Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 14, 2018

Những ngày tháng cuối đời của Phan Châu Trinh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:33 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười kỳ 2 tháng 5 năm 2018.

NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI ĐỜI CỦA PHAN CHÂU TRINH

Phan Thị Minh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trên tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam số 461, tháng 7 năm 2015 từ trang 19 đến trang 22. Tác giả, bà Phan Thị Minh tức Lê Thị Kinh là cháu ngoại Phan Châu Trinh, từng là đại sứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại I-ta-li-a và một số nước châu Âu khác như Luxemburg

—-o0o—-

Sau 14 năm hoạt động trên đất Pháp, ngày 28/6/1925 Phan Châu Trinh trở về Tổ quốc. Từ đó cho đến lúc qua đời (24/3/1926) chỉ trong vòng 9 tháng, mặc dầu đang bệnh nặng, Phan Châu Trinh vẫn tích cực không ngừng hoạt động trong phong trào yêu nước đang có cơ hội phát triển. Nội dung bài viết dưới đây trình bày về một số hoạt động trong những ngày tháng cuối đời của Phan Châu Trinh – đã biên soạn trên cơ sở tài liệu sao lục được tại Kho Lưu trữ hải ngoại của Pháp.

Thư khố Pháp còn lưu giữ hai bài báo tiếng Pháp (của tờ Mite) viết về cảnh Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh về đến cảng Sài Gòn ngày 28/9/1925 và buổi tiệc mừng.

Tờ Indochine (Đông Dương) có bài của Dejean de la Bâtie viết: “Tàu cập bến vào 8h15, trời bắt đầu tối và mưa lâm thâm nhưng nhiều người, nhiều ô tô đợi trên bến tàu, vẫy khăn gọi tên…” Một số được lên tàu đón, vây quanh Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh. Ai cũng muốn gặp Phan Châu Trinh; ông có vẻ gầy gò, má hóp, da đã nhăn nheo nhưng mắt rất sáng, nét mặt và cử chỉ rất kiên quyết dứt khoát.

Ngay trong buổi tiệc mừng tại nhà bà Chiêu Nam Lầu, cô ruột của ông Ninh, Phan Châu Trinh đã trả lời phỏng vấn và nói chuyện về quá trình của mấy ông mấy chục năm qua, phương hướng và nội dung cho cuộc vận động sắp tới. Ông vẫn nhấn mạnh cần giữ vững thế hợp pháp để đấu tranh lâu dài đòi cải cách dân chủ, mở mang dân trí và nâng cao đời sống kinh tế cho nhân dân.(các dòng chữ đậm, nhấn mạnh trong bài là của chúng tôi – PT)

Phan Châu Trinh tuyên bố thẳng với bọn cầm quyền sẽ ở lại Sài Gòn, lúc thì nói để chờ miền Trung bớt nóng nực mới về, lúc thì nói để chờ Toàn quyền Varenne sắp sang. Ông cũng tuyên bố sẽ sống  bằng nghề viết sách báo. Thực chất ông đã nhận định: ở Nam Kỳ bấy giờ chế độ cai trị của Pháp có phần dễ thở hơn, một phần luật pháp của Pháp được áp dụng, nhiều người đã tiếp xúc với phương Tây, đã sẵn có một phong trào đấu tranh công khai bằng báo chí dư luận, lại là vùng đất phì nhiêu, số người hằng tâm hằng sản khá đông, có thể dùng làm bàn đạp lâu dài của nhóm ông. Vì thế thâm tâm ông đã quyết định sẽ ở lại Sài Gòn, khi cần hoạt động mới ra Trung và Bắc.

Theo báo cáo của mật thám thì đến với Phan Châu Trinh ngay từ đầu có: Trần Quang Nghiêm, Lê Kim Ty, Phan Văn Trường, Lâm Hiệp Châu, Khánh Ký… phía người Pháp cánh tả có André Malraux, Paul Monin, Dejean de La Bâtie…

Mười hôm sau, Phan Châu Trinh đã đánh điện gọi người rể lớn (chồng bà Châu Liên – cha chúng tôi), Lê Ấm, dạy học ở Huế. Ngày 17/7/1925, ông Lê Ấm đã đưa bà Ngưu em gái út và Châu Lan con gái út Phan Châu Trinh (mẹ của bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).

Phấn khởi trước tinh thần và khí thế của bà con, cảm động với niềm tin yêu tất cả dành cho mình, Phan Châu Trinh làm việc hết sức khẩn trương quên cả bệnh tật. Ông tập trung huy động lực lượng trong các tầng lớp trên mà thực dân có phần kiêng nể, đồng thời lo kiềm chế xu hướng nôn nóng manh động trong lớp trẻ tân học. Ông vừa lo ứng phó những sự kiện trước mắt vừa chuẩn bị cơ sở cho hoạt động lâu dài.

Ngày 3/8/1925, ông đi Trà Vinh cùng với ông Ninh, rể lớn Lê Ấm và con gái út Châu Lan. Ngày 7/8 lại đi Mỹ Tho… Ông đi gặp gỡ một số điền chủ và nhà kinh doanh ở Mỹ Tho, Trà Vinh, Ba Động (có Nguyễn Phước Hượt, Nguyễn Huỳnh Điển, Trần Văn Kim…). Có những buổi họp kín dưới quyền ông Hợi (chồng bà Châu Lan, cha bà Nguyễn Thị Bình).

Ngày 28/8, ông mới trở về Sài Gòn, nói “dự định đi khắp Nam kỳ, nhưng sức khỏe không cho phép…”

Mục tiêu trước mắt của các lực lượng yêu nước là nhờ uy tín của Phan Châu Trinh để vận động tiền lập nhà in, ra sách báo và một số cơ sở hoạt động. Theo báo cáo của trùm mật thám Arnoux (số 3/74 ngày 24/9/1925) thì cuộc vận động của Phan Châu Trinh đạt kết quả khá lớn.

Ông khẩn trương biên soạn tài liệu diễn thuyết. Ông Ninh tích cực lo tổ chức cơ sở vật chất và làm thủ tục cần thiết, để chuẩn bị cho ông, trực tiếp cả với Sở mật thám.

Ngày 10/10/1925, ông cùng ông Ninh chủ trì cuộc họp với 5 người tại số 14 đường Martin des Pallieres, phần lớn là những nhân vật lớn, Ủy viên hội đồng như Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền, Nguyễn Tân Văn, Nguyễn Huỳnh Điển, các nhà điền chủ, nhà kinh doanh, trí thức và viên chức lớp trên. Có thêm Phan Văn Trường, Nguyễn Huỳnh Hiển, Nguyễn Pho, Khánh Ký, Trương Cao Động… Họ bàn:

+ Lập một nhà hội để diễn thuyết.

+ Lập nhà in để ra một tờ báo song ngữ Việt – Pháp.

+ Xây dựng một trường văn hóa và dạy nghề.

+ Nguyễn Huỳnh Điển nhận việc lo lập nhà in để phục vụ ra báo. Ông Đốc phủ Lê Văn Mau sẽ hứa cho đất và 100.000 đồng để xây dựng trường học, nếu thiếu ông sẽ đi quyên thêm. Hội nghị trung tâm bàn  vấn đề tổ chức diễn thuyết đã cử Ủy ban 5 người gồm: Phan Châu Trinh, Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền, Đốc phủ Nguyễn Tấn Sử và Nguyễn Tấn Văn. Ngày 15/10/1925, Ủy ban trên họp tại nhà Nguyễn Văn Long, có thêm ông Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Huỳnh Hiển và một số người lo việc quyên góp…

Họ trao đổi những thông tin đáng mừng về những lời hứa quyên góp và quyết định sẽ thành lập một câu lạc bộ để tổ chức diễn thuyết và hội họp, giao cho ông Trường và ông Ninh nghiên cứu điều lệ và thủ tục, kể cả làm việc với Sở mật thám. Nếu “kẹt” sẽ xin Toàn quyền mới là Varenne (đảng viên Xã hội) can thiệp.

Ngày 7/11 ông đi nghỉ ở Vũng Tàu thì được tin Khải Định chết, ông đánh điện cho Khâm sứ Pasquier đề nghị lập Hội đồng xem xét nên tôn người kế vị hay chấm dứt chế độ quân chủ. Khi trao đổi với bạn bè ông cũng hiểu là khả năng đó còn xa vời như trong bài của Nguyễn Phan Long đăng báo Écho Annamite ngày 12/11/1925, “Để có chế độ cai trị trực tiếp ở Trung kỳ”. Nhưng ông cho đây là một trong những nhát búa để đánh thức dư luận về vấn đề này, tạo một khả năng mới cho tương lai.

Ngày 19/11/1925, Varenne tiếp khách tại Sài Gòn: Phan Châu Trinh đại diện Trung kỳ, Phan Văn Trường, Bắc kỳ, Nguyễn Phan Long, Nam kỳ. Đoàn gồm nhiều nhân vật quan trọng. Họ đưa thỉnh nguyện, ngoài nội dung dự kiến có thêm nội dung ưu tiên cho các hoạt động kinh doanh của người Việt.

Ngay tối hôm gặp Varenne (19/11/1925), Phan Châu Trinh đã thực hiện buổi diễn thuyết đầu tiên của ông với đề tài “Đạo đức và luân lý Đông Tây”, tại số nhà 13 và 15 đường Albert 1, có đơn xin phép chính quyền, có chủ tịch đoàn gồm Nguyễn Phan Long, Nguyễn Tấn Văn và Nguyễn Tấn Được đều là ủy viên Hội đồng. Theo báo cáo của mật thám Arnoux số 119B ngày 20/11 có khoảng 200 người nghe. Khoảng 120 người trong phòng 30 người chen chúc ở cửa và một số người ở phòng nhỏ có cửa thông sang.

Không có thủ tục giới thiệu diễn giả, Phan Châu Trinh bắt đầu nói vào 20 giờ 20 và kết thúc vào 21 giờ 30. Có 5, 6 lần vỗ tay:

Arnoux nhận xét: “Đây là lần đầu tiên một người Việt Nam diễn thuyết bằng tiếng Việt ở một nơi công cộng (trước đó chỉ có vài cuộc ngắn ở Nhà Khuyến học), hơn nữa với tư cách riêng của diễn giả cần có báo cáo riêng” (có bảng tóm tắt nội dung kèm theo). Thực chất Phan Châu Trinh thông qua phân tích mặt mạnh yếu của hai nền đạo đức và luân lý, để chỉ rõ nhược điểm và tồn tại bấy giờ trong nhân dân ta, kêu gọi lòng yêu nước, ý chí tự lập tự cường, gìn giữ cái hay của mình, bỏ cái dở, học tập cái hay của người, biết đoàn kết tổ chức đoàn thể, biết truyền bá xã hội trong dân. Ông nêu gương Nhật Bản đã thành công và Trung Quốc, Triều Tiên đang mở cửa phấn đấu canh tân đất nước để kêu gọi học tập gương họ.

Lời lẽ của ông vừa hùng hồn, thiết tha chân thành, vừa đơn giản dễ hiểu, vừa chặt chẽ khôn khéo, đại diện Sở mật thám ngồi nghe cũng không bắt bẻ vào đâu được mà thính giả thì hết sức xúc động thấm thía và phấn khởi.

Diễn văn được in ra hoặc chép tay phân phát. Hiện nay chúng tôi có bản in của Tân Dân thư quán Hà Nội.

Ngày 20/11/1925, Phan Châu Trinh đã cùng hai ủy viên Hội đồng thuộc địa Nguyễn Phan Long và Nguyễn Tấn Dược gửi đơn đến chủ sở mật thám báo sẽ diễn thuyết vào ngày 27/11, cũng tại địa điểm cũ, về vấn đề “Quân chủ hay dân chủ”. Arnoux phản ánh Phủ Toàn quyền: “Lần trước chỉ nói vấn đề luân lý mà Phan Châu Trinh đã khéo léo xen vào đó nội dung đả kích triều đình Huế. Lần này chắc ông ta sẽ trực diện hơn. Xin cho biết có nên cho phép không vì kiểu nói rất Annam, khéo léo của ông ta được người bản xứ hiểu rất dễ dàng… Dù tôi cũng phải cho phái viên đặc biệt và chỉ điểm đến dự”.

Ngày 27/11, Phan Châu Trinh đã diễn thuyết về đề tài “Quân trị và dân trị” dưới sự chủ tọa của Nguyễn Phan Long, Nguyễn Tấn Dược và Trần Đình Minh, từ 20 giờ đến 21 giờ 40.

Theo báo cáo của Thanh tra Becrtin “thính giả đông hơn lần trước, khoảng 300 người, gồm đủ mặt các nhân vật cách đó mấy tiếng đã cùng Nguyễn Phan Long đến gặp Varenne. Diễn thuyết được chào mừng bằng vỗ tay nhiệt liệt”.

Phan Châu Trinh đang sốt cao, vẫn cố gắng nói rõ ràng mạnh mẽ. Ông lướt qua tệ hại của chế độ quân chủ với nạn áp bức quân chủ… Ông trình bày hình thức tổ chức chế độ cộng hòa, điển hình là Pháp, cùng với các chế độ quân chủ lập hiến mà vua cũng không khác tổng thống. So sánh các chế độ, ông đả kích các mưu đồ bảo vệ ngôi vua quân quyền, ông đặc biệt châm biếm ngôi vua dưới chế độ bảo hộ là tên đầy tớ số 1. Ông nhắc lại nền quân chủ của nước ta là sao chép từ Trung Quốc, nhân dân họ đã nhận thức được và tự giải thoát ách nô lệ. Dân Nam cần bắt chước.

Ông được vỗ tay nhiều lần, đặc biệt khi ông cầu mong Pháp sẽ thiết lập nền cộng hòa ở Đông Dương.

Sau buổi diễn thuyết này Phan Châu Trinh mệt nhiều, phổi đau. Ông phải vào điều trị ở bệnh viện Algil 15 ngày, ngày 22/12/1925 mới hơi khỏe ra viện. Ông Đào Trịnh Nhất báo tin được ông nhận làm thư ký. Được tin Phan Bội Châu bị bắt đưa về Hà Nội ông đánh điện cho Toàn quyền xin ân xá.

Ngày 22/12/1925 được tin về thái độ Viện Cơ mật, Phan Châu Trinh gửi cho Khâm sứ Trung kỳ Pasquier một bức thư rất thẳng thắn.

“Ngài Khâm sứ,

Trong chuyến vào Nam kỳ cùng với ông Monguillot, Ngài đã mời tôi về Trung kỳ. Tôi đã vui vẻ nhận lời. Nhưng tình hình sức khỏe của tôi còn phải lưu lại Nam kỳ.

Nhưng ít lâu sau lời mời của Ngài, Viện Cơ mật đã mật tư cho các quan lại chức sắc trong nước để báo về việc sẽ trở về của tên Cộng sản Phan Châu Trinh, nguyên chính trị phạm, được Cộng sản giao về hoạt động tuyên truyền mạnh mẽ ở Đông Dương”.

Ngài đã rõ chính kiến và tình cảm tôi đối với nước Pháp. Viện Cơ mật đã gửi lệnh đó đi khắp miền Trung thì thật lạ quá, một bên là Ngài Khâm sứ mời tôi về Trung kỳ và bên kia là lũ chó của Ngài lại chuẩn bị sẵn sàng để sủa tôi, thậm chí cắn tôi nữa.

Tôi xin Ngài vui lòng giải thích cho tôi mấy điều lạ lùng đó.

Xin kính chào Ngài.

Phan Châu Trinh – 49P Charner Sài Gòn”

Trong những ngày khỏe từ 22 đến 27/12/1925 Phan Châu Trinh tin là chỉ một tuần nữa sẽ đủ sức về Đà Nẵng thăm quê hương và con, “đổi không khí chắc sẽ khỏe hơn”. Báo cáo số 1305 viết “Phan Châu Trinh đã đủ giấy tờ, chỉ còn chờ con tàu thích hợp là đi. Có lúc ông nói định chờ Varenne vào sẽ cùng ra”.

Nhưng từ ngày 27/12 ông mệt lại, không ăn không ngủ được. Nguyên nhân do khí hậu thay đổi và làm việc quá nhiều.

Ông chuyển sang thuốc Nam, lên Hóc Môn ở nhà ông Nguyễn An Cư (chú ông Ninh) làng Trung Chánh (Gia Định).

Sang đầu tháng 2/1926 bệnh ông càng ngày càng nặng, phổi đau  lại thêm bệnh kiết lỵ “khi đó chưa có thuốc trị”. Bác sĩ Thinh và Đôn thấy còn ít hy vọng. Cử nhân Lê Văn Huân từ Huế vào thăm đi cùng với con gái lớn Phan Châu Trinh (bà Châu Liên có đem theo con gái nhỏ 4 tháng tuổi, chính là tôi). Ông An Cư vẫn tích cực lo tìm các thầy thuốc Nam có tiếng đến chữa cho ông. Bà Châu Liên cho biết trong thời kỳ này ông Sinh Huy (thân sinh Hồ Chủ tịch) luôn ở bên cạnh Phan Châu Trinh (thư khố lưu một báo cáo nói đến viên thầy thuốc người Trung kỳ từ Gò Công lên). Ông Trần Đình Phiên cũng từ Quảng Nam vào. Ông An Cư cho biết “đã điện mời thầy thuốc nổi tiếng Huỳnh Thúc Kháng vào sớm vì Phan Châu Trinh rất tin tưởng ông này”.

Bọn mật thám vẫn bám ông. Họ điện cho mật thám Đông Dương: “Sáng 28/2/1926, một chỉ điểm đã thăm Phan Châu Trinh tại nhà Nguyễn An Cư. Ông bị kiết lỵ đã bắt đầu phù thũng, người yếu mệt nhưng vẫn đọc báo nói chuyện”.

Khắp nơi trong nước điện về hỏi tình hình sức khỏe của ông, lo lắng và đau buồn. Thấy không còn hy vọng, ngày 18/3 ông được chuyển về 54 Pellerin để thực hiện tang lễ và các lực lượng yêu nước quyết tổ chức thật lớn. Mãi đến ngày đó mới có tin Huỳnh Thúc Kháng đã lấy đủ giấy tờ và đang trên đường vào.

Quanh Phan Châu Trinh luôn có các bạn cũ và mới, hai con gái và hai rể cùng túc trực. Lúc này ông không còn nói to được nữa nhưng tinh thần vẫn minh mẫn. Sáng 24/3, ngay trong ngày qua đời, khi bà Châu Liên hốt hoảng và báo tin ông Ninh bị bắt dẫn ngang quang nhà, ông vẫn bình tĩnh nói: “Đó là chuyện làm bình thường đối với người làm cách mạng”.

Niềm an ủi cuối cùng của ông là đã gặp lại người bạn chí thiết của những ngày đầu tiên dấn thân là Huỳnh Thúc Kháng, đã nói lên được lời trăng trối cuối cùng có tính tiên tri: “Độc lập dân tộc sau này sở cậy Nguyễn Ái Quốc”. Ông trút hơi thở cuối cùng lúc 21 giờ 30 ngày 24/3/1926.

Ban tang lễ gồm 16 người. Mọi việc chuẩn bị đã được lo trước cả tuần lễ: 1 hầm mộ bê tông cốt thép đã được xây tại nghĩa địa Gò Công tương tế, một quan tài kẽm đặc biệt đã được đặt làm để giữ thi hài ông 10 ngày đủ thời gian cho đại diện các tỉnh về viếng và dự tang lễ, cử hành ngày 4/4/1926.

Xinh trích dẫn đánh giá chung khá chính xác của mật thám Nam kỳ về sự kiện này: “Thật là một cuộc biểu tình vĩ đại đến nay chưa hề thấy (Manifestation grandiose inconnue jusqu’ici) không chỉ do tầm vóc của nhân vật, danh tiếng của ông ta làm cho dân chúng nô nức đến vậy, tuy mọi người đều muốn tỏ ra biết quý trọng người đã hy sinh cho lợi ích của nhân dân đất nước… Tang lễ Phan Châu Trinh còn dựa vào một phong trào quần chúng đã được đốt nóng chỉ tìm cơ hội để bùng lên. Dư luận người Nam đã nắm lấy cơ hội cái chết và tang lễ Phan Châu Trinh để thỏa mãn yêu cầu bộc lộ trạng thái tư tưởng mới của mình (son état d’esprit nouveau)”.

Chúng ta có thể nói: Bằng cả cuộc đời hoạt động không mệt mỏi ở khắp nơi và bằng cả cái chết của mình, trong lòng dân tộc, chí sĩ Phan Châu Trinh đã góp phần không nhỏ vào những bước phát triển tiếp theo của công cuộc giải phóng đất nước.

 

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: