Pham Ton’s Blog

Tháng Một 11, 2019

Truyện Kiều

Filed under: Tác phẩm — phamquynh @ 9:58 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 1 năm 2019.

Một trăm năm trước, Phạm Quỳnh đã viết bài này

TRUYỆN KIỀU

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ một trăm năm nay, ở nước ta, hầu như không ai nói tới Truyện Kiều mà quên nhắc tới Phạm Quỳnh. Nhất là từ sau 1924,pham quynh can cuoc năm diễn ra lễ kỷ niệm lớn nhất nước ta từ xưa tới nay ngày mất đại thi hào Nguyễn Du, với hơn hai nghìn người tham dự tại Hà Nội. Tối ấy, nhà báo, nhà văn Phạm Quỳnh xuất thần thốt lên câu nói bất hủ “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn,Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Sau đó, đã nổ ra một cuộc tranh luận lớn về Truyện Kiều, với sự tham gia của những tên tuổi lớn trong cả nước. Đến nỗi, sau này cuộc tranh luận về một tác phẩm văn học đã bị đẩy lên thành một hành động chính trị. Và cuộc tranh luận đã thành một “vụ án”: Vụ án Truyện Kiều, thoát hẳn ra ngoài lĩnh vực văn học nghệ thuật.

Đến nay, sau hơn ba mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam pham quynh trekhởi xướng và lãnh đạo, theo tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, đang ngày càng có nhiều cách tiếp cận mới dân chủ hơn, công bằng hơn mà cũng thấu tình đạt lý hơn. Và chân lý ngày càng sáng tỏ, trong một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng là quê hương của các danh nhân văn hoá thế giới: đại thi hào Nguyễn Du và Hồ Chí Minh.

Thật ra, Phạm Quỳnh quan tâm, yêu mến Truyện Kiều và Nguyễn Du từ lâu rồi. Trong bài văn cuối đời viết còn dở dang vào trưa ngày 23/8/1945 Cô Kiều với tôi, Phạm Quỳnh có kể là ông đã say mê Kiều từ thuở lọt lòng, qua lời ru của mẹ là cô Vũ Thị Đoan, một hậu duệ của dòng thi thư họ Vũ nổi tiếng hay chữ, hiếu học đất Hải Dương. Và bài đầu tiên ông viết về Truyện Kiều, phân tích tìm hiểu Truyện Kiều “theo lối mới” là bài Truyện Kiều, đăng trên Tạp chí Nam Phong số 30, tháng 12 năm 1919, năm ông mới 26 tuổi và Nam Phong ra đời vừa hai năm. Bài dài đến 20 trang báo, gồm bốn phần: 1) Cỗi rễ Truyện Kiều. 2) Lịch sử tác giả. 3) Văn chương Truyện Kiều. 4) Tâm lý cô Kiều.pham quynh bui to

Để cung cấp cho bạn đọc ngày nay có thêm tư liệu nghiên cứu về Truyện Kiều và Nguyễn Du, cũng như bản thân tác giả Phạm Quỳnh, bắt đầu từ kỳ 1 tháng 1/2011, chúng tôi lần lượt trích đăng bài báo quan trọng này, theo văn bản in trong Phạm Quỳnh – Thượng Chi Văn Tập, Nhà xuất bản Văn học xuất bản tại Hà Nội năm 2006, từ trang 549 đến trang 593. Nay đăng lại bắt đầu từ kỳ 2 tháng 1 năm 2019

Sau đây, xin mời các bạn đọc từng phần.

—o0o—

Đau đớn thay phận đàn bà!

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Phụ phàng chi mấy hóa công?

Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha!

(Kim Vân Kiều)

Người nước ta, ai là người không biết truyện Kiều? Ai là người không thuộc ít nhiều câu trong truyện Kiều? Ai là người không rõ sự tích nàng Kiều mà thương thân thế cô Kiều, hồng nhan bạc phận, đủ bề tài sắc mà gặp cảnh đoạn trường, mười lăm năm gian khổ ở đời, tựa như Trời đầy đọa để làm cái gương soi chung cho thế nhân nông nổi? Mà lạ thay, suốt các hạng người trong nước, từ kẻ văn học trí thức cho đến người làm lụng tầm thường, từ bậc khuê môn đài các cho đến kẻ làm ruộng hái dâu, không ai là không thích truyện Kiều, không ai đọc truyện Kiều mà không thấy cảm động, như thân lịch cái khốn cảnh ấy, chịu sự khổ thống ấy, từng những hoạn nạn ấy, trải những bước đường ấy. Có lẽ không văn chương nào có quyển truyện bộ thơ mà phổ cập bằng truyện Kiều ở nước Nam ta. Văn chương Pháp có tập thơ Ngụ ngôn của La Fontaine, nhưng là thuộc thể “ngụ ngôn”, mượn giống vật để răn người đời, không phải là thể “tiểu thuyết” kể riêng về thân thế một người. Văn chương Tàu có bộ Liêu trai của Bồ Tùng Linh, nhưng toàn là những chuyên yêu tinh quái đản, lại thể chuyện vụn vặt, lời văn cao kỳ, chỉ những người có học mới thưởng thức được mà thôi. Không đâu có quyển sách nào vừa cao thượng đủ cảm được người học thức, vừa giản dị đủ cảm được kẻ bình thường, như truyện Kiều vậy.

Thành ra văn chương nôm ta vốn rất nghèo nàn mà tình cờ lại sản xuất được một bộ sách rất đáng quí giá, có thể sánh với những sách thật hay trong văn chương các nước khác.

Nói rằng “tình cờ” vì trước truyện Kiều không có sách gì hay bằng truyện Kiều, mà sau truyện Kiều cũng không có sách gì hay hơn truyện Kiều nữa, thời truyện Kiều không phải là cái “sản vật” chung của văn học nước ta, mà là sự sáng tác riêng của một bậc thiên tài vậy. Như thế thời không thể lấy cái tỉ lệ thường của văn chương nôm mà xét được. Phải dùng phép phê bình khảo cứu của văn học Thái Tây mới mong phát biểu được cái đặc sắc, bày tỏ được cái giá trị của một nền tuyệt tác trong quốc văn Việt Nam ta. Vậy sau đây xin chia ra bốn mục mà thử xét về cỗi rễ truyện Kiều; gọi là theo đòi phép nghiên cứu của Thái Tây, không dám phẩm bình gì văn chương của tiền bối.

Cỗi rễ truyện Kiều

Tích truyện Kiều ai cũng đã biết.

(…)

Kim bèn nhủ Vương tiện đường đi tìm nàng. Đến Hằng Châu mới được đích tin rằng Từ Hải chết trận mà Kiều đã tự vẫn dưới sông Tiền Đường rồi. Cả nhà xiết nỗi thương xót, bèn đặt đàn tràng bên sông làm lễ giải oan và thiết bài vị chiêu hồn.

Cơ duyên đâu bỗng lạ đời!

Giác Duyên đâu bỗng tìm vào tận nơi.

“Trông lên linh vị chữ bài”, nhà sư thất kinh mà nói rằng: “ Người còn sao bỗng làm ma khóc người?” Nghe tin ai nấy sửng sốt, bèn xúm quanh lại kể lể hỏi tra. Sư thuật lại đầu đuôi, rồi dắt cả đoàn về am. Tới nơi gọi nàng ra, cả nhà nhận mặt:

Tưởng bây giờ là bao giờ,

Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao!…

Vương ông truyền cho đem kiệu rước về nhà, nàng trước còn không muốn về, định ở lại tu ở chùa, sau phải chiều lòng về vậy.

Về đến quan nha mở tiệc ăn mừng; đương giữa tiệc thời Vân đứng lên giãi bày một hai, rằng:

Còn duyên may lại còn người,

Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa.

Quả mai ba bảy đương vừa,

Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì.

Dứt lời nàng vội gạt ngay đi, nói rằng: “Việc muôn năm cũ kể chi bây giờ?…”. Nhưng cả nhà mỗi người tán thành vào, lại chàng Kim trân trọng nhắc lại lời nguyền xưa, nói rằng bây giờ muốn chắp nối tơ duyên cũ là để cho trọn chút nghĩa xưa, chứ

Bấy lâu đáy bể mò kim,

Đã nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa?

Ai ngờ lại hợp một nhà,

Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm?…

“Hết lời khôn lẽ chối lời”, sau nàng cũng phải thuận vậy. Bởi đó mà trong nhà nhân tiệc mừng thành lễ cưới, cả nhà vui vẻ, dễ chỉ duy có nàng là trong lòng sầu tủi không sao nguôi được, những cũng phải gượng làm vui vậy.

Những từ sen ngó đào tơ,

Mười lăm năm mới bây giờ là đây…

Những người mà trong mười lăm năm trời đã kinh lịch nhiều khốn cảnh như thế, còn bao giờ quên được nữa, còn bao giờ vui được nữa.

Vui là vui gượng kẻo mà…

Thế là kết cục truyện Kiều: Kiều nương đã hết giang hồ mà về khuê các thì truyện Kiều cũng hết.

*

*   *

Ấy đại khái các tình tiết trong truyện Kiều nôm tóm lược lại như thế. Đọc qua trên kia cũng đủ biết rằng truyện kết cấu khéo, đủ cho nhà văn điểm xuyết mà thành một áng văn chương hay được. Mà thật Cụ Tiên Điền đã khéo điểm xuyết thay, khiến cho tập Kim Vân Kiềuthành một nền kiệt tác trong văn nôm ta. Nhưng ai cũng biết rằng gốc truyện Kiều là tự Tàu, cũng như gốc bản tuồng Le Cid của nhà danh kịch nước Pháp Corneille là tự Tây Ban Nha, Cụ Tiên Điền ta cũng như nhà danh kịch Pháp, là nhân một tích cũ mà kết cấu lại , tô điểm vào, cả cái tài là ở sự kết cấu, sự tô điểm ấy, còn vốn truyện là tự ở ngoài vậy.

Nguyên bộ tiểu thuyết Tàu mà cụ phỏng theo để đặt ra truyện Kiều đề là Thanh Tâm tài nhân lục, không biết rõ tác giả là ai, soạn vào đời nào, nhưng truyện với lời văn cũng tầm thường, ngoài mấy bài từ điệu có vẻ thanh tao lưu loát, không có đặc sắc gì. Nhưng bộ tiểu thuyết ấy cũng không phải là truyện đặt ra cả, có lẽ căn cứ ở sự thực mà kết cấu ra.

Gần đây ký giả có đọc một tập thuyết bộ đề là Ngu sơ tân chí, thấy trong có truyện Vương Thúy Kiều của Dư Hoài tự Đạm Tâm, kể tường về lịch sử nàng Kiều, mà việc thời thuộc về niên hiệu Gia Tĩnh đời Minh, ngờ rằng có lẽ về thời đại ấy có người kỹ nữ tên là Vương Thúy Kiều thật, mà cái thân thế đáng thương của người đã cảm người đương thời hay người đời sau, khiến nhân đó mà đặt thành truyện.

Sau đây xin dịch truyện Vương Thúy Kiều để cùng các nhà khảo cứu.

“Ta đọc sách Ngô Việt Xuân Thu, thấy nàng Tây Thi sau khi nước Ngô bị phá mà lại theo Phạm Lãi về Hồ, vẫn thường than rằng người đàn bà đã được lòng tin của người ta, lấy nhan sắc làm mất nước người, mà không biết tuẫn tử, thời tuy không phụ lòng cũng là phụ ơn vậy. Đến như Vương Thúy Kiều đối với Từ Hải, thời công tư đều kiêm được cả, thật cũng khác với Tây Thi vậy thay! Ôi! Thúy Kiều vốn là con hát, người hèn nghề tiện, mà không chịu để bận lòng như thế, trong bọn râu mày thật nhiều người nên xấu hổ không bằng vậy. Ta thương cái chí của nàng, nên ta cóp nhặt chép lấy hành sự làm một bài truyện như sau này.

“Vương Thúy Kiều là người Lâm Tri, thủa nhỏ bán cho bọn con hát, lấy họ là Mã, mụ giả mẫu goi tên cho là Kiều nhi. Nàng phong tư đẹp mà tính thông tuệ. Đem về Giang Nam, dạy cho hát lối Ngô du thời hát lối Ngô du giỏi, dạy cho gẩy đàn tì bà Hồ thời gẩy đàn tì bà Hồ hay; thổi sáo thành khúc, tiếng trong mà cao, đánh phách cất giọng lên hát thời bao nhiêu người ngồi nghe nghiêng mặt mà chau mày. Trong xóm Bình Khang, Kiều nhi đã đứng đầu danh lịch. Nhưng Kiều nhi vốn người nhã đạm, tính tự nhiên, không khéo phấn sức, cũng không sành cái thuật đón khách. Gặp anh lái buôn to bụng, hay bác ngu ngốc nhiều tiền, thời có ý khinh, không them liếc nhìn, không thèm nói ngọt. Mụ giả mẫu lấy thế làm giận, thường chửi đánh. May có chàng thiếu niên cho riêng Kiều nhi tiền, để thoát khỏi mụ giả mẫu mà dọn ra ở Gia Hưng, đổi tên là Vương Thúy Kiều. Đương bấy giờ có người ở huyện Háp tên là La Long Văn, giàu có nhiều tiền, có tính hào hiệp, hay giao du với bè bạn nhiều, cùng với Thúy Kiều giao hoan lâu lắm; lại nuôi cả đứa con hát nhỏ tên là Lục Châu. Lúc ấy người đất Việt tên là Từ Hải, là tay gian hùng trộm cướp, vừa bị bọn bác đổ nó quẫn, lẻn vào trốn ở nhà Thúy Kiều, ẩn núp ban ngày không dám nhìn mặt ai. Long Văn biết Hải là tay tráng sĩ, nghiêng mình kết bạn với, sánh vai nhau uống rượu, lại đem nàng Lục Châu cho làm con hầu. Hải cũng không từ. Đương lúc rượu nồng tai nóng, Hải sắn tay áo cầm chén, ghé vào tai Long Văn mà khẽ nói rằng: “Miếng đất cỏn con này, không phải là trường đắc ý của bọn ta. Người trượng phu há cứ uất uất mà chịu ở dưới người ta mãi ru? Ông nên gắng sức. Tôi cũng từ đây đi đây. Tha nhật có được phú quí thời đừng quên nhau”. Nhân buồn bực hát hỏng, ở vài ngày, rồi biệt đi.

“Từ Hải ấy, tức là sư chùa Hổ Bào ở Hàng Châu; người ta thường gọi “Minh sơn hòa thượng” chính là hắn vậy. Ở không bao lâu rồi Hải vào đất “Nụy Nô”, làm chủ bọn thuyền chài, sau đem hung binh qua bể, mấy lần sang xâm đất Giang Nam. Năm Gia Tĩnh thứ 35, vây Tuần phủ Nguyễn Ngạc, ở Đồng Hương, Thúy Kiều Lục Châu đều bị bắt. Hải trông thấy hai người kinh ngạc và lấy làm mừng lắm. Bảo Thúy Kiều đánh đàn Hồ tì bà để hầu rượu, mỗi ngày lại càng thêm sủng ái, cho gọi là phu nhân, bắt các nàng hầu khác phải lạy. Thúy Kiều đã được kiêu ái không ai bằng, phàm quân cơ mật hoạch, duy một mình được dự nghe dự bàn. Song Thúy Kiều ngoài là người thân yêu, mà trong thật là gây cho Từ Hải thất bại sau này. Chỉ một lòng mong về nước, bao giờ nước mắt cũng chan chứa trên mặt. Giữa lúc bấy giờ có quan Tổng đốc Hồ Tôn Hiến khai phủ ở Triết Giang, khéo dụng binh, nhiều kế sách, muốn chiêu hàng Từ Hải. Sau khi giết được lũ Ma Diệp, Trần Đông và phá tan được đảng Vương Trực bèn sai Hoa Lão Nhân đem hịch lại chiêu hàng. Hải giận lắm, bắt trói Hoa Lão Nhân định đem chém. Thúy Kiều bảo Hải rằng: “Việc ngày nay sinh sát là ở ông. Hàng hay chẳng hàng, có việc gì đến người lai sứ”. Hải bèn sai cởi trói, tiễn bạc cho về. Lão Nhân về cáo với Tôn Hiến rằng: “Khi giặc đương mạnh, chưa thể toan được. Nhưng tôi ngó Vương phu nhân là người yêu của Từ Hải, tả hữu xem có ngoại tâm, hoặc có thể mượn mà giết giặc được chăng?”. La Long Văn nghe thấy thế, tự mong rằng lại được đi lại với Thúy Kiều như trước, bèn nhờ thượng khách trong mạc phủ là Sơn Âm và Từ Vị đưa lên tiếp mặt Tôn Hiến. Tôn Hiến lấy nghĩa là người cùng làng, xuống thềm vái đón, nói rằng: “Ông có ý công danh phú quí chăng? Tôi nay muốn dùng ông đây”. Xong rồi nói việc lớn cho nghe. Bèn nhận chỉ tới dinh Từ Hải ăn mặc áo mũ hào hiệp như xưa. Tới nơi Hải ân cần mời vào, cho ngồi thượng tọa, đặt rượu mời, rồi nắm tay Long Văn mà nói rằng: “Túc hạ xa xôi tới đây, có phải làm thuyết khách cho Hồ công chăng?”. Long Văn cười mà nói rằng: “Không phải làm thuyết khách cho Hồ công, chỉ nguyện làm trung thần với cố nhân thôi. Vương Trực nay đã sai con nạp khoản , cố nhân không thừa lúc bây giờ mà giải giáp thôi binh, tha nhật tất đến bị bắt”. Hải ngạc nhiên nói rằng: “Thôi, hẵng tạm để chuyện đó đấy, ta cùng cố nhân uống rượu đã. Đàn ngọt hát hay, chơi cực sung sướng, tưởng người đại trượng phu lúc đắc chí nên như thế”. Uống rượu được nửa cuộc, cho gọi Vương phu nhân cùng Lục Châu ra chào Long Văn. Long Văn cải dung lấy lễ đáp; vui vẻ lắm, không nói đến việc riêng. Thúy Kiều vốn biết Long Văn là người hào hiệp, bèn khuyên Hải sai người tới Đốc phủ để thâu khoản giải vây Đồng Hương. Tôn Hiến mừng lắm, theo kế Long Văn, càng lấy vàng bạc châu báu cho đem mật lót cho Thúy Kiều. Thúy Kiều lại siêu lòng, ngày đêm khuyên Hải nên hàng, Hải tin lời, bèn định kế trói Ma Diệp, Trần Đông, ước hàng cho Tôn Hiến. Đến thành Đồng Hương, mặc giáp trụ vào. Lúc bấy giờ Triệu Văn Hoa, Nguyễn Ngạc cùng Hồ Tôn Hiến đương ngồi đường hoàng. Hải khấu đầu tạ tội, lại tạ Tôn Hiến, Tôn Hiến xuống thềm, soa vào trán mà nói rằng: “Triều đình nay đã xá cho ngươi, ngươi không nên làm phản nữa”, an ủi mấy lời rồi cho ra, Hải ra thấy quan binh tập đông lắm, đã tự nghi. Tôn Hiến thời còn thương Hải, không muốn giết kẻ hàng. Nhưng Văn Hoa thúc mãi, Tôn Hiến bèn hạ lệnh sai Tổng binh là Du Đại Du chỉnh sư tiến lên. Gặp gió lớn, lửa cháy mạnh, chư quân đánh trống reo hò xông vào, giặc tan chết cả. Hải hoảng hốt đâm đầu xuống sông, với lên chém lấy đầu. Còn Thúy Kiều thì bắt sống đem về quân môn. Tôn Hiến mở tiệc khao binh, bắt Thúy Kiều hát lối Ngô du và mời rượu khắp mọi người. Các tham tá kẻ thời quì lên chiếu, kẻ thì đứng dậy múa, dâng chén rượu chúc thọ cho Tôn Hiến. Tôn Hiến bị rượu say quá, mắt hoa lên, cũng sắn tay áo ngồi dậy cùng vói Kiều nhi chơi đùa; trong đám tiệc lộn xộn cả. Hôm sau Tôn Hiến lấy làm xấu hổ lúc say đã quá chơi, bèn đem Thúy Kiều cho tên tù trưởng Vĩnh Thuận mới dụ được. Thúy Kiều đã theo tù trưởng Vĩnh Thuận, nức nở than khóc rằng: “Minh Sơn đãi ta hậu, ta vì việc nước dụ hàng mà đến nỗi chết, nay giết kẻ tù trưởng kia lại lấy kẻ tù trưởng này, còn mặt mũi nào mà sống nữa!” Bèn ngoảnh ra mặt sông, kêu khóc to lên, rồi đâm đầu xuống nước chết”.

(…)

Ấy lai lịch truyện Kiều như vậy. Nguyên là chuyện có thực, người Tàu đặt thành tiểu thuyết, rồi cụ Tiên Điền nhân tiểu thuyết ấy mà đặt thành truyện nôm. Xem chuyện Vương Thúy Kiều, ai là người không chạnh lòng thương người con gái tính tình cao thượng mà gặp phải số phận long đong. Nhưng cảm xúc vào bậc thi nhân có tài, thời cái chuyện người con hát tầm thường ấy nghiễm nhiên biến thành tấm gương thiên cổ phản chiếu tâm sự cùng thân thế của biết bao kẻ hồng nhan bạc phận, gặp cảnh đoạn trường ở đời này.

P.Q.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: