Pham Ton’s Blog

Tháng Sáu 29, 2018

Bà Yên Bái

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:04 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 7 năm 2018.

BÀ YÊN BÁI

Phạm Tôn

Cả nhà tôi đều gọi bà là Bà Yên Bái. Vì từ khi bà tìm ra họ hàng và chúng tôi thì bà vẫn sống ở Yên Bái cho đến cuối đời.

Năm 1960, anh họ tôi là Phạm Vinh, đích tôn của ông ngoại tôi đóng quân ở Yên Bái, thì một hôm có đồng đội đi công tác về, dẫn anh đến nhà một bà cụ. Bà nhìn anh là nói ngay “Đúng là người nhà ông Quỳnh rồi…” Và bà kể cho anh nghe bà chính là em gái bà nội. Thời con gái ở xứ Kinh Bắc bà có yêu một thư sinh họ Vũ theo Phan Bội Châu đi Đông Du sang Nhật, nhưng việc lớn không thành, anh em tản mát mỗi người mỗi nơi, anh đành xuống tóc nương nhờ cửa Phật, chờ thời cơ. Gia đình biết là con gái “tằng tịu” với một chú tiểu tu ở chùa làng thì giận lắm, đuổi khỏi nhà. Ông bà đành lén trốn lên mạn ngược. Đi mãi qua các đồn điền ca phê, cuối cùng đến Yên Bái. Năm tháng trôi qua, bà sinh được hai con gái, đặt tên là Thái, Bình, mong ước suốt đời của hai vợ chồng về nước, về nhà. Vợ chồng ông làm cu li, con gái thì cho vào địu, treo lên cành cây. Kiến cắn, bé khóc, nhưng vợ chồng vẫn phải làm việc.

Ông mất, bà ở vậy nuôi hai con, lòng thương nhớ quê nhà, nhớ họ hàng, gia đình không lúc nào nguôi.

Nhà có một mảnh vườn nhỏ nhiều cây mít, ổi, vải, dứa… mùa nào thức ấy. Nhưng bà không bán, chỉ đãi khách qua đường ghé nhà hỏi đường hoặc nghỉ mệt. Có bộ đội, công nhân đi qua, bà đều mời vào nhà uống nước chè, ăn quả tươi… Bao giờ bà cũng hỏi chuyện mà không quên hỏi “Trong đơn vị, xí nghiệp, cơ quan có ai người họ Phạm không”. Nhiều lần có người họ Phạm đến, nhưng không phải người nhà bà. Mãi đến lần này mới gặp Phạm Vinh. Từ đó, bà nhờ một anh lái xe tải ở công trường thủy điện Thác Bà có công tác xuôi về Hà Nội, tìm đến nhà tôi, đón mẹ và em gái tôi lên bà chơi nửa tháng. Anh Đạo, “con nuôi” của bà, đưa lên rồi lại đưa về tận nhà. Đến mùa hè thì chồng cô Bình là con út bà về đón tôi và em trai lên chơi gần một tháng. Bà vui lắm, đưa đi khoe khắp xóm nói là nhà mình có con, cháu chị gái lên chơi, “không phải là không có dây có rễ”. Nhờ được gặp bà mà tôi biết được những năm tuổi trẻ của ông ngoại Phạm Quỳnh. Bà bảo gặp ai cũng hỏi có quen ai họ Phạm không để tìm họ hàng bà con vì biết rằng ông là người nổi tiếng, nhiều người biết chứ ông thân sinh ra bà Lê Văn Chấn chỉ là viên ký lục ở làng, người ngoài làng ít ai biết. Bà kể cho tôi nghe chuyện ông bà ngoại tôi lấy nhau đồng tuổi Nhâm Thìn, vừa tròn 16, thường cùng nhau về quê vợ, ra đồng cùng làm cỏ với bà con, ông thì xách giỏ khoai lang và ấm nước vối, mời bà con, vừa hỏi và ghi chép các câu tục ngữ ca dao địa phương. Tôi biết sau này ông đã diễn thuyết về ca dao tục ngữ ở hội Trí Tri Hà Nội. Những chuyện bà kể giúp tôi viết được những phần rất quan trọng về thời thanh niên của học giả Phạm Quỳnh đặc biệt là trong bài Người nặng lòng với tiếng ta từng có tiếng vang ở cả Hoa Kỳ khi báo Khởi Hành đăng theo đúng bản in trong nước trên tạp chí Công giáo và Dân tộc (Sài Gòn, 2006). Một người em vợ, nhớ về một người anh rể với tất cả tình yêu thương và lòng kính trọng như thế, thật hiếm có.

Cô Thái con cả của bà thất lạc trong thời gian chiến tranh từ ngày còn nhỏ, từ đấy, bà sống với con gái út, Vũ Thị Bình. Cô Bình sau này lấy một anh xã đội trưởng du kích tên là Yết, người đã về đón anh em chúng tôi lên nhà bà nghỉ hè. Sau này, vì cô Bình không sinh được con, vợ chồng ly hôn, bà chỉ sống với cô. Hai mẹ con sớm tối có nhau, luôn thương yêu chăm sóc nhau, nhưng không hợp tính. Bà nheo đôi mắt sâu, màu mắt đã nhạt, cười hiền, nói cho tôi biết là cô tuổi Tuất, nó là con chó, hay sủa, ăn nói khó nghe, nhưng nó trung thành, nó lại là con gái mà đứng chữ nhâm nên tính nết cứng cỏi như đàn ông. Việc gì đàn ông làm được, cô mày đều làm được, nhà này sống được là nhờ cô mày. Từ gieo trồng lúa nương, đến làm nhà, đẵn gỗ, chặt tre nứa, kiếm lá gồi. Mẫu nhà cũng tự nghĩ, ra vào thuận tiện, có chỗ thờ tự, có chỗ tiếp khách, mẹ con mỗi người một chỗ nằm, nhưng lại thông nhau tiện bề chăm sóc mẹ. Cái thế nhà nó chọn, thì không ai hiểu. Nhưng bà biết, thằng Yết lấy nó vì trả ơn những ngày bị thương, ăn dầm nằm dề hàng mấy tháng trời ở nhà bà, một tay cô mày chăm sóc, mà nói bỏ là bỏ, đi lấy ngay con Muộn ở xóm dưới, chưa cưới đã phễnh bụng, vậy mà thằng Yết đi đâu cũng vênh mặt “ta sắp có con, mà là con trai”. Cứ nhất định nói là con trai. Cô Bình chọn chỗ đồi cao, trông xuống nhà vợ chồng Yết . Nó có muốn nhìn thì phải ngước mắt lên, còn cô thì nhìn xuống dưới chân là thấy ngay nhà nó. Căn nhà trên đồi lặng lẽ suốt ngày, chỉ có bà cặm cụi chăm sóc vườn mít, chuối không có ai ăn thì phơi, sấy, bỏ  vò nút lá chuối khô, có ai đến nhà lại cho mang về làm quà. Cô đi làm suốt ngày, còn đi họp hội phụ nữ, về nhà lo cơm nước cho mẹ mà nhiều khi chẳng nói lấy một lời. Bà bảo bà biết cô không vui, mà cái số bà nó thế.

Nay may thay có thằng cháu là tôi, ham nghe chuyện xưa lại thích ăn chuối sấy, và lần đầu được ăn mít sấy, cứ ngồi ăn tì tì và uống nước trà tươi vườn nhà mà nghe bà kể chuyện; có chuyện tôi biết là bà chưa kể với ai. Như chuyện ông ký lục Vũ Văn Chấn xứ Kinh Bắc có ba con gái trắng trẻo, xinh xắn. Tết năm nọ lén đi xem bói ở chùa. Thầy phán cô cả Lê Thị Vân (là bà ngoại tôi) có số “đệ nhất phu nhân”, cô thứ là Lê Thị Hợp (nhà gọi là Nhỡ, là bà Yên Bái) thì “li hương, biệt quán”, cô út Lê Thị Mai thì “đi hai lần đò”, số phải hai đời chồng. Ra về, cô cả vô tư cười thầy bói nói mò, làm gì có chuyện ấy; cô thứ hơi buồn nghĩ sao vận mình lại hẩm hiu như vậy; chỉ có cô út, chưa đến tuổi dậy thì là bỏ ngay nhà, ra Hà Nội xin tu ở chùa phố Hàng Vải. Gia đình cho người bắt về lại bỏ trốn đi xa hơn, rồi xuống tóc đi tu để tránh phải lấy hai đời chồng. Không ai ngờ thầy bói chùa làng mà phán đúng cả. Bà cười tươi nhắc lại chuyện cũ…

Nhiều năm sau khi bà ngoại tôi mất (năm 1953), bà Yên Bái mới về Hà Nội thăm gia đình tôi số 16 phố hàng Da, nhưng thật ra là muốn gặp bà em út nay đã là sư trụ trì một ngôi chùa lớn ở Thạch Bàn Gia Lâm. Gia đình tôi vẫn giữ liên lạc với bà từ xưa, nên hôm bà Yên Bái ngỏ ý muốn đi thì mẹ tôi chuẩn bị ngay và hai dì cháu cùng đi. Mẹ tôi bảo định đi vài ngày, dặn dò chúng tôi việc nhà, nhưng không ngờ, sáng đi, tối đã thấy hai dì cháu về: không ăn cả cơm chiều ở chùa. Mẹ tôi nói riêng với tôi, chuyện buồn lắm, sư già (nhà chúng tôi quen gọi bà Mai như thế, và chính bà cũng tự xưng như thế) không nhìn mặt chị, bảo “sư già thấp” (gọi như thế để phân biệt với bà Mai là “sư già cao”) lo cơm nước và hoa quả cho khách ăn rồi còn về kẻo nắng. Mẹ tôi bảo bà Yên Bái nghĩ mãi mới quyết định về chuyến này, để lá rụng về cội, chị em già sống với nhau, bà tính làm vãi, sống luôn ở chùa Thạch Bàn, đêm ngày chị em cùng tụng kinh niệm Phật, bõ những năm dài li hương biệt quán. Thế mới biết cái miệng lưỡi người đời thật đáng sợ, cái bia miệng vẫn còn, cái án “tằng tịu với người tu hành, theo giai bỏ nhà ra đi” từ đầu thế kỷ vẫn đeo đuổi bà. Bà thì cười hiền bảo với tôi, bà tuổi thân là con khỉ, chỉ sống yên trên rừng núi thôi; về đây là về chơi, thăm người xưa thăm cảnh cũ thế này là mãn nguyện rồi. Chằng còn mong gì hơn… Rồi bà lại về Yên Bái.

Nhà bà nay đã ngập trong hồ Thác Bà. Hồi làm thủy điện, người ta phải giải tỏa làng để làm lòng hồ. Mỗi cây mít, nhãn, vải, ổi được bồi thường năm đồng, dứa, chuối thì không bồi thường. Bà bảo bà không nhận bồi thường, cứ để cây mít ông bà trồng từ khi dựng nhà, các cây nhãn, vải, ổi cũng vậy, cứ để ở chỗ ông bà đã trồng. Sau này nước ngập, tôi đi trên đập Thác Bà còn nhận ra nhà cũ là nhờ cây mít ngọn cao ở bên trái đầu đập lớn. Cái gì bà cũng coi thường, chỉ quí cái tình.

Từ năm 1960 đến năm 1971, năm nào tôi cũng lên ở nhà bà, khi ít cũng ba ngày, khi dài đến cả tháng, “lợi dụng tôi hay đau ốm” phải nghỉ việc.

Đầu năm 1973, có tin Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được ký kết, cả nước vui mừng; em trai tôi cũng làm đám cưới, tôi và hai vợ chồng trẻ vẫn sống ở nhà 16 Hàng Da. Tôi nghĩ, lúc này cả nước gia đình ai cũng sum họp vui vầy bên nhau, chỉ có bà tôi là tội nghiệp, nhất là mấy năm qua, một trong hai người không còn nữa thì người còn lại sẽ rất khó sống. Vậy, Tết này, tôi phải lên thăm bà. Ngỏ ý với em trai buổi sáng thì tối hôm ấy em nói “xà kềnh” rồi anh ơi, vợ em bảo nếu anh đi Yên Bái thì cô ấy sẽ lại về nhà mẹ đẻ. Tôi đánh ngay điện lên nông trường Mộc Châu cho ông em rể chí cốt “Đưa mẹ về ngay. Anh” Như ra lệnh khẩn.

Mẹ tôi về là tôi lên đường ngay đêm đó.

Cầu Long Biên bị đánh sập, phải đạp xe qua cầu phao sang ga Đông Anh cách hơn 20km, rồi lên tàu hỏa đi Yên bái. Mờ sáng thì đến ga Yên Bái. Tôi lại đạp xe đi ngay 40km về Thác Bà. Bụng đói, trời lại lạnh, tôi tìm các quán lá ven đường, không thấy quán nào, lúc ấy mới nhớ ra hôm nay đã là 30 Tết, lại là cái Tết hòa bình, đoàn tụ đầu tiên của bao gia đình. Các nhà mổ lợn, gói bánh chưng. Đường xa, vắng ngắt, nhưng hễ thấy có xe nào đạp đến gần thì lại cố đạp nhanh, sợ gặp phải kẻ bất lương thì khổ. Trời sẩm tối, thì đến cổng nhà. Tôi giỡ cửa tre, dắt xe vào sân, chỗ có ánh đèn điện hắt ra. Vừa bước lên thềm đã nghe rõ tiếng bà tôi cười nói “Đã bảo mà, thể nào nó cũng lên mà!” Dưới ngọn đèn điện, bà ngồi trên phản, cô tôi đứng dậy đỡ cho tôi cái ba lô mà nói: Từ buổi trưa, bà đã bảo cô nhớ nấu thêm cơm, đến bữa bà còn bảo lấy liễn xới cơm ủ chăn cho cháu nó ăn kẻo nguội… Nghe cô nói, bà kéo cái chăn sợi Nam Định xám lấy ra liễn cơm. May mà tôi quyết tâm lên thăm bà, nếu không thì thật có tội.

Năm 1975, non sông liền một giải, cơ quan tôi cũng lập một văn phòng thường trực tại Sài Gòn. Tháng 6, tôi xin nghỉ phép, đưa mẹ tôi, 72 tuổi là người lớn nhất nhà và cháu Hải, 6 tuổi, con cô út là người nhỏ nhất lên thăm bà. Cả nhà, chỉ mình tôi biết đường lên đây, sợ sau này tôi đi xa, chắc không ai lên được. Mẹ tôi nghĩ đây là lần cuối gặp bà, nên muốn mang theo đủ thứ. Tôi biết sức mình yếu, nên mẹ cho vào túi du lịch thì con lại lén bớt ra. Còn cháu bé nhanh nhẹn cẩn thận thì tôi cho xách một cái đèn bão Trung Quốc to và giao nhiệm vụ “nắm tay, dẫn bà ngoại”. Như thế nó sẽ khỏi bị lạc mà mẹ tôi cũng đi chậm lại khỏi vấp ngã, vì mẹ tôi mổ mắt, hồi ấy phải đeo kính rất dầy, nặng. Chuyến đi suôn sẻ. Bà mừng lắm, hai dì cháu chuyện trò rất tâm đắc.

Mẹ tôi bảo tôi dẫn ra chợ đầu làng, mua được con cá quả (lóc) hơn nửa ký, lại mua dứa, cà chua và rau thơm rồi về nhà làm ngay bữa trưa sum họp gia đình, chờ cô Bình đi làm về thì cùng ăn. Dân Hà Nội kiệt quệ vì chiến tranh, được một bữa cơm nóng canh sốt như vậy, lại có con cá to tươi ngon thì đã cho là quá lý tưởng. Nhưng cô về, đặt dao, cuốc xong, chào mẹ tôi rồi vào ngay bếp. Bà vui vẻ nói không phải lo cơm nước, chị nó đã làm xong cả rồi, chỉ chờ cô về là ăn thôi. Thấy mẹ tôi tươi tỉnh bưng lên bát canh cá nóng hổi thơm mùi dứa thì vừa liếc nhìn cô đã nói ngay “Ăn thế này thì độc chết, bệnh như mẹ con phải kiêng kỹ lắm mới được như nay…” Mẹ con tôi đưa mắt nhìn nhau; may mà tôi đã nói cho mẹ tôi biết tính khí cô rồi. Còn cô chưa ăn, cũng bảo bà đừng ăn vội chờ cô làm món ăn lành… May mà cô đi làm suốt ngày, cho nên chuyến thăm cũng rất bổ ích cho mẹ, tôi và cả cháu Hải. Hải thấy giữa nhà có bàn thờ một “thằng bé” tay giơ cao một đóa sen, thích quá nó leo lên phản lấy cái tượng. Tôi sợ quá, bắt để lại ngay tượng Phật đản sinh lên bàn thờ. Mẹ tôi cũng bảo như thế là hư lắm. Nhưng bà chỉ cười, nó biết gì mà mắng, nó thấy đẹp thì thích thôi, trẻ con hay thích trẻ con mà. Hôm ra về, mẹ tôi và bà cứ bịn rịn mãi mới chia tay được. Còn cô chào mẹ tôi từ sớm để còn đi làm hợp tác lấy công điểm.

Năm 1978 tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội chuẩn bị đưa cô láng giềng vào Sài Gòn làm đám cưới. Tối đến khu tập thể Kim Liên bàn với anh cả và chị dâu lên “kế hoạch” hẳn hoi: Tối mồng 2 Tết, lên tàu ở ga Hàng Cỏ, thì mờ sáng sẽ đến Phú Thọ, chạy ngay ra bến xe đi Thác Bà. Mồng 3 Tết chắc dễ kiếm xe vì còn trong ba ngày Tết mà người ta cũng kiêng ngày này không lành. Quả như hai anh em đoán. Xe lên Thác Bà thuận lợi.

Tôi dẫn anh đi lên đập Thác Bà, chỉ cho anh chỗ nhà cũ của bà, rồi đi tiếp. Nhưng mấy năm chiến tranh đã làm địa hình, đường xá khác đi rất nhiều. Lên đến đầu dốc thì con đường dẫn vào một doanh trại bộ đội trước kia không có. Tôi cứ dẫn anh tôi đi theo hướng lên ngọn đồi cao nhất tìm nhà bà. Vả lại, có trong túi cái thẻ phóng viên bọc plát tích, tôi không sợ gì bộ đội dân quân, đều là “cánh ta” cả. Qua doanh trại, không ai hỏi han gì, có lẽ dân cũng thường tiện đường mà qua, thành quen với bộ đội thời bình.

Đến nhà, chỉ có cô Bình ra đón, nói là bà đang ngủ. Nhưng đã nghe tiếng bà trong nhà vọng ra “Ai đấy, có phải thằng cháu không?…” Cô dẫn hai anh em đến bên giường giới thiệu là có đến hai cháu từ Hà Nội lên thăm chứ không phải một như mọi khi. Bà ngồi trên giường giơ tay xoa đầu từng cháu một rồi cười. Cô bảo bà nay mắt mờ, suốt ngày chỉ nằm một chỗ, lúc nào cũng lơ mơ ngủ. Ăn rất ít, chỉ vui khi có mấy bà bạn đến chơi để bà có dịp khoe các con cháu bà chị nhất phẩm phu nhân. Ở được năm hôm, anh em tôi phải tính chuyện về, vì muốn về, phải qua sông lên bến xe huyện Yên Bình, mỗi ngày chỉ có một chuyến xe ca 50 ghế.

Việc quan trọng và có ý nghĩa nhất anh em tôi làm trong ngày là đến bên giường bà, để “bà điểm danh” và xoa đầu từng cháu. Ba bốn lần qua sông mà toàn là hết vé, lần cuối, tôi đứng ra lập một danh sách những người cùng chờ mua vé, ký tên vào, hẹn sáng hôm sau ra xe lấy vé. Phải có “chiêu” đó mới về Hà Nội được. Sáng đó, chúng tôi chờ bà “điểm danh” như thường lệ rồi mới đi. Cô bảo các cháu về thì bà sẽ buồn đấy, nhưng cô sẽ nói dối là hai anh em sang sông mua vé, bà không biết đâu.

Đó là lần cuối cùng tôi gặp bà yêu quí. Sau này thế nào tôi không rõ. Có một bà cô con ông em bà ngoại tôi ở Sài Gòn, sau giải phóng tôi cho địa chỉ cũng thường liên lạc thư từ và gửi quà cáp biếu. Bà này cho biết là không hiểu sao lá thư nhận được cuối cùng của cô Bình có ý giận lắm, viết là “Từ nay xin đừng thư từ, quà cáp gì nữa, cứ xem như mẹ con chị trên này đã chết cả rồi”.

Tôi viết thư cũng không thấy hồi âm…

Trong lòng tôi không bao giờ phai nhòa hình ảnh, lời nói, nụ cười của bà Yên Bái.

Sài Gòn 27-6-2018

P.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: