thấy.Sau đó tôi có viết thư gửi anh Phạm Bá Thanh Tùng thì mới được biết quyển này không có bán trên thị trường và anh Tùng có cho em biết anh còn một số quyển.Vậy em kính xin Anh có thể nhín cho em một quyển,với lời thiết tha mong mỏi được Anh chấp nhận.Em ở BếnTre,nhưng em có mấy người em làm việc ở Sài Gòn,nếu được sự đồng ý của Anh ,em sẽ nhờ mấy đứa em đến nhận giùm.Trong khi chờ đợi sự đồng ý của Anh ,em chân thành cám ơn Anh rất nhiều.

Lê Minh Tâm.

Vào lúc 17:42 ngày 26/9/2015, Blog Pham Tôn đã viết:

Chào anh Lê Minh Tâm,

Lần đầu tiên tiếp xúc với anh, tôi xin tự giới thiệu. Tôi là Tôn Thất Thành sinh năm 1940. Hiện sống tại 82 đường Lý Chính Thắng, Phường 8, Quận 3, TPHCM, số điện thoại bàn là 08-3848 0803. Xin nói để anh rõ anh Thanh Tùng ở xa không rõ tình hình của tôi, cho tới nay tôi chỉ có một bản sách đó với lời đề tặng nên dù rất quý anh tôi cũng không thể nhín cho anh được. Mong anh thông cảm. Với nhiệt tình của anh, tôi đã liên hệ với người tặng sách tôi, xin gửi cho tôi thêm một bản. Khi nào có sách, tôi sẽ báo anh biết. Trong lúc chờ đợi, mong anh cũng tự giới thiệu cho tôi biết về anh đôi chút, vì mong rằng chúng ta còn quan hệ lâu dài.

Chúc anh mạnh khỏe

Tôn Thất Thành

6:54 chiều 26/9/2015, bạn Tâm gởi:

Kính gửi Bác Tôn Thất Thành,

Con tên Lê Minh Tâm ,con sinh năm 1971,hiện con ở tại xã Giao Long ,huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre.Số điện thoại của con là 01649904041.

Trước tiên con xin lỗi Bác về cách xưng hô của con trong email trước con gửi cho Bác vì con không đoán được tuổi tác .Con biết Bác là do Bác Phạm Bá Thanh Tùng giới thiệu  khi con tìm hoài mà không thấy trên thị trường bán quyển “Phạm Quỳnh -những góc nhìn từ Huế”.Con quyết tâm đi tìm quyển này vì con rất hâm mộ những chính kiến của Cụ Quỳnh lúc sinh thời qua mấy tư liệu ghi chép lại,nhưng trải qua các thời kỳ có những ý kiến trái chiều,đến nay thì đã được tháo gỡ phần nào ,ngoài đó con không biết thế nào chứ trong con có lúc trà dư tửu hậu con có mấy người quen cũng hay bàn luận về cụ Quỳnh.Con đã đọc “Mười ngày ở Huế,Một tháng ở Nam Kỳ,Du ký Việt Nam” của Cụ Phạm Quỳnh.Vì vậy khi quyển Phạm Quỳnh -những góc nhìn từ Huế được giới thiệu ra mắt nhân ngày kỵ cơm Cụ,con rất trông đợi nhưng cuối cùng qua Bác Tùng và Bác cho hay là không có bán trên thị trường,con cũng hơi buồn nhưng với quyết tâm tìm kiếm cho bằng được dù chỉ bằng 1% con cũng cố gắng.Đến hôm nay thì theo lời Bác con cũng phần nào nuôi hy vọng .Con cám ơn Bác trước khi được Bác tiếp chuyện.Con kính chúc Bác và gia đình mạnh khỏe ,hạnh phúc và vạn sự như ý .Con kính chào Bác .

              Con -Lê Minh Tâm.

Vào lúc 5:58 chiều 28/9/2015 bạn Tâm gửi

Kính gửi Bác,

Em con vừa báo tin đã đến nhà Bác nhận quyển sách ,con vô cùng cảm ơn Bác và vô cùng xúc động khi được Bác quan tâm giúp đỡ cho con hoàn thành tâm nguyện của mình.

Kính chúc Bác mạnh khỏe và hạnh phúc.Kính chào.Lê Minh Tâm.

4

Lời dẫn của Pham Tôn: Hồi này ở Hoa Kỳ có lưu hành một tư liệu của một nhà sử học nói về cái chết của học giả Phạm Quỳnh. Tài liệu nhà sử học này căn cứ vào là Hồi ký viết tại Paris ngày 28/10/1992 của bà Phạm Thị Thức, con gái thứ hai của Phạm Quỳnh. Vì thế mới có chuyện trao đổi này giữa bạn đọc và chúng tôi

Ngày 10/10/2009 bạn NÓI THẬT (Thư điện tử: noithat0@yahoo.com.vn) hỏi:

“Thưa ông Phạm Tôn,

Tôi đọc khá kỹ loạt bài về cụ Phạm Quỳnh trên www.sachhiem.net, sau có đường link mà tìm ra blog của ông. Tôi trân trọng những tư liệu lịch sử mà ông hẳn đã rất kỳ công tìm kiếm.

Tuy vậy, có một điểm mâu thuẫn rất lớn mà tôi không thể không hỏi ông. Trong entry (tôi tạm gọi như vậy theo ngôn ngữ blog) “Về hồi ký viết tại Paris ngày 28/10/1992 của bà Phạm Thị Thức”, ông khẳng định gia đình cụ Phạm Quỳnh đoan chắc cụ bà Phạm Thị Thức chưa bao giờ xuất ngoại sang Pháp nên không thể có hồi ký đó. Nhưng trong entry này, ông lại viết “Duy nhất nay chỉ có nhạc sĩ Phạm Tuyên ở trong nước. Sau năm 1975, còn có hai bà chị lớn là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức cùng ông anh là bác sĩ Phạm Khuê vẫn ở Hà Nội và một em gái ông là bà Phạm Thị Giễm sống ở Đà Lạt, đến năm 1988 mới sang Pháp đoàn tụ gia đình”. Đọc nguyên văn đoạn này, ai cũng hiểu là chỉ có ông Phạm Tuyên ở lại Việt Nam còn toàn bộ những anh em khác, con của Phạm Quỳnh đều đã sang Pháp ở. Nếu như vậy, hẳn là có thể có chuyện bà Thức ở Paris và bà Thức viết hồi ký chứ.

Thưa ông, xin ông vui lòng giải đáp thắc mắc này. Xin cảm ơn ông.”

Thư trả lời

“Kính gửi bạn Nói Thật,

Tối qua, tôi mới nhận được thư của bạn. Tôi cảm ơn bạn đã “đọc khá kỹ loạt bài về cụ Phạm Quỳnh trên www.sachhiem.net”, sau đó còn tìm ra và đọc blog của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã viết “Tôi trân trọng những tư liệu lịch sử mà ông hẳn đã rất kỳ công tìm kiếm”.

Do đó, tôi vội trả lời ngay điều mà bạn “không thể không hỏi”. Bạn viết: “đọc nguyên văn đoạn này, ai ai cũng hiểu là chỉ có ông Phạm Tuyên ở lại Việt Nam còn toàn bộ những anh em khác, con của Phạm Quỳnh đều đã sang Pháp ở.” Ở đây tôi xin lưu ý là chính bạn đã trích, “Duy nhất nay chỉ có nhạc sĩ Phạm Tuyên ở trong nước.” Đó là nguyên văn đoạn này trong bài Nhà văn, nhà báo Phan Thứ Lang, người phát hiện ra Phạm Quỳnh có tới… bốn bà vợ. Chúng tôi đưa lên blog tuần thứ 4 tháng 9 năm 2009 . Điều đó có nghĩa là chữ nay, hẳn phải là trước tuần thứ 4 tháng 9 năm 2009 một thời gian không lâu. Và sự thật chính là ở chỗ này. Bạn bỏ sót chữ nay nên mới suy luận như trên. Sự thật là sau khi bà Phạm Thị Giễm là em gái nhạc sĩ Phạm Tuyên sang Pháp đoàn tụ gia đình năm 1988 thì năm 2000 bà chị gái lớn là Phạm Thị Giá qua đời, rồi đến năm 2003 là giáo sư Phạm Khuê, và đến năm 2007 thì bà Phạm Thị Thức là chị gái thứ 2 cũng qua đời. Như vậy là ngoài bà Phạm Thị Giễm sang Pháp, ba anh chị kia đều qua đời chứ không ai sang Pháp cả. Do đó, khoảng tuần thứ 4 tháng 9 năm 2009 (nay) duy nhất chỉ có nhạc sĩ Phạm Tuyên ở trong nước.

Rất cám ơn bạn đã quan tâm đến học giả Phạm Quỳnh và bắt đầu đọc blog của chúng tôi, lại còn viết thư cho chúng tôi. Mong bạn sẽ là một bạn đọc trung thành và nếu có thể là một cộng tác viên của blog chúng tôi.

Kính thư,

Phạm Tôn

www.phamquynh.wordpress.com

“9:46 tối 3/11/2009, bạn Nói Thật đã có hồi đáp:

Thưa ông Phạm Tôn,

Cảm ơn ông đã hồi đáp. Đúng là tôi đã đọc không kỹ, xin cáo lỗi.

Theo thiển ý của tôi, ông nên lập một thư mục riêng cho những trước tác của cụ Phạm Quỳnh để bạn đọc cần tư liệu có thể tìm kiếm theo hệ thống thuận tiện hơn.

Là một người xa lạ nhưng tôi thực lòng mong mỏi án oan của cụ Phạm Quỳnh được làm rõ và công khai trước công luận. Những người có chức trách cần có một thái độ ứng xử đàng hoàng, dũng cảm hơn. Dân không có thờ lầm người bao giờ, tôi tin cuộc đời và nhân cách đẹp đẽ của cụ Phạm Quỳnh được nhân dân hiểu rõ và trân quý.

Chúc ông và gia đình dồi dào sức khỏe.

Kính,

NÓI THẬT

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: