Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 15, 2017

“Trả lại César những gì của César” – Đoàn Văn Cầu

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:20 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 5 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

“TRẢ LẠI CÉSAR NHỮNG GÌ CỦA CÉSAR”

Đoàn Văn Cầu

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là lời dẫn nhập cho tập Hành trình nhật ký gồm ba bài du ký của Phạm Quỳnh đã đăng trên tạp chí Nam Phong từ năm 1918 đến năm 1922, được con gái ông là bà Phạm Thị Hoàn đưa in chung vào một tập, gồm các bài Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ Pháp du hành trình nhật ký, xuất bản thành sách lần đầu tại Paris, Pháp, năm 1997 (NXB Ý Việt) và in lần thứ hai tại San Jose, Hoa Kỳ năm 2002 (NXB An Tiêm)

Chúng tôi cho đăng theo đúng bản in đầu, chỉ đổi đầu đề thành “Trả lại César những gì của César”, chữ mượn trong bài, với mong muốn giúp bạn đọc hiểu thêm về học giả Phạm Quỳnh.

Thành thật xin lỗi tác giả vì chúng tôi chưa tìm được cách liên hệ với ông đã mạn phép đăng khi chưa được phép.

—o0o—

–          Một thời đại

–          Một cách nhìn

–          Một nỗi niềm

MƯỜI NGÀY Ở HUẾ

MỘT THÁNG Ở NAM KỲ

PHÁP DU HÀNH TRÌNH NHẬT KÝ

Tôi xin trân trọng giới thiệu 3 tập du ký dẫn thượng của Phạm Quỳnh tiên sinh, đã được lần lượt đăng tải trên tạp chí Nam Phong từ năm 1918 đến năm 1922, nay để chung vào một ấn phẩm lấy tên là Hành trình nhật ký, do Ý Việt xuất bản tại Paris và Văn Nghệ tại Hoa Kỳ phát hành.

Thân thế và sự nghiệp của tiên sinh phổ cập từ Bắc chí Nam, từ thành thị đến thôn quê, giới thức giả không ai không biết, hà tất phải rườm rà nhắc lại, mọi người đều công nhận tiên sinh là một nhà báo lỗi lạc, một học giả, văn hào, chính trị gia có tầm vóc lớn.

Tiên sinh ra đời 8 năm trước thế kỷ 20, đại thế vận hành đang chuyển mình trên mọi địa hạt, ở khắp nơi, trưởng thành trong một thời đại mang ấn dấu của nhiều biến cố phi thường:

–          Trên lãnh vực Quốc tế: cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa, cách mạng đỏ ở Nga, thế chiến thứ nhất, Nhật Bản canh tân, cao trào thực dân…

–          Trên lĩnh vực Quốc nội: Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Đông Du, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Khởi nghĩa Yên Bái, Xô Viết Nghệ Tĩnh…

Tiên sinh lìa đời trong cơn lốc của Cách Mạng Tháng Tám, khi chưa tới tuổi lão niên.

Mồ côi cha mẹ từ thửa ấu thơ, được bà nội nuôi nấng chăm sóc. Vốn bẩm sinh thông minh mẫn tiệp, lại có chí và nghị lực, mới 16 tuổi tiên sinh đã đỗ thủ khoa bằng Cao đẳng Tiểu học thời bấy giờ. Tuy vậy cái sở đắc thành đạt của tiên sinh không do trường ốc mà ở trường đời. Kiến văn quảng bác của tiên sinh được hun đúc phần lớn ở trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, tài năng của tiên sinh được tôi luyện qua văn đàn và diễn đàn… Là người có cá tánh, có bản lãnh, giòng dõi sĩ phu, tâm tư bén nhạy, bản chất năng động, lại đứng giữa cơn xoáy của những luồng tư tưởng đối cực, nhưng nhiễu nhương thời cuộc, lẽ dĩ nhiên tiên sinh không chạy theo xu hướng thời thượng, – là an nhàn hưởng thụ, hay dùng đại ngôn hô hào cho có lệ, – mà đã tích cực dấn thân với tâm huyết và cái khí quy kết trong cái mà tôi mạo muội gọi lài “TINH THẦN PHẠM QUỲNH”.

Nói đến tinh thần là nói đến cái lòng, cái chí, cái trí, cái đức, cái dũng của một danh nhân có lý tưởng cao cả hay hành động xuất chúng. Lòng ấy là lòng yêu nước, chí ấy là trường kỳ đeo đuổi mục tiêu, trí ấy là học vấn cao thâm mà thực tiễn, đức ấy bao gồm đạo lý cá nhân và đức lý chính trị, dũng ấy là dám làm dám chịu, bất chấp nguy hiểm, thị phi.

Tinh thần ấy bàng bạc qua các trứ tác của tiên sinh, bằng Quốc văn hay Pháp ngữ, qua các buổi đăng đàn diễn thuyết, qua các cuộc mạn đàm, tiếp xúc, đối thoại, thậm chí qua những giòng văn miêu tả cảnh vật như sẽ thấy trong 3 tập du ký nói trên.

Công ơn của tiên sinh về bảo vệ Quốc ngữ, cổ xúy Quốc học, không ai có thể phủ nhận. Tiên sinh đã kịch liệt chống đối ý đồ của thực dân định lấy Pháp ngữ làm ngôn ngữ phổ thông như đã xảy ra ở một số thuộc địa khác. Tiên sinh cũng đã liên hồi đòi hỏi Việt ngữ phải có một chỗ đứng xứng đáng trong học trình…

Với quan niệm “văn dĩ tải đạo”, tiên sinh đã tuyển lựa phổ biến những giá trị Đông Tây kim cổ, kèm theo những lời khuyến cáo, kêu gọi, có khi như van lơn cầu khẩn. Luận thuyết của tiên sinh rất rõ ràng giản dị, nhưng cũng có những điều “ý tại ngôn ngoại”, phải tinh mới thấy được cái thâm ý của tiên sinh. Tiên sinh đề nghị, thúc giục, nhưng không bao giờ kích động. Điều đó, một phần do tính ôn hòa của tiên sinh, một phần do đường lối “hòa hoãn” của tiên sinh, một trong những cớ làm cho người đời có nghi vấn về thái độ và tư thế chính trị của tiên sinh.

Người ta không hiểu lập trường “bảo hoàng” của tiên sinh ở thời điểm cao trào dân chủ, không hiểu chủ trương “thỏa hiệp” trước sự lấn áp trắng trợn của đế quốc.

Phải chăng vì hư danh mà tiên sinh chấp nhận dấn thân vào hoạn lộ? – Người đời đã không hiểu lập trường chủ trương đó, đường lối xuất xử đó nằm trong “chính lược” tiên sinh đã tự vạch cho mình, sau khi đã trắc lượng thời cuộc chứ chẳng phải vị lợi, vị danh. Trong thâm tâm có lẽ tiên sinh nghĩ rằng thời đó thực dân còn quá mạnh, dân tâm còn khảng tảng, dân trí chưa cao, tình hình quốc tế chưa có gì thuận lợi cho một cuộc cách mạng bạo lực, thì đành phải chấp nhận một biện pháp “chiết trung”: dựa vào “chính thống” (nhà vua) để đòi hỏi chính quyền Bảo hộ giữ chữ TÍN, trao trả lại quyền uy công chính cho nước nhà. Muốn thể hiện điều đó thì phải có “thế” bằng cách giữ một vai trò chủ chốt trong triều đình. Đối với Pháp, nếu chưa có thời cơ để quyết liệt đối kháng thì đành ẩn nhận “đề huề”, nhưng không bao giờ sơ khoáng trong mục tiêu tối hậu là nền Độc Lập của nước nhà. “Gặp thời thế, thế thời phải thế”, tiên sinh chắc đã suy ngẫm nhiều đến chữ “thời” và chữ “tùy” của cổ nhân.

Hai tài liệu sau đây làm sáng tỏ luận cứ nói trên:

1. Bức thư riêng của tiên sinh, hồi đó là Ngự Tiền Văn Phòng Đại Nội, gửi ông Louis Marty, Giám đốc Chính Trị Vụ Phủ Toàn Quyền Đông Dương, thư đề ngày 30 tháng 12 năm 1933. (Tài liệu riêng của gia đình tiên sinh).

“…Người ta không ý thức và hiểu được rằng một người Pháp và một người Việt có thể có cảm tình với nhau, một tình thân hữu chân thành, mà không phản lại nước mình. Điều đó vượt qua tâm thức của họ.

“…Về phần tôi, tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi là một người ở buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông. Tôi là giao điểm giữa Đông và Tây, giữa quá khứ và tương lai, giữa một trạng thái chính trị do sự chiếm đoạt gây nên, tất nhiên với căn bản xấu xa của nó, và một “trật tự” mới tôn trọng nhân phẩm hơn, nhưng không phải trong chốc lát mà tạo lập ra được; tôi đã sống giữa tất cả những mâu thuẫn đó, đã cố gắng hài hòa để đi đến một sự triển khai khôn ngoan, thực hiện được sự tổng hợp trọn vẹn, lẽ tất nhiên tôi đã vấp vào một bức tường “thiếu cảm thông”.

“Tôi vẫn tự an ủi bằng niềm tin chắc chắn vào nhiệm vụ cần thiết tôi đang đảm nhận. Hiện nay tôi chỉ cảm thấy “thân phận nô dịch”, nhưng rất có thể nó cũng sẽ có phần cao quý của nó.

“Đã hẳn rằng tôi có thể lánh mình trong tháp ngà, tự mãn trong đời sống yên hàn êm ấm của một đạt nhân văn gia theo nguyện vọng thiết tha của lòng tôi. Nhưng tôi nhận thấy có bổn phận phải rời bỏ tâm ý đó…Tôi trái ư? Tôi phải ư?

“Thành ra tôi đã lâm vào một cuộc mạo hiểm phiêu lưu như sau:

““Là một người ái quốc Việt Nam, tôi yêu nước tôi với tất cả tâm hồn tôi, thế mà người ta buộc tôi, bảo tôi là phản quốc, đã cộng tác với kẻ xâm lược và phụng sự chúng!

““Là một thân hữu chân thành của nước Pháp, một đằng khác, người Pháp trách cứ tôi đã che đậy một tinh thần quốc gia cực đoan chống Pháp dưới một bề ngoài thân Pháp!

“Và cái “trường hợp” của tôi làm thiên hạ khó chịu; họ tìm cách giải thích, thuyết minh đủ mọi lối, và họ vẫn không hiểu.

““Có lẽ họ chỉ có thể hiểu khi hoàn cảnh cho phép tạo dựng được một “thỏa hiệp án” giữa “chủ nghĩa quốc gia Việt Nam” và “chế độ thực dân Pháp”.

“Tôi tin rằng sự dung hòa có thể thành công được. Nhưng trong khi “thỏa hiệp án” ấy chưa được thực hiện, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương”…*

2. Bản báo cáo ngày mùng 8 tháng 1 năm 1945 của Khâm sứ Haelewyn gửi Toàn quyền Decoux (Tài liệu do thân hữu gia đình cung cấp).

““Một lần nữa, viên Thượng Thư Lại Bộ (Phạm Quỳnh) lại cực lực công kích việc trưng dụng thóc gạo cho Nhật Bản… Ông (Phạm Quỳnh) đòi hỏi chúng ta, trong thời gian ngắn nhất, thực thi lời hứa thể hiện sự khai phóng lũy tiến trong một tiến trình rõ rệt, và chúng ta phải cam kết trả lại cho Triều Đình những biểu tượng của quyền uy tối thượng quốc gia bao trùm Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh đe dọa khuyến khích các phong trào phản loạn, nếu trong những tháng tới chúng ta không cam kết thương thảo với Hoàng Đế Bảo Đại một quy chế chính trị mới, thay chế độ Bảo Hộ bằng một thể chế “Thịnh Vượng Chung”, trong đó những chức vụ chính được giao cho người bản xứ. Nói một cách khác, Phạm Quỳnh đòi chúng ta ban bố chế độ tự trị cho Trung Kỳ, Bắc Kỳ, bãi bỏ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và tạo dựng một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý Ngài về điểm với bề ngoài lịch sự và chừng mực, Ông này là một người quyết liệt tranh đấu cho Việt Nam độc lập, và chúng ta không nên hy vọng làm dịu tinh thần ái quốc của Ông ta, một tinh thần chân thành và không hề lay chuyển, bằng cách bổ nhiệm Ông vào một chức vị danh dự được hưởng nhiều bổng lộc. Cho đến nay, Ông là một đối thủ hòa hoãn nhưng quyết liệt của nền thống trị Pháp…Chúng tôi xin chờ chỉ thị của Ngài”.

Đọc qua hai tài liệu này mới rõ rằng, muốn triệt thấu “Tinh Thần Phạm Quỳnh” không thể chỉ căn cứ vào những sự kiện trước mắt, mà phải thấy được tiền ý của tiên sinh. “Thỏa hiệp, Đề huề” không phải là chiêu bài duy nhất trong sách lược của tiên sinh. Cái “bất biến” trong “Tinh Thần Phạm Quỳnh” là lòng yêu nước. Cái “vạn biến” là chủ trương đường lối tùy theo thời thế. “Anh hùng bất luận thắng bại”, tiên sinh có thể tính sai một nước cờ, nhưng tiên sinh nhất định không phải là một người phản dân hại nước.

Lý tưởng của tiên sinh là một lý tưởng cao cả. Những lời kêu gọi của tiên sinh là những lời cổ võ chính đáng.

Những truyền đạt của tiên sinh vẫn có giá trị cho đến ngày nay. Tiên sinh mất đi giữa lúc đang có hoài bão trở lại văn đàn. Sự vắng mặt của tiên sinh là một mất mát thiệt thòi lớn cho mọi người.

“Cái quan luận định”, đã đến lúc thấy rõ “nỗi niềm” của tiên sinh.

“Trả lại César những gì của César”

Đó là điều mong muốn và chờ đợi của giới thức giả chuộng Công Lý.

Viết tại Rockville, Maryland, Hoa Kỳ

Mùa xuân Đinh Sửu (1997)

Đ.V.C.

———–

(*) Trần Gia Phụng, trong Trường hợp Phạm Quỳnh, nhận xét về lá thư này như sau: “Chú ý: đây là thư của một người bạn gởi cho một người bạn, chứ không phải là báo cáo chính trị của một Thượng thư Nam Triều gởi cho viên Giám đốc Chính trị Phủ Toàn quyền Đông Dương. Đặc biệt, bức thư này được lưu giữ trong gia đình Louis Marty, do bà quả phụ Marty gởi cho bà Phạm Thị Ngoạn (thứ nữ của Phạm Quỳnh) mượn để sao y năm 1960. Lúc đó bà Marty sống tại Cahors, Département du Lot (Vùng Massif Central)” (Chú thích số 44, trang 339 tập Giải oan lập một đàng tràng (Tâm Nguyện phát hành, in lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, năm 2001).

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: