Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 30, 2017

Phan Khôi và Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 5 năm 2017

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

PHAN KHÔI VÀ PHẠM QUỲNH

Lời dẫn của Phạm Tôn: Hội đồng quản lý Quỹ Phan Châu Trinh vừa công bố quyết định tôn vinh nhà văn hóa Phan Khôi là “Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại”, trong khuôn khổ lễ trao Giải văn hóa Phan Châu Trinh diễn ra đêm 24/3 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Như vậy, nhà văn hóa Phan Khôi là người thứ 5 được Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh là “Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại” sau các tên tuổi từng được tôn vinh là Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu (tin báo Tuổi Trẻ ngày 25/3/2017, trang 15).

Nhân dịp này, chúng tôi mời các bạn đọc ba bài liên quan đến Phan Khôi và Phạm Quỳnh là bài Trả lời bài “Cảnh cáo các nhà học phiệt” của Phan Khôi tiên sanh của Phạm Quỳnh, Phạm Quỳnh vẫn được bạn đọc báo Phụ nữ Tân văn bầu là một trong mười đại biểu nhân dân Việt Nam và bài Phan Khôi và câu chuyện “học phiệt” của Phan Toàn

—-o0o—-

I.

TRẢ LỜI BÀI CẢNH CÁO CÁC NHÀ HỌC PHIỆT CỦA PHAN KHÔI TIÊN SANH

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhân các bạn đang đọc bài cuối trong 11 bài di cảo của Phạm Quỳnh, chúng tôi xin mời các bạn đọc thêm bài này, liên quan mật thiết đến “cuộc tranh luận về Truyện Kiều” nổi tiếng trong lịch sử văn học ta.

Nhiều năm rồi, người đọc đời sau đã biết đến các bài văn nảy lửa của cụ nghè Ngô Đức Kế kịch liệt chống lại chủ trương đề cao Truyện Kiều của Phạm Quỳnh như: Nền quốc văn (báo Hữu Thanh, tháng 4/1924) và bài Luận về chánh học cùng tà thuyết (báo Hữu Thanh, tháng 9/1924) bài này đã được đưa vào sách giáo khoa lớp cuối cấp trung học phổ thông cuối những năm 50 thế kỷ trước, “tố cáo” việc đề cao Truyện Kiều đã khiến cho “các gã thanh niên say đắm trong trời tình bể ái mà mềm nhũn cái lòng sắt đá, bỏ mất cái chí nguyện cao xa” (Từ điển Văn học Việt Nam, 2004). Đặc biệt, càng đông đảo người biết bài văn đanh thép của Phan Khôi Cảnh cáo các nhà học phiệt trên báo Phụ nữ tân văn số 62 (24/7/1930) và Trung Lập các số từ 6206 (26/7/1930) đến 6209 (30/7/1930), chỉ thẳng tên Phạm Quỳnh mà phê phán. Kế đó là bài của Huỳnh Thúc Kháng Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? – Chiêu tuyết những lời bài báng cho một chí sĩ mới qua đời trên báo Tiếng Dân Huế, số 317 (17/9/1930) và Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 72 (2/10/1930). Nhưng, có điều là bài trả lời trên đây của chính Phạm Quỳnh, là đối tượng bị đả kích, phê phán, cũng đăng ngay trên báo Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 67 (28/8/1930) thì ngày nay lại ít người được đọc. Lạ thay, mà cũng tiếc thay.

—o0o—

Phan Khôi tiên sanh với tôi là chỗ quen biết cũ.

Từ khi tiên sanh dời Hà Nội vô Nam kỳ, không có dịp gặp nhau. Nhưng về phần tiên sinh, coi chừng vẫn nhớ đến tôi luôn. Khi viết báo Thần chung, khi viết báo Phụ nữ, tiên sanh thường nhắc đến tên tôi. Thậm chí có khi không sẵn đầu bài, tiên sanh lấy tôi làm đầu bài. Như mới đây, nhân tiên sanh soạn chưa xong “bài trả lời” ông Trần Trọng Kim về Nho giáo, tiên sanh lại sực nhớ đến tôi mà liền tặng cho cái huy hiệu làm lãnh tụ một đảng, tiên sanh đặt tên là đảng “học phiệt”, rồi nhân đó viết một bài đại luận để cảnh cáo cho những người trong đảng ấy.

Nếu về cảm tình người cũ mà Phan tiên sanh ân cần đến tôi như thế, tôi xin cám ơn.

Từ trước đến nay, sở dĩ tôi không trả lời tiên sanh là vì tiên sanh mới thỉnh thoảng tặng cho năm ba câu mát mẻ xa xôi mà thôi, xét ra cũng không có quan hệ gì.

Nhưng nay tiên sanh công nhiên làm án một phái cho là có tội với học thuật nước nhà, mà lại phân minh chỉ tên chỉ tuổi tôi là thủ lãnh, tức là thủ phạm trong phái đó, thì tôi dầu có muốn lên mặt kiêu căng cũng không thể sao làm thinh cho được.

Vả việc là việc quan hệ lớn, không phải chỉ thiết đến một cá nhân tôi thôi, mà thiết đến cả học giới trong nước, tất tôi phải cùng tiên sanh phân trần mấy lời, không thể để cho độc giả ngộ nhận được.

Vậy Phan tiên sanh kết án phái “học phiệt” về những tội gì?

Trước hết chữ “học phiệt” đó của tiên sanh tự đặt ra nghĩa là gì?

Tiên sanh cho nước ta có một bọn “học phiệt” tức cũng như nước Tàu có bọn “quân phiệt”, là một hạng người cũng sảo có(*) học vấn, có tư tưởng, nhưng phải cái tánh tự cao, tự phụ quá, dường như muốn chuyên chế dư luận, chỉ lên mặt làm thầy người ta, chớ không chịu người ta chỉ trích đến mình.

Tiên sanh buộc cho bọn đó hai cái tội: một là phàm ai nghị luận, chỉ trích, công kích, phẩm bình gì đến mình là cứ làm thinh hết thảy, người ta gọi đến tên mà “chửi” cũng không trả lời, đó là một cái thái độ rất khả ố, vì tỏ ra khinh người mà lại hèn nhát nữa; hai là chính vì cái thái độ khả ố đó mà cõi học nước nhà thành ra vắng vẻ lạnh lẽo không ai còn muốn bàn bạc cãi cọ gì nữa, rõ ra cái cảnh tro tàn khói tỏa, quạnh quẽ đìu hiu là cái cảnh chết.

Tiên sanh vì tiền đồ học thuật, hăm hở mạnh bạo đứng lên kết án phái “học phiệt” đó, lời lẽ nghiêm nghị như quan chưởng lý kết án đảng cộng sản vậy.

Vậy những bị cáo nhân là ai?

Tiên sanh chỉ nói phái “học phiệt” không có bao lăm người, mà không kể rõ có những ai, song kêu đích danh tôi là thủ phạm. Vậy có lẽ tiên sanh chỉ có ý muốn “gây sự” – xin miễn cho tiếng nôm na – riêng với tôi chăng?

Tiên sanh buộc tội cho tôi có cái dã tâm muốn chuyên chế dư luận, dường như muốn làm một tên Mussolini trong cõi học nước Nam nầy. Vậy ra tôi có oai quyền, có thế lực đến thế dư? Thế thì danh giá cho tôi quá! Dầu tiên sanh có đem cả đại đội đến mà công kích tôi, tôi cũng cam tâm mà lấy làm tự khoái.

Song phàm xử án công bằng, phải có chứng cớ hẳn hòi, chớ vì tình nghi, vì ác cảm với người nào mà kiếm cớ buộc tội cho người ta, thì cái án ấy không có giá trị gì nữa.

Tỉ như việc cộng sản. Ví chánh phủ vì không ưa người nào, sẵn lòng nghi, cho khám xét nhà, không thấy gì cả, chỉ bắt được mấy quyển sách Karl Marx hay Lénine, cũng buộc tội cho là muốn làm cộng sản, mưu nhiễu loạn cuộc trị an; như thế thì có phải là công bằng không?

Nay Phan tiên sanh đối với tôi mà khởi ra cái án “học phiệt” đó, có phải là chứng cớ rõ ràng không, hay là chỉ vì “tình nghi” mà bỗng dưng kết cấu ra? Có phải có sự thực hẳn hòi không, hay là chỉ là một cái “án về thái độ”, một cái “án về khuynh hướng” (procès de tendance) nghĩa là đoán phỏng chừng cái ý hướng của người ta mà đem lòng yêu ghét, buộc cho những tội không đâu?

Không biết chủ ý tiên sanh thế nào, nhưng trong bài đại luận của tiên sanh chỉ có thấy dẫn một việc làm chứng, là việc mấy năm trước ông nghè Ngô Đức Kế công kích tôi về Truyện Kiều, mà tôi cứ thủy chung làm thinh không trả lời; thế là phạm hai cái tội đã kể trên kia.

Ông nghè Ngô nay là người thiên cổ rồi. Kẻ khuất người còn, chuyện bao năm cũ kể ra làm gì? Nhưng Phan tiên sanh đã giở giói ra, thì tôi cũng phải nối lời phân trần cho rõ lẽ: xin vong linh ông Ngô chứng giám!

Họ Ngô với tôi vốn không có hiềm khích gì. Ông là người quốc sự phạm cũ, vì việc nước mà long đong chìm nổi trong bao năm, dầu người không đồng tư tưởng, đồng chánh kiến với ông cũng phải kính trọng cái thân thế của ông. Tôi cũng vậy, thủy chung vẫn coi ông như bậc đàn anh. Bấy giờ ông làm chủ bút báo Hữu Thanh mới lập. Báo Hữu Thanh là một cái tạp chí; báo Nam Phong của tôi cũng là một cái tạp chí. Báo Hữu Thanh ra sau, báo Nam Phong của tôi có từ trước. “Hàng thịt nguýt hàng cá”, là cái thói thường của bọn con buôn. Trong làng văn làng báo có khi cũng mắc phải cái thói đó. Xem chừng ra ngay từ đầu, báo Hữu Thanh đã không có ý thân thiện với chúng tôi rồi. Tôi đoán thế nào cũng có một cuộc phản đối. Nhân khi ấy hội Khai trí Tiến đức mới đặt ra lễ kỷ niệm cụ Tiên Điền là tác giả Truyện Kiều. Việc nầy tự tôi khởi xướng, mà ông Trần Trọng Kim cũng là một tay chủ động. Bữa ông Trần và tôi diễn thuyết ở nhà hội Khai trí, có tới hai ngàn người đến nghe, coi ra hoan nghinh cổ võ lắm. Ông chủ bút Hữu Thanh có ý căm tức, liền viết bài phản đối Truyện Kiều và nhân thể mạt sát tôi. Tôi giận lắm, hăng hái muốn ra quyết chiến với họ Ngô một phen. Vì tôi ôn hòa thì ôn hòa thật, nhưng không đến nỗi nhu nhược mà bị người công kích không biết đối phó lại. Nhưng tôi nghĩ kỹ, rồi quyết hẳn làm thinh không trả lời. Ai cũng biết rằng họ Ngô không phải vì Truyện Kiều mà bình phẩm Truyện Kiều, chỉ là kiếm cớ để gây cuộc “cãi lộn” với tôi, trước là làm một cách quảng cáo cho báo Hữu Thanh, sau cũng để thỏa một cái lòng ác cảm riêng chăng. Truyện Kiều là một nền văn chương kiệt tác, xét Truyện Kiều phải đứng về phương diện văn chương mà xét, nay họ Ngô lại đứng về phương diện đạo đức, – mà là cái đạo đức rất hẹp hòi của phái hương nguyện, – thì rõ là chủ ý lập luận thiên đi, để có chỗ mà công kích người ta. Như vậy không phải là một vấn đề văn chương học vấn gì nữa, chỉ là một vấn đề cá nhân mà thôi. Tôi bèn định cứ làm thinh, không bắt lời, tựu trung có hai lẽ như sau:

1) Đã là một vấn đề cá nhân thì việc chỉ can thiệp đến hai người đối thủ với nhau mà thôi. Bất luận tài học ông Nghè Ngô thế nào, ông có một điều hơn đứt hẳn tôi: là ông là người đã vì nước mà phải tù tội. Trên cái cân dư luận của quốc dân, ông đã có sẵn 10 năm Côn Nôn ở đó rồi. Như vậy thì cuộc tranh luận không được ngang sức nhau nữa. Vả lại tự ý tôi cũng không muốn tranh luận với ông, vì dầu thế nào mặc lòng, tôi cũng vẫn kính trọng cái thân thế của ông; nếu đã thành ra cuộc cãi lộn thì tất phải dùng những lời nặng tiếng nhẹ ông mục cho tôi là “văn sĩ lớp lép”, thì tôi nể gì ông mà không tặng cho ông những tên nọ tên kia, thành ra một cuộc đấu khẩu hàng rau hàng cá, còn có sự thể gì nữa!

2) Lẽ nữa, – mà lẽ nầy Phan Khôi tiên sanh đoán trúng lắm, – là ông chủ bút Hữu Thanh đã lập tâm “gây sự” với tôi để làm cách quảng cáo cho báo ấy, thì tôi là chủ báo Nam Phong, khi nào tôi chịu mắc mưu đó! Tôi làm thinh không trả lời chính là một cách phá cái dã tâm của họ vậy.

Ấy đầu đuôi câu chuyện như vậy. Rút lại là một câu chuyện cá nhân, câu chuyện quyền lợi cả, không có quan hệ gì đến học vấn tư tưởng hết.

Bởi thế nên tôi cứ làm thinh, không hề đả động đến nửa lời. Làm thinh là không muốn cãi lộn vô ích, chớ không phải là khinh hay là sợ gì dư luận.

Ôi! Dư luận! Dư luận vẫn đáng kính trọng lắm. Nhưng Phan tiên sanh còn lạ gì dư luận ở nước ta từ trước đến giờ hãy còn ấu trĩ lắm. Nhiều người không biết phân biệt chuyện nghĩa lý với chuyện cá nhân, không biết rằng người thức giả thảo luận với nhau là để tỏ bày chân lý, chớ không phải là cốt để thắng lẫn nhau, như trong cuộc đấu võ vậy.

Tôi chắc rằng có người đọc bài Cảnh cáo của Phan tiên sanh nghĩ bụng rằng: “Ông nầy tất có bụng ghen ghét gì Phạm Quỳnh mới kiếm chuyện cãi lộn như vậy”. Lại chắc có người không ưa tôi mà nghĩ rằng: “Đáng kiếp! Đã bị ông Nghè Kế trị cho một lần, lại bị ông Tú Khôi trị cho một lần nữa!” Như vậy chẳng là oan cả cho hai bên dư? Câu chuyện nghĩa lý mà biến thành câu chuyện cá nhân đó.

Đối với một cái dư luận còn bỡ ngỡ như vậy, tưởng cũng không nên câu nệ cho lắm. Không nên coi thường dư luận, nhưng cũng không nên làm nô lệ cho dư luận. Có nhiều điều dư luận nhao nhao lên đó, mà người thức giả nên làm thinh.

Sau cuộc phản đối của ông Nghè Ngô, trong nước liền nổi lên cái phong trào chánh trị mới! Có người nối gót ông Ngô cũng đem lời nọ tiếng kia mà phẩm bình tôi. Tôi đều nhứt thiết làm thinh cả. Là vì những lời bình phẩm đó là toàn về cái thái độ chánh trị của tôi, mà tôi vốn không phải là nhà chánh trị. Chẳng biết từ nay về sau vì thời thế bắt buộc có phải thực lực ra làm chánh trị hay không, – đó là một cái nghĩa vụ, nếu phải làm thì cũng không dám từ, – chớ từ trước đến nay thì sở chí sở sự không phải chuyên chủ về mặt chánh trị; dầu có tham dự vào chút đỉnh, cũng chỉ là tham dự một cách gián tiếp, đứng về địa vị khách quan, để làm một món khảo cứu mà thôi.

Tôi vốn là nhà làm văn, nhà học vấn. Cái chủ nghĩa tôi phụng sự bấy lâu nay, – kể có trên dưới mười lăm năm trời, thật là dốc một lòng, chuyên một dạ, – chính là chủ nghĩa quốc gia, nhưng chỉ mới phụng sự về phương diện văn hóa, chưa hề chuyển di sang phương diện chánh trị.

Tôi thiết nghĩ rằng muốn cho nước nhà được độc lập, thì phải gây lấy cái hồn độc lập cho quốc dân. Muốn gây lấy cái hồn độc lập cho quốc dân thì phải có cái khí cụ để tuyên truyền giáo dục. Cái khí cụ để tuyên truyền giáo dục là ngữ ngôn văn tự trong nước. Bởi thế nên trong mười lăm năm nay, tôi không làm một việc gì khác cả: chỉ cúc cung tận tụy về một việc là cổ động cho quốc văn, tài bồi cho quốc văn, gây dựng cho quốc văn thành một nền văn chương đích đáng, có thể dùng làm cái lợi khí để truyền bá văn minh trong nước. Các bạn đồng chí trong Nam ngoài Bắc cũng đã từng công nhận cho cái công phu ấy không phải là vô ích.

Vì tôi chỉ chuyên chủ về một việc tài bồi quốc văn như vậy, cho nên thật không để chí vào việc chánh trị. Ai bình phẩm tôi về chánh trị là bình phẩm sai cả. Tôi cho là bất túc khinh trọng, nên không hề đối đáp, không hề cải chánh bao giờ.

Nhưng đến việc văn chương học vấn thì tôi rất vui lòng thảo luận. Bởi vậy Phan tiên sanh khởi ra cái án li kỳ là cái án “học phiệt” này, tôi liền cầm bút để cùng tiên sanh phân trần các lẽ. Tôi thật không dám khinh dư luận, nếu dư luận ấy là ở những người thức giả như tiên sanh.

Tiên sanh thấy cái cảnh tiêu điều, trong học giới nước nhà, lấy làm buồn, buồn sanh bực, bực bèn muốn quy cữu cho người nào, liền quy cữu cho tôi. Thế là tiên sanh phán đoán vội vàng: nếu trong cõi học nước nhà có kẻ nào là tội nhân, thì tôi đây không dám tự cao, cũng có thể cho là một kẻ nhẹ tội hơn cả.

Nhưng học giới nước nhà không phải ngày nay mới tiêu điều. Đương lúc khoa cử còn thạnh, đã có cái cảnh tiêu điều đó rồi, vì cái học khoa cử, chỉ là cái học để thi đỗ làm quan mà thôi, không phải là học thuật chơn chánh. Nói đến học thuật chơn chánh thì cổ lai nước ta đã có gì? Không dám bội bạc tiền nhân, nhưng thật không có người nào vậy. Tương truyền lý học thâm thúy có cụ Chu An, cụ Trạng Trình. Nhưng các cụ phát minh được những điều gì, trứ thuật được những sách gì có giá trị? Nào đâu là những phái Vương học, phái Thiền tôn như ở Nhật Bản, cũng học chữ Tàu mà khám phá được nhiều điều người Tàu không nghĩ tới? Nước mình tịnh không có gì cả. Đó chẳng qua là bởi cái tinh thần học vấn của mình nó bạc nhược quá. Lại bởi cái mô phỏng của người mình nữa. Xưa kia phỏng chép người Tàu, ngày nay bắt chước người Tây. Xưa kia động nói là dương danh ông Khổng, ông Mạnh, ông Chu, ông Trình; ngày nay động nói là giở ra khoa học với lý luận, dân chủ với dân quyền! Nghe người ta nói mình cũng nói, chớ vị tất đã thấu hiểu đến chỗ tinh vi.

Ấy là cái hiểm tượng của học giới ta ở đó, ở cái tánh nô lệ của người mình đó, chớ không phải là lỗi tại người nầy hay người nọ.

Nay muốn cho cõi học được vui vẻ sầm uất, không cần phải dùng đến những cách dương đông kích tây, nay công kích người này mai phản đối người nọ, để làm một trò chơi cho khách bàng quan.

Phải nên cùng nhau hiệp lực, cố gây dựng cho nước nhà một nền “quốc học” đích đáng, không Tây mà không Nho, có cái tánh cách đặc biệt, tiêu biểu được cho cái tinh thần cố hữu của nòi giống. Cái ý tưởng đó ngày nay Phan tiên sanh mới đề xướng, mà về phần tôi chủ trương đã lâu năm rồi.

Vậy ngày nay chúng ta có nên cổ động lập một hội “Chấn hưng quốc học”, họp tập những người có chí học vấn trong Nam ngoài Bắc, mỗi năm hội nghị một lần để bàn các kế hoạch nên thi hành cho nước nhà có một nền quốc học xứng đáng không?

Thiết tưởng thế còn hơn là cãi vã nhau vô ích.

Phan tiên sanh nghĩ sao?

P.Q.

*

*     *

II.

PHẠM QUỲNH VẪN ĐƯỢC BẠN ĐỌC BÁO PHỤ NỮ TÂN VĂN

BẦU LÀ MỘT TRONG MƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN VIỆT NAM

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần chúng tôi trích trong bản tin đăng trên báo Phụ nữ tân văn (Sài Gòn) số 50 ngày 1/5/1930 và số 64 ra ngày 7/8/1930. Đầu đề là của chúng tôi.

Như vậy là sau lễ Kỷ niệm Cụ Nguyễn Du năm 1924, suy tôn Truyện Kiều với câu nói bất hủ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn, Phạm Quỳnh đã bị búa rìu dư luận nặng nề. Các chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng gọi ông là kẻ gieo rắc tà thuyết, Phan Khôi, cây bút chính luận chủ yếu của Phụ nữ tân văn sau này gọi ông là học phiệt và lên tiếng cảnh cáo. Nhưng, chính bạn đọc của báo này vẫn tỏ ra công bằng, ghi nhận những đóng góp của ông, không để tình cảm yêu ghét nhất thời làm lầm lẫn.

Chúng tôi xin mời các bạn đọc tư liệu đáng chú ý này của một tờ báo có ảnh hưởng lớn đương thời, đáng mặt đối thủ của Tạp chí Nam Phong.

—o0o—

“Phụ nữ tân văn ra đời ngày 2 Mai (tức tháng 5 – PT chú) năm 1929 đến hôm nay, 1er Mai (1 tháng 5 –PT chú) 1930 là đúng một năm. Vậy ngày hôm nay, ra số báo nầy chính là ngày kỷ niệm đệ nhất châu niên của bổn báo vậy”. (P.N.T.V. số 50 ngày 1/5/1930).

Chào mừng một năm góp mặt với văn đàn, P.N.T.V. tổ chức một cuộc thi mà báo gọi là cùng chung vui với độc giả.

Đề thi đăng báo gồm có 3 phần:

  1. Một câu thai
  2. Một bài toán đố
  3. Một câu hỏi mang màu sách chánh trị, được xem như “trưng cầu ý kiến” độc giả P.N.T.V.

Câu hỏi ấy như sau:

  • Cuộc tuyển cử

Nếu có cuộc tuyển cử 10 vị Việt Nam Nhơn dân Đại biểu, mà những vị kể tên sau nầy ra ứng cử thì quý độc giả sẽ cử những vị nào.

NGUYỄN HỮU BÀI, Thủ tướng Nam triều

BẠCH THÁI BƯỞI, Chủ hãng tàu và mỏ than.

BÙI QUANG CHIÊU, Lãnh tụ đảng Lập hiến

VƯƠNG TỨ ĐẠI, Thượng thơ Lễ bộ

DƯƠNG VĂN GIÁO, Trạng sư

HUỲNH THÚC KHÁNG, Chủ báo Tiếng Dân

TRẦN TRỌNG KIM, Thanh tra sơ học

DIỆP VĂN KỲ, Nhà làm báo

LƯU VĂN LANG, Kỹ sư sở Tạo tác

NGUYỄN PHAN LONG, Chủ báo Đuốc Nhà Nam

LÊ QUANG LIÊM, Hội đồng Quản hạt

HOÀNG TRỌNG PHU, Tổng đốc Hà Đông

PHẠM QUỲNH, Chủ báo Nam Phong

NGUYỄN HỮU THU, Phó nghị trưởng kinh tế hội nghị

NGUYỄN TRÁC, Nghị trưởng Nhơn dân đại biểu viện Trung Kỳ

NGUYỄN BÁ TRÁC, Bố chánh tỉnh Bình Định

TRẦN TRINH TRẠCH, Điền chủ ở Bạc Liêu

LÊ QUANG TRINH, Y khoa Tấn sĩ

PHAN VĂN TRƯỜNG, Luật khoa Tấn sĩ

NGUYỄN VĂN VĨNH, Chủ báo Trung Bắc Tân Văn

Trong ba đầu bài thi, hai đầu bài trên thì khỏi giải nghĩa rồi, còn đầu bài thứ ba, tưởng nên bày tỏ ý kiến bổn báo vì sao mà có cuộc tuyển cử đó.

Các vị mà bổn báo liệt phương danh trên đây đèu là những vị đã từng có làm việc xã hội, bổn báo theo vần a,b,c, trong tên mà sắp thứ tự vào đây, và ví dụ nếu như có cuộc tuyển cử Việt Nam Nhơn dân Đại biểu mà các vị ấy ra ứng cử, quý độc giả có quyền bỏ thăm, thì bỏ thăm cho những vị nào.

Vì các vị ấy đều là người có danh trong xã hội cho nên bổn báo có ý tôn mà đem ra, chớ không phải lấy danh hiệu của những bực hữu danh mà làm trò du hí đâu. Bổn báo không theo đảng phái nào hết, cho nên mới chọn lựa 20 vị ở trên, là người thuộc về đủ các chức nghiệp, để chất vấn lòng khuynh hướng của các độc giả đối với các vị ấy ra sao. Nói tóm lại, bổn báo tưởng tượng ra cuộc tuyển cử ấy là do ở thành tâm, xin các vị có phương danh trong ban ứng cử kia, cùng các độc giả biết cho.

Cách tuyển cử thì quý độc giả phải làm như vầy:

Phải sấp thứ tự theo ý mình muốn, như ông X xứng đáng hơn hết thì sấp đứng số 1, ông Z xứng đáng thứ nhì thì biên vào số 2; biên như vậy cho đủ số 10 vị.

Về cuộc tuyển cử này, bổn báo có đặt riêng một ban ủy viên để xét thăm.

Đến ngày khóa sổ thì ban ủy viên sẽ soạn thăm và cộng coi cho biết 10 vị nào trúng tuyển.

Vị nào nhiều thăm hơn hết thì sắp số 1, rồi tuần tự, do theo số thăm mà sấp xuống số 2, số 3 kỳ cho tới đủ số 10 vị.

Khi sấp xong sẽ soạn lại những bài đáp, coi vị nào đáp trúng theo bản kết quả đó.

Hễ bài nào được trúng y theo bảng kết quả thì trúng phần thưởng nhất, người kế đó thì lãnh phần thưởng nhì.v.v…

Nếu không có bài đáp nào trúng y theo bản kết quả thì sẽ chấm bài nào đáp trúng gần hơn hết mà phát thưởng.

  • Kết quả “Trưng cầu ý kiến”

Ban ủy viên trước hết lo chấm cuộc tuyển cử mấy ngày ròng rã soạn lựa các số thăm, lại còn phải dò đi xét lại rất cẩn thận. Chúng tôi xin lấy danh dự của cả tòa báo và các đồng nhơn trong tòa soạn mà nói quyết rằng: cuộc soạn thăm này làm rất là quang minh chánh đại, không để cho có một mẩy nào sai sót hoặc tư vị.

Khi cộng thăm gộp lại thì mười vị này trúng tuyển:

  1. Phan Văn Trường               1133 thăm
  2. Huỳnh Thúc Kháng            1062
  3. Nguyễn Phan Long             1057
  4. Diệp Văn Kỳ                       986
  5. Lưu Văn Lang                    910
  6. Bùi Quang Chiêu                885
  7. Trần Trọng Kim                  794
  8. Dương Văn Giáo                788
  9. Trần Trinh Bạch                  671
  10. Phạm Quỳnh                     667

(P.N.T.V số 64 ngày 7/8/1930)

*

*   *

III.

PHAN KHÔI

VÀ CÂU CHUYỆN “HỌC PHIỆT”

Phan Toàn

(Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 470 tháng 12 năm 2016 các trang 20-23)

Từ “học phiệt” ở đâu ra?

Ngày 24/7/1930, báo Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn đăng bài của nhà báo Phan Khôi “Cảnh cáo các nhà học phiệt”, sau đó bài này được báo Trung Lập cũng ở Sài Gòn đăng lại (các ngày 26, 28, 29, 30/7/1930).

Bài báo nói trên gây nên một cuộc tranh luận giữa ba người: học giả Phạm Quỳnh, người liên quan trực tiếp trong bài báo, chủ nhiệm báo Tiếng Dân Huỳnh Thúc Kháng và nhà báo Phan Khôi. Nguyên do sâu xa là từ một bài báo của chí sĩ Ngô Đức Kế đăng trên báo Hữu Thanh trước đáy những 6 năm (số 21, ngày 1/9/1924). Bài báo này có nhan đề là “Luận về chánh học cùng tà thuyết”, nội dung phê phán những người cổ súy thái quá cho Truyện Kiều mà đại biểu là Phạm Quỳnh. Nhưng 6 năm trôi qua, Ngô Đức Kế đã qua đời mà Phạm Quỳnh không hề lên tiếng trả lời.

Nhưng nguyên nhân trực tiếp lại khác. Số là Phan Khôi có viết bài Đọc cuốn “Nho giáo” của ông Trần Trọng Kim (Phụ Nữ Tân Văn, Sài Gòn, số 54, 29/5/1930), sau đó ông Trần có bài trả lời cũng đăng trên báo này (số 60, 10/7/1930). Phan Khôi tỏ ra rất vui vì ý kiến của ông được phản hồi một cách đàng hoàng, đứng đắn. Thế là nhân đó, ông viết bài “Cảnh cáo các nhà học phiệt”.

Mở đầu, Phan Khôi viết: “Sau khi tôi đọc bài của Trần Trọng Kim tiên sinh bàn với tôi về sự phê bình cuốn sách Nho giáo, tôi lấy làm phục cái nhã độ của tiên sinh. Tôi lấy làm phục tiên sinh bao nhiêu, thì tôi càng mừng cho học giới nước ta có cơ hội khai phóng bấy nhiêu!

Số là, chẳng những như Trần Quân đã nói, người mình xưa nay chưa quen chịu kẻ khác phê bình, mà lại trong xã hội này, có một hạng người, tôi muốn dâng cho họ một cái huy hiệu mới, là “học phiệt”.

Tiếp theo, ông giải thích “học phiệt” là gì?

Hạng người ấy ỷ có học rộng, trí thức nhiều, văn hay, trí thuật cũng khá, rồi tự coi mình như bậc “thầy”, chẳng kể dư luận ra chi. Đã hay rằng mình giỏi, song thế nào cho khỏi sự sai lầm, vậy mà họ tự phụ quá, cứ mạt sát hêt. Ừ, cái dư luận nào không chính dáng, họ mạt sát chẳng nói làm chi; cái này, khi người ta công kích họ một cách chính đáng, mà họ cũng làm thinh. Làm thinh, không tỏ ra là họ phục; nhưng làm thinh tỏ ra là họ không thèm nói với, thế mới đáng ghét. Tôi dâng cho họ cái huy hiệu “học phiệt”, lấy nghĩa rằng họ kế nghiệp nhau mà chuyên quyền trong học giới, cũng như bọn “quân phiệt”, đã nối nhau mà chiếm cứ đất đai và quyền chính trị bên Tàu”.

Và Phan Khôi xác định ngay một nhân vật trong giới “học phiệt” đó:

“Tôi chẳng nói gần nói xa chi hết; tôi nói ngay rằng hạng “học phiệt” ấy ở nước ta chẳng bao lăm người, mà Phạm Quỳnh tiên sinh là một. Thử xách ra một việc. Chắc hẳn nhiều độc giả còn nhớ chuyện Ngô Đức Kế tiên sinh công kích sự đề xướng Truyện Kiều hồi mấy năm trước nên đã viết một bài trong tạp chí Hữu Thanh (tức là bài Chánh học cùng tà thuyết – P.T.)… lấy đại để mà nói, thì cách công kích như vậy là chính đáng. Vả lại nó là vấn đề lớn… dầu phải dầu chăng, cũng không có thể nào bỏ qua cho đặng. Vậy mà bên Phạm Quỳnh tiên sinh nín lặng, chẳng thèm nói đi nói lại nửa lời”.

Phan Khôi chỉ đích danh như vậy thì Phạm Quỳnh không thể làm im vì thế ông đã viết bài trả lời, nhan đề là Trả lời bài Cảnh cáo các nhà học phiệt của Phan Khôi tiên sinh (Phụ nữ Tân văn, Sài Gòn, số 67, 28/8/1930).

Phạm Quỳnh là một học giả uyên bác, biết nhiều hiểu rộng, thế mà ông phải đặt câu hỏi: “Trước hết chữ “học phiệt” đó của tiên sinh tự đặt ra nghĩa là gì?”

Như vậy, từ “học phiệt” là do Phan Khôi “sáng tác” ra, có lẽ ông căn cứ vào nghĩa của từ “quân phiệt” vốn khá phổ biến thời đó (như trên ông đã dẫn chứng – P.T.)

Ông Phan Khôi kết những tội gì cho giới “học phiệt”?

Sau khi viết rất dài về sự giống nhau và khác nhau giữa người làm báo và giới học thuật, nói lên yêu cầu hai giới này phải thường xuyên học tập, rèn luyện, ông tóm tắt: “Nãy giờ tôi nói dông dài những tấn đức tu nghiệp, khoa học khoa hiếc để cho lợt bớt câu chuyện đi, chớ rồi cũng không thể bỏ qua cái thói kiêu căng của mấy ông “học phiệt”. Họ làm vậy khác nào như ôm lấy cái độc quyền dư luận, trở ngại sự tấn bộ của học giới nước ta. Ai nói, họ không thèm nói với, tức là có ý để một mình họ nói thôi, thế chẳng phải ôm lấy độc quyền dư luận là gì? Mà đã không cãi cọ thì không nảy sinh chơi lý; không có sánh sáng của chơn lý thì học giới tối tăm; thiệt họ đã vô ý mà dứt ngang con đường tấn bộ của học giới đi, chớ chẳng những trở ngại mà thôi vậy.

Thật vậy, cái thói của họ đó đã tràn ngập cả xã hội mà thành ra như phong tục trong hơn mười năm nay. Ai nói trời nói đất chỉ thì nói, ngang ngạnh đến đâu cũng không có người cãi. Cái phong tục ấy nên đặt cho nó một cái danh từ là “nguội lạnh”

Trong bài trả lời của mình, ông Phạm Quỳnh dành phần đầu để bác cái tội “học phiệt” mà Phan Khôi gán cho ông. Trong phần sau ông giải thích lý do ông không trả lời ông Ngô Đức Kế. Những lý do đó đã bị ông Huỳnh Thúc Kháng phản bác trong bài Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? (Tiếng Dân, Huế, số 317, 17/9/1930). Tiếp đó, ông Phan Khôi viết một bài khá dài để phân tích những điều đúng và không đúng trong bài của ông Huỳnh Thúc Kháng. Tên của bài báo đó là Đọc bài Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ của ông Huỳnh Thúc Kháng (Đầu đề “Chiêu tuyết…” chính là phụ đề của bài Chánh học cùng tà thuyết có phải là…) (Trung Lập, Sài Gòn, số 6266, 7/10/1930; số 6267, 8/10/1930; số 6268, 9/10/1930). Dẫn ra như vậy để thấy từ câu chuyện “học phiệt”, cuộc tranh luận đã lan sang một vấn đề lớn trong học thuật. Tuy nhiên ở đây chỉ giới hạn trong phạm vi cái huy hiệu “học phiệt” mà Phan Khôi “dâng” cho Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh viết: “Tiên sinh cho nước ta có một bọn “học phiệt” tức cũng như nước Tàu có bọn “quân phiệt”, là một hạng người có học vấn, có tư tưởng, nhưng phải cái tánh tự cao, tự phụ quá, dường như muốn chuyên chế dư luận, chỉ lên mặt làm thầy người ta, chớ không chịu người ta chỉ trích mình.

Tiên sinh buộc cho bọn đó hai cái tội: một là phàm ai nghị luận, chỉ trích, công kích, phẩm bình gì đến mình là cứ làm thinh hết thảy, người ta gọi đến tên mà “chửi” cũng không trả lời, đó là một cái thái độ khả ố, vì tỏ ra khinh người mà lại hèn nhát nữa; hai là chính vì cái thái độ khả ố đó mà cõi học nước nhà thành ra vắng vẻ lạnh lẽo không ai còn muốn bàn bạc cãi cọ gì nữa, rõ ra cái cảnh tro tàn khói tỏa, quạnh quẽ đìu hiu là cái cảnh chết”.

Phạm Quỳnh cho rằng Phan Khôi “kết án” như thế là không công bằng, ví như “khám xét nhà, không thấy gì cả, chỉ bắt được mấy quyển sách Karl Marx hay Lenine, cũng buộc tội cho là muốn làm cộng sản…”

Ông biện hộ cho mình như sau: “Nay Phan tiên sinh đối với tôi mà khởi ra cái án “học phiệt” đó, có phải là chứng cứ rõ ràng không, hay là chỉ vì “tình nghi” mà bỗng dưng kết cấu ra? Có phải có sự thực hẳn hoi không, hay là chỉ là một cái “án về thái độ”, một cái “án về khuynh hướng” (procès de tendance), nghĩa là đoán phỏng chừng cái ý tưởng của người ta mà đem lòng yêu ghét, buộc cho những tội không đâu?

Không biết chủ ý tiên sinh thế nào, nhưng trong bài đại luận của tiên sinh chỉ có thấy dẫn ra một việc làm chứng, là việc mấy năm trước ông nghè Ngô Đức Kế công kích tôi về Truyện Kiều, mà tôi cứ thủy chung không trả lời; thế là phạm hai cái tội đã kể trên kia”.

Đọc kỹ bài Cảnh cáo… chúng ta thấy không phải Phan Khôi muốn “trị tội” những nhà “học phiệt” mà thực tâm là ông nêu lên một cái nhược điểm trong giới học thuật lúc bấy giờ là không chịu tranh luận. Chính vì thế mà khi ông Trần Trọng Kim viết bài trả lời về cuốn Nho giáo, Phan Khôi “ngỏ lời cảm tạ Trần tiên sinh về sự người đã có ý tốt, mở cái đường thương xác về sự học cho chúng tôi và hết thảy mọi người trong nước Việt Nam này”. Phan Khôi lo lắng cho nền học thuật nước nhà ở trong trạng thái “nguội lạnh”, vì vậy ông đề nghị “từ nay về sau, về sự học, khi có ai nghi ngờ những điều các ông chủ trương mà chất vấn hoặc công kích, thì các ông (tức là giới “học phiệt” mà đại biểu là Phạm Quỳnh – P.T.) phải trả lời minh bạch, phải thì nói phải, quấy thì nói quấy”.

Lời thanh minh của ông Phạm Quỳnh cũng có lý. Nếu như lấy ý nghĩa của từ “quân phiệt” mà suy ra ý nghĩa của từ “học phiệt” thì rõ ràng sự “làm thinh” của Phạm Quỳnh chưa đáng bị lên  án. Phạm Quỳnh chỉ có “khuyết điểm” là không trả lời, chứ không hề dùng lý luận của mình để áp chế ông Ngô Đức Kế. Cái “khuyết điểm” đó dẫn đến tình trạng không tranh biện, không bàn cãi trong học thuật để đạt đến chân lý. Có lẽ ông Phan Khôi cũng đã nhận thấy điều đó nên ông không tiếp tục công kích các nhà “học phiệt” nữa, thể hiện trong bài Về cái ý kiến lập hội Chấn hưng quốc học của ông Phạm Quỳnh (Phụ nữ Tân văn, Sài Gòn, số 70, 19/9/1930). Ông viết: trước hết tôi xin nói cho dứt khoát về việc quan hệ giữa ông Phạm và tôi mới rồi. Cái bài “Cảnh cáo” của tôi mà ông cho là “làm án”, cái dó tôi không dám nhận. Hết sức tôi thì tôi chỉ nhận nói đến một cái khống trạng (un procès) là cùng. Trước mặt cái tòa án nào không biết, tôi tố cáo một hạng “học phiệt”, trong đó có ông Phạm Quỳnh, là như vậy đó; rồi nay ông Phạm có bài biện hộ (plaidoirie) mà tự cãi lẽ lấy cho mình là vậy đó. Vậy thì hai bên khúc trực thế nào, chắc ông cũng đồng ý với tôi mà đợi tòa phân xử, tôi không còn nên nói về việc ấy nữa làm chi”. Có nghĩa là ông Phan Khôi chờ dợi sự phán quyết của dư luận, nhưng rồi câu chuyện “học phiệt” cũng lắng xuống. Dù sao chung quanh bài “Cảnh cáo…” cũng đã có bốn bài tranh luận khá sôi nổi. Thời gian sau đó đã nổ ra nhiều cuộc tranh luận lớn có nhiều người tham gia như cuộc tranh luận về Quốc học, về Nho giáo, về Thơ cũ và thơ mới, về Duy tâm và duy vật… mà ông Phan Khôi là một trong những người tham gia tích cực. Thật đúng với lòng mong muốn của ông!

Thật sự có nạn “học phiệt” không?

Cái từ “học phiệt” do ông Phan Khôi đè xuất chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn rồi mất đi, không ai nói đến nữa, kể cả ông. Nhưng nội dung của nó thì vẫn tồn tại, hơn nữa dưới hình thức quyết liệt hơn, thậm chí không còn giới hạn trong phạm vi học thuật mà chuyển sang hệ thống pháp luật.

Đó là câu chuyện vụ án di truyền học ở Liên Xô vào khoảng những năm 30-40 của thế kỷ 20.

Vào những năm trước đó, lý thuyết di truyền học Mendel-Morgan được truyền bá vào Liên Xô. Vavilov, Viện trưởng Viện di truyền học thuộc Viện Hàn lâm Nông nghiệp Liên Xô là một đại biểu cho trường phái lý thuyết này. Thế nhưng Luxenco, người đứng đầu trường phái non-Mendel, đã dùng quyền lực trong Đảng và trong khoa học tuyên bố không cho phép lý thuyết  Mendel-Morgan tồn tại, gán cho những người theo thuyết đó tội danh “truyền bá chủ nghĩa duy tâm tư sản phản động”. Nghiêm trọng hơn, giới “học phiệt”, đứng đầu là Luxenco còn chuyển sự đấu tranh về học thuật trờ thành cuộc đấu tranh giai cấp, khiến nhiều nhà bác học Liên Xô bị kết tội, nặng thì bị tử hình, giam giữ, nhẹ thì bị khai trừ khỏi Đảng hay bị đuổi việc. Tổng số nhà sinh học bị sa thải lên đến hàng nghìn người.

Kết quả là Liên Xô không những đánh mất những vị trí rực rỡ giành được trong lĩnh vực di truyền học mà còn bị tụt hậu so với các nước khác về nhiều mặt như trong việc chọn giống, chữa bệnh, sản xuất thuốc kháng sinh. Đó thực sự là tai họa mà chủ nghĩa “học phiệt” lỗi thời mang lại cho một đất nước vốn có tiềm lực khoa học hùng hậu (theo giáo sư Vũ Cao Đàm).

Ở Trung Quốc nạn “học phiệt” đã manh nha từ lâu đời. Như ở thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng “phần thư, khanh nho” nghĩa là “đố sách, chôn học trò”. Ở thế kỷ thứ 18, nhà Thanh diệt nhà Minh, thống trị Trung Quốc, lo ngại phong trào chống ngoại tộc (phong trào phản Thanh phục Minh – P.T.), các hoàng đé Mãn Thanh ra lệnh cho các quan lại lập ra các “ngục văn tự”, thu đốt mọi sách vở chống đối, bắt bớ giết hại hàng chục vạn người viết sách, in sách, đọc sách cấm.

Giữa thế kỷ XX, một nạn “học phiệt” mới hoành hành tại quốc gia mang tên Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đó là cuộc đấu tố Đinh Linh và Trần Xí Hà năm 1956, khi hai nhà văn này phê phán một số quan điểm cũ kỹ, lạc hậu trong văn nghệ nhân dịp Đảng Cộng sản Trung Quốc đê xướng phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”. Hai nhà văn này liền bị kết tội “bảo vệ cho giai cấp tư sản”, “phục hồi chủ nghĩa tư bản” và bị đày đi lao động cải tạo tận vùng Tây Bắc Trung Quốc.

Năm 1961, vở kinh kịch Hải Thụy bãi quan được trình diễn tại Bắc Kinh. Trong khi công chúng khen ngợi thì Giang Thanh, vợ Mao Trạch Đông yêu cầu đình chỉ vở diễn vì cho rằng tác giả có dụng ý xấu. Tiếp theo đó nhóm người do Giang Thanh đứng đầu tiếp tục viết bài đả kích Ngô Hàm, tác giả kịch bản, nói ông này dùng nhân vật Hải Thụy để bào chữa cho Bành Đức Hoài, chống lại nghị quyết của Trung ương. Nhóm Giang Thanh ngày càng đắc thế, lật đổ được các nhân vật lãnh đạo hàng đầu ngành văn hóa như Lục Định Nhất, Chu Dương. Sau vụ “Hải Thụy bãi quan” đến vụ “Thôn ba nhà”. Thôn ba nhà là một tác phẩm gồm nhiều bài viết ngắn, lấy chuyện xưa để ngụ ý răn đời, nhưng nhóm “học phiệt” nói trên cố vạch lá tìm sâu, kết tội các tác giả là Đặng Thác, Ngô Hàm, Liêu Mạt Sa, những nhà văn, nhà báo có uy tín, có chức vụ cao lúc bấy giờ. Các ông này bị bức hại, bị đấu tố, bị tống giam… Danh sách những người liên quan bị xử trí còn nhiều nữa… (dựa theo quyển Bóng đem trên quảng trường Thiên An Môn, NXB. Văn hóa Dân tộc, 1989).

Ở Việt Nam, sự kiện Nhân văn – Giai phẩm cũng là một biểu hiện của nạn “học phiệt” với mức độ quyết liệt. Những người có ý kiến hoặc có tác phẩm khác với định hướng của nhà cầm quyền đều rơi vào vòng lao lý, ít nhất là bị kỷ luật, không được hành nghề. Sau nhiều năm, những nhân vật mắc nạn “học phiệt” ấy lần lượt được phục hồi danh dự bằng các cách khác nhau. Nhưng cái họa “học phiệt” hình như vẫn chưa chịu chấm dứt để rồi xảy ra vụ xử lý một nhà giáo có bản luận văn theo khuynh hướng thoát ra ngoài khuôn khổ chính thống.

Có thể nói tính chất “học phiệt” mà ông Phan Khôi định nghĩa chỉ thuần túy về mặt “thái độ đối xử” với nhau trong học thuật, tác hại của nó chỉ là làm chấm sự tiến bộ của nền học vấn, cản trở việc đi tìm chân lý. Còn nạn “học phiệt” xảy ra ở Liên Xô, Trung Quốc và Việt nam vừa nói trên không những cản trở sự phát triển của lý luận, của khoa học, mà còn đem lại tai họa khủng khiếp cho xã hội, khiến lòng tin của con người vào chân lý bị suy giảm nghiêm trọng. Muốn xóa bỏ tình trạng này, không nên dựa vào quyền lực mà chế áp lý luận, phải từ bỏ cái lối soi mói, gán ghép, suy diễn rồi kết tội một cách vô lý, mặt khác cần phát huy sự tự do ngôn luận, công khai tranh biện, có như thế học thuật mới phát triển, xã hội mới tiến bộ.

Chú Thích:

Để tham khảo, xin cung cấp các định nghĩa về “học phiệt” qua từ điển:

  1. Các từ điển Tiếng Việt trước đây chưa có mục từ này, nhưng Từ điển Trung – Việt do NXB, Khoa học Xã hội xuất bản năm 1992 lại có (tr.1360). Từ “học phiệt” được diễn giải như sau: Học phiệt (người dựa vào chính quyền để nắm giới giáo dục và học thuật).

Định nghĩa này có vẻ gần giống với tình trạng diễn ra tại Liên Xô và Trung Quốc đã được thuật trong bài.

  1. Từ điển Tiếng Việt của Ban Biên soạn chuyên từ điển NEW ERA do Nxb. Hồng Đức xuất bản năm 2010 định nghĩa:

Học phiệt: 1) Học giả cậy vào sức học của mình, tự đắc và hay chống với các học phái khác. 2) Kẻ thích lên mặt dạy đời, làm “thầy đời” trong ngành học thuật.

Định nghĩa này gần giống với ý kiến của ông Phan Khôi.

  1. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, Nxb. Từ điển Bách khoa xuất bản năm 2012 định nghĩa:

Học phiệt (dt) Học giả có thế lực chuyên tìm cách đàn áp những tư tưởng học thuật khác để nắm quyền chi phối về học thuật.

Định nghĩa này hoàn toàn giống với tình hình ở Liên Xô trong vụ án di truyền học.

  1. Các bài báo nói trên trích từ Phan Khôi – tác phẩm đăng báo 1930, do Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, Nxb. Hội Nhà văn và Trung tâm Văn hóa và Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản năm 2006.
  • Thật ra, hai chữ “học phiệt” cũng là từ của Trung Quốc, nghĩa là kẻ thao túng học thuật, chứ không phải do Phan Khôi tự nghĩa ra (chú thích thêm của Xưa và Nay)
  • Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam (NXB Tổng hợp TPHCM 2006) của giáo sư Nguyễn Lân trang 862 ghi: “Học phiệt”, dt (H: phiệt: lũng đoạn một ngành hoạt động) kẻ học giả ỷ vào uy thế của mình, đàn áp tư tưởng những người không theo mình; chế độ xã hội chủ nghĩa không cho phép có những học phiệt (chú thích thêm của Blog PhamTon)
Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: