Pham Ton’s Blog

Tháng Ba 14, 2017

Đông Hồ với tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:07 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 3 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

ĐÔNG HỒ VỚI TẠP CHÍ NAM PHONG VÀ PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Xuân đã viết trong bài Đông Hồ, một nhà thơ, nhà giáo tâm huyết trên báo Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày 25/3/2001 như sau : “Nhà thơ Đông Hồ tên thật là Lâm Tấn Phác, tự là Trác Chi, còn có hiệu là Hòa Bích, Thủy Cổ Nguyệt, sinh năm 1906 tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên, nay thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Mồ côi từ bé, ông được người bác là ông Lâm Hữu Lân – một trí thức Nho học – nuôi dạy. Sớm yêu thích văn chương, Đông Hồ đọc nhiều thơ văn chữ Hán và tích cực hưởng ứng phong trào đề cao tiếng Việt, quảng bá chữ quốc ngữ trên tạp chí Nam Phong.

Sau khi tốt nghiệp ngành sư phạm, Đông Hồ dạy học tại Trường Tiểu học Hà Tiên (1924). Để thực hiện chí nguyện của mình là vun đắp, dựng xây nền quốc văn, Đông Hồ đã âm thầm phản ứng lại chương trình giảng dạy của Pháp bằng cách hướng học sinh học thêm Việt văn, rèn luyện chữ quốc ngữ. Ông bắt đầu cộng tác với tạp chí Nam Phong (1925), đồng thời giúp cho học trò của mình tập viết văn gửi đăng báo này.

Theo gương của thi hào Rabindranath Tagore, ngày 30/10/1926, Đông Hồ lập nên Trí Đức học xá tại Hà Tiên.

Bài diễn văn đọc trong ngày khai trường Trí Đức học xá của Đông Hồ đã được đăng trọn vẹn trên Nam Phong số 115 (tháng 3/1927)

Theo đó, Đông Hồ nói rõ mục đích của trường là dùng chữ quốc ngữ để “khai trí tiến đức”.

Cùng với hoạt động giáo dục, Đông Hồ còn làm thơ, viết văn đăng trên Nam Phong, Phụ nữ tân văn, Đông Pháp thời báo… Ông thực sự nổi tiếng với tập lệ ký Linh Phượng (đăng trên Nam Phong số 128, 4/1928). Đó là một tác phẩm viết bằng văn xuôi và thơ, bày tỏ nỗi niềm của một người đàn ông khóc vợ –  tâm trạng thực sự của Đông Hồ với người vợ quá cố của mình. Bài ký sự “Thăm đảo Phú Quốc” và “Phủ Đông Hồ” của nhà thơ, với giọng văn hào sảng ca tụng các thắng cảnh ở Hà Tiên và những chiến tích oanh liệt, cũng đã được nhiều người tán thưởng.

Năm 1932 Đông Hồ xuất bản tập “Thơ Đông Hồ” (NXB Nam Ký thư quán, Hà Nội, 1932) tập hợp nhiều bài thơ của ông đã đăng trên báo Nam Phong

Năm 1935, Đông Hồ lên Sài Gòn chủ trương tuần báo Sống. Báo này chỉ ra được 30 số, nhưng với thời gian ngắn ngủi ấy, Đông Hồ đã làm được hai điều có ý nghĩa: thu hút được nhiều cây bút đứng đắn, tiến bộ viết cho Sống; thực hiện được một tờ báo đầu tiên ở Nam Bộ viết đúng chính tả (theo Nguyễn Hiến Lê, xem “Đông Hồ – Mộng Tuyết”, Võ Văn Nhơn biên soạn, NXB Hội Nhà văn, 1992. (…)

Có thể nói, đối với Đông Hồ, việc dạy học cũng như viết văn, làm thơ, thậm chí việc xuất bản, làm báo hay phát hành sách cũng không chỉ thuần túy là một nghề nghiệp để kiếm sống, đó còn là một phương tiện để ông thể hiện cái khát vọng mãnh liệt của mình từ thuở bé:  trau dồi, vun đắp, xây dựng nền văn hóa nước nhà ngày càng đẹp đẽ.

Phải chăng vì lý do đó mà Đông Hồ không cam phận sống cuộc đời yên ổn, nhàn hạ của một nhà giáo, khép mình vào chương trình giảng dạy của Pháp, lại cố lội ngược dòng: lôi cuốn học sinh học tiếng Việt, mở Trí Đức học xá để quảng bá tiếng Việt, trong khi phong trào chung lúc ấy là nắm lấy tiếng Pháp để tìm một chỗ đứng trong xã hội?

Khi con đường giáo dục thất bại, Trí Đức học xá bị đóng cửa, Đông Hồ đã viết những vần thơ buồn bã:

Thôi đành chịu người thua cảnh ngộ

Cảnh không may thực khó mà nên

Hồn Đại Việt, giọng Hàn Thuyên

Năm năm ba bận tình duyên lỡ làng!”

(Trích “Đông Hồ – Mộng Tuyết”)

Cắt nghĩa sự hình thành thiên hướng của Đông Hồ, Nguyễn Hiến Lê đã đề cập đến bốn nguồn ảnh hưởng:

Một là mảnh đất Hà Tiên, quê hương Đông Hồ, nơi ít chịu tác động của văn minh phương Tây, vẫn còn lưu giữ nhiều nếp cổ. Hà Tiên còn là vùng đất có phong cảnh thiên nhiên đặc biệt đủ cả sông, hồ, núi, biển, lại có truyền thống thơ văn Nôm từ thời Chiêu Anh Các.

Hai là sự giáo dưỡng ân cần chu đáo của người bác đỡ đầu là nhà nho Lâm Hữu Lân, vốn là người rất trọng thơ văn chữ Nôm và rất cấp tiến trong quan niệm sống.

Ba là ảnh hưởng của tạp chí Nam Phong, tờ báo mà Đông Hồ bắt đầu đọc từ năm 15 tuổi và xem nó như một phương tiện rèn luyện tiếng Việt.

Cuối cùng là dấu ấn của thi sĩ Tagore trong cuộc đời Đông Hồ. Tagore từng lập một tịnh xá ở gần Calcutta, đặt tên là Santiniketan, để dạy một số thanh niên cái đạo giải phóng tinh thần, sống gần thiên nhiên. Tagore quan niệm: có học tiếng mẹ đẻ thì chúng ta mới vỡ trí khôn ra được. Còn Đông Hồ thì lập Trí Đức học xá, suốt đời say sưa với “Hồn Đại Việt, giọng Hàn Thuyên”, một lòng vun đắp nó (xem “Đông Hồ – Mộng Tuyết”)

(…)

Là nhà văn, Đông Hồ đã đi một bước dài từ thơ cũ đến thơ mới, từ văn xuôi biền ngẫu đến văn xuôi hiện đại. Ông cũng có những công trình khảo cứu mà giá trị tư liệu rất lớn.

Là người thầy của Trí Đức học xá những năm 1920 – 1930 đến Đại học Văn Khoa Sài Gòn những năm 1960, Đông Hồ đã để lại những dấu ấn khó quên trong lòng nhiều thế hệ học trò. Chính vì thế mà trên bia mộ của ông, ngoài những dòng chữ tưởng nhớ của gia đình còn có hai câu thơ của một môn sinh Trí Đức học xá:

“Ân sâu nghĩa nặng tình dài

Khóc thầy, khóc mãi biết đời nào nguôi”

—o0o—

Năm 1934, sau 211 số báo (Kể cả số Tết Mậu Ngọ – 1918, tờ báo Tết đầu tiên của nước ta) Tạp chí Nam Phong đình bản. Nhân dịp này, trong bài Nam Phong đình bản, Đông Hồ Lâm Tấn Phác xúc động ghi nhận : “Tôi  cầm mấy số báo, vui vui, rồi như có một tia sáng chạy qua óc tôi, tôi nghĩ: “Thì ra quốc văn ta có thể diễn nổi những cảnh sắc sáng sủa, những cảm tình lãng mạn của thơ Tây, và cũng có thể diễn nổi những ý tứ thâm trầm, những tư tưởng cao thượng của thơ Tàu.

Tôi tỉnh ngộ. Tôi thấy rằng nước ta còn có chữ, giống ta còn tiếng nói. Quốc văn ta có nghèo hèn kém cỏi gì đâu. Tôi bỏ Pháp văn, quay ra chuyên tâm học quốc ngữ. Cái duyên của tôi với báo Nam Phong cũng bắt đầu từ đó, mà cái cảm tình của tôi đối với tiếng nước nhà càng đằm thắm mặn mà cũng bắt đầu từ đó (…)

Nam Phong sở dĩ làm cảm động được lòng người, kêu gọi được cái tâm hồn phất phơ của người tuổi trẻ về với non sông đất nước một cách âu yếm thiết tha là nhờ ở quốc ngữ tiếng nước nhà (…)

“Ai bảo đọc Nam Phong mà không có cảm tình đó ít nhiều, tôi cho là một lời nói gượng mà thôi. Chớ tôi biết có nhiều người, mấy năm gần đây, tư tưởng, chủ nghĩa trái với Nam Phong, ý kiến trái với Phạm Quỳnh, nhưng vẫn mua Nam Phong, đọc Nam Phong. Mỗi lần được tập Nam Phong vẫn trân trọng giữ gìn. Rồi đóng bìa da, gáy mạ vàng tốt đẹp, xem làm một vật quí ở tủ sách gia đình.

Người đồng chí yêu quí thì đã đành; người không đồng chí cũng một lòng tôn trọng, tôn trọng cái tủ sách một văn phái đứng đắn cao thượng. Cái cảm tình ấy của quốc dân đối với báo chí, nước ta xưa nay chưa từng thấy có tờ báo nào được cái vinh hạnh đặc biệt như báo Nam Phong vậy.

Lạ lùng thay! mà cũng vẻ vang thay!

(Trích Nam Phong đình bản, báo Sống, ngày 9/4/1935)

—o0o—

Năm nay 2017, năm Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi thì báo Tuổi Trẻ số ra ngày 1/3/2017 có bản tin Tiếp nhận di sản của nhà thơ Đông Hồ của hai bạn Nguyễn Triều và Tấn Đức:

“Tỉnh Kiên Giang đang tiến hành các thủ tục để tiếp nhận di sản của đôi vợ chồng tài hoa – nhà thơ Đông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết, cũng như dự kiến sẽ phục dựng Trí Đức học xá – trường tư thục đầu tiên do nhà thơ Đông Hồ sáng lập để dạy chữ quốc ngữ.

Di sản của nhà thơ Đông Hồ bao gồm khu nhà lưu niệm “Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường” hiện tọa lạc trên con đường mang tên ông tại thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Đây là ngôi nhà do vợ ông là nữ sĩ Mộng Tuyết dựng lên và hoàn thành năm 1995 để lưu giữ, bảo tồn và tôn vinh giá trị di sản về thân thế, sự nghiệp của hai người. Những hình ảnh, di bút, sách báo về sự nghiệp văn chương của đôi vợ chồng tài hoa được bảo quản và trưng bày tại đây. Nhà lưu niệm từ khi hoàn thành đã là điểm đến tham quan, tìm hiểu “văn hóa Hà Tiên” của giới nghiên cứu và người hâm mộ trong, ngoài nước.

Làm hồ sơ công nhận di tích

Hiện các di bút, tài liệu sách báo quý, di vật và ngôi nhà của nhà thơ Đông Hồ – nữ sĩ Mộng Tuyết đang xuống cấp. Năm 2007, nữ sĩ Mộng Tuyết qua đời, nhà lưu niệm theo di chúc được giao cho người cháu họ là bà Nguyễn Thị Thanh Hoa trông coi cho đến nay. Bà Hoa vốn là giáo viên, không lập gia đình riêng, có nhiều năm cùng sống và chăm sóc nữ sĩ Mộng Tuyết. Nay đã ở tuổi 70, bà Hoa có nguyện vọng trao gửi di sản của vợ chồng nhà thơ để Nhà nước tiếp quản, tôn tạo và bảo tồn.

Bà Hoa cho hay lâu nay bà sống một mình và gìn giữ phần di sản này với sự quan tâm chu đáo của chính quyền thị xã Hà Tiên. “Nhưng tôi biết mình cũng không thể cưỡng lại quy luật thời gian, nên tranh thủ khi đầu óc còn minh mẫn, tôi viết đơn và gặp trực tiếp chính quyền thị xã Hà Tiên với mong mỏi nơi này tiếp tục được duy trì để không bị mai một và mãi mãi được hậu thế biết đến” – bà Hoa nói.

Mới đây, lãnh đạo Sở Văn hóa – thể thao (VH-TT), UBND thị xã Hà Tiên đã gặp trực tiếp bà Hoa để lắng nghe nguyện vọng của bà. Sau đó, Sở VH-TT đã có tờ trình và được UBND tỉnh Kiên Giang chấp thuận chủ trương tiếp nhận nhà lưu niệm Đông Hồ thành tài sản nhà nước. UBND thị xã Hà Tiên được giao làm thủ tục tiếp nhận, duy trì và bảo vệ nhà lưu niệm, khu mộ nhà thơ Đông Hồ. Ông Diệp Hoàng Du – giám đốc Sở VH-TT tỉnh Kiên Giang – cho biết cùng với việc tiếp nhận nhà lưu niệm Đông Hồ, cơ quan chức năng sẽ nghiên cứu sắp xếp nơi thờ cúng và bố trí nơi ở, sinh hoạt cho bà Hoa theo nguyện vọng của bà. Ngoài ra, cơ quan chức năng cũng sẽ hoàn tất hồ sơ để công nhận khu lưu niệm Đông Hồ là di tích văn hóa cấp tỉnh.

Sẽ phục dựng Trí Đức học xá

Một điều không phải ai cũng biết là nhà lưu niệm “Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường” được xây dựng ngay khu vực “Trí Đức học xá” trên khu đất của gia đình nhà thơ Đông Hồ, vốn có tổng diện tích lên đến 6.600m2. Ngoài diện tích khu lưu niệm rộng 350,8m2 hiện nay, phần còn lại đã được trưng dụng xây dựng trường mẫu giáo.

Thời người Pháp cai trị khắp Đông Dương, các trường học do Pháp mở đều lấy tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, còn tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Điều này đã làm cho thầy giáo Đông Hồ băn khoăn và thôi thúc ông tự mở Trí Đức học xá ngay tại nhà mình. Trường dạy toàn tiếng Việt cho bất kỳ ai muốn học, nhằm mục đích “dùng quốc văn để dạy con trẻ biết yêu nước nhà”. Buổi học đầu tiên khai giảng vào ngày 30-10-1926. Đây được xem là ngôi trường duy nhất ở miền Nam lúc ấy lấy tiếng Việt để giảng dạy. Học giả Phạm Quỳnh khi ấy viết trên tạp chí Nam Phong: “Trí Đức học xá muốn bày tỏ cho thiên hạ biết rằng tiếng nước nhà có thể dạy con em nước nhà, bất tất phải mượn đến tiếng ngoại quốc”. Sự ra đời của một ngôi trường dạy toàn quốc ngữ trong bối cảnh này đã khiến chính quyền thuộc địa và người Pháp bất an, dùng nhiều biện pháp o ép để trường phải đóng cửa, nghỉ giảng vào cuối năm 1934. (Cũng là năm Tạp chí Nam Phong đình bản – PT chú)

UBND tỉnh Kiên Giang cũng vừa chấp thuận đề xuất của Sở VH-TT về việc không bố trí công trình khác trên phạm vi trường mẫu giáo (hiện không còn hoạt động) để giữ đầy đủ quỹ đất của Trí Đức học xá. “Trí Đức học xá có vai trò và vị trí rất lớn về mặt lịch sử.

Với quỹ đất được khôi phục này đủ để phục dựng không gian Trí Đức học xá và xây dựng nơi trưng bày truyền thống lịch sử văn hóa, di sản văn học của Hà Tiên, là địa điểm văn hóa đặc trưng của Hà Tiên nói riêng và Kiên Giang nói chung” – ông Diệp Hoàng Du nói.

Nhà thơ Đông Hồ (1906 – 1969) tên thật là Lâm Tấn Phác, sinh ra và lớn lên tại Hà Tiên. Ông được đánh giá là nhà giáo, nhà văn hóa, nhà thơ danh tiếng của nền văn hóa Việt Nam.

Ông đột tử ngay trên bục giảng Đại học Văn khoa Sài Gòn ngày 25-3-1969 khi đang bình giảng cho sinh viên bài thơ Trưng Nữ Vương của nữ sĩ Ngân Giang.

Nguyễn Triều – Tấn Đức

—o0o—

121 trang sách cuối tập I bộ Du Ký Việt Nam (Tạp chí Nam Phong 1917-1934) – NXB Trẻ, 2007, từ 518 đến 639) in bài Cảnh Vật Hà Tiên của Đông Hồ và Nguyễn Văn Kiểm sao lục (số 150 đến 154 Tạp chí Nam Phong từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1930).

Lời tòa soạn của P.Q. viết:

“Ở Hà Tiên có một trường tư thục tên là “Trí Đức học xá”, do mấy nhà giáo dục nhiệt thành về quốc văn khởi xướng lên, mục đích là dùng quốc văn để dạy học trò, muốn bày tỏ cho thiên hạ biết rằng tiếng nước nhà có thể dạy được con em nước nhà, bất tất phải mượn đến tiếng ngoại quốc vậy.

Trường này đã có kết quả tốt: cứ xem những bài quốc văn nhỏ của các nam nữ học sinh soạn mà bản chí đã đăng độ trước, nhan đề là Bông hoa đầu mùa, thì đủ biết.

Các nhà chủ trương trường Trí Đức đã lấy quốc văn làm khí cụ, lại lấy quốc gia làm tinh thần. Dùng quốc văn để dạy cho con trẻ biết yêu mến nước nhà, còn cách giáo dục nào đích đáng bằng!

Muốn cho con trẻ yêu mến nước nhà thì phải cho con trẻ thông thuộc nước nhà, hiểu biết cả lịch sử, địa lý, lễ giáo, phong tục, nhỏ từ cách sinh hoạt trong dân gian, lớn đến các kỷ cương về đạo lý, ngõ hầu mới có lòng thiết tha đến nơi quê hương tổ quốc của mình. Lại trước khi biết đến cái tổ quốc lớn là cả toàn thể quốc gia, phải biết cái tổ quốc nhỏ là nơi địa phương mình sinh trưởng đã. Bởi thế nên các nhà giáo dục trường Trí Đức bấy lâu vẫn ân cần dạy cho học trò biết cái tổ quốc nhỏ của mình là đất Hà Tiên. Mấy năm nay, thầy trò cùng biên tập, được mấy trăm trường giấy đầy, khảo về phong cảnh nhân vật đất Phương Thành, đề là Cảnh vật Hà Tiên.

Vì hâm mộ cái chủ nghĩa chấn chỉnh quốc văn, phụng sự quốc gia của báo Nam Phong này, nên gửi cả tập ra đăng báo. Bản chí sẽ lựa lọc mà đăng dần, trước là để đáp lại cái thịnh tình của các bạn đồng chí ở Hà Tiên, sau là để biểu dương cái gương tốt của Trí Đức học xá cho quốc dân được biết và mong sẽ có người noi theo vậy.

P.Q.

Năm 1945, sau cuộc Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3, Phạm Quỳnh từ quan về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên con sông nhỏ An Cựu chuẩn bị trở lại với nghiệp văn của mình. Ông “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ lớn Trung Quốc đồng cảnh với ông. Ông tìm đọc Đỗ Phủ, lựa ra những bài mình tâm đắc nhất, dịch thô được 51 bài thơ thì gửi cả cho thi sĩ Đông Hồ, cộng tác viên nhiệt thành của Tạp chí Nam Phong, rồi trở thành người bạn tri kỷ, có tâm, có tầm, người đồng chí thân thiết với ông từ nhiều năm nay.

Sau khi Đông Hồ mất (3/1969) bà vợ là nhà thơ Mộng Tuyết thu xếp sách vở, tài liệu của chồng đã bắt gặp tập bản thảo này. Trong đó Phạm Quỳnh tự tay chép các bài thơ Đỗ Phủ bằng chữ Hán và viết bản dịch nghĩa của mình theo đúng số chữ trong câu thơ Đỗ Phủ. Bấy giờ tập này đã đóng thành sách, bìa da đỏ, chữ mạ vàng, được nhà thơ Mộng Tuyết mang sang Paris. Và ngày 11/9/1974 bà trao tận tay nhà thơ Liên Trang Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh, tác giả Introduction au Nam Phong (Tìm hiểu tạp chí Nam Phong)

Lá thư cuối cùng của nữ sĩ Mộng Tuyết

Mùa hạ năm 1945 ấy, Đông Hồ đang sống cùng nữ sĩ Mộng Tuyết, học trò và bạn đời của ông tại Hà Tiên. Huế và Hà Tiên không phải là xa xôi cách trở gì lắm, vậy mà những sự biến tày trời, đổ tai họa xuống đời Phạm Quỳnh, hai ông bà không hay biết gì hết. Bức thư cuối cùng trong đời của nữ sĩ Mộng Tuyết viết ở tuổi 94 từ Hà Tiên gửi cho chúng tôi đã nói rõ điều kỳ lạ đó: Rõ ràng vụ bí mật, lén lút thủ tiêu Phạm Quỳnh đêm 6/9 rạng ngày 7/9/1945 ở nơi rừng hoang Hắc Thú nọ của một số người ở Thừa Thiên Huế không ai muốn phổ biến rộng rãi. Đó là một sự thật kỳ lạ.

Nữ sĩ Mộng Tuyết viết ngày 29/12/2006 một bức thư dài tới bốn trang giấy A4. Mở đầu là những dòng sau: “Được đọc bài viết của cháu về Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh làm cho bác ngẩn ngơ. Vì bác xa xôi, vẫn không biết rõ hoặc nghe về cái chết của cụ Phạm Quỳnh, cứ ngỡ là không có điều gì bất thường khi Cụ vào Huế trở về sau.” Và tiếp đó, thư nhiều lần nhắc lại câu “Bác thật xúc động khi đọc bài của cháu viết về cái chết của cụ Thượng Chi!!!” Rồi “Đọc bài cháu viết về cái chết của Cụ Phạm Quỳnh mà bác vô cùng xúc động. Và lạ lùng là tin động trời như vậy mà ở trong này, bác và bác Đông Hồ không biết gì cả.” Tiếp đó là “bài báo cháu viết làm cho bác biết thêm nhiều điều mà bác vẫn không có được biết tin tức mảy may nào! (…) bác chưa từng nghĩ đến việc đời lại xảy ra như vậy!!! Bác viết cho cháu mà lòng bác rất “bức xúc” không biết việc đời nó lại xảy ra như vậy đối với gia đình…” Rồi cụ còn nhắc, ở tuổi 94 là “Các tác phẩm của Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh đã in lại có bán ở đâu cháu cho biết để bác nhờ cháu mua giúp bác.” Và còn tế nhị viết “Cháu biết không, ở cái tuổi 94 của bác này, thì bác viết một bức thư này cháu cũng không đọc được nữa rồi.”

Bài báo mà chúng tôi gửi cho nữ sĩ Mộng Tuyết là bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước đang trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 8 năm 2006.

Nữ sĩ sinh ngày 9/1/1914 tại làng Mỹ Đức, Hà Tiên, nay là tỉnh Kiên Giang và mất tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang ngày 1/7/2007.

Thành phố Hồ Chí Minh, 2/2/2010

Tôn Thất Thành

(…)

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: