Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 31, 2017

Phạm Thị Thanh Tuyền, cháu nội học giả Phạm Quỳnh là Viện phó kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Viện Dầu Khí Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 6 năm 2017

Phạm Thị Thanh Tuyền, cháu nội học giả Phạm Quỳnh

là Viện phó kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Viện Dầu Khí Việt Nam

Vũ Hữu Sự

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi vôi cùng đau đớn báo tin với quí bạn đọc Blog PhamTon trong và ngoài nước là 11:20 ngày 31/5/2017, con gái trưởng của Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã từ trần tại Hà Nội.

Tưởng nhớ bà, chúng tôi đăng bài này để các bạn cùng chia sẻ với Nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Đây là phần chúng tôi trích trong bài của Vũ Hữu Sự Ba giờ với chị Phạm Thị Thanh Tuyền in trong các trang từ 659 đến 678 của tập Dịu dàng và bừng sáng do Tập đoàn Dầu Khí quốc gia Việt Nam thực hiện để tôn vinh một số chị em tiêu biểu của tập đoàn. Sách do nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản năm 2010. Nhan đề là của chúng tôi.

—o0o—

– Sở dĩ phải hẹn anh vào 16 giờ vì lúc ấy mới ngơi công việc được. Tôi thường rời cơ quan sau 17 giờ 30, nhà ở tận Cầu Giấy, đến nhà đã 18 giờ, nếu hôm nào đường tắc thì có khi tận 19 giờ. Về là bắt tay vào việc nhà; cơm nước, xong xuôi, có khi đến tận 21, 22 giờ. Tôi thường bảo đùa với chị em trong Viện rằng đến cơ quan thì quên việc nhà đi, mà về đến nhà thì quên luôn việc cơ quan. Nói thì nói vậy chứ chắc khó mà thực hiện được.

Viện phó kiêm Phó bí thư Đảng ủy Viện dầu khí Việt Nam, tiến sỹ Phạm Thị Thanh Tuyền mở đầu câu chuyện với tôi bằng những chuyện rất đời thường như vậy.

(…)

–          Sao chị không mướn lấy một “ô sin”?

–          Hai cháu nhà tôi, một đi học nước ngoài, một đang học Bách Khoa trong nước, cháu suốt ngày ở trường. Hai vợ chồng cùng ngành dầu khí nhưng mỗi người một cơ quan, cũng đi cả ngày, tối đến cả nhà mới có điều kiện đoàn tụ. Không tìm được người giúp việc nên nhiều khi cũng bận…

(…) trong lần sơ kiến, sau khi trình bày yêu cầu và nội dung của tập sách, tôi đề nghị chị Tuyền dành một ít thời gian để “sắp xếp” lại những chuyện của mình trên con đường mà chị đang đi, để lần gặp sau sẽ giúp chúng tôi những tư liệu cần thiết cho bài ký của mình, nhưng chị lắc đầu:

–          Chẳng biết các anh cần những gì mà “sắp xếp”. Với lại tôi không quen làm thế. Tốt nhất là ta làm việc luôn, cần gì anh cứ hỏi, tôi sẽ trả lời.

Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền sinh năm 1958, quê gốc ở làng Lương Ngọc. Đó là một làng Việt cổ, có tuổi đời nhiều trăm năm ở xứ Đông. Thời Lê, làng mang tên là Hoa Đường rồi có thời gọi là làng Lương Đường thuộc phủ Bình Giang, nay là huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương. Thời trước, làng ấy có rất nhiều người ra kinh kỳ sinh sống bằng nghề dạy học rồi lập nghiệp ở đó, tính đến nay đã có nhiều đời, cụ tổ chị cũng là một trong số đó:

–          Ông nội tôi sinh ở Hà Nội. Ngày trước ông nội tôi cũng làm báo đấy.

–          Chị có thể cho tôi biết tên cụ được không?

–          Ông nội tôi là Phạm Quỳnh.

Tôi hơi sững người, tim đập chộn rộn bởi những cảm xúc bất ngờ ập đến. Thì ra vậy. Thì ra trước mắt tôi là cháu nội của một trong ba trí thức lớn nhất của Việt Nam những năm đầu thế kỷ trước. Ba người đó là Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh. Cụ Phạm là người hết lòng với tiếng Việt, đã dùng tờ tạp chí Nam Phong do cụ làm chủ bút để cổ súy, vun đắp, bồi dưỡng cho chữ quốc ngữ của nước nhà. Chính cụ đã “đem gió Nam đến thổi trên đất Pháp”, làm cho người Pháp thực dân quen kỳ thị cuối cùng cũng phải hiểu rằng: “Dân tộc (Việt Nam) chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dầy đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ”. Cái công lao của cụ đối với tiếng Việt, với sự phát triển của chữ quốc ngữ, nói như cụ Dương Quảng Hàm, là đã góp phần “luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới”. Cụ cũng là người đầu tiên đứng ra tổ chức kỷ niệm ngày mất của thi hào Nguyễn Du với câu nói nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn!” Thời phổ thông, chúng tôi biết đến câu nói đó không phải trong toàn bộ văn cảnh của nó, mà là qua một bài luận chiến của chí sĩ Ngô Đức Kế “đánh” cụ Phạm một cách khá nặng nề. Mãi về sau tôi mới hiểu lý do khiến cho câu nói đó trở thành danh ngôn. Điều gì sẽ xẩy ra nếu qua một ngàn năm Bắc thuộc, tiếng Việt vĩnh viễn bị chôn vùi, dân tộc ta nói toàn bằng tiếng Hoa? (…) Được đọc của cụ Phạm không nhiều, nhưng chỉ qua những gì đã đọc, tôi vô cùng kính phục cụ. Toan bày tỏ sự kính trọng ấy với chị Tuyền, nhưng lại e mang tiếng là khen phò mã tốt áo. Miên man suy nghĩ, tôi đã để một “khoảng lặng” trong cuộc trò chuyện:

–          Xin lỗi, chị có phải là con gái của nhạc sĩ Phạm Tuyên không?

–          Vâng

Chị Tuyền kể, cuộc đời chị cũng rất bình thường như mọi người khác. Học phổ thông ở Hà Nội. Năm 1975, khi miền Nam vừa giải phóng, cũng là năm ngành dầu khí Việt Nam được thành lập, thì chị thi đại học, đủ điểm để được chọn đi Liên Xô (cũ) học.

–          Chị chủ động chọn ngành học hay là theo sự phân công của tổ chức?

–          Theo sự phân công thôi. Tôi được phân vào học ở trường đại học Dầu khí Matxcơva, chuyên ngành của tôi là kinh tế khai thác dầu khí. Năm 1981 tôi về, thì cũng là năm Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Việt Nam – Liên Xô (Vietsovpetro) được thành lập. Tôi được nhận về làm việc tại Vụ Kế hoạch thuộc Tổng cục Dầu khí, trực tiếp theo dõi tình hình của Liên doanh. Mấy năm sau thì lấy chồng, chồng tôi cũng làm trong ngành dầu khí. Năm 1985 chúng tôi sinh cháu trai. Năm 1988, Tổng cục Dầu khí nhập vào Bộ Công nghiệp nặng, cuối năm ấy tôi thi đỗ nghiên cứu sinh, lại sang Liên Xô nghiên cứu luận án phó tiến sĩ, luận án của tôi vẫn là kinh tế khai thác dầu khí. Sang Liên Xô lần này, tôi mang cả con đi theo, lúc đó cháu mới ba tuổi. Một thời gian sau, chồng tôi cũng sang Liên Xô, nghiên cứu luận án phó tiến sĩ.

Sang đấy, chúng tôi có thêm một cháu nữa. Tháng 12 năm 1992 tôi bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ. Do sinh con nên mãi năm 1995 tôi mới về nước. Năm 1992, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt có quyết định tách ngành dầu khí khỏi Bộ Công nghiệp nặng, bỏ cấp Tổng cục, thành lập Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trực thuộc Chính phủ. Về nước, tôi lại tiếp tục làm việc ở Ban kế hoạch Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, trực tiếp phụ trách các dự án như dự án mỏ Bạch Hổ, dự án khí Nam Côn Sơn.

–          Thời kỳ anh chị làm luận án phó tiến sỹ, chính là thời kỳ biến động dữ dội nhất ở Liên Xô. Đầu tiên là khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lần lượt chuyển đổi thể chế chính trị. Năm 1991 thì Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết tan rã. Để hoàn thành luận án, chắc là anh chị gặp không ít khó khăn?

–          Chẳng có gì khó khăn cả. Xã hội tuy có biến động nhưng việc nghiên cứu của chúng tôi, cũng như rất nhiều học sinh hay nghiên cứu sinh của các ngành khác, vẫn được tiến hành rất bình thường. Vì giữa hai Chính phủ đã có hiệp định mà.

–          Lạ nhỉ. Những năm đó tôi đang học ở trường Viết văn Nguyễn Du tại Hà Nội. Việc khối Đông Âu từ bỏ chủ nghĩa xã hội, rồi Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết tan vỡ đã tạo ra một cơn sốc lớn ở trong nước. Rất nhiều người đang công tác hay học tập, nghiên cứu bên ấy; trong đó có cả một số nhà văn được trường Nguyễn Du cử sang học ở Viện Văn học Macxim Gorki, đã bỏ về, nói là không thể tiếp tục học tập, nghiên cứu nữa.

–          Tôi không rõ vì cái gì mà họ “không thể tiếp tục” được, nhưng tôi thấy việc học tập, nghiên cứu của cán bộ, sinh viên Việt Nam hồi ấy tại trường Dầu Matxcơva không hề gặp điều gì khó khăn do tình hình xã hội biến động cả. Thôi tốt nhất là quên những chuyện ấy đi. Tôi nói đến đâu rồi nhỉ?

–          Chị ở Tổng công ty được mấy năm thì về Viện dầu khí?

–          Tôi mới về Viện từ năm 2008 thôi mà. Nhìn chung, cuộc đời công tác của tôi là một cuộc đời “động” chứ không phải là tĩnh. Hồi ấy, làm việc ở Tổng công ty được 5 năm thì đến tháng 10-2000, toi được điều động sang Công ty Tài chính Dầu khí, nay là Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Sang đó, lúc đầu tôi làm trưởng phòng kế hoạch rồi sau làm trưởng phòng dịch vụ tài chính.

–          Nếu tôi không lầm, thì vào thời kỳ đó, thị trường tài chính còn là một lĩnh vực khá mới mẻ đối với nước ta?

–          Lúc đó, cả nước chỉ mới có sáu công ty tài chính, trong đó có công ty của chúng tôi. Tuy thành lập sau năm công ty kia, nhưng Công ty tài chính Dầu khí lại lớn nhất. Trước khi thành lập, lãnh đạo Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã có sự nghiên cứu rất kỹ về các mô hình những công ty loại này, nghiên cứu thị trường tài chính ở cả trong và ngoài nước. Nói về thị trường tài chính trong nước lúc đó, thì không phải chỉ là “khá mới mẻ” như anh nói đâu, mà là mới hoàn toàn. Vì chưa có thị trường, nên nghiệp vụ cũng chưa có. Chúng tôi phải xây dựng lấy thị trường cho mình, sáng tạo và hoàn thiện nghiệp vụ của mình.

–          Những nghiệp vụ hoàn toàn xa lạ với chuyên ngành mà chị được đào tạo?

–          Công ty tài chính, thực chất là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, có mục đích làm tăng tài sản của doanh nghiệp bằng công cụ tài chính. Vừa xây dựng thị trường, xây dựng nghiệp vụ, chúng tôi đã triển khai hoạt động của công ty trên rất nhiều lĩnh vực như thu xếp vốn cho các dự án của Tổng công ty, kinh doanh vốn nhàn rỗi của Tổng công ty bằng cách cho vay, kinh doanh tiền tệ liên ngân hàng hoặc đầu tư để sinh lời. Ngoài ra còn nhận tư vấn về tài chính, về thuế hay nhận ủy thác về vốn cho các doanh nghiệp khác… Ngay khi mới thành lập, anh Nguyễn Tiến Dũng, giám đốc Công ty Tài chính Dầu khí, đã có sự định hướng rất chuẩn xác rằng cổ phần hóa các doanh nghiệp là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế của Việt Nam. Từ định hướng đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề về cổ phần hóa doanh nghiệp. vì thế, từ đầu những năm 2000, khi Nhà nước tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp thì Công ty Tài Chính dầu khí đã đủ điều kiện để làm dịch vụ cổ phần hóa cho các doanh nghiệp ở các lĩnh vực khác nhau. Và khi Tổng công ty Dầu khí Việt Nam tiến hành cổ phần hóa, thì công ty chúng tôi cũng được chỉ định làm tư vấn cổ phần hóa cho toàn ngành. Năm 2006, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, thì Công ty Tài chính Dầu khí cũng chuyển thành Tổng Công ty Tài chính Dầu khí trực thuộc tập đoàn. Nhưng năm 2005 thì tôi lại được điều trở lại Tổng công ty rồi.

Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền dành cho tôi ba buổi tiếp xúc, mỗi lần đúng một tiếng đồng hồ, lần thì từ 16 đến 17 giờ, lần thì từ 16g30 đến 17 giờ 30. Cách nói chuyện của chị nhẹ nhàng nhưng khúc chiết, không rườm ra lan man, không bao giờ ra khỏi nội dung câu hỏi, đúng là cách nói của một nhà khoa học. Lần thứ ba, câu chuyện của chúng tôi xoay quanh nhạc sĩ Phạm Tuyên, thân sinh ra chị. Trong đời mình, tôi mới chỉ được nhìn người nhạc sĩ tài danh này hai lần ở xa xa, nhưng tên tuổi ông thì tôi biết rất sớm. Ai cũng biết cụ Phạm Quỳnh yêu Truyện Kiều, mê Truyện Kiều, gọi Truyện Kiều là “quốc hồn, quốc túy” của Việt Nam, nhưng ít ai để ý rằng trong Truyện Kiều, có một câu mà nếu “vận” vào cái đại gia đình của cụ thì thật đúng, đó là câu: Nền phú hậu, bậc tài danh / Văn chương nết đất, thông minh tính trời. Danh nhân Phạm Quỳnh có một vợ, mười sáu người con, ba người mất sớm, còn lại 13 người, phần lớn đều là những tên tuổi nổi tiếng. Nhạc sĩ Phạm Tuyên là con thứ 12 của cụ Phạm. (…) Tôi biết ông từng học trường Pháp lý, trường Sĩ quan Lục quân trước khi trở thành nhạc sĩ. Ông nôi tiếng với những bài hát ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ như Đảng đã cho ta cả một mùa xuân, Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng, Màu cờ tôi yêu, Ngày thống nhất Bác đi thăm, Như có Bác trong ngày đại thắng… và là người được trao giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt đầu tiên (2001). Giờ đây trước mặt tôi là con gái của Nhạc sỹ Phạm Tuyên và không hiểu sao điều đó khiến tôi rất tò mò. Tôi muốn biết tại sao chị lại chọn con đường nghiên cứu khoa học làm sự nghiệp của đời mình. Truyền thống thơ ca nhạc họa của ông nội và cha chị có tham gia được điều gì ở những thành công khoa học của chị. Có lẽ sự thông minh, đam mê tìm tòi sáng tạo là điều dễ nhận thấy nhất ở chị từ những tiếp nối truyền thống gia đình.

(…) Ba giờ tiếp xúc, một thời gian quá ngắn ngủi để có thể hy vọng hiểu được một con người, nhưng qua những gì chị Tuyền kể, tôi đã kịp nhận ra một điều: Chị là một người luôn làm chủ được công việc, dù ở bất kể công tác gì, cương vị nào, và công việc có phù hợp với chuyên môn của mình hay không, và ở đâu, chị cũng làm tốt vai trò của một “kiến trúc sư” cho những thành tựu của cơ quan nơi mình công tác. Đang từ công ty Tài chính Dầu khí, chị được điều chuyển về Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam nhận nhiệm vụ chuyên viên trong Hội đồng quản trị, giúp lãnh đạo Tổng công ty theo dõi toàn bộ mảng cổ phần hóa và đổi mới doanh nghiệp trong ngành. Từ chuyên viên, chị trở thành phó ban đổi mới doanh nghiệp. Năm 2006, Chính phủ quyết định nâng Tổng công ty dầu khí Việt Nam thành Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam. Trong cương vị phó ban đổi mới doanh nghiệp, tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền đã tích cực tham gia vầ có nhiều đóng góp vào quá trình chuyển đổi của tập đoàn.

Năm 2008, chị Tuyền về làm Phó Viện trưởng kiêm Phó Bí thư Đảng bộ Viện Dầu khí Việt Nam trong một hoàn cảnh đặc biệt (…) Năm 2006, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam được thành lập, thì tháng 1/2007 Viện Dầu khí cũng chính thức được trở lại với tên gọi vốn có của mình là Viện Dầu khí Việt Nam trên cơ sở hợp nhất ba tổ chức khoa học công nghệ của tập đoàn. Năm 2008, tiến sĩ Thanh Tuyền được điều về viện nhận trọng trách là Phó Viện trưởng kiêm Phó Bí thư (2009). (…) Chị cho biết:

–          Trước đây, ba cọc ba đồng, tháng tháng lĩnh lương, trên giao cho đề tài nào thì thực hiện đề tài ấy, ngoài lương, người thực hiện đề tài còn được thêm tiền. Bây giờ, phải tự tìm lấy khách hàng, tự tìm thị trường, tìm công việc để bù đắp chi phí. Không thì không có lương, Muốn có khách hàng, có công việc thì chất lượng các công trình nghiên cứu hay chất lượng dịch vụ phải cao, phải sát với thực tết, phải có tác dụng thực sự với sản xuất kinh doanh.

–          Để làm được điều đó, viện đã bắt đầu từ đâu, thưa chị?

–          Đảng ủy và lãnh đạo viện chúng tôi đã tập trung vào hai vấn đề lớn. Thứ nhất là làm công tác tư tưởng cho cán bộ công nhân viên, để ai cũng hiểu rằng với cơ chế mới theo Nghị định 115, thì chỉ có chính chúng ta mới cứu được chúng ta, và nếu chúng ta làm tốt thì cuộc sống của chúng ta sẽ khác trước. Làm công tác tư tưởng, chúng tôi cũng đồng thời khơi dậy lòng tự trọng của những người làm khoa học. Việc này được anh em rất ủng hộ, nhất là những anh em trẻ. Lâu nay, họ rất muốn được thể hiện mình. Và họ thấy đây chính là cơ hội để cho họ thực hiện mơ ước đó. Thứ hai, là sắp xếp lại tổ chức, giảm tới mức tối thiểu biên chế gián tiếp, tăng cường cán bộ cho chuyên môn, mạnh dạn sử dụng cán bộ trẻ xây dựng cơ chế, tiêu chuẩn hóa chức danh để phân loại cán bộ, khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo của anh em. Hiện tại, chúng tôi đã thành lập được bảy trung tâm chuyên ngành, đó chính là những nơi thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học và làm dịch vụ, dưới sự quản lý của viện. Ngoài ra viện cũng là đơn vị chủ trì việc thực hiện các đề tài khoa học mang tính chất chiến lược cho Ngành Dầu khí Việt Nam. Tất cả những việc làm đó đã thổi vào viện một luồng sinh khí mới. Hiện tại, chúng tôi đã có trong tay một đội ngũ cán bộ công nhân viên tinh thông chuyên môn, năng động ham tìm tòi, thông suốt về tư tưởng, hào hứng trong công việc, một đội ngũ lãnh đạo đoàn kết, một đảng bộ vững vàng. Tôi cho đó là thành công lớn nhất.

Ngày nay, nhờ cố gắng của rất nhiều người, Viện Dầu khí Việt Nam đã có được tầm vóc mới, hiện đại hơn. Những hoạt động khoa học của viện đa dạng, thiết thực, bám sát yêu cầu thực tế hơn. Với các chức năng chính là nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản trong lĩnh vực dầu khí; tư vấn, lập và đánh giá, thẩm định các dự án sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực dầu khí; giám định hóa chất, sản phẩm dầu khí, thiết bị, công nghệ thí nghiệm; đánh giá/ giám sát rủi ro, an toàn môi trường; dịch vụ khoa học công nghệ, phân tích mẫu, xử lý số liệu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; thu thập, bảo quản và quản lý khai thác, xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý nhà nước về thông tin dữ liệu chuyên ngành, phục vụ nghiên cứu và sản xuất kinh doanh; tổ chức hội nghị, hội thảo triển lãm / quảng cáo về ngành dầu khí; đào tạo chuyên ngành, cung cấp nguồn nhân lực chuyên ngành cho các đơn vị có nhu cầu; sản xuất, kinh doanh hàng hóa, xuất nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm trong các lĩnh vực trên… Viện Dầu khí Việt Nam đang chứng tỏ bản lĩnh hội nhập và cập nhật của mình, đáp ứng mọi yêu cầu từ phía đối tác trong và ngoài Ngành Dầu khí.

Vấn đề hiện nay Ban Lãnh đạo Viện chúng tôi còn băn khoăn, trăn trở là làm thế nào cân bằng được giữa nghiên cứu cơ bản, đón đầu và dịch vụ khoa học công nghệ nhằm mục đích doanh thu. Đây là điểm bất cập của Nghị định 115 mà các tổ chức Khoa học Công nghệ còn đang lúng túng. Mặc dù vậy, khát vọng lớn nhất của những người làm khoa học chúng tôi là làm sao những nghiên cứu của mình được đóng góp nhiều nhất trong hoạt động của tập đoàn cũng như sự phát triển của đất nước, không còn tình cảnh các công trình nghiên cứu lần lượt được cất vào tủ vì thiếu tính thực tế, đồng thời cũng mong muốn lao động của các nhà khoa học được đánh giá đúng với những giá trị mà họ đã đem lại cho xã hội và xứng đáng được hưởng.

Tuy mới chuyển về chưa lâu, nhưng Phó Bí thư đảng ủy, Phó Viện trưởng Phạm Thị Thanh Tuyền đã có những đóng góp xứng đáng cho Viện Dầu khí Việt Nam, bằng tài năng và tâm huyết của mình.

Hà Nội, tháng 11-2009

V.H.S.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: