Pham Ton’s Blog

Tháng Sáu 27, 2019

Chuyện một người cháu ngoại: Giã từ cảng thân yêu (Ra đi khi cảng hết khói bom đạn) Phần cuối

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:14 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 7 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại

GIÃ TỪ CẢNG THÂN YÊU

Phạm Tôn

  1. Ra đi khi Cảng hết khói bom đạn: 1972

(Tiếp theo và hết)

Cả hai cô vu cho mình là từ ngày chiến tranh đến nay không chịu đến, rồi nói chuyện tầm phào như mọi khi có cô Huệ. Cả hai đều đã biết là mình sắp về báo Nhân Dân, do có nội gián là hai cô bạn ở bên đó đã lén xem mặt mình từ hôm gặp anh Thép Mới . Khi chỉ còn lại hai đứa, mình hỏi thẳng việc cô định đi làm hộ lý, cô có vẻ buồn, thở dài. Đi B về, tôi xin chuyển sang Quân  y viện ngay, nhưng cơ quan không đồng ý… Buồn lắm chẳng muốn làm gì ….

Cô cho biết đã nhận thư tôi, lại nói là vẫn nhớ 16 Hàng Da, nhưng không hiểu sao, có đi qua mà lại không vào. Tôi về, cô tiễn ra tận cổng như mọi khi. Kỳ này lại đi Trường Sơn, đi dài, thật ra tôi cũng chẳng muốn đi nữa. Mồng 6 bắt đầu. Tôi nói đến nơi, thế nào cũng gửi ngay cho một cái lá nhé, không viết một chữ nào cũng được…. Chúng mình cùng cười. Cô bạn hơi e thẹn, lấy tay che mặt…. Mặt to đen, vẫn buồn lắm.

Chủ nhật 10/12/1972 8:50 nhật ký ghi : Những sự việc ghi ở trang trước là là xảy tra trong “ngày hoà bình cuối cùng”. Vì theo như lệnh sơ tán khẩn cấp  thì đến 18 giờ ngày hôm sau, tất cả người già, trẻ em và người không trực tiếp sản xuất, chiến đấu đều phải đi khỏi Hà Nội. Nhưng cho đến hôm nay , Hà Nội vẫn đông vui như thường. Đi đâu cũng gặp trẻ con…Trong thành phố, tin vỉa hè lại cho biết: 15 này sẽ ký hiệp nghị hoà bình.

Mình đang làm những việc cuối cùng ở cảng, mong để lại một kỷ niệm tốt, thiết thực làm nốt những việc mà sau này khi không có mình anh em sẽ dễ dàng thực hiện để giữ vững phòng trào học ở Phà Đen.

15:00 ngày thứ năm 21/12/1972 ,vừa làm xong hai việc quan trọng xách nước đầy cái chum xanh để dự trữ và sửa lại đèn, nến. Tất nhiên cuộn băng cá nhân cũng đã bỏ sẵn trong túi

Tối 18/12/1972, đột ngột có còi báo động. Thế là chấm dứt cái cảnh hòa bình tạm thời. Bắn, bom lại bắn dữ dội hơn. Khoảng hơn hai giờ đêm thì các chú Trung, Nghiên, Mỹ ba công nhân cảng đến ngủ nhờ và cho biết: Khu vực khối 50-51 khu Hai Bà Trưng bị đánh phá. Một vài quả bom cũng thả trúng cảng. Cô Đào Thị Phê hát hay, vui tính, cùng đi Quảng Bình với mình ngày nào đang bế con trong hầm đã bị mảnh bom chặt gãy lìa cánh tay đang ôm con. Cháu nhỏ chết ngay, mẹ cháu mê man… Nhà tôi không có hầm, nên mấy anh em cứ đành nằm mà nghe bom đạn nổ rung trời chuyển đất. Sớm hôm sau, đưa mẹ và hai cháu bé đến 47 Lò Sũ cốt tránh bom nhờ có hầm kiên cố. Đến Cảng, tìm gặp các gia đình người bị nạn. Anh Dụng, người lái xe còn trẻ không nói được một lời… Cô Phê vợ anh vào bệnh viện cấp cứu được một giờ thì tắt thở. Bà mẹ thương cháu lạnh, chạy vào nhà lấy cái chăn ra thì bom nổ. Cụ không biết sẽ sống ra sao… Khối 50-51 là hai xóm lao động san sát những căn nhà nhỏ đông vui là thế, bây giờ chỉ còn là một đám tro tàn âm ỉ nhả khói. Mưa, đường lầy, những người chủ nhà chăm chú bới đống tro, cố tìm những gì còn sót lại, cái bát vỡ, cái soong bẹp

Đám cháy xảy ra thật đột ngột mà dữ dội. Tài sản coi như mất hết. Không ít người, nhất là trẻ con, người già nấp ở hầm đất ngay trong nhà đã bị chết thui. Có cái xác chỉ còn khúc mình, đầu và chân tay bắn đi đâu mất. Có điều lạ là không hề nghe thấy tiếng ai khóc cả. Đám đông lặng lẽ dọn dẹp, cố tìm kiếm, đào bới dưới trời mưa đông lạnh lẽo.

Chiều 19/12, sau những giờ làm việc căng thẳng thì nhận được giấy chuyển sang báo Nhân Dân.

Tối ấy, 19:30 cái giờ mà đáng lẽ ra mình và anh em ở cảng đang ngồi ở thư viện Hà Nội nghe nhà văn Nguyễn Tuân nói về Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, thì lại bắt đầu một đêm kinh hoàng mới. Bom đạn liên miên cho đến sáng. Hôm sau, cũng như hôm trước, đúng 12 giờ trưa, giặc lại đến dội bom hơn một giờ mới ngừng, để đến tối 19:30 lại bắt đầu một đêm man rợ mới.

Cậu Khuê đến, cậu sẽ ở tạm nhà mình, mang theo một chồng sách quí. Mình về ngủ ở nhà, tối thứ tư 20 lại là ngày học tiếng Nhật của ba anh em mình và em Minh. Mấy anh em quyết định cứ học, chỉ đổi địa chỉ. Nhưng sau đó lệnh cấm đi lại ngoài đường từ 17:30 đến 22:30 mới thôi. Mình về nhà chỉ là để tiếp sensei (thầy giáo) Lê Văn Thức. Không ngờ, Vũ Tuấn Hùng cũng đến mang theo sách vở. Đúng lúc học mọi khi thì bom nổ. Ngớt đợt bom đầu, Đỗ Xuân Bảo lái cẩu ở Cảng lên ngủ nhờ, cho biết: Đêm 19, cảng lại bị bom phá hỏng nhà cửa, nhưng không ai việc gì. Suốt đêm, hai anh em nằm nghe bom nổ rung chuyển cả nhà.

Hôm nay, báo Nhân Dân ra muộn. Mọi người dân Hà Nội vồ lấy, đọc ngay ở trang nhất: Miền bắc thắng oanh liệt: Trong hơn 30 giờ từ tối 18 đến rạng sáng 20/12 bắn rơi 5 máy bay B52 và 8 máy bay phản lực, bắt sống nhiều giặc lái, bắn cháy ba tàu chiến Mỹ… 8 giờ tối 19/12 Hà Nội bắn rơi một máy bay B52 và 11 giờ đêm lại bắn rơi một chiếc nữa.

Đến 20/12/1972, 4091 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi trên miền Bắc.

11 giờ trưa, báo động, bom, bắn. Rồi lại yên, 12:15 lại một đợt mới đến 13 giờ mới thôi. Mình về nhà, chuẩn bị cho những tình huống xấu hơn. Đến Hàng Bông thấy một cột khói to đang bốc cao lên trời. Cứ theo hướng cột khói, mình đi qua phố Hàng Bông, Phan Bội Châu, rồi Trần Hưng Đạo, thì trước mắt mình ở cuối con đường lớn này là một khoảng trống không kỳ lạ. Đâu rồi nhà ga Hàng Cỏ to đẹp bề thế chứa chan kỷ niệm với người Hà Nội. Tất cả chỉ còn là một đống gạch vụn, sau đống gạch khói đen vẫn tiếp tục bốc lên, cao mãi… Nghe nói phía nhà máy điện cũng có cột khói nhưng mau tan hơn. Đêm qua, chúng đánh khu lao động An Dương. Một anh thanh niên ôm con ngủ trên giường cả hai chết ngay trên giường. Người Hà Nội lại một phen tấp nập kéo nhau đi sơ tán. Em Nhàn ở trường về đòi mang cháu Hà đi, mình không tán thành nhưng cũng không dám cản. Mình không nói gì với em Thân và mẹ, nhưng cố ý tránh để cả hai anh em cùng ở một nơi. Dù sao cũng cần một người sống. Còn rất nhiều việc cần đến anh em mình. Mình ở nhà, không có hầm, nhưng còn hơn là cả hai anh em cùng ở một nơi. Sự thật đơn giản đến đau lòng.

Vừa báo động một đợt ngắn, chỉ có bảy phút. Hình như ai cũng có cảm giác rằng hôm nay thể nào chúng cũng đến sớm hơn mọi ngày. Không ai ngạc nhiên. Con người Việt Nam ta thật là dễ thích nghi, thế nào cũng sống được.

Từ trưa, nước máy trong nhà không chảy, điện cũng không có. Nhưng ngoài đường, vẫn có nước máy, đèn điện nhiều đường phố vẫn sáng, tàu điện 17:30 vẫn leng keng chạy.

Hôm nay, ăn vội để về sớm. Chưa đến 6 giờ tối mà đường phố quanh bờ hồ đã vắng. Các nhà rất ít ánh đèn, nói chung đều đóng cửa. Chỉ mấy hàng nước, hàng bánh vỉa hè là còn đốt đèn dầu lù mù cố vớt vát kiếm ăn. Phố xá rất yên ắng. Từng tốp, từng tốp người tiếp tục lên đường đi sơ tán. Xe hơi, xe đạp, đi bộ, cứ thế lên đường. Hai người đi xe đạp trước mình đang trò chuyện. Đến ngã tư, trước khi chia tay mỗi người một ngả, anh thanh niên nói thôi tôi về nhé. Chị bạn không chào lại mà nói: Gớm, hôm qua, bao nhiêu người được thấy tận mắt cái B52 to kềnh nói rơi, đỏ rực đúng như một bó đuốc lớn.

Tối hôm qua, chị Thanh vợ anh Phong ở nhà dưới sinh một cháu trai, 3kg600. Tây Hà Nội 70km có máy bay địch…loa khu phố lại vang lên những lời quen thuộc. Rồi 60km… Trước mắt mình là một mảnh bom to bằng đầu ngón tay một công nhân cảng tặng hôm mình gặp sau trận bom đánh cảng. 19:10, lại một lần nữa báo động ngắn. Chiều nay, em Nguyễn Mạnh An đến chơi, đưa ba cậu bạn đi cùng. Một cậu nhà ở Nguyễn Trường Tộ (… cách 80km) vừa bị phá tan trong trận chúng đánh nhà máy điện trưa nay. An hẹn tối đến ngủ nhà mình, còn rủ cả mấy bạn kia nữa, mình vui vẻ nhận lời, nhưng nói rõ là nhà không có hầm (… cách 50km) thế là hai bạn chào mình ra về. Đến cầu thang, An quay lại nói tối nay em cũng không đến nữa. Cậu Khuê suốt chiều nay không thấy về. Nhà chỉ còn lại một mình mình. Phiêu lưu chăng? Chỉ vì mình không muốn cả nhà tụ họp để đánh bạc với lũ giặc.

Chiều nay, đang tiếp mấy cậu thanh niên thì Đoàn Di đến. Cả nhà Di ở lại chỉ vì không có tiền. Di đã viện đủ mọi lý lẽ để bà mẹ vợ kỹ tính tin là không đi là đúng. Hầm đất an toàn hơn hầm xây, nhà cũng ở khu vực chẳng có mục tiêu nào. Thật ra, có chạy cũng chẳng biết chạy đâu. Ra ngoại thành có khi còn nguy hiểm hơn. Đi xa hơn nữa thì tốn kém mà chắc gì đã ít nguy hiểm hơn. Nói đùa một lúc rồi Di bảo mình gỡ hai tấm kính cất đi. 19:50, vừa báo động 15 phút. Đỗ Xuân Bảo và Tú một công nhân lái cẩu đến ngủ nhờ. Hôm qua, cảng lại bị đánh. Nhà cũ bọn Nguyễn Tiến Trung bị đánh tan. May là không ai việc gì. Rõ ràng đất cảng là một trọng điểm bắn phá của giặc rồi. Đài đang báo tính đến 21/12, trong ba ngày qua 12 B52 đã bị hạ. Mấy anh em lại nói chuyện với nhau về lade phục vụ hòa bình, về Nôben và cả giải Nôben nữa… Đêm êm ả, bí mật như một bàn tay thép bọc nhung. Cuộc sống Hà Nội thật lạ.

Đêm 21/12 bom đạn cho đến sáng. Sớm nay, có lệnh triệt để sơ tán. Tất cả các cơ quan đều sơ tán, chỉ để lại những người chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Mình để em Nhàn đưa Hà đi. Thân đi họp, mãi gần 16 giờ vẫn chưa thấy về. Mình đến Lò Sũ. Dì và các em đều đi theo nhà thông gia là cán bộ cao cấp đến đón tận nhà. Không tiện đưa cả chị và cháu theo nên đành lẳng lặng ra đi, không chào hỏi. Thành ra ở sân nhà chỉ còn bà và cháu nội Ánh Hồng hai tuổi. Bà lo nấu bữa chiều, cháu chạy nhảy quanh bà hát Bé bé bằng bông hai má hồng hồng bé đi sơ tán bế em đi cùng. Chăn màn để trên gác, cửa khóa hết, không lấy được. Mình treo giỏ đồ nấu ăn, cả bếp dầu và bô của bé rồi chở bà đằng sau, tay ôm cháu bám cổ, lái xe đạp một tay đưa hai bà cháu về nhà. Về nhà được một lúc thì cậu Tuyên dến gửi một số đồ cậu cho là quan trọng: một túi gạo, một bọc áo quần, mấy cái ngăn cặp lồng. Cậu cười, gần như vui vẻ, thờ ơ, kể là trận 4:30 sáng nay nhà cậu bị sập hoàn toàn. Buồn cười là còn một cái phích nước ở góc tường còn nguyên.

Nguyễn Tiến Trung đến nhà, cho biết cảng bị đánh lần thứ tư. Không ai việc gì cả: công nhân lo thân nghỉ từ chiều. Hình như ông bố và cậu em Nguyễn Thế Hào đều bị nạn trong vụ oanh tạc khu An Dương. Biết mà đành chịu không đến thăm được. Hào là bộ đội chuyển ngành về làm cán bộ công đoàn ở cảng, thay mình phụ trách công tác bổ túc văn hóa hồi mình đi Quảng Bình. Về thì mình lại cùng Hào lo chuẩn bị cho cảng dự đại hội liên hoan văn nghệ toàn cục đường sông. Hào viết hoạt cảnh chèo về công nhân cảng trình diễn cùng bọn ca nam, ca nữ, ảo thuật của mình được khen. Hào chỉ bằng tuổi mình, nhưng cậu ta rất thương mình vì thấy quá ngây ngô. Hào bảo cứ như cậu thì chẳng bao giờ được phân phối cái gì đâu. Cậu đi Quảng Bình mới được cái xe đạp chứ không vợ, con ai phân cho cậu quạt, phích nước, … Cứ để tớ lo cho. Anh nhờ bạn lắp cho tôi một cái quạt nhỏ cho các cháu tôi khỏi nóng. Anh đến y tế, buộc họ cấp cho tôi tiền bồi dưỡng mỗi khi tôi ốm nghỉ 15 ngày. Có lần, tôi đọc báo thấy nói công đoàn Liên Xô gửi vải vóc cho nạn nhân bom Mỹ, tôi lập ngay danh sách, đi điều tra rõ tên tuổi nạn nhân và hoàn cảnh gia đình nạn nhân, lấy chữ ký của phó thư ký công đoàn rồi lên thành phố. Mọi việc xong xuôi trong một buổi sáng, lấy được vải về, chỉ còn đưa đi cho gia đình nạn nhân. Hào thấy tôi chạy đi chạy lại thì hỏi có gì mà vui thế. Tôi kể mọi chuyện thuận lợi đến không ngờ. Hào cười: thế ông được cái gì. Rồi anh cùng tôi chia vải đưa cho các nạn nhân. Hào là thế. Chất phác, thật thà và cũng rất nhiệt tình.

Tối, cậu Khuê mới về. Bệnh viện Bạch Mai của cậu hoàn toàn bị phá sạch. Trưa nay đài loan tin sáng nay Hà Nội hạ ba B52, một F111. Đến hôm nay, Hà Nội đã hạ 11 pháo đài bay B52.

Em Thân liên lạc với trường tìm ra nơi trú bom mới cho gia đình. Thế là bây giờ, mẹ và cháu Ánh Hồng yêu quí đã nằm êm ấm trong một ngách nhỏ dưới sàn một lớp học ở trường Trưng Vương với đầy đủ tiện nghi như bếp dầu, bô, chăn màn. Em Thân cũng trực ở đấy để chờ chuyến xe của trường đưa tất cả đi sơ tán. Thật thương cho chú rể. Đã chuẩn bị đủ bánh kẹo, trà thuốc lá cho đám cưới lẽ ra tổ chức vào hôm nay, thiếp cũng gửi rồi mà bây giờ ngồi trong một cái xó nhỏ dưới gầm trường, lập lòe đèn dầu hàng trăm gia đình nheo nhóc, chẳng khác nào sống thời nguyên thủy trong hang động. Mình muốn mang bớt sách đi cất giấu, nhưng quyển nào cũng thích, tập nào cũng quí. Số quí nhất là tự điển thì lại không muốn xa rời một phút nào. Đành cứ để vậy.

20:05 ghi : 19:45, mở nhật ký, chưa kịp viết hết câu vừa qua một trận báo động 45 phút, có bom nổ sáng trời nhưng không rõ tiếng… thì lại bắt đầu bắn, rồi còi báo động. Thời gian hòa bình quả là có ngắn chưa được 10 phút, mình chỉ vừa lau xong cái thông phong đèn dầu và bắt đầu đốt lửa. Đài đọc Tuyên bố của Chính phủ. Nghe cái đã.

15:50 ghi: Đêm qua, tám lần báo động tất cả. Lần nào còi kéo nhiều lần lên xuống hoặc đài có nói câu Giặc Mỹ âm mưu đánh phá ác liệt thành phố Hà Nội là dự báo có B52. Tiếng máy bay B52 ào ào vang vọng dội xuống từng đợt như tiếng cối xay lúa, nghe âm u ma quái. Chỉ những lần ấy mình mới xuống nhà và gần sáng, lúc B52 hay hoạt động nhất, mới xuống hố cá nhân trước cửa nhà. Mẹ, em Thân, anh Đại chị Thủy và cháu Hồng đều ra hầm dưới các lớp học trường Trưng Vương. Ở đấy, cứ tối đến, có mấy trăm người trú ẩn. Đèn, nến lập lòe trong từng khoang nhỏ rộng nửa mét, ngột ngạt. Sáng, đưa mẹ về. Tối lại đưa đến đấy ngủ. Anh Đại mang bé Hồng đi, mẹ nhất định không chịu đi cùng, không sơ tán nữa. Đi trong khi con cái còn ở nơi bom đạn, để bảo vệ cái mạng già của mình thì đi làm gì. Cả buổi sáng êm ả, nước máy chảy vòi nhỏ, nhưng đã bắt đầu chảy, khéo dùng tiết kiệm thì cũng đủ. Nước ở cái hố cá nhân tròn trước cửa cũng dùng được. Bữa cơm sum họp hiếm hoi thật là vui. Lại có cả một lạng… thịt quay.

Trái với lệ thường, 14 giờ giặc mới bỏ bom B52 ở xa, không rõ ở đâu. Máy bay trinh sát không người lái bay qua mấy lượt rồi, ta bắn rất dữ nhưng không hạ được. Lâu lắm rồi, không hạ được một chiếc nào loại này. Báo Nhân Dân hôm nay có rất sớm, đúng 6 giờ, gần như lệ thường rồi. Nhà in thân yêu của mình dùng cảm, kiên cường lắm.

Chủ nhật 24/12/1972, đã có những đám cưới vắng khách. Nhưng tối đến, hàng trăm xe đạp, khách dự cưới đã nhiều. Không ai ngờ lại có máy bay địch. Báo động. Bắn và máy bay rơi.

Trưa thứ hai 25/12, nhật ký ghi: Đài báo hôm qua bắn rơi máy bay vào buổi trưa. Báo viết tối 24/12 giặc Mỹ bỏ bom khối 44 khu Hai Bà Trưng, xã Thanh Trì. Đúng ngay trước giờ Thiên Chúa giáng sinh.

Đêm qua, cả nhà được một giấc ngủ ngon. Cậu Tuyên ở đài Tiếng nói Việt Nam nên thạo tin cho biết: Thế là hết đợt I. Đợt 2 là từ 26-31 còn đợt 3 tất nhiên là sau 2/1/1973. Cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn.

Cả buổi sáng nay mình làm được đúng một việc: Mua dầu. Cả Hà Nội, chỉ còn một nơi bán dầu ở phố Lò Đúc có dầu bán. Người mua rất trật tự. Người bán vui vẻ nhanh nhẹn phục vụ. Lẽ ra hôm nay cửa hàng nghỉ, nhưng bán để phục vụ bà con đi sơ tán. Mấy hôm rồi, cửa hàng vắng khách.

Nước chứa chan, thừa mứa. Trưa nay, lại bắt đầu có điện. Thật kỳ diệu sức sống Thủ đô của những con người Hà Nội thanh lịch, hào hoa.

Sau  mấy đêm ở hầm gầm trường Trưng Vương mẹ mệt rã rời, nôn thốc nôn tháo, cả ngày hôm qua chỉ ăn một bát cháo loãng với ít đường. Hôm nay mẹ đã đỡ ngồi xem báo, rất thích bài Chế Lan Viên viết, xúc động đến rơi nước mắt, nghẹn lời, khi nói lên lòng căm giận lũ giặc tàn ác.

Nhật ký ghi: 22:00 ngày hôm nay có rất nhiều máy bay không người lái trinh sát Hà Nội, lượn đi lượn lại nhiều mà đến giờ này vẫn chưa thấy ném bom. Không hiểu gã Ních lừa bịp này sẽ giở trò gì. Học tiếng Tây Ban Nha rất có kết quả, thích thú lắm, như khám phá ra những miền đất mới. Khuya, Nguyễn Xuân An từ Hàng Gà ghé chơi. Đã chuyển về Cảng, lại làm truyền thanh như trước, hào hứng lắm. Rất yên tâm khi đã có hậu phương vững chắc là cô ca sĩ làng chèo. Mẹ và em Thân đã về Lò Sũ từ tối. Thứ ba, 26/12/1972, suốt đêm cho đến lúc này là 9 giờ 50 phút vẫn yên ắng. Lạ thật… Đến 13:10 mới có báo động. Bắn. Có tiếng máy bay xa. Bây giờ lại im lặng, căng thẳng đợi chờ… Mình ngồi ở gần chuồng gà dưới chân cầu thang gạch, viết mấy dòng này. Mẹ và em Thân vẫn ở Lò Sũ, ngày hai bữa, mình cũng đến ăn. Các em họ Tứ, vợ là Nga và em Minh cũng đều ở đó. Thư viện Hà Nội nơi Nga làm vẫn mở cửa nhưng chẳng có ai đến đọc. Bệnh viện Việt – Đức Tứ làm việc thì quá đông. Cụt chân, cụt tay rất nhiều. Chưa có ai đã vào hố cá nhân mà bị thương cả. Tất cả đều là ở hầm to hoặc chưa vào hầm.

Lũ gà chỗ mình trú ẩn thấy động rủ nhau gáy loạn cả lên, lần lượt từng con, suốt từ lúc có bắn đến giờ như vào các buổi sáng. Quả tình chúng cũng góp phần chống Mỹ bằng cách gọi mọi người thức dậy xem mặt lũ cướp nước ta. Mây trắng đục bao phủ khắp trời. Tiếng gà trống gáy vừa dứt thì lại có tiếng gà mái cục tác báo tin mừng: thêm một ít chất bổ bồi dưỡng sức dân cho người Hà Nội đánh Mỹ.

Bài xã luận báo Nhân Dân hôm nay thật hay, giọng văn hào sảng của Thép Mới rất rõ. Người Hà Nội tự hào. Cả nước ta tự hào vì có Hà Nội là Thủ đô, trái tim đỏ của cả nước.

14 giờ thì báo yên.

19:20 cách Hà Nội 30 km có máy bay địch. Có tiếng súng nổ rồi im lặng. Loa vẫn đọc tin. Hội đồng phòng không yêu cầu không đi ra ngoài đường từ 19:00 đến 5:00. Tây Nam Hà Nội có máy bay địch Đài vẫn hát. Mình vẫn học… 20km có máy bay…hát tiếp Tây Hà Nội 50km có máy bay địch… Vẫn hát, vẫn học… 19:37… 19:50 máy bay địch đã bay xa…19:50, Tây Bắc Hà Nội 30 km có may bay địch Vẫn hát. Học tiếng Nhật. 20 km vẫn hát…học bài Nhật thứ ba 20:15 máy bay địch đã bay xa 20:57 Bắc Hà Nội 70km có máy bay địch.

23:10, mình cố học để bù lại buổi chiều anh Đại về, lo cơm nước cho anh không học được mấy. Vừa đặt mình xuống giường thì báo động. Đài báo, còi rú đều báo hiệu có B52. Mình xuống ngay nhà dưới, Lương ở nhà dưới cũng khoác chăn ra. Hai chú cháu nấp vào gầm cầu thang. Hú vía. Suốt nửa giờ bom rền, bắn rát sáng cả trời, chuyển cả đất. Có thứ đạn gì rất lạ, bắn lên chỉ thấy đỏ như pháo hiệu, lên chậm, đến một độ cao nhất định mới nổ một tiếng rõ lớn, lửa đỏ chói, rồi lại đi tiếp. Có lẽ là tên lửa để hạ B52. Chưa hôm nào căng thẳng như hôm nay. Mấy dòng này là thắp nến mà ghi vội. Nhà trước cửa vẫn đào hầm, tiếng xà beng xào xạo.

15:00 ngày thứ tư 27/12/1972, ghi: Ngay từ rất sớm, đã có báo Nhân Dân. Trang nhất có dòng tít lớn đăng tin tối qua Hà Nội đã hạ 5 máy bay. Mỗi cái mất có bốn phút. Không hiểu mất bao lâu mới làm xong một pháo đài bay, mất mấy chục năm mới sản sinh ra được từng ấy thằng giặc lái.

Sáng nay, mình xuống nhà giặt thì có một anh mắt lèm nhèm đến nhà lấy nước gạo, tay xách cái thùng sắt gỉ. Anh nuôi mấy con lợn ở bãi giữa sông Hồng. Hôm qua, có thằng giặc lái dù đỏ rơi vào thôn, anh và các bạn bắt sống nó. Hôm nay mới rảnh sau khi giao nộp giặc cho bộ đội, anh lại đi lấy nước gạo, quyết nuôi đàn lợn đến 100kg một con.

Đến nhà Đoàn Di, cả nhà đông đủ. Nhà bị bom lần trước đổ, đang xây dựng lại, thì phải ngừng. Di nhờ mình vào thuyết cho vợ và mẹ yên tâm, không đòi đi sơ tán nữa. Nhà không có tiền, cô vợ cũng dũng cảm nhưng làm y tá ở bệnh viện Xanh Pôn thấy người què cụt nhiều quá nên sợ cho các con. Ba đứa trẻ rất vui, nằng nặc đòi chú chiếu phim đèn chiếu cho xem. Ở nhà Di ra, đi qua hồ Ha Le, bến xe Kim Liên, dừng lại một lát trước phố Khâm Thiên. Đó là nơi địch đánh phá dữ dội đêm qua. Gần như cả phố Khâm Thiên sụp đổ, tan nát, vỡ vụn. Phố này đông dân, nhà lại cũ nát, nhất là khu giữa phố phình ra thành một cái ngõ lớn: ngõ chợ Khâm Thiên, dân cư càng đông đúc, nhà cửa càng lụp xụp. Trước bến xe, gần một xóm nhà đổ nát, một anh đứng cạnh một chị thanh niên, tay anh dắt xe đạp, có ý giục chị lên xe cùng đi. Nhưng chị cứ đứng yên, mắt đăm đăm nhìn vào những đống gạch gỗ ngổn ngang, vai rung lên, yên lặng. Ngay cạnh đó, ba thanh niên trẻ hơn, có một cô gái đang nhẹ nhàng dỡ từng thanh gỗ, nhấc từng viên gạch ngói. Họ đang cố bới tìm nhấc khẽ ra từng giò phong lan vôi vữa bám đầy. Mỗi lần nhắc được một giò phong lan treo lên ghi đông xe đạp cô gái lại nở nụ cười và nói nhỏ một câu gì có vẻ âu yếm lắm. Buổi trưa về Lò Sũ ăn cơm, mình kể lại chuyện đó. Thì em Thân nói ngay, chính anh em mình cũng thế, vẫn học, vẫn đọc sách đấy thôi.

Hôm nay, nó đánh lạ quá, không theo qui luật mọi khi. 11:30, 13:15. Có lẽ phải bỏ ngủ trưa thôi. Mình mệt, lại vớ được toàn tập Nghìn một đêm lẻ bằng tiếng Pháp và một tập Những người khốn khổ, thế là xem, xem cho đến lúc vừa dặt mình xuống ngủ thì lại bị dựng dậy ngay. 15:30, B52…Hóa ra không phải, chỉ vì còi báo động hai lần, nên nhầm, chỉ là máy bay thường thôi. Mất đứt 25 phút.

Trời vẫn đẹp lắm. Xanh ngắt, có từng đám mây mỏng. Đài báo mai có gió mùa đông bắc. Biết bao người sẽ bị rét trong đợt này vì tan cửa nát nhà.

18:50 ngày thứ năm 28/12/1972, nhật ký ghi: Đêm qua, nể mẹ quá, minh ngủ lại Lò Sũ. Chín giờ tối có báo động, rồi 10:30 báo động kéo dài. Hôm nay được biết Hà Nội ta đã hạ bốn pháo đài bay B52.

Sáng nay, ra cảng. Lúc đi thì có báo động. Đến lúc báo yên mình đã đạp xe đến lô cốt công đoàn cảng thân yêu của mình. Vẫn chưa lấy được giấy thôi trả lương vì lãnh đạo cảng đang cố nâng cho mình một bậc lương trước khi ra đi. Vì năm 1965 đến cảng nhận lương tạm tuyển 35 đồng mà nay, sau tám năm lăn lộn với mọi phong trào của cảng, làm đủ mọi việc được phân công dù tréo ngoe, dù nguy hiểm, vất vả cũng không từ, đến lúc chia tay này, mới được lĩnh mức lương 45 đồng, bất cứ ai cũng thấy như thế là vô lý, bất công. Nhưng giám đốc mới là ông Hoàng Thế Phiệt lại một lần nữa một mình chống lại cả Đảng ủy và công đoàn. Nhất quyết ông không cho tôi đi, vì thế tất nhiên không có lý do gì lại tăng lương cho tôi để tôi đi. Ông Hoàng Thế Phiệt là trưởng phòng lao động tiền lương của Cục Đường sông, một người cao, đẹp trai, mũi cao, mái tóc bồng bềnh xõa xuống trán, da lại trắng, cặp mắt thường nheo lại khi nào cũng như cười. Tôi gặp ông lần đầu khi ông xuống cảng khảo sát tình hình lao động tiền lương để chuẩn bị cho hội nghị của cục. Tháng 3/68 tôi về xã Thắng Lợi Thường Tín Hà Tây dự lớp học về các biểu mẫu thống kê mới do cục mở. Gặp lại tôi ông nhớ ra ngay cả họ tên còn nói trước hội nghị đây là một tay quản lý nhân lực tiền lương rất cứng. Tôi cho đó là điều đáng chán nhất trong năm 1968. Bao giờ tôi cũng chỉ lo bị cột vào những cái cột ngang cột dọc trong các biểu mẫu kế toán. Bản thân không khi nào biết rõ trong túi mình có bao nhiêu tiền. Tôi kỵ nhất những gì liên quan đến tiền nong.

Một lần gần đây tôi đến cảng có gặp ông giữa đường. Ông hỏi đi đâu. Tôi thành thật trả lời là về lấy giấy chuyển công tác. Ông Phiệt vừa cười vừa nói tôi về đây là tôi kiên quyết không cho cậu đi đâu. Bấy giờ, tôi chưa biết ông sẽ về làm giám đốc mới ở cảng, tưởng là ông nói chơi. Ông Hoàng Văn Bảo lúc này làm thư ký công đoàn thay Mai Văn Sinh ra đi theo nhóm tham nhũng. Tôi nhớ hồi Bác Hồ mất năm 1969, tôi xin đi viếng, ông Bảo hồi ấy là phó thư ký bảo cứ để tớ lo cho. Cứ khất lần mãi cho đến khi tôi phát nản. Nay cũng thế, tôi xin cái giấy thôi trả lương để tôi đủ thủ tục về báo Nhân Dân, ông cũng khất lần, cứ bảo để tôi lo. Nhưng lần này thì là có ý tốt. Ông thật lòng không nỡ để tôi ra đi mà thiệt thòi quá như thế này. Gần đây, ông bị vỡ ruột thừa, có tôi xuống xin chữ ký mới phát hiện đưa đi cấp cứu kịp thời nên không chết. Nhưng phải nằm bệnh viện Việt – Đức khá lâu, vì viêm màng bụng rồi. Nhà xa, tận Thanh Trì, con cái đứa lớn đi xa, đứa ở nhà thì nhỏ quá, vợ không biết đi xe đạp. May nhà tôi gần bệnh viện, hằng ngày đi làm về ghé nhà ông lấy đồ tiếp tế. Ông đã thân, càng thân. Còn đang định tổ chức liên hoan tiễn tôi. Tôi cố thuyết phục ông là lòng ông tôi biết, ông không phải cố lo việc lên lương cho tôi, sau này lại khó làm ăn với giám đốc mới. Tôi chỉ cần đủ giấy tờ để tôi đi thôi. Việc lên lương với tôi ông không phải bận tâm, đừng để hỏng việc lớn của tôi. Tôi bịn rịn chia tay ông già tốt bụng nhưng yếu thế.

Gặp công đoàn xong, tôi ra phòng truyền thanh. Nguyễn Xuân An và anh em thanh niên xung kích Cảng đang chuẩn bị một chương trình ca nhạc. Mình nhận hát bài Mùa xuân trên bến Cảng, xem đó như lời từ biệt khéo bà con anh em Cảng thân yêu.

Trưa hôm nay báo động đến mấy lần. Sau mới biết là chúng đánh khu nhà máy dệt 8/3, khu sản xuất bánh kẹo Hải Châu, và khu nhà ở tập thể Mai Hương. Hóa ra chúng căm thù vải vóc, bánh kẹo, mì sợi và căm thù nhất  là những người làm ra những thứ rất cần cho đời sống người dân thường nhật.

Cả trưa và chiều cùng em Thân đào hầm, mệt đến run cả tay… Máy bay cách 20km … nghỉ tay thôi…

Tối 28/12, 20:00 rồi 21:50, 23:00 có máy bay địch bắn phá Hà Nội. Hôm sau biết là đã hạ hai B52. Đêm ngủ ngon, sáng dậy lại đào hầm. Chiều ngủ cho lại sức. Bây giờ dân Hà Nội có thói quen là ăn cơm chiều sớm, đi ngủ sớm để đêm còn thức mà chạy máy bay. Sáng 29/12, báo động ba lần. Cũng có năm lần nổ súng bắn máy bay không người lái. Mức độ bom xem ra đã đỡ căng. Những người Hà Nội vẫn tiếp tục đi sơ tán. Luôn luôn có tin đồn là đêm này sẽ có một vệt B52 ở chỗ này, chỗ nọ làm người ta lại chạy nháo lên một trận. Tuy vậy, Hà Nội vẫn đông. Em Thân đi xếp hàng cả buổi sáng vẫn không mua được mì. Thịt, trứng, rau vẫn dễ mua. Dễ mua nhất là bia, khi nào cũng đông khách, sẵn hàng bán.

18:30 học tiếng Tây Ban Nha. 19:30 Tây Nam cách 70km có máy bay đài vẫn hát… 20:00, học xong bài số 8, tạm nghỉ, nằm nghe đài còn chờ báo động. Có lẽ hôm nay chúng đổi lịch, sáng mai mới đánh chăng…

Thứ bảy 30/12 16:00 nhật ký ghi: Tối qua, 22:00 dến 23:45 có báo động. Bom xa, ít. Bắn lên cũng ít. 24:00 lại có bắn. Nhưng không có còi báo động. Mình đã vào chăn ấm nên rất nguyên tắc, không ra, rồi ngủ mất lúc nào không biết. Sau một giấc ngon lành, thắp nến, nằm trong màn đọc Tình ca phố Plume hết sức thơ mộng (trích Những người khốn khổ của Huygô) Cả ngày hôm nay, ngoài vài lần có máy bay trinh sát ra, không có báo động hay bắn gì cả. 19:00 theo những nguồn tin đáng tin cậy (như của con một cục trưởng công an) thì ngày mai 31/12/1973 sẽ hoàn toàn hết ném bom. Những tin này không biết bằng cách nào đã lan đi rất nhanh, mà không biết đáng tin đến mức nào. Nó có căn cứ rộng sâu trong lòng người. Đài cũng đang đọc Thông báo của Bộ Tổng tư lệnh tổng kết 12 ngày chiến đấu. Đó càng là căn cứ chắc chắn cho mọi tin đồn trên. Điều mong mỏi của mọi người đang đến gần. Hôm nay, lẽ ra là em Thân cưới. Về đến nhà đã thấy hai bó la dơn hồng và đỏ của một phụ huynh học sinh tặng vì không biết đám cưới đã hoãn. Ở Hà nội dạo này vẫn không ít đám cưới.

Thứ hai 1/1/1973, ghi lúc 17:00 dưới đèn điện. Đêm 30 ngủ ngon. Sáng 31 có máy bay trinh sát. Nhưng đi đâu cũng thấy người người mặc áo quần đẹp. Com lê, cà vạt đủ cả. Hàng hoa nào cũng đông khách. Người Hà Nội mua báo xong lại ra mua hoa. Có người mua cả bó la dơn, có người chỉ mua năm bông đồng tiền. Rồi rủ nhau đi xem xác máy bay rơi ở đường Hoàng Hoa Thám, mà B52 hẳn hoi nhé. Gần sở xe điện Thụy Khuê.

Cả Hà Nội toát lên niềm vui chiến thắng. Nhưng cái vui kín đáo không ồn ào, tưng bừng. Phố Khâm Thiên đổ nát còn đó, không ai quên.

Cái hầm mà hôm từ biệt Cảng, mình đứng hát đã bị nứt. Bom nổ cách có hơn 5 mét. Trên nóc hầm, còn một quả bom không nổ hay chưa nổ.

Thế là mình giã từ Cảng thân yêu khi khói bom đạn vừa dứt.

Sài Gòn 27/5/2019

P.T.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục (Thư gửi bạn Ngô Thị Hòa)

Filed under: Ý kiến,Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 2:07 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 7 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục

THƯ GỬI BẠN NGÔ THỊ HÒA

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Cụ Ngô Thị Hòa là vợ cụ Đoàn Di (sinh 1937) bạn học với tôi những năm cuối trường trung học phổ thông Chu Văn An Hà Nội, ra trường năm 1958. Cụ Hòa thường viết thư cho tôi, nhất là những khi cụ đọc được các bài về Ông ngoại Phạm Quỳnh của tôi đưa trên blog hay đăng trên các báo. Những năm cuối đời, cụ bị loãng xương ở giai đoạn cuối chỉ ngồi trên giường mà viết cho tôi một lá thư cũng làm cụ rất mệt, nhưng cụ vẫn viết đều đều. Thư cuối gửi tôi, cụ viết những lúc mệt mỏi quá, chán nản, chỉ muốn chết cho xong thì tôi lại lấy lá thư ông viết cho tôi vẫn treo ở đầu giường, đọc xong thì thấy thư thái ngay…  Vợ chồng tôi thật cảm động trước tình cảm của cụ. Bao giờ cũng cùng đọc thư cụ, một người bạn chân thành, chí tình.

Lá thư ấy như sau, chúng tôi xin mời các bạn cùng đọc. Chúng tôi cũng may mắn được em gái gửi cho bức ảnh hai cụ và một cháu nội chụp hồi tháng 7 năm 2007.

Ngo Thi Hoa Doan Di

—o0o—

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12/6/2008,

   Bạn Hòa quí mến,

Cứ mỗi lần có bạn kết hôn là tôi lại vui mừng vì mình sẽ có thêm một bạn mới. Và năm mươi năm qua, tôi đã có bạn Ngô Thị Hòa, người phụ nữ ít nói, có cặp mắt một mí, hiền và “nói nhiều” như mắt các cô gái Nhật Bản nổi tiếng chiều chồng. Các cụ ta xưa chẳng nói rồi đó sao… Muốn sướng cái thân thì “Ở nhà Tây, Ăn cơm Tàu và Lấy vợ Nhật”. Tôi cứ bảo ông Di khôn, chọn lấy bà nên sướng cái thân.

Tôi nhớ hồi mỗi tháng cán bộ được 250g thịt, tôi bàn với gia đình thịt để trẻ con ăn, còn người lớn chỉ ăn mỡ khi xào rau thôi. Thế mà một hôm tôi đến nhà 30 Nguyễn Du gặp ông ấy, tôi hỏi ngay bà đâu thì ông ấy gạt cái điếu cày sang một bên cho rộng mặt bàn rồi bảo: “Bà ấy đang rán chả xương sông cho tôi nhắm rượu…” Vẻ đầy tự hào. Tôi không uống rượu, nhưng cũng say với cái tình của bà đối với ông.Le Dang Quang va Thanh Trung.png

Có lần tôi ở Sài Gòn ra, rủ Lê Đăng Quang đến nhà, không gặp cả vợ lẫn chồng. Bà ngoại các cháu trò chuyện rất cởi mở với chúng tôi đủ thứ chuyện, tôi biết là cụ “câu giờ” để giữ chân chúng tôi, chờ ông bà về. Gần 12 giờ trưa, vẫn chẳng ai về. Cụ nhất định bảo chúng tôi ở lại ăn trưa với cụ, nên hỏi tôi muốn ăn gì cụ làm cho. Tôi nói ngay: “Con ở Sài Gòn ra, trông thấy cà chua Hà Nội đỏ mọng thèm quá, hay là bà cho cháu ăn riêu cà chua với mì sợi được không?” Tội nghiệp, bà cụ mừng ra mặt, tất cả nhà có sẵn, “trong tầm tay cụ”. Thế là chỉ ít phút sau, đúng lúc đói ngấu, hai thằng tôi mỗi thằng ăn liền ba tô. Tôi thấy ngon thật sự và Quang cũng khen là ngon quá, khiến cụ cứ cười mãi.

Hôm trước khi đưa vợ vào Sài Gòn định cư cho đến nay, chúng tôi đến 30 Nguyễn Du chào tạm biệt thì gặp cụ đang bán khoai ở đầu phố. Cụ vui vẻ khi nhận ra chúng tôi, mặc dù bấy giờ đã lên đèn. Cụ bảo vào nhà, có Di ở trong đó, nhưng hai chúng tôi chưa vào mà ngồi cạnh trò chuyện với cụ, không muốn để cụ lỡ việc bán hàng mà cũng là để chờ Hòa về. Trời tối hẳn, Hòa mới đạp xe về, đèo sau một bao tải to. Hòa mời chúng tôi vào nhà, khi ấy bạn mới rỡ cái bao to sau xe ra và cho biết: Lá ở bệnh viện rụng rất nhiều, tan giờ làm, chờ xẩm tối mới gom chỗ lá quét lúc trời còn sáng, đem về nhà đun cho đỡ tốn tiền. Bấy giờ, tôi biết Hòa là Đảng ủy viên bệnh viện, không muốn ai thấy việc làm trong sạch nhưng có vẻ “nhếch nhác” của mình. Hình ảnh ấy vợ chồng tôi nhớ mãi và nhiều lần kể lại cho con trai nghe. Quí và thương Hòa vô cùng. Bấy giờ là năm 1982, sắp đến rằm tháng giêng. Năm 1983, tháng 4 thì chúng tôi có cháu Ti.

Sau này, khi đã “đổi đời” bà vào cùng vợ chồng cháu Tâm, chúng tôi vui mừng thấy bà tóc bạc nhưng còn khỏe. Tôi nhớ mãi lời bà tâm sự chân tình là thật lòng bà chỉ muốn vào đây sống với vợ chồng con Minh thôi, muốn bù đắp cho nó con gái một mình lập nghiệp nơi đất khách. Nhưng tôi cũng biết là bà sẽ không vào vì “không nỡ” để bố con nó ngoài đó. Bà vẫn muốn lo cho ông ấy.

Lần em Nhàn tôi ra Hà Nội, tôi bảo thể nào cũng phải đến thăm anh, chị và mang về cho tôi một bức ảnh có hai vợ chồng. Đến nhưng không được làm như khách; để bà phải ra tay lo liệu, vì qua vợ chồng cháu Minh tôi biết bà không được khỏe. Nhưng thú thật là tôi không ngờ bà lại suy hơn tôi tưởng. Tôi hỏi kỹ từng chút mới thấy là mỗi ngày với bà bây giờ là một sự cố gắng. Cho đến sau Tết năm nay, nhận được thư bà, tôi đọc rồi vợ tôi đọc và cả con tôi nữa cũng đọc; cảm động rớt nước mắt khi nghĩ đến việc bà đã phải cố gắng đến thế nào mới viết được một lá thư mạch lạc như thế, chân tình như thế. Và rõ ràng là lại một lần nữa, bà lo “bảo bọc” cho ông, bênh vực ông, sợ tôi giận…

Tôi mong bà mạnh khỏe hơn một chút, gắng sống để thấy đất nước đổi mới, tiến lên hàng ngày, trong đó cái gia đình nhỏ của bà cũng tiến lên. Nhưng không bao giờ quên được những ngày hai vợ chồng nuôi ba con “ăn sung (lấy ở rạp chiếu phim ngoài trời hồ Thuyền Quang nơi Di soát vé!) “ mặc sướng (Quần áo mặc suốt ngày, đứa nào cũng có một cái dây rút rõ dài buộc lên tận cổ cho khỏi… tụt!), hết lòng chăm sóc mẹ già…

Ông ấy nhờ bà nhiều rồi, bây giờ cũng phải để cho ông ấy… thương bà một chút chứ không ông ấy … buồn đấy bà ạ.

Vì thế, tôi ở xa chẳng thăm nom được gì, chỉ xin chúc bà mạnh khỏe hơn một chút, bớt lo nghĩ đi một chút và càng chúc ông ấy khỏe hơn, để sống lâu hơn bà, còn giúp bà sống dễ chịu hơn.

Tôi nói bà biết, chính tôi cũng muốn có ba con như bà, hai trai một gái. Tên đặt sẵn rồi và cũng được mẹ tôi và vợ thông qua. Đó là Trung, Dũng là tên hai thằng con trai và tên con gái là Khiêm. Ba đức tính tôi quí nhất và suốt đời cố rèn luyện, trau dồi. Nhưng, rút cục, chỉ được một “anh Hai –Út” (vừa là trưởng nam vừa là con út) Đứa đầu bị sảy ở Hà Nội do bà ấy vác xe đạp Phượng Hoàng lên gác ba Kim Liên thăm ông anh bà chị tôi, về nhà thì chảy máu ào ạt. Lại ở có một mình. May mà không chết. Đứa thứ ba, sau cháu Ti, thì năm 1985 mẹ bị ung thư, cắt hết.

Tôi nghĩ gì viết nấy, chữ lại xấu nên phải đánh máy, mong bà thông cảm. Bà cho tôi hỏi thăm ông Di và nhắn với ông ấy là “Dù sao, Di vẫn là bạn tốt nhất của Thành”. Bà có tin là tôi hiểu ông ấy không…?

Bạn cụ… rích

Thành

    Tôn Thất Thành

(22/2/1940-22/2/2022)

6 số 2: số đẹp

Một chàng “ngự lâm” đã ra đi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:02 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 7 năm 2019.

TIN BUỒN

Một chàng “ngự lâm” đã ra đi

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi đau buồn biết tin nhà văn, nhà giáo Phạm Toàn đã từ tieu luantrần ngày 26/6, tại nhà riêng, hưởng thọ 88 tuổi.

Năm 2007, ông cùng các nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Khánh, Nguyên Ngọc, Ngô Quốc Chiến và Phạm Xuân Nguyên dịch Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 của Phạm Quỳnh do Nhà xuất bản Tri Thức – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản.

Tự ông viết lời giới thiệu và biên tập sách này.

Nhân dịp này, xin mời bạn đọc bài trên trang 15 báo Tuổi Trẻ ngày 27/6/2019, của Phạm Xuân Nguyên, một trong những người dịch sách này.

—o0o—

Tên chàng là Phạm Toàn (1932-2019). Chàng đã “giã từ cõi thực để vào hư” khi ngày 26-6 sắp bước đến giờ thứ bảy. Căn bệnh K phổi đã kéo chàng đi khi chỉ còn năm ngày nữa (1-7) là dịp sinh nhật lần thứ 88 của chàng.

Chàng đã quên lời “quán triệt” của cháu con, bạn bè là phải khỏe lên để đến ngày đó làm một sinh nhật vui chung cho cả ba chàng “Ngự lâm Nhâm Thân 1932” – cùng với nhà văn – dịch giả Dương Tường (4-8) và nhà văn Nguyên Ngọc (5-9).

Bạn đừng ngạc nhiên khi thấy tôi gọi Phạm Toàn U90 là chàng. Vì Phạm Toàn rất trẻ.

Chàng sống cuộc đời không phải bằng tuổi tác mà bằng sự đam mê, nhiệt huyết, tin tưởng, đắm say, thất vọng, vỡ mộng, yêu ghét, cuồng nhiệt, say sưa với tất cả những việc mình làm, những người mình gặp, những ước mơ, dự định đã có và sắp sửa. Hào hiệp, phóng khoáng, bao dung là tiếng cười Phạm Toàn.

Chàng đi để lại tiếng cười. Ẩn đằng sau cái cười oang Phạm Toàn là những nghĩ suy cho tương lai.

Cánh buồm vẫn ra khơi

Chàng lập ra nhóm Cánh Buồm để làm giáo dục khi đã ở tuổi tám mươi. Trẻ em nước Việt cần phải được hưởng thụ một nền giáo dục khai phóng, nhân bản thông qua một hệ thống dạy và học lấy học sinh làm trung tâm, phát huy cao độ năng lực tư duy độc lập của trẻ – đó là điều chàng tâm niệm, và cố công giương một cánh buồm lướt sóng ra khơi.

Cùng với các đồng nghiệp, bạn hữu, chàng đã làm cho Cánh Buồm trở thành một nơi thu hút các bạn trẻ cũng giàu nhiệt huyết, và được truyền cảm hứng từ chàng, tham gia sáng tạo, đem những cuốn sách giáo khoa do Cánh Buồm biên soạn ứng dụng vào thực tế giảng dạy ở nhà trường.

Các trường Olympia, Gateway ở Hà Nội đã là những nơi cho ông già Phạm Toàn được sống trẻ, cùng các thầy cô và học sinh biến những điều mong ước của mình, từ con chữ trong sách đến việc học ở trường, thành hiện thực, từ đó lan tỏa đến những trường khác.

Cho đến tận những ngày cuối đời, điều chàng canh cánh nhất vẫn là chưa viết xong phần sách giáo khoa cho bậc trung học phổ thông. Với ai đến thăm, chàng cũng đều nói còn muốn sống lắm, sống để viết cho xong trọn bộ sách giáo khoa của Cánh Buồm.

Những giờ phút tỉnh táo vui nhất của chàng là khi được các cô giáo đến thăm ôm đầu, thơm má như ông cháu trong nhà, và nhìn mắt ai cũng thấy một Cánh Buồm. Phạm Toàn đã xa bến nhưng Cánh Buồm vẫn ra khơi với gia tài đầy thuyền chàng để lại là những sách chàng viết về giáo dục và tủ sách tâm lý học giáo dục do chàng lập.

Nha giao Pham Toan

Càng cao tuổi càng hồn nhiên

Phạm Toàn còn là một nhà văn với bút danh Châu Diên, cái tên nghe đâu lấy từ một từ tiếng Trung chỉ người hay hút thuốc. Từ tập truyện đầu tay Mái nhà ấm (1959) đến tập truyện cuối Sấm trên núi (2010), với gần mười đầu sách, chàng đã góp mình vào văn học một lối viết truyện và tiểu thuyết dí dỏm, thông minh và sâu sắc.

Sáng tác nổi bật của chàng là tiểu thuyết Người sông mê (2003).

Ngoài viết, chàng còn là một dịch giả tiếng Pháp, cả sách văn học và chính trị xã hội. Bản dịch bộ sách Nền dân trị Mỹ của Alexis De Tocqueville là một đóng góp lớn của chàng cho tiến trình dân chủ hóa xã hội nước ta hiện thời.

Thế hệ chàng học hành dở dang rồi cầm súng chống ngoại xâm vậy mà nói và viết tiếng của “kẻ thù” cứ là uyển chuyển, linh hoạt rất văn chương, văn hóa. Tôi thường bị chàng xoa đầu chê về cái chuyện ngữ âm kém là vậy.

Phạm Toàn càng cao tuổi càng hồn nhiên – một đặc tính trời cho của người nhân trí thực sự. Chàng coi cái sự ở đời thấy việc phải làm, thấy cái đúng là bênh, thấy cái sai là phê như là lẽ tự nhiên của một con người bình thường, của một người dân.

Ở chàng, tư cách công dân, tư cách trí thức, tư cách nhà giáo, tư cách nghệ sĩ hòa quyện một cách chân thực, tự nhiên để mỗi khi chàng lên tiếng trước bất kỳ vấn đề gì thì cũng đều thành thực và có sức thuyết phục. Chàng có nguyên tắc của mình nhưng sẵn sàng chấp nhận tranh luận, đối thoại để đi tới sự thật trong mỗi việc làm, mỗi hướng đi. “Mọi người vì một người, một người vì mọi người”, đúng tinh thần ngự lâm quân!

Chín năm trước, đúng ngày sinh của chàng, tôi có làm một bài thơ tặng gọi là “Sinh một Phạm Toàn”, gồm mười khổ. Sinh ra một Phạm Toàn là trời đất, cha mẹ, vợ chồng, phụ nữ, bạn bè, văn chương, trang mạng, giáo dục. Nay chàng về cõi khác, tôi nối thêm một khổ tiễn biệt chàng:

Cái chết sinh ra một Phạm Toàn

Tám mươi tám tuổi cõi trần gian

Ra đi còn tiếc chưa xong việc

Chắc sẽ mang theo xuống suối vàng.

Hồn chàng còn luẩn quất trần gian mà đọc được chắc lại cười mắng tôi: Mày lo mà giúp Cánh Buồm đi, thằng Phạm em hư kia!

Phạm Xuân Nguyên

Nhận diện lại Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 7 năm 2019

100 năm Nam Phong Tạp chí

NHẬN DIỆN LẠI NAM PHONG TẠP CHÍ

(Bài thu từ tapchisonghuong.com.vn lúc 10:04 ngày 19/7/2017)

Nam Phong tạp chí tồn tại qua 17 năm (1917 – 1934) với hơn 210 số, song dấu ấn của nó vang mãi, đến 100 năm sau vẫn còn nhiều giá trị được ghi nhận thêm cũng như cần đánh giá lại.

Từ lúc ra đời, Nam Phong đã khiến tầng lớp nhà văn, trí thức ở Việt Nam say sưa theo dõi. Người ta có thể học được trên mặt báo nền văn minh phương Đông, văn minh Pháp, tư tưởng nước Nhật, Tàu, và âm hưởng thi phú Hán ngữ đầy sinh khí thời cuộc. Giới phê bình đánh giá Nam Phong như một bách khoa toàn thư, giữ vai trò của một Viện Hàn Lâm; các nhà biên tập của Nam Phong là những nhà văn hóa, đã nỗ lực xây dựng tờ báo trở nên một cơ quan ngôn luận có tầm ảnh hưởng và có đóng góp hết sức quan trọng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong quá trình hiện đại hóa văn học và ngôn ngữ.

Chủ bút Phạm Quỳnh – một tấm lòng yêu nước, yêu dân nồng nàn và sâu sắc. Là người am hiểu sâu rộng về nhiều lĩnh vực văn hóa Đông Tây, qua Nam Phong tạp chí, cụ Phạm đã nêu cao tinh thần gìn giữ quốc hồn quốc túy, gìn giữ nền văn hóa lâu đời để phát triển đất nước, đồng thời xóa dần các khoảng cách so le lịch sử, đưa nền báo chí non trẻ của nước ta ngang tầm với thế giới.

Chuyên đề 100 năm Nam Phong tạp chí, qua góc nhìn chuyên sâu của các nhà nghiên cứu ở Huế và Hà Nội, Sông Hương hầu mong độc giả có được cái nhìn đầy đủ, xác thực hơn về nhà văn hóa kiệt xuất Phạm Quỳnh và tờ tạp chí đã không dễ dàng đứng vững trong thời kỳ biến động của đất nước; trong đó người chủ bút như vị thuyền trưởng đã chèo lái con thuyền ấy.

Nhận diện lại Nam Phong tạp chí   

PHẠM PHÚ PHONG

“Ở các nước văn minh tiên tiến thì văn học đều có trước báo chí, mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí xây dựng nền văn học.”(1) (Thiếu Sơn)

  1. Số đầu Nam Phong tạp chí ra ngày 1/7/1917, tính đến nay đã tròn 100 năm. Đây là tờ báo bách khoa nguyệt san, khổ 19×27,5cm, gồm hai phần: chữ Quốc ngữ và chữ Hán, mỗi phần có khoảng từ sáu mươi đến bảy mươi trang. Bắt đầu từ năm 1923 trở về sau, tạp chí có thêm phần phụ trương bằng chữ Pháp và từ số 195, ra ngày 1/5/1934, Nam Phong chuyển thành bán nguyệt san, nhưng chỉ tồn tại đến cuối năm thì đình bản. Louis Marty, Giám đốc Phòng An ninh chính trị của phủ Toàn quyền Đông Dương là người đứng ra sáng lập tạp chí, Phạm Quỳnh (hàn lâm viện trước tác) làm chủ bút phần chữ Quốc ngữ, Nguyễn Bá Trác (hàn lâm viện thị giảng) làm chủ bút phần chữ Hán và ông Lê Văn Phúc, chủ nhà in Đông Kinh làm quản lý kiêm luôn việc phát hành báo. Tòa soạn đóng tại số 80 phố Hàng Gai, Hà Nội. Qua 17 năm tồn tại, nhân sự của ban biên tập cũng có sự vận động thay đổi: Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Dương Bá Trạc, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Hữu Tiến, Phan Khôi, Tản Đà, Hoàng Tích Chu, Nguyễn Mạnh Bổng (1917 – 1922); Phạm Quỳnh, Lê Dư (phụ trách phần chữ Hán thay cho Nguyễn Bá Trác), Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Triệu Luật, Hoàng Ngọc Phách, Trần Trọng Kim, Phạm Duy Tốn, Vũ Đình Long (1922 – 1925), Nguyễn Trọng Thuật (thay Phạm Quỳnh), Lê Dư, Nguyễn Hữu Tiến, Bùi Kỷ, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, và một số văn nhân thi sĩ phương Nam như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Nguyễn Văn Kiêm, Trúc Hà (1925 – 1932); Nguyễn Tiến Lãng, Lê Văn Phúc, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Đỗ Đình Thạch.

Nam Phong được thành lập theo “chủ thuyết” của Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut, một người đã từng làm báo, từng là biên tập viên thường trực cho tờ La Depêche du Midi ở Toulouse, hiểu rất rõ về sức mạnh của báo chí, nên mục tiêu của tờ báo là quá rõ ràng, là nhằm “cung cấp cho giai cấp sĩ phu và trí thức An Nam những bài chính xác ngỏ hầu họ quan niệm được cái vai trò của người Pháp trên thế giới về phương diện văn hóa, khoa học và kinh tế. Tạp chí mới này, lấy tên là Nam Phong, sẽ đăng những bài phân tích chính xác về những tác phẩm khoa học và văn chương hay nhất, tiểu sử những nhà bác học danh tiếng của chúng ta, những sự mô tả đẹp đẽ về nước Pháp, những bài phiên dịch những truyện ngắn hay tiểu thuyết… Ngay sau khi phát hành, tạp chí này đã hoàn toàn thành công trong giới độc giả trí thức mà nó muốn chinh phục và nhóm người nầy lần đầu tiên đã tìm thấy được một cái gì tương đương với những sách vở mà họ đã gửi mua từ bên Tàu trước đây”(2). Ngay cả việc in câu nói của Tổng thống Mỹ Roosevelt lên trang bìa của tạp chí, cũng cho thấy dụng ý chính trị của thực dân: “Có đồng đẳng mới bình đẳng được”. Câu nói như một lời đề từ, vừa khuyến dụ, vừa có ý chê bai trình độ văn minh thấp kém của người An Nam. Cái tên Nam Phong bắt nguồn từ bài cổ thi của Trung Hoa dưới thời vua Thuấn (2.255 năm TCN) với cái nghĩa là ngọn gió khai hóa, cải tạo xứ An Nam.

Ngoài mục tiêu ca ngợi người Pháp, phổ biến nền văn minh Pháp, A.Sarraut và L.Marty còn muốn dùng Nam Phong cách ly sự ảnh hưởng của người Trung Hoa đối với nước ta, đồng thời chống lại sự tuyên truyền, nói xấu của người Đức đối với người Pháp ở các nước thuộc địa, khi ở bìa sau của tạp chí có in hình “rồng Nam phun lửa diệt Đức tặc”. Louis Marty cũng đã từng thừa nhận rằng: “Tờ báo này nay tên là Nam Phong, viết bằng chữ quốc ngữ và chữ Nho, nhằm mục đích gieo rắc một cách khéo léo và sâu đậm ảnh hưởng của nước Pháp vào giới sĩ phu ở khắp ba kỳ, kể luôn các tỉnh Trung Hoa giáp giới Bắc Kỳ”(3). Vì vậy, hàng tháng chính phủ thuộc địa đã trợ cấp cho tạp chí 400 đồng, nhằm hỗ trợ chi phí cho tòa soạn và ấn loát (4, tr.211).

  1. Về nội dung, những số đầu Nam Phong gồm có tám mục: luận thuyết, văn học bình luận, triết học bình luận, khoa học bình luận, văn tuyển, tạp trở, thời đàm và cuối cùng là tiểu thuyết. Về sau, tạp chí có thêm những mục như tùng đàm, hài văn kỷ yếu, tồn danh thần lục, yếu lược về kinh tế. Nhưng làm nên hồn cốt, diện mạo đặc sắc và khẳng định vị trí của Nam Phong là các chuyên mục văn học, triết học và khoa học. Về triết học, tạp chí chủ trương truyền bá tư tưởng triết học của phương Tây, nhằm cải biến nhận thức truyền thống của người Việt thoát khỏi ảnh hưởng tư tưởng triết học Nho giáo, dịch và đăng những công trình triết học của Déscartes, Bergson, Voltaire, Julessimon, J.Rousseau, Montesquieu…(Chẳng hạn, Phạm Quỳnh dịch và giới thiệu học thuyết của Voltaire in trên số 114, hoặc Thượng Chi (bút danh của Phạm Quỳnh) dịch thuyết Tự do luận của Julessimon in trên số 121). Ngay trong Mấy lời nói đầu in ở số đầu tiên, ra ngày 1/7/1917, chủ bút Phạm Quỳnh đã nói rõ: “Trong những bài bình luận về triết học, chúng tôi lấy cái chiết trung chủ nghĩa làm cốt, nghĩa là không thiên về một học thuyết nào, cái nào hay cũng thâu nhặt lấy. Nhưng cái tôn chỉ của chúng tôi là giúp cho sự tiến bộ của quốc dân về đường tri thức, về đường đạo đức, thì tất khuynh hướng về cái “duy tâm chủ nghĩa” hơn là cái “duy kỹ chủ nghĩa”. Vậy về đường tư tưởng, chúng tôi thiên trọng cái triết học của nước Pháp, vì cái triết học Pháp thực là gồm cả bấy nhiêu cái khuynh hướng “duy tâm”, “duy tha” mà thực tế đáng làm mẫu cho cái lý tưởng mới của ta”. Về văn học, tạp chí dịch và giới thiệu văn học Hy La, các tác giả văn học Pháp như thơ của Charles Pierre Baudelaire, truyện ngắn của Guy de Maupassant… Văn học trong nước được giới thiệu ở mục văn tuyển, chọn đăng thơ của các tác giả thành danh trong quá khứ (Bạch Vân thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Khóc quan thượng thư Vân Đình Dương Khuê, Đùa ông bạn điếc của Nguyễn Khuyến…), thơ của các tác giả đương thời (Đông Dương tổng ca của Tôn Thất Pháp, Chơi chùa Ngũ Hành, Tới Ải Vân không gặp bạn của Trần Hữu Giương…), hoặc văn xuôi, mà chủ yếu là truyện ngắn (Lòng yêu nước của Mân Châu Nguyễn Mạnh Bổng, Đồng tiền nói chuyện của Điếu Hoàng…). Về khoa học, tạp chí giới thiệu những phát minh/ kiến thức mới mẻ của phương Tây, như bài viết về kỹ thuật đóng tàu ngầm của kỹ sư người Pháp Laubeuf, bài Tâm lý học-định lệ của cảm giác (Nguyễn Triệu Luật dịch), hoặc các bài viết về khoa học thường thức như Mấy lời về phép vệ sinh (Phan Khôi dịch), Bệnh lao có chữa được không của Phạm Quỳnh, Cái hại thuốc lá của Mã Nhân… Nhìn chung, nội dung tạp chí đã đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống của con người, xứng đáng với sự tôn vinh là bách khoa tạp chí đương thời. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Muốn hiểu biết những vấn đề tôn giáo hay văn học, những thơ văn Việt Nam từ xưa cho đến thế kỷ thứ XIX, để hiểu hơn lịch sử hay cuộc đời của những nhân vật lịch sử Việt Nam, những vấn đề chính trị hay xã hội Âu châu… chúng ta chỉ cần đọc theo dõi tạp chí này. Chỉ cần đọc tạp chí Nam Phong cũng có thể mở mang kiến thức được” (5, tr.210).

Về hình thức, tùy thuộc vào nội dung phản ánh và khuôn khổ của các chuyên mục mà các tác giả lựa chọn một thể tài để chuyển tải thông tin đến với người đọc, trong đó đáng chú ý là những bài bình luận hoặc những phản ánh có tính chất phóng sự, đã cung cấp một nội dung chuyên sâu về một vấn đề tư tưởng, văn hóa – xã hội. Tạp chí có đăng tải thể tài tin, nhưng thường nằm trong mục tạp trở hoặc thời đàm, phản ánh những sự kiện diễn ra trong tháng trước, về chính trị, văn hóa, ngoại giao của thế giới, mà chủ yếu là của nước Pháp. Về tin trong nước, tạp chí đăng tải những sự kiện liên quan đến các hoạt động và công việc của các chính khách Pháp ở nước ta và các quan lại triều Nguyễn. Tất nhiên, tin thời kỳ này còn hạn chế về kết cấu, thiếu sự cô đọng, súc tích, đôi khi tối nghĩa. Chẳng hạn, tin sau đây in trên số 19 (1919): “1 tháng 1 (năm 1919) – Điện Paris: Quan giám quốc Wilson từ Paris đi sang chơi bên Ý-đại-lợi (Italia) thăm vua Ý/ Tới thành Rome là kinh đô nước Ý, vua cùng hoàng hậu ra đón, nhân dân nghênh tiếp thật long trọng. Quan Wilson đến thăm điện Panthéon là nơi lăng tẩm các vua Ý. Ngài lại đến Capitole là thị sảnh thành Rome, dân tặng ngài chức công dân thành Rome. Ngài vào yết kiến đức Giáo Hoàng ở điện Vatican. Ngày 5 tháng 1 ngài từ Rome đi ra thành Gênes, quê ông Christophe Colomb là người đã tìm ra châu Mỹ trước nhất, năm 1692. Ngài mang một vòng hoa đến viếng mả ông, có đọc mấy lời, nhân dân nghe rất cảm động, có người muốn nắm lấy vạt áo, cầm lấy tay ngài mà hôn. Ngày 7 lại trở về Paris”. Bình luận là thể tài chiếm ưu thế trên tạp chí Nam Phong. Ít nhất có ba chuyên mục được đặt tên là bình luận: văn học bình luận, triết học bình luận, khoa học bình luận, và ngay cả các chuyên mục khác không gọi tên là bình luận, nhưng đều được viết dưới dạng bình luận: Tiếng dùng trong quốc văn (Nguyễn Văn Ngọc, số 19), Bàn về tiếng An Nam (Dương Quảng Hàm, số 22), Chữ Pháp có dùng quốc văn An Nam được không? (Thượng Chi, số 22), Đàn bà phương Đông (Nguyễn Đôn Phục, số 101)… Phần lớn những bài bình luận đều sử dụng phương pháp diễn dịch, chứ không phải quy nạp, nên thường diễn giải dài dòng, thiếu sự chặt chẽ trong kết cấu. Điều đáng chú ý là trên tạp chí này đã xuất hiện một số bài viết có tính chất phóng sự – du ký có giá trị bền vững, được coi là sự mở đầu cho phóng sự hiện đại trong quá trình hiện đại hóa nền văn học nước ta những năm đầu thế kỷ XX: Mười ngày ở Huế (Phạm Quỳnh), Cuộc chơi trăng sông Nhuệ (Mai Khuê), hoặc các phóng sự dài kỳ Một tháng ở Nam Kỳ (Phạm Quỳnh), Hạn mạn du ký (Nguyễn Bá Trác)…

  1. Như đã nói, Nam Phong ra đời với mục tiêu chính trị rõ ràng nhưng, các nhà biên tập của nó là những nhà văn hóa, đã nỗ lực xây dựng tờ báo trở nên một cơ quan ngôn luận có tầm ảnh hưởng và có đóng góp hết sức quan trọng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong quá trình hiện đại hóa văn học và ngôn ngữ.

Đương thời, nhà phê bình văn học Thiếu Sơn từng cho rằng, “có những kẻ không hiểu biết gì về văn chương Pháp và Trung Hoa, nhưng với tạp chí Nam Phong họ có thể có được một trình độ tri thức cần thiết cho cuộc sống hằng ngày. Những học giả chỉ cần đọc tạp chí này cũng có được một kiến thức rộng rãi. Và trong khi đọc tờ Nam Phong người ta cũng có thể học hỏi được nền văn hóa phương Đông” (6, tr.176). Đăng tải những tác phẩm văn học nước ngoài, không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu thành tựu, đánh thức và vun đắp thị hiếu và năng lực thẩm mỹ, mà còn mở ra môi trường giao lưu văn hóa, tiếp thu và phát triển các yếu tố văn hóa hiện đại. Những thành tựu nổi bật của nền văn học Pháp thế kỷ XIX lần đầu tiên được giới thiệu với độc giả nước ta, với nhiều trường phái, nhiều trào lưu, nhiều hệ thống quan niệm. Chỉ tính riêng tiểu thuyết, Nam Phong đã trình chánh nhiều tác giả tiêu biểu của văn học Pháp như Alfred Victor de Vigny, Henry Bordeaux, Paul Bourget, bên cạnh tiểu thuyết chương hồi của Trung Hoa, như Tuyết hồng lệ sử, Song phượng kỳ duyên, Lục mẫu đơn, Phong kiếm xuân thu… Về văn học trong nước, Nam Phong ủng hộ và tạo điều kiện cho nhiều khuynh hướng mới trong văn học ra đời và khẳng định vị trí trong lịch sử văn học nước ta. Những tác phẩm văn xuôi được coi là mở đầu cho dòng văn học hiện thực phê phán ở nước ta, đều xuất hiện trên tạp chí này: Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn (in số 18/1918), Câu chuyện một tối của người tân hôn của Nguyễn Bá Học (in số116/1920) hoặc bài thơ Khuê phụ thán của Thượng Tân Thị làm thay lời vợ vua Thành Thái thương nhớ đến chồng (vua Thành Thái) con (vua Duy Tân) bị chính quyền thực dân đày sang châu Phi (in số 112/1919)… Là sự tiếp tục và thay thế cho Đông Dương tạp chí đã bị tàn lụi và “thay tên đổi họ”, nhưng Nam Phong còn làm được nhiều hơn thế, có tầm ảnh hưởng trong đời sống tinh thần tư tưởng, văn hóa – văn học cả nước, nơi thu hút và qui tụ nhiều học giả, nhiều gương mặt văn hóa của đất nước. Cũng chính từ văn học, đã thúc đẩy ý nghĩa văn hóa lấn át mục tiêu chính trị, mà nhà đương cục đề ra ban đầu làm mục tiêu cho tạp chí.

Cố nhiên, ở một mức độ nào đó, Nam Phong vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi lối văn biền ngẫu, lối đặt câu bốn chữ, sáu chữ hoặc sử dụng quá nhiều điển tích, điển cố, trộn lẫn với những câu văn Pháp chưa thuần thục, không phù hợp với tư duy người Việt. Những hạn chế tất yếu này không làm che lấp tầm ảnh hưởng sâu rộng của Nam Phong trong đời sống văn học của đất nước, bởi lẽ, “trong khoảng 17 năm tạp chí Nam Phong đã xây dựng nên một nền văn học căn bản và vững chắc cho văn chương chữ quốc ngữ, bằng những bài báo hay, những bài khảo cứu văn học mà những nhà văn, những nhà trí thức Việt Nam ở Bắc Kỳ cũng như ở Nam Kỳ lúc bấy giờ đã say sưa theo dõi” (7, tr.120).

Về ngôn ngữ, trong quá trình hoàn thiện chữ quốc ngữ, Nam Phong đã góp phần “làm giàu thêm ngôn ngữ nước nhà bằng cách đặt nhiều danh từ mới có liên quan đến triết học, khoa học bằng cách mượn chữ Hán làm hoàn hảo tiếng Việt trong dịch thuật và diễn tả những tư tưởng và học thuyết triết học” (8, tr.97). Quan trọng hơn, những con chữ từ tạp chí đã trở nên sinh động và ngày càng thấm sâu trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Bên cạnh tạp chí Nam Phong, ban biên tập còn thành lập nhà xuất bản Nam Phong tùng thư, cho in sách nhằm cung cấp tài liệu cần thiết giúp cho việc học chữ quốc ngữ được dễ dàng. Trong tạp chí Nam Phong, số 114 (1927), có nêu rõ mục đích của việc làm này: “Chữ quốc ngữ ngày nay đã phổ thông khắp trong nước, có thể dùng để làm cái lợi khí để truyền bá cái sự học trong nhân gian. Kể sách quốc ngữ gần đây xuất bản cũng nhiều, nhưng ngoài những sách giáo khoa để dùng trong các trường sơ học, phần nhiều là những sách thơ văn, tiểu thuyết, tuy cũng có quyển có giá trị, bổ ích cho quốc văn, song vẫn là sách văn chương “chơi” không giúp gì cho việc truyền bá sự học. Mà việc này chính là cần cấp ngày nay/ Nho học mỗi ngày một tàn, Tây học dẫu có lấn tới mà ngôn ngữ bất đồng, văn tự sai biệt, cũng khó lòng phổ cập trong dân gian. Phổ cập tri thức trong nước ta gần đây có phần sút kém cũng là bởi cái lẽ đó. Vậy ngày nay thể tất phải dùng chữ quốc ngữ làm cái lợi khí để giới thiệu các học thuật tư tưởng Đông Tây cho phần nhiều quốc dân được biết, ngõ hầu giúp cho cái trình độ trí thức trong nước ngày một lên cao/ Bộ phận Nam Phong tùng thư này mở ra là muốn theo đòi cái mục đích đó/ Cái chí chúng tôi là muốn giúp cho phần nhiều người Việt Nam ta, không cần phải đọc sách Tây, chỉ biết chữ quốc ngữ cũng có thể thông hiểu được cái điều nghĩa lý làm gốc cho văn hóa đời xưa đời nay/ Chúng tôi ao ước rằng sau này người An Nam chỉ học bằng tiếng An Nam có thể trở nên được người thông hiểu, chỉ đọc bằng sách quốc ngữ cũng đủ bổ ích được cho trí khôn, ngày ấy thời sự khai hóa trong nước mới thật là có kết quả vậy.”

  1. Nói đến Nam Phong không thể không nhắc Phạm Quỳnh (1892 – 1945), người được coi là linh hồn của tờ báo. Ông quê ở Bình Giang, Hải Dương, nhưng sinh ra ở phố Hàng Trống, Hà Nội. Chín tháng sau khi sinh, mẹ ông lâm bệnh qua đời; chín năm sau, bố ông cũng đột ngột qua đời ngay tại phòng thi khi dự kỳ thi Hương năm 1901. Ông được ông bà nội nuôi, cho đi học tại trường tiểu học Pháp Việt, rồi trường trung học Bảo hộ (trường Bưởi), đỗ đầu kỳ thi Thành chung năm 16 tuổi (1908), về làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1913, cộng tác với Đông Dương tạp chí, 1917 thành lập Nam Phong tạp chí, 1922 thành lập Hội Khai trí tiến đức, 1924 kiến nghị thành lập trường tiểu học học bằng tiếng Việt ở Đông Dương, từ 1924 – 1932 làm giảng sư khoa Văn chương và ngôn ngữ Hán Việt tại trường Cao đẳng Hà Nội, Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ, 1932 Bảo Đại về nước làm vua, ông được cử chức Ngự tiền Văn phòng, rồi Thượng thư Bộ Học, sau đó là Thượng thư Bộ Lại, 1939 cùng vua Bảo Đại sang Pháp xin trả lại Bắc Kỳ như Hiệp ước 1884 nhưng không thành. Tháng 3/1945, Nhật đảo chánh Pháp, chính phủ Trần Trong Kim thành lập, ông xin rút lui. Sau Cách mạng tháng Tám, ông bị bắt và qua đời tại Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa Thiên Huế.

Phạm Quỳnh là người đề xướng thuyết quân chủ lập hiến, một chủ trương lỗi thời trong tình hình nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, đó là sai lầm về chính trị. Nhưng đóng góp về văn học và báo chí của ông vào đầu thế kỷ XX thì không thể phủ nhận được. Là người am hiểu sâu rộng về nhiều lĩnh vực văn hóa Đông Tây: văn học, triết học, khoa học, tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục, tập quán… được người đương thời suy tôn đứng đầu trong “tứ trụ” là bốn nhà văn hóa tiêu biểu của đất nước: Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố. Nói đến Phạm Quỳnh là nói đến trữ lượng văn hóa tích tụ từ Nam Phong. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Phạm Quỳnh có đủ khả năng để tranh luận thấu đáo và minh bạch bất cứ vấn đề nào: văn chương, triết học, tôn giáo, chính trị, xã hội. Trước khi đề cập đến một vấn đề, ông chịu khó nghiên cứu kỹ lưỡng. Nếu so sánh Nam Phong với các tạp chí xuất bản bên Pháp như Revue de Paris, Grande Revue, Mercure de France, Nouvelle Revue Françase, độc giả thấy các tạp chí Pháp cũng đề cập đến những vấn đề tương tự, nhưng không tờ nào chú ý đến vấn đề của Đông phương, thời xưa cũng như thời nay” (9, tr.127). Vì vậy, trước hết với tầm nhìn văn hóa sâu rộng, Phạm Quỳnh có khả năng xóa dần các khoảng cách so le lịch sử, đưa nền báo chí non trẻ của nước ta ngang tầm với thế giới.

Phạm Quỳnh là tác giả của một khối lượng đồ sộ với hàng trăm tác phẩm sáng tác, nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật gồm nhiều lĩnh vực như triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý, văn học, nghệ thuật, báo chí, trong đó có những tác phẩm chủ yếu như Văn minh luận, Lịch sử thế giới, Chính trị nước Pháp, Văn học sử Pháp, Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho, Tục ngữ ca dao, Việt Nam thi ca, Khảo về Truyện Kiều, Khảo về chữ quốc ngữ, Hán Việt văn tự… Về nghiên cứu lý thuyết văn chương, có thể coi Khảo về tiểu thuyết (in rải rác trên báo, mà chủ yếu là Nam Phong, từ năm 1922, in thành sách 1925) là công trình lý luận văn học đầu tiên của nước ta; các tác phẩm Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký là những phóng sự đầu tiên của văn học hiện đại. Sai lầm của ông là khi đề ra một học thuyết “Pháp Việt đề huề” và yên tâm với lý tưởng về một nền quân chủ lập hiến, mà “sự thực hiện lý thuyết này không ích lợi gì cho đồng bào, nó càng làm tổn thương cho văn nghiệp của ông. Bây giờ người ta không thấy hậu quả của việc làm ấy. Điều hiển nhiên là từ khi ông chủ nhiệm ra đi, ai nấy đều nhận rằng giá trị văn chương của Nam Phong trở nên sa sút”(10). Tất nhiên, ông có sai lầm về chính trị, và sai lầm khi thiếu trách nhiệm với cả Nam Phong, nhưng không thể nói rằng ông không yêu nước, không có tinh thần tự tôn dân tộc, khi ông kêu gọi gìn giữ quốc hồn quốc túy, gìn giữ nền văn hóa lâu đời để phát triển đất nước. Năm 1922, khi phát biểu tại Ban Luân lý và chính trị Viện Hàn lâm Pháp, ông đã khẳng định nền văn hóa dân tộc với tất cả bầu nhiệt huyết: “Dân Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai từ mấy mươi thế kỷ.” (11, tr.683).

Thời gian cứ trôi không ngừng nghỉ. Sừng sững trên nền vách của thời gian, những nguồn mạch nóng hổi nhiệt huyết của Phạm Quỳnh từ thuở Nam Phong vẫn còn tỏa bóng.

P.P.P
(TCSH341/07-2017)

…………………………….
(1),(6) Thiếu Sơn (1933), Phê bình và cảo luận, Nam Ký xuất bản, Hà Nội
(2),(3) Louis Marty (1917), Phúc trình về tạp chí Nam Phong, ngày 22,8.1917
(4),(7),(8) Huỳnh Văn Tòng (1973), Lịch sử báo chí Việt Nam – từ khởi thủy đến 1930, Trí Đăng xuất  bản, Sài Gòn.
(5),(9) Vũ Ngọc Phan (1960), Nhà văn hiện đại, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn.
(10) Thiếu Sơn (1931), Phạm Quỳnh, báo Phụ nữ tân văn, số ra ngày 30.7
(11) Dẫn theo Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

Tháng Sáu 12, 2019

Tin Buồn – Họa sĩ Phạm Thanh Tâm qua đời

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:43 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 6 năm 2019.

TIN BUỒN

Chúng tôi đau buồn biết tin họa sĩ, nhà báo Phạm Thanh Tâm (Bút danh viết báo: Huỳnh Biếc) đã từ trần ngày 30/5/2019 tại thành phố Hồ Chí Minh sau thời gian dài bệnh nặng, được bệnh viện Quân y 175 tận tình cứu chữa. Ông sinh tại Hải Phòng năm 1933, hưởng họ 86 tuổi. Theo gia đình cho biết sau lễ cúng 49 ngày, sẽ đưa ông về an táng tại quê nhà.

Họa sĩ Phạm Thanh Tâm là tác giả bức tranh nổi tiếng Xuân trong hầm pháo Điện Biên Phủ ghi lại sống động màn múa lượn của các cô vũ công ở tuổi hai mươi như họa sĩ. Trong đó có vũ công ba lê Vũ Thị Lương là cháu dâu của Học giả Phạm Quỳnh, vợ đích tôn Phạm Vinh, anh cùng đi trong đoàn được phân công chăm sóc bốn cô vũ công phục vụ chiến dịch Điện Biên này.

Ngoài những tập sách tranh khổ lớn như Trang sử vàng Điện Biên Phủ (Nhà xuất bản Thời Đại) Tiến về Sài Gòn (Nhà xuất bản Trẻ)… ông còn viết những tập truyện ký dưới bút danh Huỳnh Biếc như Dung dăng dung dẻ (NXB Trẻ), Vượt ngầm (NXB Trẻ), Ngày về Sài Gòn (NXB Văn hóa – Văn nghệ)…

Xin có lời chia buồn cùng gia đình.

Blog PhamTon

Chân dung Phạm Thanh Tâm và các tác phẩm in thành sách

Pham Thanh Tam va tac pham

Nhân 100 năm Nam Phong tạp chí thử tìm một cách lí giải

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:36 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 6 năm 2019.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1/7/2017)

Nhân 100 năm NAM PHONG TẠP CHÍ, thử tìm một cách lý giải

Nguyễn Đình Chú

(Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 484 từ trang 48 đén trang 53 và trang 65)

Nam Phong tạp chí ra đời với vai trò chủ bút Phạm Quỳnh (trừ hai năm cuối) từ năm 1917 đến năm 1934, gồm 210 số, tính đến nay vừa tròn 100 năm tuổi. Có thể nói đây là tạp chí bề thế nhất trong lịch sử tạp chí, báo chí ở nước ta trong thế kỷ XX, kể cả hiện nay. Nhưng cũng là tạp chí bị dồi lên dồi xuống, bị biến thành dây co của hai loại quan điểm đánh giá đối lập nhau như nước và lửa… và số phận của Nam Phong tạp chí cũng gần với số phận của ông chủ bút Phạm Quỳnh, vẻ vang bao nhiêu thì bi thảm cũng bấy nhiêu. Mà đây không chỉ là chuyện của bút giấy, đây còn là chuyện liên quan đến tính mạng một con người.

Người mở đầu công kích ông chủ bút là cụ Nghè chí sĩ Ngô Đức Kế, sau 13 năm tù Côn Đảo, ra Hà Nội làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, với bài bút chiến nhan đề “Luận về chánh học cùng tà thuyết”. Công kích bài diễn văn của chủ bút Phạm Quỳnh đọc tại buổi lễ Kỷ niệm Nguyễn Du do Hội Khai Trí Tiến Đức tổ chức tại Hà Nội ngày 8/91924. Theo cụ Nghè Ngô, những gì Phạm Quỳnh tán dương Truyện Kiều “Thiệt là “con oanh học nói, xằng xiên bậy bạ, tà thuyết mê dân đến thế là cùng”. Với cụ, Truyện Kiều chỉ là thứ “ai dâm sầu oán đạo dục tăng bi”. Ông chủ bút Nam Phong im lặng. Nhưng cuộc bút chiến của cụ Nghè Ngô vẫn mở ra một giai đoạn tranh luận về Truyện Kiều kéo dài trong nhiều năm. Đặc biệt vào năm 1930, nhân việc Phan Khôi công kích Phạm Quỳnh im lặng không trả lời cụ Nghè Ngô là “học phiệt”, Phạm Quỳnh đã lên tiếng cho rằng mình im lặng vì không có 13 năm Côn Đảo và cuộc bút chiến này chỉ là chuyện “hàng thịt nguýt hàng cá” trong nghề báo chí. Trước tình hình này, chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng đã lên tiếng bênh vực chí sĩ họ Ngô và tiếp tục chê bai Truyện Kiều. Cuộc bút chiến của hai nhà chi sĩ chỉ trực tiếp đụng đến ông chủ bút Phạm Quỳnh nhưng gián tiếp cũng là với Nam Phong tạp chí.

Đúng là số phận ông chủ bút Nam Phong ngay ở thời Pháp thuộc đã gặp phải sự quy kết không kém phần nặng nề. Tuy thế, dưới thời Pháp thuộc, thanh danh của Tạp chí Nam Phong gắn liền với chủ bút Phạm Qynhf vẫn theo thời gian mà tỏa sáng… Năm 1933, trong “Phê bình và cáo luận”, Thiếu Sơn đã viết: “Có nhiều người không biết đọc văn Tây văn Tàu, chỉ nhờ Nam Phong hun đúc mà có được cái tri thức phổ thông tạm đủ sinh hoạt ở đời. Có nhiều ông đồ Nho chỉ đọc Nam Phong mà cũng biết được đại khái những văn chương học thuật của Tây phương”. Nhà thơ Đông Hồ, từng là cộng tác viên của Nam Phong, trên tờ báo Sống ngày 9/4/1935, cũng đã viết: “Người đồng chí yêu quý thì đã đành, người không đồng chí cũng một lòng tôn trọng. Tôn trọng cái tủ sách một văn phái đứng đắn cao thượng. Cái cảm tình ấy của quốc dân đối với báo chí nước ta xưa nay chưa từng thấy có tờ báo nào được cái vinh dự đặc biệt như Nam Phong vậy”. Năm 1942, Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại, nghiên cứu toàn diện, công phu về Nam Phong tạp chí, đã viết: “Nhiều người thanh niên trí thức đã có thể căn cứ vào những bài trong Nam Phong tạp chí để bồi bổ cho cái học còn khiếm khuyết của mình. Thậm chí có người đã lấy Nam Phong tạp chí làm sách học mà cũng thâu thái được tạm đủ tư tưởng học thuật Đông Tây. Muốn hiểu những vấn đề về Đạo giáo, muốn biết  văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca từ đời Lý Trần cho đến ngày nay, muốn biết thêm lích sử nước Nam, tiểu sử các danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề chính trị xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết cổ Hy Lạp, chỉ đọc kỹ Nam Phong là có thể hiểu được. Một người chỉ biết đọc quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng tạp chí Nam Phong để mở mang học thức của mình. Nam Phong tạp chí sinh sau Đông Dương tạp chí bốn năm, nhưng sống lâu hơn và ở vào một thời thích hợp hơn nên ảnh hưởng về đường văn chương đối với văn đối với quốc dân Việt Nam đã to tát hơn nhiều”. Riêng về ông chủ bút Phạm Quỳnh, tác giả Nhà văn hiện đại cũng đã nhận định: “Ông là ngời chủ trương cái thuyết đọc sách Tây là để thâu thái tư tưởng. Lấy tinh thần văn hóa Âu Tây để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lọc cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình. Không mất bản sắc mà vẫn có cơ tiến hóa được”. “Nam Phong tạp chí được rực rỡ như thế cũng vì được người chủ trương là một nhà văn, học vấn đã uyên thâm, lại có biệt tài, có lịch duyệt. Thật thế, Phạm Quỳnh là một nhà văn có thể bàn luận vững vàng và sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì. Từ thơ văn cho đến triết lý, Đạo giáo cho đến chính trị xã hội, không một vấn đề nào là không tham khảo tường tận trước khi đem bàn trên mặt giấy”.

Ở các đô thị tạm chiếm trước năm 1945 vẫn là sự tiếp tục đánh giá cao vai trò của Nam Phong tạp chí cùng ông chủ bút Phạm Quỳnh. Năm 1948, theo tác giả Chủ đích Nam Phong là Nguyễn Văn Trung thì Đào Đăng Vĩ trong cái buổi diễn thuyết bằng tiếng Pháp tại Huế, Sài Gòn đã ví Phạm Quỳnh là Descartes và nói về Phạm Quỳnh như sau: “Mặc dù cuộc đời chính trị của ông rất bị bàn cãi, tất cả dư luận văn giới Việt Nam ngày nay đều ca tụng tài năng hiếm hoi của Phạm Quỳnh và những công lao mênh mông mà ông đã làm cho tiếng nói và văn chương quốc gia”. Năm 1949, Hạo Nhiên Nghiêm Toàn trong Việt Nam văn học sử toát yếu thì nhận định: “Ảnh hưởng của Nam Phong rất lớn, không những gây dựng cho tiếng ta có đủ chữ phô bày hết mọi tính tình, ý niệm, lại phổ thông hóa những điều đại cương thiết yếu trong các học thuyết Đông Tây, mới cũ, và những điểm chính trong văn hóa cổ Việt như lễ nghi, phong tục, văn chương…”.

Ở miền Nam từ sau 1954 đến 1975, Nam Phong tạp chí cũng được sống lại một cách vẻ vang. Chu Đăng Sơn – Trần Việt Sơn  với Luận đề về nhóm Tạp chí Nam Phong (1961), Nguyễn Duy Diễn với Luận đề về Nam Phong (1961), Phạm Văn Diêu với Việt Nam văn học giảng bình (1961), Đàm Xuân Thiều và Trần Trọng San với Việt văn độc bản (1961), Phạm Thế Ngũ với Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1961), Thanh Lãng với Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1969), Doãn Quốc Sỹ với Văn học và tiểu thuyết (1972)… kẻ ít người nhiều, người nói kiểu này người nói kiểu khác, đã thành một dàn đồng ca ca ngợi Nam Phong tạp chí và chủ bút Phạm Quỳnh. Thanh Lãng cho rằng Nam Phong là tạp chí có ảnh hưởng nhất từ xưa đến nay, là văn đàn tụ tập tất cả những nhà văn hóa thời danh nhất của thế hệ này và “dưới ngọn cờ Phạm Quỳnh, cả một đoàn nghệ sĩ tiến bước dùng dũng!”. Muốn hiểu văn học Việt Nam hồi này không gì tốt bằng nhìn vào Nam Phong. Nam Phong là linh hồn, là tất cả văn học thế hệ 1913-1932 nếu đem đốt Nam Phong đi thì nền văn học thế hệ 1913-1932 có thể nói là bị bóc lột rỗng tuếch… Trong suốt mười mấy năm trường, Nam Phong hầu như giữ vai trò của một Viện Hàn lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều đẹp, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người đều tuân theo, chữ Nam Phong chế ra người ta đều dùng. Người ta coi Nam Phong như bậc thầy. Riêng Nguyễn Văn Trung với thái độ khách quan trong khoa học, với Chủ đích Nam Phong (1975) thì đã làm một cuộc phỏng vấn nhiều người để biết thái độ hai chiều khen chê Nam Phong trong đó khen vẫn là chính.

Ở nước ngoài, Meillon, Giám độc viện Pháp – Việt (Institut Franco – Vietnamien) đã viết về Phạm Quỳnh như sau: “Phạm Quỳnh là tay cự phách trong văn giới Việt Nam ở tiền bán thế kỷ XX. Tạp chí Nam Phong đã đăng tải từ năm 1917 đến năm 1934 nhiều dịch phẩm và những bài khảo luận về Hán văn, Pháp văn và Việt văn. Ông đã để lại nhiều tác phẩm nào sách khảo luận tiểu thuyết, nào dịch văn, chứng tỏ một tay học vấn uyên bác và văn tài lỗi lạc. Vừa là một đại văn hào, một diễn thuyết gia tài ba vừa là chính trị gia xuất chúng, Phạm Quỳnh đã góp rất nhiều công lao vào cuộc thành tựu của nền quốc ngữ” (Đại cương văn học Việt Nam, Lời dịch của Nguyễn Thọ Dực, 1961). Maurice Durant và Nguyễn Trần Huân (Việt kiều) trong Introduction à la littérature vietnamienne (Dẫn luận văn học Việt Nam), Paris 1969, cũng viết: “Nhóm Nam Phong đã tạo những huy hiệu cao cả và tìm kiếm con đường của mình”. Cũng tại Pháp, năm 1973, con gái chủ bút Nam Phong là Phạm Thị Ngoạn đã bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài Tìm hiểu tạp chí Nam Phong viết bằng tiếng Pháp, đến năm 1993 được dịch ra tiếng Việt. Nhân 100 năm sinh Phạm Quỳnh, có Phạm Quỳnh 1892-1992 Tuyển tập và di cảo (Bản quyền Phạm Thị Hoàn – An Tiêm – Paris).

Chuyện nhà chí sĩ Ngô Đức Kế năm 1924 và tiếp sau là chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng năm 1930 lên án Phạm Quỳnh mới chỉ là thế. Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí bị phủ nhận, bị lên án, là chuyện của miền Bắc sau năm 1954, một khi mà yêu cầu củng cố lập trường giai cấp vững chãi, xác định quan điểm địch – ta ngày một tăng trưởng trong đời sống chính trị xã hội. Ỏ miên Bắc năm 1957, Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, được coi là viết theo quan điểm Mác xít của nhóm Lê Quý Đôn đã phê phán Nam Phong tạp chí. Tuy thế vẫn chưa phủ nhận trơn nó khi còn viết: “Nhưng dù lên án đúng mức, cũng không thể không ghi công lao lớn cho Nam Phong về vai trò của nó trong sự nghiệp phát triển văn học”. Về trước, người ta còn hoài nghi khả năng của tiếng ta. Với Nam Phong, không ai còn chối cãi là tiếng ta chưa phải là một ngôn ngữ văn học, là một ngôn ngữ đang hiện đại hóa. Người ta có thể bảo văn của Nam Phong rườm rà, khễnh khạng, véo von, nhưng không có thể bảo đó không phải là văn. Tiếp đó, đẩy mạnh việc lên án chủ bút Phạm Quỳnh một cách gay gắt, khốn nỗi, lại chính là người đang viết những dòng chữ này. Ngày đó, nhân vớ được một tài liệu của mật thám Đông Dương nói về quan hệ giữa chủ bút Phạm Quỳnh với thực dân Pháp, trong khi ngồi trông con ở phòng cấp cứu của bệnh viện B, tôi đã viết bài “Thực chất cuộc đấu tranh giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh chung quanh vấn đề Truyện Kiều” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học số 12 năm 1960. Bài viết không đồng tình với thái độ nhẹ tay của nhóm Lê Quý Đôn về Nam Phong tạp chí và khẳng định “Cuộc đấu tranh giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh chung quanh vấn đề Truyện Kiều thực chất là một cuộc dấu tranh chính trị trên lĩnh vực học thuật. Chính trị ở đây là chính trị của những người yêu nước luôn luôn quan tâm tới lợi ích của đất nước dân tộc và chính trị của bọn tay sai bán nước thể hiện trung thành quyền lợi của bọn thực dân phong kiến thống trị”. Bài viết đã gây ra một cuộc tranh luận và tổng kết cuộc tranh luận, khốn nỗi, nhà nghiên cứu Tuấn Nghi lại nghiêng về phía tôi. Từ cuộc tranh luận này ở miền Bắc, tại Sài Gòn cũng có cuộc tranh luận tiếp theo về việc đánh giá Nam Phong tạp chí. Năm 1965, tạp Pháp, Maurice Durant trong công trình Mélanges sur Nguyễn Du đã lược thuật bài viết của tôi. Năm 1962, giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam tập IV do Lê Trí Viễn và tôi biên soạn, trong phần viết về “Văn học hợp pháp” do Lê Trí Viễn chấp bút lại đã liệt Nam Phong tạp chí vào cái gọi là “Văn học nô dịch” tức là thứ văn học phục vụ chính sách cai trị của thực dân Pháp. Cùng chung không khí này sư phụ của tôi, giáo sư Đặng Thai Mai, trong chuyên luận Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX (1900-1925) đã thêm một lần lên án Nam phong tạp chí “một công cụ hết sức tốt của chủ nghĩa thực dân trong mười mấy năm ròng” và phủ nhận chủ bút Phạm Quỳnh. Xu hướng kết tội Nam Phong và Phạm Quỳnh vẫn tồn tại sau 1975. Giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời của Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng (1988) vẫn viết: “Trước sau đại chiến (1914-1918), thực dân cho bọn tay sai Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh ra Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, loại sách Âu Tây tư tưởng vừa tuyên truyền cho văn học Pháp, vừa đề xướng một tư tưởng yêu nước duy tân giả hiệu đánh lạc hướng quần chúng”.  “Phạm Quỳnh đã cổ động cho văn hóa điều hòa tân cựu, thổ nạp Á Âu, hô hào xây dựng nền quốc văn mơn trớn, lôi kéo cả cựu học lẫn tân học,… đề cao Pháp, lái thanh niên trí thức vào hoạt động văn hóa, văn học, đánh vào lòng tham danh vọng của họ”… Đúng là một thời do yêu cầu khẳng định lập trường cách mạng mà như thế với Nam Phong tạp chí và chủ bút Phạm Quỳnh. Thế nhưng giữa cái thời buổi “lập trường” lên ngôi như thế, tác giả của Kép tư bền (Nguyễn Công Hoan) trong Đời viết văn của tôi khởi thảo năm 1957, hoàn thành năm 1969, in năm 1971 lại đã viết: “Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để rồi  lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị là một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng là một người dân mất nước, ai không đau lòng, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra truyện Kép tư bền là một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha anh đương hấp hối”.

Cuộc kéo co giữa hai quan điêm hai hệ quy chiếu trên thân phận Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong là như thé… Nhưng xem ra thời gian và xu thế đổi mới của đất nước đã và đang ủng hộ Nam Phong tạp chí và chủ bút Phạm Quỳnh. Cứ ra các hiệu sách lớn trong Nam ngoài Bắc sẽ thấy hầu hết văn nghiệp của Thượng Chi Phạm Quỳnh đã được in lại. Theo nhịp độ biến chuyển của thời tiết nhận thức, việc đánh giá của giới học thuật đã hạ nhiệt dần và trở lại tôn vinh trong không ít sách nghiên cứu, luận văn, luận án. Nếu tôi không lầm thì trong vài chục năm trở lại đây. Thượng Chi Phạm Quỳnh là một trong số ít người ngốn giấy mực của đất nước nhiều nhất. Trong xu thế “của Xéda trả lại cho Xéda”, câu chuyện gặp gỡ giữa Nguyễn Ái Quốc và Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Cao Văn Sến (Việt kiều) năm 1922 tại Paris để hội đàm về con đường cứu vận nước do Lê Thanh Cảnh vốn là bạn học với Nguyễn Tất Thành ở Quốc học Huế, lúc này là phiên dịch cho đoàn Bảo Đại sang Paris bố trí, viết hồi ký kể lại, được nhiều người biết đến. Rồi sách báo đó đây còn nói sau cái chết của cụ Phạm, Bác Hồ có nói: “Cụ Phạm là một nhân vật lịch sử. Cụ Phạm nếu còn thì sẽ có ích cho đất nước”. Và Tố Hữu vốn là Bí thư tỉnh bộ Việt Minh Thừa Thiên – Huế ngày Cách mạng tháng Tám. Khi có người hỏi về chuyện cái chết của họ Phạm, thì đã nói đó là điều mình ray rứt bao nhiêu năm nay. Những câu chuyện như thế thực hư đến đâu chưa rõ nhưng đã hỗ trợ rất đáng kể cho xu thế nhận thức lại họ Phạm. Còn kẻ bỉ nhân này đã qua cái thời ngựa non háu đá, biết mình sai nên năm 1990, trong Tác gia văn học Việt Nam tập I, cũng đã đổi giọng được chút ít như sau: “Phạm Quỳnh viết đủ thứ đủ loại như vậy và đương thời đã tạo được một uy danh không nhỏ, nhưng cũng đương thời dưới con mắt của nhà chí sĩ Ngô Đức Kế, thì chỉ là cậu bé đang “lom lem những học thuyết ông Mạnh ông Lư”, “bập bẹ những cách ngôn họ Trang họ Liệt” và sau này, dưới con mắt học giải Đặng Thai Mai thì là người “đủ tiếng Tây để lòe người Việt, và đủ tiếng Việt để lòe người Tây”… Ấy mới hay: Chưa cần biết động cơ gì, sống trên đất nước ta, hễ cứ dính với kẻ thù ngoại bang thì trước hết phải chịu sự phán xét, sự phủ nhận đó. Mặc dù, nói cho công bằng, ngoài phần độc tố gây  hại ra, không phải không có những điều có tác dụng khách quan đáng kể, góp phần vào công cuộc hiện đại hóa văn hóa văn học Việt Nam trong thời cận đại này”. Năm 1991, nhân dịp vào Huế, tôi đã đến viếng mộ Phạm tiên sinh. Ngoài ra, tôi còn qua việc hướng dẫn luận văn luận án mà nhờ các môn đệ của mình trang trải thêm món nợ với Tiên sinh. Cuốn sách Văn trên Nam Phong tạp chí vốn là luận án Tiến sĩ xuất sắc của TS. Nguyễn Đức Thuận (nay là PGS.TS) ra mắt bạn đọc năm 2008 (Nxb. Văn học) là sản phẩm của ý đồ đó.

Bạn đọc kính mến!

Hiện tượng Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí không phải là hiện tượng duy nhất. Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh… gần 100 năm qua trong đời sống học thuật của nước nhà cũng là thế. Họ bị biến thành giây co của hai hệ quy chiếu đối địch nhau quyết liệt. Nhưng thời gian và xu thế đổi mới của đất nước lại đã và đang ủng hộ họ. Tôi, ít nhiều cũng là người trong cuộc và tự mình cũng có sự chuyển biến trong nhận thức. Không giấu gì quý bạn, bao nhiêu năm nay, một câu hỏi cứ xoáy vào đầu óc tôi, buộc phải tìm câu trả lời: Tại sao trước những hiện tượng giấy trắng mực đen sờ sờ ra đó, không ai có thể thêm bớt, xóa dập gì mà người khen người chê ngược nhau như nước và lửa vậy? Lý thuyết tiếp nhận văn học không thiếu. Bản thân tôi, không làm lý luận văn học nhưng cũng thích nghĩ điều này điều nọ có tính chất lý thuyết, chủ yếu là từ thực tiễn nghiên cứu của bản thân mà nghĩ ra lý thuyết. Với cách đó, tôi đã nói đến quy luật cộng hưởng trong tiếp nhận văn học, rộng ra là văn bản nói chung là vô cùng phức tạp. Hi vọng có dịp sẽ trình bày thấu đáo với bạn đọc. Gần đây, trên thế giới cũng như ở nước ta, lý thuyết diễn ngôn đang được các bạn trẻ đón nhận nồng nhiệt. Tôi hiểu không biết có đúng không, lý thuyết diễn ngôn là của phương Tây và sản phẩm trước tiên là của các nhà ngôn ngữ học mà các nhà lý luận văn học đã tiếp nhận. Nội dung cốt lõi của nó là sự tôn trọng quyền uy của ngôn ngữ. Nếu đúng thế thì đó là một biện pháp bảo vệ giá trị những hiện tượng văn hóa văn học như Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh… Nhưng với tôi, lại muốn có một cách lý giải nữa về những trường hợp này với hai ý chính sau đây:

  1. Trở lại với hiện tượng kéo co giữa hai hệ quan điểm đánh giá như trên đã nói, có thể thấy nguồn gốc của sự đối lập chính là do: bên tôn vinh là theo văn hóa luận đơn thuần và phi chính trị. Bên kết tội là xuất phát từ nhãn quan chính trị dù đó là các chí sĩ cứu nước trước hay giới Mácxit về sau. Còn với tôi hôm nay thì muốn từ nhận thức cuộc sống để đến nhận thức văn học, văn hóa. Đúng là vậy. Tùy theo cách nhận thức cuộc sống đơn giản hay phức tạp, phiến diện hay đa diện sẽ có kết quả nhận thức văn hóa văn học khác nhau, thậm chí đối địch nhau như trong các trường hợp đang nói. Cuộc sống của nhân loại trong đó có cuộc sống Việt Nam vốn có hai quy luật tồn tại cơ bản là độc lập (Indépendant) và phụ thuộc lẫn nhau (Interdépendant). Mà độc lập một khi bị ngoại xâm thì cũng có hai phương án: bạo động và không bạo động… Chỗ khác nhau giữa nước ta với không ít quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới là ở chỗ với nước ta, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Cha ông thuở trước đã vậy, con cháu sau này cũng vậy. Ai không theo phương án này sẽ bị lên án. Tuy nhiên, từ ngày thực dân Pháp xâm lược rồi thống trị nước ta, thì những người như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… đã đi theo phương án hai, không chống Pháp mà có quan hệ với Pháp, làm việc với Pháp nên bị kết tôi. Phan Châu Trinh một thời bị các sử gia Mácxít đặt dưới Phan Bội Châu vì Phan chủ trương “Bất bạo động. Bạo động tắc tử”. Phan Bội Châu được đánh giá cao vị chủ trương bạo động nhưng khi chuyển sang chủ trương Pháp Việt đề huề thì bị coi là một điểm đen trong sự nghiệp cứu nước vẻ vang. Hồ Chí Minh là lãnh tụ của đường lối cách mạng bạo động nhưng năm 1946, ký Hiệp đinh 6/3 và Hòa ước Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau), đặt Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp là theo phương án phụ thuộc lẫn nhau mà kẻ thù thì rêu rao là bán nước nhưng nhân dân thì nhiệt liệt hoan nghênh sự sáng suốt, bản lĩnh cao cường.

Nhận thức về sự sống của đất nước từng liên quan đến nhận thức đánh giá Nam Phong tạp chí với chủ bút Phạm Quỳnh cũng như với mấy trường hợp tương tự đó là như thế. Còn như thừa nhận có quy luật phụ thuộc lẫn nhau (khác phụ thuộc) song song với quy luật độc lập thì chính đó sẽ là mảnh đất sống của những người như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, sẽ là cơ sở khoa học, là phương pháp luận nhận thức công lao của các vị với nước nhà, là cách lý giải về sự hồi sinh, sự ủng hộ của thời gian với các vị.

  1. Cũng là từ nhận thức cuộc sống mà nhận thức các hiện tượng văn học văn hóa đang nói. Còn có vấn đề nhận thức về tương quan giữa động cơ và hiệu quả trong sự sống. Phải chăng đã có sự khác nhau giữa đất nước ta trong một thời so với thế giới đó đây là ta thì coi trọng động cơ hơn hiệu quả. Còn họ thì ngược lại. Động cơ gì không cần biết. Chỉ căn cứ vào hiệu quả mà đánh giá. Bởi lẽ động cơ là thứ không có hình hài, không phải là vật thể, thường là do suy tưởng mà nói tới, mặc dù cũng vào căn cứ này nọ và trong thực tế cũng có đúng có sai. Nhưng chuyện đúng sai cũng không đơn giản. Trong khi hiệu quả thì ai ai cũng trông thấy dược, và nếu là hiệu quả tốt thì người đời sẽ được hưởng, có trường hợp với muôn đời. Các lãnh tụ Cần vương về động cơ cao đẹp là yêu nước và từ đó quyết tâm cứu nước được hậu thế mãi mãi tôn vinh. Nhưng hiệu quả thì vẫn thất bại, chưa giành lại được nước nhà. Trong khi với họ Trương, họ Nguyễn, họ Phạm là những người đã không chống Pháp, lại còn cộng tác với Pháp để hậu thể, không phải tất cả nhưng có một bộ phận, trong một bối cảnh lịch sử cụ thể đã lên án, kết tội thì thực tế, họ đã tạo ra những hiệu quả có lợi cho đất nước trong muôn đời. Xin quý vị bạn đọc đừng bắt tôi diễn giải nhiều thêm chỉ nói qua một chút. Hàng ngày chúng ta cầm tờ báo để đọc, hỏi ai là người khai mở đầu tiên, nếu không là Trương Vĩnh Ký. Cuối tuần chúng ta đến Nhà hát Tuổi Trẻ xem kịch nói chứ không phải tuồng chèo, hỏi ai là người góp sức buổi đầu bằng cách dịch tác phẩm kịch nói của Pháp để người Việt Nam ta biết thế nào là kịch nói mà xây dựng ngành kịch nói Việt Nam. Hàng ngày chúng ta, con em chúng ta đọc tiểu thuyết hiện đại có cấu trúc nghệ thuật khác tiểu thuyết chương hồi vốn gốc Trung Hoa, hỏi ai là người đầu tiên giới thiệu trên văn đàn Việt Nam thế nào là tiểu thuyết hiện đại một cách khá cơ bản như thế để giúp các nhà văn Việt Nam từ mô phóng mà sáng tạo thêm nếu không phải là Thượng Chi Phạm Quỳnh. Hiện nay đất nước có một nền văn xuôi tiếng Việt bề thế sáng giá như thế, hỏi ai là những người đặt nền xây móng đầu tiên nếu không là họ Trương, họ Nguyễn, họ Phạm… Tôi xin được nói thật ý nghĩ của tôi hiện nay là: Trương Vĩnh Ký là người tiên phong của công cuộc hiện đại hóa văn hóa và phần nào cũng là văn học Việt Nam thời cận đại. Dù với Trương chủ yếu mới là trên phương diện thực thi còn về lý thuyết thì chưa có gì đáng kể. Đến Nguyễn Văn Vĩnh thì vẫn là thực thi nhưng đã có ít nhiều lý thuyết. Còn Phạm Quỳnh với Nam Phong tạp chí thì đã đi bằng hai chân: lý thuyết và thực thi… đáng coi là nhà đạo diễn của công cuộc hiện đại hóa văn hóa văn học nước nhà của những năm 20 của thế kỷ XX.

Nhân 100 năm Nam Phong tạp chí, với phương châm khoa học là Recherche, nghĩa là tìm đi rồi tìm lại, hiện tại tôi đã tìm đến cách lý giải Nam Phong tạp chí gắn với chủ bút Phạm Quỳnh là như thế. Mong có sự chỉ bảo của quý vị bạn đọc.

Chú thích:

  1. Trong bài viết này, một số tư liệu, tôi đã lấy từ công trình của TS. Nguyễn Đức Thuận.

Gần đây nhất, trên tờ Đại Đoàn Kết – Tinh hoa Việt số 47 từ ngày 10/3 đến 23/3/2017 có bài “Chuyện ít được biết về quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với học giả Phạm Quỳnh: “Một mối thân tình” của nhà văn Sơn Tùng viết ngày 8/12/2008 (12/11 – Mậu Tý). Ở mục: “Ghi theo lời Vũ Đình Huỳnh, Bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh” cho biết: “Ngày 28/8/1945, Hồ Chủ tịch đến làm việc tại Bắc Bộ phủ… nói với ông Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam, Lê Giản và Vũ Đình Huỳnh: Chú Bằng, chú Liệu, chú Cận vô Huế rồi mình mới nhớ ra thì đã trễ, giờ chú Nam hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế gặp cụ Phạm Quỳnh trao thư tôi mời cụ”. Ngày 31/8/1945, vào lúc 10 giờ 30, sau khi biết Phạm Quỳnh bị bắt, hai con gái của cụ là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức muốn xin gặp Hồ Chủ tịch, thì Người đã tiếp hai chị em tại phòng khách và nói: “Tôi ở chiến khu Việt Bắc mới về Hà Nội, nghe tin chẳng lành với cụ nhà ở Huế… Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ, khó tránh được sự lầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi đang trên đường về Hà Nội…” . Chị Phạm Thị Giá dâng thư lên Hồ Chủ tịch. Người chuyển sang ông Vũ Đình Huỳnh dặn chuyển sang Bộ Nội vụ và nói: “Những chuyện hai cháu vừa đề đạt, hai cháu sẽ trực tiếp gặp ông Hoàng Hữu Nam nhá”. Ở mục “Cụ Đào Nhật Vinh ở số 13 phố Nguyễn An Ninh, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Quê ở Trực Ninh, Nam Định” cho biết cụ Vinh là người năm 1913, từng làm việc trên tàu Viễn Dương với Văn Ba – Nguyễn Tất Thành, từ 1919 đến 1923, thân giao với Nguyễn Ái Quốc đã kể nhiều chuyện trong đó có chuyện: “Ông Phạm Quỳnh, ông Nguyễn Văn Vĩnh mấy lần đến nhà ông Tạ Văn Cấn đàm đạo với cụ Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc”, “Đầu tháng 7/1922, tôi trong Hội chợ… đi ra phố thấy đằng phía trước ông Nguyễn Ái Quốc cùng ông Phạm Quỳnh đang sóng bước. Chốc chốc ghé đầu vào nhau có lẽ đang nói thầm”. Ngày 13/7, tôi đến sớm làm bữa cơm Bác thiết khách Bắc. Tôi tự hỏi vị khách quý nào mà cụ Nghè Tây (Phan Văn Trường) và Nguyễn Ái Quốc thết đãi. Hơn 8 giờ thấy ông Phạm Quỳnh tới. Ông Nguyễn Ái Quốc đợi ở cửa và dẫn ông Phạm Quỳnh vào phòng… Chỉ có ba vị trong phòng thôi, và ba vị đàm đạo tới 11 giờ, tôi cũng vừa sửa soạn xong bữa. Tôi được dự đồng bàn đồng bữa với ba vị và hầu chuyện.

Cháu ngoại, cháu nội

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:57 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 6 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục

Cháu ngoại, cháu nội

Phạm Tôn

Sáng 12/1/2018, tôi nhận được thư của Vũ Văn Chỉ bạn cùng học lớp Chăn nuôi khóa 5 Học viện Nông Lâm. Anh cho biết vợ chồng anh sinh bốn con gái, nay gia đình có hai đại tá, một tiến sĩ và một thạc sĩ (là con gái Vũ Thị Phương 0904.846.881 học giáo sư tiến sĩ Đặng Thị Kim Chi cháu ngoại học giả Phạm Quỳnh tại Đại học Bách Khoa, nay công tác tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Long Biên Hà Nội). Gần đây, kỳ thi tuyển đại học, anh lại cho biết một cháu ngoại đã vào Học viện Công an Nhân dân, kế nghiệp cha là đại tá công an.

phan dau thu Vu Van Chi.png

phan cuoi thu Vu Van Chi

Phần đầu và phần cuối lá thư của anh Vũ Văn Chỉ viết ngày 30/12/2017

“Sơn Tây ngày 30-12-2017,

          Anh Thành yêu quí,

Thế là đã 35 năm anh em mình xa cách, lại được nghe tiếng nói của nhau. Kể từ năm 1982 tôi vào Sài Gòn công tác gặp anh từ lúc ấy, bặt tin nhau, hỏi thăm mãi nhiều người nói anh đã chết. Thật bất ngờ anh còn sống, sự kỳ diệu của tạo hóa. Anh vốn dĩ sức khỏe không được tốt, mà chống cự được đến hôm nay cũng là điều khó tin nổi. Các cụ nói ở hiền gặp lành nhưng không phải lúc nào cũng đúng, như trường hợp của anh là một ví dụ.

…. (nhà có 2 đại tá, 1 tiến sĩ và 1 thạc sĩ). Tuy chúng không thông minh nhưng chịu học nên nắm vững được chuyên môn anh ạ.

Mong làm sao có được một đêm nằm với nhau như trước kia ở 16 Hàng Da thì mới tâm sự hết được. Chỉ cầu chúc cho anh khỏe, làm chỗ dựa tinh thần cho cả nhà. Tôi gửi lời thăm đến chị và các cháu.

Nhớ anh nhiều

Thân

Vũ Văn Chỉ 16/1 phố Ngô Quyền, phường Ngô Quyền, Thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội.”

Còn tôi chỉ có cháu nội. Năm 2010, con trai cưới vợ. Sinh con trai đầu lòng năm 2011. Con dâu tôi đang mong sinh con gái để đủ đôi, thì năm 2015 lại sinh một bé trai nữa. mặt giống con gái hơn con trai, nhưng lại giàu nam tính hơn anh trai.

Meo va ba

Như mọi trẻ em khác, Phúc Khiêm mê đồ chơi. Hằng ngày cháu thấy ông nội cứ chơi cái máy chữ này, có khi đến hàng mấy giờ thì chắc là chơi cái máy này thích hơn các đồ chơi cháu từng đuộc bố mẹ mua cho. Một hôm cháu lén lúc ông nội nghỉ tay ra sân nhỏ tưới

Ca chua danh may chu
cây, bèn vào ghế ông chơi ngay cái máy chữ của ông. Bố cháu bắt được cảnh ấy, thu hình lại ngay mà cháu không hề hay biết.

Thấy thú vị, tôi gửi cho Vũ Văn Chỉ và Vũ Duy Giảng ở Hà Nội. Khi gửi cho Vũ Duy Giảng tôi ghi chú Ông bà xem cháu nội làm việc có chuyên nghiệp như ông nội nó không. Thì anh Giảng trả lời rất hóm hỉnh Hình như còn chuyên nghiệp hơn cả ông nội cháu. Chỉ vỗ đầu một cái là văn chương đã tuôn ra rồi.

Hai bạn Vũ Duy Giảng và Vân Anh đã gặp người đánh máy nhí này hồi vào thăm gia đình tôi. Khi tôi đang tiếp hai bạn thì mẹ con cháu vào phòng lấy đồ về nhà bà ngoại cháu. Vân Anh xem mặt cháu bảo đúng kiểu ông nội rồi. Các bạn vào còn cho quà Hà Nội bánh đậu xanh và trà, đều là Tinh hoa quà Việt. Tôi chỉ uống trà, còn bánh đậu xanh thì cháu nội nhỏ tôi thầu hết, rất thích thú, cứ Ông ơi, bánh xanh.

Tôi xưa nay vẫn có ý kính nể trẻ con hơn người lớn. Vì tôi nghĩ, một người lớn, nhất là già rồi thì họ là ai tôi cũng biết rồi, chẳng có gì phải băn khoăn. Nhưng một cháu bé thì khó biết được chúng ta đang đứng trước mặt ai đâu. Cho nên tôi luôn rất thận trọng khi đối xử với trẻ con. Bao giờ cũng nhớ lời dạy của người xưa: Con hơn cha là nhà có phúc. Nhiều bạn cứ bảo con tôi chỉ có thằng này là tôi ưng, không bao giờ nó làm trái ý tôi. Như thế, có gì hay. Trời đã sinh ra ông lại sinh ra một thằng con giống như ông thì có phải là thừa không. Ông thì có hay gì mà cứ muốn nhân bản.

Thành thật tôi nghĩ thế chẳng biết đúng hay sai.

Sài Gòn 10/6/2019.

P.T.

Giã từ cảng thân yêu Ra đi khi Cảng hết khói bom đạn: 1972 (Phần 2)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:35 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 6 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại

GIÃ TỪ CẢNG THÂN YÊU

Phạm Tôn

  1. Ra đi khi Cảng hết khói bom đạn: 1972

(Tiếp theo)

Giữa tháng 8/1972, đọc về Garaudy nhà phê bình Pháp hiện đại và đọc cả Hê-ghen nhà triết học cổ điển Đức. Phải thú thật rằng mình ham mê triết học từ tuổi 15, tư duy lôgích đối với mình thuận lợi, dễ dàng hơn tư duy hình tượng nhiều. Đó là điều thật lòng mình không muốn. Mình chỉ mong hai thứ đều mạnh ngang nhau… Về báo Nhân Dân mình sẽ có điều kiện học tập nhiều hơn. Mặc dù thế, mình sẽ cố gắng hết mức để luôn luôn gắn chặt với đời sống của cảng luôn sôi nổi, gay gắt, phức tạp… Mấy hôm rồi, ốm. Cứ mỗi lần ốm do bệnh cũ tái phát là mình lại trở về với ý nghĩ muốn sống một mình để làm việc cho khỏi vướng víu, khỏi bận bịu và đổ cái khổ cho ai

Sáng nay, mưa hai trận. Trận mưa nào cũng kèm theo báo động. Buổi trưa, báo động kéo dài hơn một tiếng đồng hồ, súng và tên lửa bắn lên rất nhiều. Chiều mới biết tin là hai máy bay Mỹ nữa rơi. Tối, có điện. Chưa kịp mừng đã vội phải tắt ngay vì báo động. Còn bây giờ, cứ luôn luôn nghe loa báo máy bay địch cách Hà Nội bao nhiêu cây số… Sốt cả ruột nhưng vẫn làm việc bình thường. Cái gì rồi cũng quen cả, con người ta lạ thật.

Tuần này, thứ hai, tư, năm và hôm nay thứ sáu đều có điện. Dư luận nói là sẽ có điện từ nay cho đến 2/9. Người thì nói là Liên Xô cho ta hai máy phát điện nguyên tử, người lại bảo là điện lấy từ Trung Quốc, dây cáp to bằng ngần này. Ở Hà Nội luôn có tin đồn kiểu như vậy. Tin giật gân nhất là: Tháng mười này là yên rồi…. Kitxinhgiơ cố vấn của Ních-xơn vừa đi miền nam Việt Nam thì ông Lê Đức Thọ nhà mình cũng từ Pari về nước. Đó là căn cứ duy nhất.

Mấy hôm nay, vẫn liên tiếp có báo động. Đêm qua, một lần báo động, bắn súng và tên lửa rất nhiều, đỏ cả trời. Một lần báo cách 20 km có máy bay: ngoại thành dạo này bị đánh luôn, có bận bom thả vào một xóm giữa đêm mưa.

Cả ngày hôm nay đi họp ở khu bàn về kế hoạch khai giảng năm học mới 1972-1973. Khó khăn có nhiều lắm, nhưng sẽ cố gắng mở đầu cho tốt đẹp, xác định thật rõ phương hướng kế hoạch để sau này, dù có vắng mình, việc học của học viên ở cảng vẫn tiến hành thuận lợi.

Trưa 22/8, trời mưa tầm tã. Mất điện. Loa khu phố chốc chốc lại báo tin máy bay địch ở hướng Đông Nam, cách Hà Nội 60, 50km. Mình lại đau chỗ ống dẫn mật. Uống kháng sinh và tự tiêm Atropin lại đỡ đau. Thiếu người nên vẫn đi làm như thường. Mấy hôm rồi, đọc Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Quần thư khảo biện của Lê Quí Đôn, rồi đọc về Ngô Thì Nhậm, Bùi Dương Lịch, đọc một loạt bài về mỹ học của ta và Liên Xô. Đó là kết quả của mấy ngày có điện của một đầu óc lười suy nghĩ độc lập. Lẽ ra phải như Lê Quí Đôn luôn bám sát đời sống, ghi chép và suy nghĩ. Cuộc sống Hà Nội bên ngoài dường như bình thường, thật ra chứa đựng bên trong một sự xao xuyến có thể sắp tới sẽ yên mà cũng có thể là một cuộc chiến tranh hủy diệt… Có chỉ thị cấm bàn bạc về hòa bình, hòa hoãn. Báo Đảng kêu gọi đừng mắc mưu hòa hoãn của địch. Các nguồn tin không chính thức cứ từ muôn ngả phun nọc độc hòa hoãn vào Hà Nội đang sản xuất và chiến đấu, không phải không có người có lúc mệt mỏi, muốn được nghỉ ngơi. Trẻ con đầy các đường phố. Diều vẫn lờ lững trên bầu trời, hoặc mắc vào các đường dây điện trong phố, phất phơ trước gió. Giáo viên Trường Trưng Vương A của em Thân đã liên hoan một bữa thật vui rồi trưa hôm qua thì chia tay. Từ nay đến cuối tháng, anh chị em sẽ lần lượt lên đường về nơi sơ tán. Trong khi đó, lớp Anh văn buổi tối em Thân học đã khai giảng được một tuần. Lại như hồi tháng tư, người Hà Nội lặng lẽ tìm hiểu địch, băn khoăn tìm cách giải quyết mọi việc của gia đình và lo cho công tác tới trong điều kiện khó khăn hơn. Trời vẫn mưa, chẳng đi đâu được, lại gặm sách thôi.

Hai hôm sau, mưa lớn suốt. Chiều hôm qua, ngớt được một lát, đêm đến lại tầm tã mưa. Khu Kim Liên anh Đại, cậu Khuê ở và nhiều đường phố đã ngập đến đầu gối… Nước các ao hồ cũng dâng cao. Nhưng, nước sông Hồng vẫn thế. Chưa năm nào sông Hồng mùa này hiền lành như thế. Rằm tháng bảy ta rồi mà ngay những con đường ven sông cũng chưa bị ngập. Bà con bảo Thế là Trời dựa dân ta rồi.

Tối hôm qua, rồi đêm hôm qua, mưa như trút nước mà máy bay địch vẫn lảng vảng ở hướng Đông Nam, cách Hà Nội có 50km. Tiếng bom nổ âm vang trong đêm mưa… Rồi máy bay còn rú lên. Báo động. Không thấy bắn phá chắc thấy động, chúng lại lảng đi.

Dạo này mưa nhiều. Chỉ có đám cành nhài mình dâm trong các thùng chế từ bình ắc qui hỏng Nguyễn Tiến Trung làm cho là phấn khởi. Tám cành thì có đến sáu cành nảy mầm rồi. Mình sẽ có một khóm hoa nhài thơm ngát, trắng và to ngay gần cửa sổ cạnh bàn làm việc ở nhà.

Đêm 24/8, không báo động một lần nào. Nhưng suốt đêm, máy bay địch cứ lởn vởn gần Hà Nội. Mưa to, ngay cả lúc mưa rất to cũng vẫn có máy bay địch hoạt động. Trong đêm vắng, tiếng loa phòng không vang lên ghê rợn. Có thể nói suốt đêm chẳng ai ngủ nổi. Sáng hôm sau đến Cảng, ai cũng bơ phờ mệt mỏi… Tuy vậy vẫn đông công nhân đến tủ sách công đoàn mượn sách. Nhất là các bạn trẻ như Phúc thợ điện. Họ mượn kịch Sếchxpia, văn Lỗ Tấn, ngay cả bộ tiểu thuyết lịch sử của Hunggari Ngôi sao thành Ê-ghe dầy cộp cũng được nhiều bạn mượn, ghi tên trước để khi có người trả sách thì mượn.

Chuẩn bị cho năm học mới lúc này thật không dễ. Định tối nay họp giáo viên và đại biểu học viên. Không có chỗ họp. Tôi gặp một giáo viên bổ túc văn hóa là kỹ sư làm thư ký cho ban giám đốc mới hỏi mượn văn phòng để họp. Anh ta từ chối ngay, sau đó lại nói sao mưa gió, tối tăm, ông lại hành anh em đi họp thế? Tôi có hành đâu, việc cần mới mời anh em họp. Còn phải họp hôm nay, vì hôm qua ông bận đi học, nên tôi phải đổi ngày. Anh ta lại nói hay là hoãn đến trưa mai… Trưa hay báo động lắm. Chậm rồi, không hoãn nữa. Này, thế thì năm nay ông cho tôi thoát nhé. Nếu ông coi đây là một việc làm khổ sai thì ông không nên tiếp tục làm. Ông xem thế nào… năm nay cho tôi… Ông đã muốn thoát thì có thể thoát ngay từ bây giờ, có gì mà phải bàn. Ông định lên lớp tôi đấy à. Những lời ông vừa nói có phải tôi được nghe lần đầu đâu. Được rồi, để… Thôi xin chào ông tôi đi báo anh em tối nay họp,… Có những thằng thật chó má như thế, công nhân nuôi nó ăn học thành nghề, lĩnh được cái lương to, ngồi chỗ mưa không đến mặt, nắng chẳng đến lưng mà nay chỉ yêu cầu nó trả lại cho công nhân một ít kiến thức văn hóa nó cũng khăng khăng không chịu. Thật là đê tiện.

Trời lại hửng nắng, bầu trời xanh ngắt, mây trắng xốp từng cụm, đứng yên. Tiếng chuông xe điện leng keng. Trẻ con chơi diều. Cây cối đẫm nước mưa lá xanh mơn mởn dưới nắng… Tiếng loa lại vang lên Đông Nam Hà Nội 80 km có máy bay địch. Nhắc đi nhắc lại ba lần…

Cuộc họp tối thứ sáu giáo viên, học viên đến rất đầy đủ. Cả thư ký giám đốc cũng đến. Họp hành cũng bàn bạc rất tích cực như không có chuyện gì xảy ra.

Tối thứ bảy, mất điện, tiền cũng hết không ra hiệu sách được, đành nằm nhà. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy cái đèn hết dầu cố bùng lên một cách yếu ớt độ mươi lần trong khoảnh khắc trước khi tàn lụi hẳn. Lại nhớ những ngày cuối cùng của anh Phạm Hồng Sơn, chắc cũng như thế…

Hôm nay chủ nhật, trời trong xanh, nắng nhẹ. Mình kê được cái bàn kề sát cửa sổ, đúng kiểu mình vẫn thích, nhìn ra khóm hoa nhài bên cửa sổ. Suy nghĩ nhiều nhưng chưa muốn bắt tay vào viết một cái gì cả vì vẫn cảm thấy tâm chưa tĩnh…. Thế mới biết Goócki đúng là tài. Những truyện rất hay lại viết vào những khi bi đát nhất, lần thì thất nghiệp, đói, lần thì sống trong một căn phòng chật chội, ẩm ướt. Quả là có bản lĩnh.

Tối chủ nhật, 27/8, vào lúc ba anh em  Đại Thành Thân đang tuyệt vọng vì chờ, anh Đại đã về nhà ở Kim Liên, thì bà và ba cháu từ Mộc Châu về. Bà, Ngọc, Hải đều gầy đi. Chỉ có bé Ánh Hồng là khỏe mạnh, nói đã khá sõi, rất nhanh nhẹn. Hôm sau, anh Đại lên, rất mát lòng mát ruột ôm con gái út vào lòng. Chiều 30/8, chị Thủy cũng về. Cả nhà sum họp vui vẻ sau nhiều tháng xa cách.

Sáng 2/9, vợ chồng cậu Khuê, mợ An và cậu Tuyên, cả hai vợ chồng em Chi, Luân con chú Hỷ cũng đến chơi. Ăn bún chả. Trò chuyện thật vui vẻ.

Cả ngày 1 và 2/9 không có báo động. Dân Hà Nội vui nhưng vẫn nói Níchxơn xảo quyệt mị dân. Ngay sau bữa ăn vui vẻ đã có báo động máy bay Mỹ lởn vởn quanh Hà Nội. Rồi tiếng súng âm vang mà mặt đất không rung chuyển có lẽ chiến đấu trên không. Các chiến sĩ không quân quyết tâm bảo vệ ngày Tết Độc lập của nhân dân.

Hôm trước, chuẩn bị cho 2/9, trang trí ở Cảng và ở nhà, đi nhiều, đứng nhiều, lại gặp hôm trở trời, cơn đau thần kinh hông to lại hành hạ mình. Hai ngày nghỉ chỉ nằm nhà, tất nhiên là lại gặm sách. Đọc xong Nhà Trên Quảng Trường của Kadakêvich, càng về cuối càng hay. Đọc ông này, bao giờ cũng kinh ngạc về sức hiểu biết sâu rộng của tác giả. Làm một nhà văn theo hiện thực xã hội chủ nghĩa thật khó khăn thay. Lại đọc Vỡ Mộng của Bandắc. Hay thì thật là hay, nhưng tốc độ chậm như rùa, đọc đến phát chán. Lười đến mức định không chép lại cả những dòng ánh sáng này. Trang 139 có hai câu rất đúng mà lại thú vị: Thì giờ là cái vốn duy nhất của những ai chỉ có trí thông minh làm của cải/ Những thành tích về văn chương chỉ đạt được trong cuộc sống ẩn mình và bằng khổ công lao động. Cả hai câu đều như ám chỉ mình, chê trách mình vậy.

Hôm nay, mình bận lắm, nhưng trưa đi làm về phải ghé báo Nhân Dân báo với Phùng về việc thu xếp buổi gặp giữa anh Thép Mới và cậu Tuyên. Dinh Ba DaoTình cờ gặp Đinh Bá Đào anh bạn thợ đúc đi chùa Hương với mình năm nào. Đào mừng rỡ nói là hôm qua cậu ta và anh Phạm Lê Văn (bút danh Thợ Rèn) có nói chuyện về mình. Kể cũng lạ. Mình bảo nói về tôi thì có gì mà nói thì Đào nói ngay, ấy ông cứ nói thế chứ, chúng tôi lại rất thú, bọn tôi rất mến… Chúng tôi, rồi lại bọn tôi, chắc là chỉ anh ta và nhà thơ trào phúng kia. Tôi nói là vẫn có gặp anh em nhà in, thì Đào lại nói rất tự nhiên cánh mình với nhau thì còn nói làm gì… Vừa lúc ấy Đỗ Quảng đến, nhắc toàn những chuyện liên quan đến bọn bán báo, càng là cánh mình hơn… Sau đó mình gặp Phạm Duy Phùng, chỉ nói nửa lời là hiểu nhau. Rồi Phùng tiễn ra tận đường Hàng Trống. Chưa về báo Nhân Dân mà đã thấy có biết bao bạn bè yêu thương, chờ đón mình trở về. Càng ngày càng thấy đúng là sắp đến ngày trở về… Trở về sau một cuộc phiêu lưu dài 13 năm.

Thep Moi Xuan Dieu Huy Can.png

Do Phùng báo, 17:00 thứ ba 5/9, mình đến gặp anh Thép Mới. Anh đã lại người, béo trắng ra, khỏe mạnh. Rồi bao giờ cũng thế, bắt đầu bằng câu Chào bạn, mời bạn ngồi… để rồi ngay sau đó, toàn là mày mày tao tao một giọng thân mật bỗ bã như ngày nào năm xưa. Cái vấn đề chính là sử dụng cái sức óc của mày cho đúng chỗ. Tao cần là cần cái thằng có chí có chí…Anh còn hỏi kỹ về sức khỏe, gia đình, công tác hiện tại… rồi nêu yêu cầu cần học nhiều tiếng nước ngoài, trong đó anh nhấn mạnh nhất là … tiếng Nhật. Thật không ngờ. Một lần nữa mình tự nhủ: Thế đấy anh bạn ạ, cố gắng chuẩn bị đến bao nhiêu vẫn chưa đủ. Cũng cảm thấy thích thú, hào hứng trước một nhiệm vụ mới không dễ dàng gì. Cái khó luôn có sức hấp dẫn riêng của nó. Anh nói rất thật, cái cách nói đơn giản, thật thà chỉ có ở những con người có bản lĩnh không hề để ý đến sự đánh giá của người khác về mình. Còn tao muốn gặp Phạm Tuyên là để nó đứng ra nói với ông Tùng (Hoàng Tùng, tổng biên tập) tránh tiếng cho tao. Tao sẽ làm appui (ủng hộ). Còn tao bảo thì anh em người ta làm thôi… Nhưng bây giờ, cái gì nó cũng phiền lắm. Anh bảo mình liên hệ với bên Đài, hỏi xin học lớp tiếng Nhật mà hình như họ có mở, thậm chí xin nghỉ việc một thời gian mà học… Cuối cùng, anh đưa cho tôi tạp chí Le Journaliste Démocratique (Nhà báo dân chủ) bảo dịch bài L’aventure De L’Information (Cuộc phiêu lưu của tin tức) của một nhà báo Bra-din, còn nhấn đi nhấn lại là bài khó đấy. Mình định dịch miệng ngay thì anh bảo đem về nhà mà dịch cho cẩn thận.

Tối đó, về nhà dưới ánh đèn dầu mình đứng ngay cạnh cái tủ nhỏ, tì tay lên mặt tủ và viết. Trẻ con nô đùa cãi nhau ầm ĩ. Sáng hôm sau, độ 4 giờ đã dậy, dịch tiếp rồi đi làm. Buổi trưa, đến cậu Nguyễn Thế Khang em vợ họa sĩ Nguyễn Cát Tường (Lemur) ở Triệu Việt Vương nhờ tra mấy chữ khó. Đến chữ Beatle thì cả hai cậu cháu đều chịu, không từ điển nào có. Thời ấy ở nước ta mấy ai biết đến nhóm nhạc tứ quái lừng danh này. Cấm vận mà. Đành tạm dịch là các thứ như Beatle, người đọc muốn hiểu thế nào thì hiểu. Cậu Khang mới 50 tuổi mà bạc trắng mái đầu, ham học hỏi, nay đang làm nhân viên sở bưu điện Hà Nội. Cậu thường dạy các lớp ngoại ngữ mà cơ quan yêu cầu. Tiếng Anh, Pháp tất nhiên, tiếng Trung Quốc mà cậu ham thích chữ nho từ nhỏ, rồi tiếng Đức, Tây Ban Nha, Nga. Tôi hỏi có cả những thứ tiếng tôi biết là cậu chưa học bao giờ cả, tại sao lại dạy được, cậu cười, phải nhớ câu Học trò không bao giờ học hết được chữ của thầy. Muốn dạy thứ tiếng nào, mình tìm sách học trước mấy bài rồi dạy. Các lớp cơ quan mở có khi nào thọ mà lo…

Bốn giờ sáng thứ hai 11/9/1972 em Thân đưa gia đình cô Vũ Thị Trang là người yêu đi sơ tán. Mấy hôm nay, Hà Nội lo ngại thằng Níchxơn sẽ làm liều trước khi bàn giao quyền để chuẩn bị bầu cử. Nhưng là lo kiểu người Hà Nội thời ấy: Họ sẽ chỉ đi sơ tán ngắn ngày, từ nay đến 15/9 thôi (?). Trưa hôm qua, máy bay địch quần thảo riết. Đêm cũng lởn vởn mãi. 4:20 hôm nay lại Đông Nam Hà Nội cách 30km có máy bay địch. Mẹ mình và các cháu sẽ đi sơ tán ở… nhà dì Hỷ 47 Lò Sũ. Dì sang Trung Quốc thăm chú đang chữa bệnh bên đó. Nhà dì ba tầng kiên cố, lại có cái hầm to, chắc chắn do nhà nước xây.

Sáng hôm qua, mình đang học tiếng Nhật trong quyển sách cậu Khang cho mượn, thì em Đặng Vũ Minh, con dì, mang về bộ Nhật – Nga đại từ điển 10.000 từ, em lấy ở thư viện Viện Vật lý nơi em làm việc. Đổi lại, mình đưa ra sách học tiếng Pháp, Đức, Minh sướng mê, hai anh em có ngay một hiệp ước tương trợ và bảo vệ sách. Thật tuyệt vời khi có một người em cùng chí hướng.

Trưa 11/9, báo động liên tiếp. Còi báo an vừa ngớt lại báo động. Tên lửa Mỹ bắn xuống ngõ phố Bà Triệu, sập một tầng gác, bốn người bị thương nặng. Bom thả xã Thạch Bàn (Gia Lâm) có gia đình mất cả ba cháu nhỏ đã vào hầm trú ẩn nhưng bị bùn đất lấp, chết ngạt. Suốt đêm, máy bay cứ lởn vởn quanh Hà Nội. loa khu phố đều đặn báo tình hình hoạt động của máy bay địch, chủ yếu là hướng Đông Nam và Nam. Chú Nguyễn Tiến Trung thợ rèn đi học về, đến nhà mình ăn cơm và ngủ lại. Mỗi tuần chú học ba tối đang mong tăng lên bốn buổi cho mau hết chương trình cấp ba. Mỗi lần đi học, chú phải từ xưởng về khu sơ tán ở tận Thanh Trì tắm rửa, lấy sách vở rồi đến trường ngay mới kịp giờ học. Hôm nào học cũng phải nhịn đến đêm về mới ăn. May là chú thợ rèn rất khỏe.

Sáng 12/9, ở nhà vẽ tranh trình bày ở câu lạc bộ ba hôm nữa. Toàn vẽ biếm họa ở câu lạc bộ hội họa khu Hai Bà Trưng. Loại tranh này nay đâu cũng cần, nhất là các xí nghiệp công trường.

Buổi trưa, vẫn báo động liên tiếp, ba anh em Đại, Thành, Thân cùng đến địa điểm sơ tán nhà dì ăn cơm mẹ nấu. Đọc Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi của Nguyễn Tuân, cầu kì quá, nhưng cũng rất thú vị.

Lâu nay, thành ra mình có thói quen dậy rất sớm, cứ khoảng ba, bốn giờ là dậy, rồi thức luôn đến sáng. Những lúc ấy, mình cứ nằm suy nghĩ. Nghĩ ra được những điều rất thú vị, rất rõ ràng, những ý nghĩ hoàn toàn là của mình, đó là điều quan trọng nhất. Nhưng tiếc là do lười mà không ghi lại rồi cũng quên mất, thật là tiếc… Thế là từ nay, cứ tỉnh là dậy làm việc ngay, ghi chép ngay… Một phần thưởng cho những buổi dậy sớm là được hít thở không khí trong lành, ngắm bầu trời thăm thẳm lóng lánh muôn con mắt sao xanh biếc. Và yên tĩnh… Tất nhiên chỉ được một lát… Bao giờ cũng có tiếng xe đạp đi, hơn ba giờ thì có tiếng xe ngựa chở hàng, thỉnh thoảng có tiếng trẻ con khóc, và bây giờ bốn giờ rồi đã có tiếng xích lô đi, xe nhẹ chưa chở người, hàng nên nhiều bộ phận rung lên lọc xọc, chuông xe điện, tiếng bánh xe nghiến trên đường sắt, những con gà thức giấc đầu tiên đã rủ những con khác đua nhau gáy rộn lên lẫn trong đó là tiếng đồng hồ báo thức, tiếng thùng gánh nước va chạm vào nhau, càng nhiều tiếng xe đạp đi qua, bắt đầu có tiếng người nói, thường là người ngồi trên xe nói với người đạp xích lô. Người Hà Nội muốn kéo dài ngày lao động của mình ra được tí nào hay tí ấy để đề phòng thằng khốn Níchxơn nó quấy phá. Lại có tiếng đồng hồ báo thức reo dài quá, đến hết cót mất. Chắc là chủ nó, một thanh niên suốt ngày hôm trước đã làm việc quá nhiều. Bỗng có tiếng hát rất êm Chào sông Mã anh hùng phát ra từ một chiếc rađiô bán dẫn của ai đó đi xe đạp qua nhanh. Một cụ già ho và một cháu bé dậy sớm bi bô nói chuyện. Bốn giờ mười rồi. Giờ buổi sáng sớm là quí nhất sẽ chỉ dùng để viết, ghi chép. Còn đọc thì rải rác trong ngày, các buổi tối sẽ học, học và học. Mai sẽ viết như đã định. Viết cái nào đã nghĩ kỹ hơn cả. Có lẽ là Hát chăng…

Đang lo về sách học tiếng Nhật thì chợt nhớ ra có lần lại nhà Nguyễn Đức Hoan ở Lò Sũ lục sách cũ do bố cậu ta để lại. Hai đứa đã rũ ra cười khi thấy một lô sách tiếng Nhật. Hôm nay đến gặp Hoan, cậu ta tìm ngay cho mình hai tập Từ điển Pháp Nhật dầy, rồi cả Hán – Anh – Pháp – Nga. Hoan thật chí tình. Có cái gì tôi sẽ đưa ông hết. Đối với ông tôi không tiếc một cái gì. Còn hẹn tìm từ điển Nhật- Pháp đó mới là sách mình cần. Hoan học với mình cho đến hết cấp hai. Khi tiễn, còn cho một con dao nhỏ để… gọt bút chì khi học.

Nóng, cởi trần mà vẫn đầm đìa mồ hôi. Đèn dầu lại càng nóng. Em Minh đưa mình chìa khóa buồng em ở gác ba, có sân con nhìn xuống đường Lò Sũ. Thế là có thể thực hiện kế sách một chốn đôi nơi, có chỗ để tha hồ làm việc mà mình yêu thích suốt đời. Không biết có làm nên chuyện gì không.

Tối thứ ba 19/9/1972, mưa, nhớp nháp… Đang là cơn mưa thứ tư trong ngày. Sáng nay, mưa rất to. Đường xá lâu ngày không mưa bụi dầy lên, nay thành phủ đầy bùn bẩn. Dịp này Hà Nội đang chú ý đến việc ta phóng thích ba giặc lái Mỹ, có mẹ, vợ và đại biểu nhân dân Mỹ sang tận Hà Nội đón ba tên. Trong khi đó, tội ác của giặc mới gây ra gần đây ở phố Bò Gia Lâm và nhất là vụ thảm sát cực kỳ dã man tại trường Đại học Xây dựng ở Hương Canh đang gây những xúc động lớn, người người căm giận. Dạo này Hà Nội trưa nào cũng có báo động, báo động đã nhiều lại thường kéo dài, có lần hơn một giờ đồng hồ, đến nỗi nhiều người nhầm tưởng là đã hết báo động rồi, vội vã đi làm.

Trong tình hình mới, mình ở lại 47 Lò Sũ tất cả các buổi trưa để học. Tối thứ bảy, cũng ngủ lại ở buồng em Minh để có thêm một tối có điện. Tối chủ nhật, thứ hai làm việc ở nhà. Thế là được ba tối có điện. Nói chung dạo này chỉ tập trung học tiếng Nhật. Hoàn toàn tự mầy mò lấy cứ mỗi ngày mỗi vỡ ra một chút nên ham lắm. Lại thêm nhiều người quen nữa hẹn cho mượn sách tiếng Nhật. Người ủng hộ nhiều. Chỉ có mình là hơi dở. Đau bụng, có lẽ do gan. Có lúc đi ngoài ra khá nhiều máu, mắt thì đã nhìn thấy ruồi, chiều lại hay hâm hấp sốt. Bắt đầu uống rượu cao ban long do cô láng giềng nhờ mua giúp, cũng khá chăm tập thể dục. Nhưng đụng vào cái chữ Nhật, một lần nữa lại thấy càng phải sống thật lâu mới mong làm được một chút gì cho đời.

Cửa sổ cạnh bàn làm việc ở nhà, cây hoa ngôi sao đỏ đem từ Tây Bắc về đã bắt đầu leo vào song sắt và ra hoa nhỏ xinh.

4:30 ngày thứ ba 26/9, đèn dầu nhỏ lại rọi sáng trang nhật ký này. Hôm qua đã cắt điện. Từ tuần này, mỗi tuần chỉ có điện một ngày. Hà Nội tuần này yên ắng . Hầu như không có báo động… Thứ tư và thứ năm tuần trước, mình đi báo cáo thực tế ở một hội nghị tuyên giáo về tủ sách công đoàn và các lớp học bổ túc văn hóa trong giai đoạn mới. Hai lần được xem phim. Chỉ là phim thời sự, tài liệu thôi mà thích quá. Gần nửa năm không xem phim rồi còn gì. Lần đầu, đang xem thì thấy có tín hiệu đèn xanh lơ ở hai bên màn ảnh nhấp nháy 7 lần. Thế là biết có máy bay cách Hà Nội 70km. Nếu có báo động, sẽ bật đèn đỏ. Hôm sau, đang xem phim, máy bay địch lồng lộn thì ngồi ngay trong rạp vẫn nghe thấy tiếng gầm rú trên trời.

Chuyện về báo Nhân Dân hoàn toàn chẳng biết đã đến bước nào rồi.

Ở cảng mình kiêm thêm rất nhiều việc. Đời sống văn hóa của công nhân nghèo nàn quá, nhất là những đoàn đi công tác xa.

Chiều 29/9, đến câu lạc bộ nghe họa sĩ Văn Giáo nói chuyện, càng củng cố thêm quyết tâm hiến dâng đời mình cho văn học nghệ thuật. Trên đường về, tự nhiên muốn gửi cho cô bạn nhỏ một lá thư như sau:

Đã lâu lắm rồi không gặp. Có nhiều lần cố ý đi qua nhà, nhưng rồi lại không vào. Vì nếu gặp thì không thể không nói thật tất cả mình đã làm gì, nghĩ gì trong những ngày qua… Và lập tức bạn sẽ cau mày lại mà nói rất rõ ràng (lần thứ 100) là sao anh phân tán sức lực thế. Mà “tội lỗi” của mình thì nhiều: – Học tiếng Đức, Tây Ban Nha và học cả Nhật nữa. Tất nhiên không dám buông những thứ đã học. – Dịch tài liệu về nghiệp vụ báo chí của Bradin – Tham gia câu lạc bộ vẽ của khu phố vẽ tranh biếm họa – Đọc Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục, Kịch thơ của Huygô, Vỡ Mộng của Bandắc, Điều khiển học, Nhà trên quảng trưởng… Đèn dầu, nhiều hôm bị cháy tóc vì chữ trong sách nhỏ quá, có tối cháy tóc đến hai lần. Mắt phải đã nhìn thấy ruồi. Đây là những việc ngoài giờ làm việc. Thế đấy. Có điều lại khỏe ra, ai gặp cũng bảo thế… Thật lòng, mình coi cô em là bạn. Dù sai, dù đúng, chúng mình bao giờ cũng thành thật. Đó là đức tính mình quí nhất… Không hiểu bạn nghĩ sao? Rất mong được nhận thư, càng dài càng tốt. Còn mình thì bạn biết rồi đó. Viết ngắn. Mong bạn khỏe, chăm học. A.T.

20:10, em Đặng Vũ Minh về. Hai anh em nói chuyện rất ý hợp tâm đồng. Cố tìm cách thu xếp cuộc sống để dành được nhiều tinh lực nhất, nhiều thời gian nhất để nghiên cứu, học tập.

4:30 gác ba nhà 47 Lò Sũ, đèn dầu. Trời trở gió lạnh, không ngủ được. Sờ tay đụng cái đài bán dẫn của em Minh, đang là phần ca nhạc dành cho các thành thị miền Nam. Tuổi xanh ta đi phơi phới, bạn thanh niên ta ơi. Sao mà thèm những chuyến đi xa. Nhớ những chuyến đi xa, nhớ người hay đi xa… Đài báo bão và gió mùa Đông Bắc. Hạ hơn 3900 máy bay giặc rồi, cả miền Bắc có vẻ sẵn sàng hạ đến chiếc thứ 4.000.  Mình thì vẫn lười quá, chỉ có học, không chịu viết gì cả. Điều kiện để viết thì thuận lợi hết mức rồi. Chính trong khi rèn mà người ta trở thành thợ rèn. Tục ngữ Pháp nói thế. Cũng chưa phải lúc để nói là mình không có chút khả năng gì về văn học. Trong khi đó, tin chắc là cô bạn mê sách vẫn viết, lại viết rất nhiều.

Buổi trưa đi làm thì gặp chú thợ điện. Chú cho biết cô bạn mê sách sắp chuyển công tác. Thế là vội chép lại cái thư ghi sẵn trong nhật ký, gửi đi. Buổi tối, qua phòng anh ruột Minh, thấy có cuốn Nữ tu sĩ của Điđơrô mà mình cố công tìm lâu nay. Cơm xong là đọc ngay. Sáng hôm sau, đọc xong trước khi đi làm. Đây là một lời tố cáo mãnh liệt, một lời kêu cứu khẩn cấp khủng khiếp, tác giả đã viết bằng cả khối óc sáng suốt và trái tim nóng bỏng, đầy ưu ái của mình. Tác phẩm in lần đầu sau khi tác giả qua đời khá lâu.

Tối nào cũng vậy, mình đứng trên căn gác ba này nhìn xuống đường Lò Sũ cũng thấy một tốp công nhân hò nhau đẩy một cái phao sắt làm cầu kê trên những con lăn đi qua trước mặt nhà ra phía bờ sông. Ánh lửa hàn hắt lên xa xa phía cầu Long Biên vừa bị địch đánh đứt. Sáng dậy thật sớm, cũng thấy ánh lửa hàn lóe lên phía ấy, cứ từng đợt, từng đợt soi sáng những dám mây trắng trên bầu trời đêm, làm đám mây trời cứ khi ẩn khi hiện, thật sống động. Chắc chắn là khi mình ngủ thì vẫn rất nhiều người đang làm việc, tranh thủ từng phút từng giây mà làm việc.

Ngày hôm sau, báo động rất nhiều, trái hẳn với hôm kia, hôm kìa, thật êm ả. Sáng nay, 4:00 có báo động ngắn. Ánh lửa hàn phía cầu vẫn sáng, hắt ánh lóe lên trời mây.

Chín giờ sáng ngày 6/10 thì nhà được tin chú Đặng Vũ Hỷ mất tại Quảng Châu Trung Quốc ngày 4/10. Cả nhà tập trung chuẩn bị tang lễ tại nhà, bận và buồn. Mình vẫn ở gác ba, buồng em Minh, căn buồng sáng duy nhất trong tòa nhà ba tầng, tám buồng, mài đá granitô đỏ/trắng… nhưng đã có những vết nứt sâu, bị lún nhiều chỗ…

Đọc Nổi dậy của Nguyễn Thái Bình trên báo Nhân Dân của Thép Mới (ký bút danh Phượng Kim).

Bác Hồ nói Trường đại học của tôi là đấu tranh. Trường đại học của tôi là đời sống. Mình cũng đang học trường đại học đó thôi. Hằng ngày vẫn học tiếng Nhật, ngày ít nhất cũng ba tiếng. Hôm nọ mượn được tờ Akahata của Đảng Cộng sản Nhật, khổ là không có từ điển trừ quyển Minh đem về, lại là tiếng Nhật ra tiếng Nga là tiếng mình không biết chút nào.

Bài báo của nhà báo Bradin Cuộc phiêu lưu của tin tức do mình dịch đưa anh Thép Mới thì Phạm Duy Phùng cho biết là rất được mọi người ở cơ quan báo tìm đọc và khen ngợi. Mình chưa về mà ở báo Nhân Dân đã có đến ba ban mong được nhận mình… Trong khi đó, mình vẫn ở  Cảng, làm đủ mọi việc ai cũng làm được, nhưng mất rất nhiều thời giờ và sức lực.

Anh Thép Mới cứ hẹn, rồi bây giờ thì anh lăn ra ốm, lại đi an dưỡng.

Thứ ba, ngày 14/11/1972, mình ngồi trong trụ sở công đoàn Cảng là cái nhà tranh nhỏ dựng trên nóc một lô cốt cũ của Pháp ngay trên đê ven sông Hồng mà nhớ lại… Đúng vào lúc mình và cả Phùng nữa đều cảm thấy chán nản vì mòn mỏi chờ đợi việc mình về lại báo Nhân Dân, thậm chí bặt hẳn tin như không còn gì thì ngày 2/11, anh Thép Mới hẹn gặp cậu Tuyên và ngày 4/11 mình đến cơ quan báo làm lý lịch. Trưa 7/11, anh Thép Mới ghé nhà mình lấy giấy cậu Tuyên viết bảo đảm. Hình như chiều hôm ấy có họp để xét tuyển dụng. Nhưng đến bây giờ, lại một đợt yên ắng thứ hai.

Pham Tuyen di tham chien truong dien bien phu

Thu ong Tuyen gioi thieu bo vao bao nhan dan

Thu ong Tuyen gioi thieu bo vao bao nhan dan phan cuoi

Phần đầu và cuối lá thư Phạm Tuyên gửi Ban Biên tập báo Nhân Dân

Phạm Tuyên

Đài TNVN                                                                               Hà Nội ngày 4/11/72

                        Kính gửi Bộ biên tập Báo Nhân Dân,

Được biết các đ/c ở bên báo Nhân Dân đang tìm hiểu về anh Tôn Thất Thành để định chuyển về công tác tại tòa soạn, tôi xin phép được giới thiệu thêm với các đ/c về anh Thành. Tôi là cậu ruột của Thành, biết được quá trình phấn đấu của Thành, nên cũng mong muốn thành được về công tác ở một môi trường như bên báo, có điều kiện để rèn luyện và phát huy khả năng biên tập nhiều hơn…

 Là một Đảng viên công tác trong ngành tuyên huấn, tôi thấy có thể bảo đảm việc Thành về công tác ở bên báo sẽ làm được tốt nhiệm vụ mà các đ/c sẽ giao cho. Công việc có thể có nhiều bỡ ngỡ khó khăn đối với Thành nhưng tôi tin rằng Thành có thể phấn đấu và khắc phục được.

Vậy xin mạnh dạn giới thiệu với các đ/c. Các đ/c cần hỏi gì thêm, xin nhắn cho tôi được biết (gọi điện về Đài TNVN: 4134). Rất mong các đ/c giúp đỡ cho Thành được sớm chuyển về môi trường thích hợp mà anh ấy rất tha thiết.

Kính thư,

Phạm Tuyên

Ban biên tập Văn nghệ

Đài TNVN

Vẫn chưa có gì thay đổi. Mình vẫn ngày ngày đến Cảng, làm việc không cần đến một phần trăm năng lực thật của mình. Giai đoạn này lại là giai đoạn cảng đang xuống dốc. Người nói xuông rất nhiều, người làm được rất ít, tổ chức rất cồng kềnh, trận địa tư tưởng hầu như bỏ trống… Hôm 13/11 bắt đầu lan truyền trong Cảng tin về vụ Từ Văn Thơm một thanh niên công nhân bị đập chết tại Gia Lâm. Trưa lại có tin Nguyễn Văn Tiến một cán bộ trẻ, tốt nghiệp trung cấp ủy viên chấp hành đoàn cắt cổ tự tử tại nhà riêng. Toàn ban lãnh đạo mới của Cảng ngã ngửa ra. Vụ Từ Văn Thơm cách đây hơn một tháng, vụ Nguyễn Xuân Tiến đang bày ra trước mắt. Không ai dám tin đó là sự thật.

Ai sống ở cảng này lâu thì đều nghĩ chẳng qua đó là những ung nhọt đã nung mủ từ lâu nay mới vỡ ra trên một cơ thể ốm yếu từ lâu rồi. Còn biết bao ung nhọt khác đang chờ ngày vỡ. Cảng này cần một cuộc đại phẫu tổng thể không phải chỉ là chữa chạy vá víu qua loa mà được. Nếu không, sẽ còn rất nhiều người là nạn nhân.

Tối 23/11/1972, vừa đưa cháu Hà đi chơi về thì gặp Phùng và một bạn cùng ở báo Nhân Dân đang chờ ở nhà. Anh Thép Mới bảo Phùng đến báo mình chuẩn bị bàn giao công việc ở Cảng. Tháng 12 về báo.

Cái tin mình hằng mong đợi đã đến đơn giản và nhanh chóng như vậy ư? Cuộc đời mới, cuộc đời thật sự của mình, cuộc đời mà mình sẽ dốc hết sức lực, tinh thần, tình cảm để phục vụ nhân dân, Tổ quốc lại bắt đầu đơn giản, gấp gáp thế này ư?

Tối thứ bảy 2/12/1972, đọc Bà Marie Curie  của Eve Curie, có đoạn này: Nhân loại hẳn là cần có những người có đầu óc thực tế. Họ luôn luôn cố đạt được nhiều nhất về công việc của họ và biết giữ gìn quyền lợi bản thân mà không quên lợi ích chung. Nhưng nhân loại cũng cần những người biết mơ mộng, những người biết say sưa mà vô tư theo đuổi một sự nghiệp lớn đến nỗi họ không thể bận tâm đến những quyền lợi vật chất của bản thân mình.

Rõ ràng là những người như vậy không thể giàu được vì họ không muốn giàu.

Ngày hôm nay, suốt các buổi phát thanh đều có phổ biến lệnh triệt để sơ tán khỏi Hà Nội, khỏi cả những trọng điểm khác ở ngoại thành. Trước ngày 4/12.

Các thủ tục chuyển về báo Nhân Dân của mình cơ bản đã xong. Công lớn thuộc về phó trưởng phòng tổ chức Trần Tiến đeo kính cận đổi màu, suốt bao ngày nắng, mưa đạp xe từ 71 Hàng Trống xuống tận Cảng ở dốc Vĩnh Tuy hơn sáu cây số để thương thảo. Chỉ còn chờ giấy tờ chính thức.

Hôm nay, biết chắc thế mình mới dám đi từ giã anh em công nhân, thăm gia đình bác Sán, bà mẹ Rosa. Vào nhà bà, tình cờ gặp chú thợ điện nay đã là con rể. Chú cho biết cô bạn mê sách đang xin chuyển sang làm hộ lý ở Quân y viện 108. Cũng nghe nói là có vài mắc míu với cơ quan về một vài đoạn trong một vài bài viết…. Cảm thông với cô bạn có chí, giàu lòng tự trọng. Thật khổ tâm, đời mình Tran Tien bao nhan dantạm ổn thì lại đến cô bạn gặp sóng gió. Biết làm sao…

Nhất định không được sống một cuộc đời dễ dàng, tầm thương… Phương châm của mình bao giờ cũng vẫn là Mỗi người sống trên đời này là để cho cuộc sống của những người khác thêm tươi đẹp. Xem ra, có vẻ khắc khổ, nhưng thật ra từ ngót 20 năm nay đó đã là nội dung chủ yếu của cuộc đời mình.

Chủ nhật 3/12, tôi đến nhà cô bạn nhỏ. Mặc dù hôm trước chú thợ điện đã cho biết là cô đang đi công tác. Cửa sổ ở cái buồng con trên gác hai ấy mở, phơi một cái áo màu lá cây đã bạc. Vội vã lên nhưng cửa khóa, mình bỏ cái giấy nhỏ hẹn tối đến. Còn nửa giờ nữa mới đến giờ hẹn, mình đã ở trước cửa buồng. Cô bạn cùng cô Huệ và một anh bạn Huệ đang nói chuyện. Nghe gõ cửa, cô bạn ngó ra khe cửa mở hé, hơi ngỡ ngàng, rồi niềm nở mời vào. Cô mặc áo xanh hoa, đầu còn chít khăn san xanh, tươi tắn hơn hẳn mọi khi dưới ánh đèn vàng.

(còn nữa)

P.T.

Tháng Sáu 5, 2019

Trên quê hương yêu dấu (kỳ 1 tháng 6)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 6 năm 2019.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 29/5/2019:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Vương quốc Thụy Điển

Chiều 28-5 (giờ địa phương), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam rời thủ đô Xtốc-khôm lên đường về nước, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Vương quốc Thụy Điển.

Thu tuong Nguyen Xuan Phuc tham Thuy Dien

* Trước đó, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Vương quốc Thụy Điển, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc gặp Chủ tịch Quốc hội Thụy Điển A.No-len. Chủ tịch Quốc hội Thụy Điển đánh giá cao chuyến thăm Thụy Điển đầu tiên của Thủ tướng Việt Nam kể từ năm 1999, nhất là trong bối cảnh hai nước đang có những hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục… kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Thụy Điển.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, chuyến thăm Thụy Điển của Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam đúng vào dịp kỷ niệm lớn này nhằm thể hiện sự trân trọng đối với sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu mà nhân dân Thụy Điển đã dành cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng phát triển đất nước sau này. Nhân dân Việt Nam luôn gìn giữ những tình cảm quý báu đó, coi đây là một tài sản vô giá của mối quan hệ Việt Nam – Thụy Điển. Thủ tướng đánh giá cao sự đóng góp của Quốc hội Thụy Điển cho sự phát triển quan hệ hai nước trong thời gian qua và mong muốn Quốc hội hai bên tiếp tục trao đổi, hợp tác, hỗ trợ triển khai những thỏa thuận và định hướng hợp tác mới giữa hai nước. Thủ tướng mong muốn Quốc hội hai nước xem xét thành lập Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam – Thụy Điển, góp phần thúc đẩy hợp tác giữa hai Quốc hội.

Thủ tướng đã thông báo với Chủ tịch Quốc hội Thụy Điển nội dung hội kiến với Nhà vua và kết quả hội đàm với Thủ tướng Thụy Điển X.Lốp-ven, cho biết hai bên đã thống nhất nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy quan hệ song phương phát triển sâu rộng hơn trên tinh thần đối tác cùng có lợi. Thủ tướng đồng thời bày tỏ mong muốn Chủ tịch Quốc hội A.No-len và Quốc hội Thụy Điển tiếp tục tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt Nam tại Thụy Điển sinh sống làm ăn ổn định, hòa nhập tốt với sở tại, duy trì bản sắc văn hóa dân tộc, qua đó phát huy vai trò cầu nối thúc đẩy tình hữu nghị, sự hiểu biết và gắn kết giữa hai nước, hai dân tộc.

Chủ tịch A.No-len nêu rõ, Quốc hội Thụy Điển ủng hộ và sẽ nỗ lực thúc đẩy để có thể sớm ký và phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên hiệp châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Liên hiệp châu Âu và Việt Nam (EVIPA) vì đó là lợi ích của tất cả các bên; cho rằng việc ký kết Hiệp định quan trọng này sẽ tạo động lực mạnh mẽ để thúc đẩy hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia thành viên EU, trong đó có Thụy Điển. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chuyển lời mời thăm Việt Nam của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đến Chủ tịch Quốc hội A.No-len. Chủ tịch Quốc hội A.No-len đã vui vẻ nhận lời.

* Trong khuôn khổ chuyến thăm, sáng 28-5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam tham quan một số mô hình công nghệ hiện đại hàng đầu Thụy Điển và thế giới của hai công ty: Stockholm Exergi và hãng viễn thông Ericsson. Stockholm Exergi là công ty uy tín của Thụy Điển và châu Âu trong lĩnh vực chuyển hóa năng lượng, tái chế chất thải bảo vệ môi trường. Doanh nghiệp này hiện đã nghiên cứu và ứng dụng thành công chuỗi mô hình công nghệ chuyển hóa năng lượng từ rác thải và được sử dụng hiệu quả tại thành phố Xtốc-khôm – thành phố được Liên hiệp châu Âu (EU) phong tặng là thủ đô môi trường đầu tiên của thế giới vào năm 2010. Công ty Stockholm Exergi cũng bày tỏ mong muốn sẵn sàng hợp tác với các doanh nghiệp, địa phương của Việt Nam, nhất là Thủ đô Hà Nội để chuyển giao những công nghệ mới nhất về chuyển hóa năng lượng từ nguồn tái tạo, tái chế; qua đó góp phần làm trong sạch môi trường thành phố.

Tiếp đó, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đã tới tham quan mô hình công nghệ 5G tại Tập đoàn viễn thông Ericsson. Tại buổi đón tiếp, lãnh đạo Ericsson đã giới thiệu với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc những công nghệ tiên tiến nhất về 5G, in-tơ-nét vạn vật (IoT), tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và điện toán biên (Edge Computing); đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của những công nghệ này đối với Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với quá trình số hóa và chuyển đổi ngành công nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực sản xuất thông minh.

Phát biểu ý kiến tại các nơi đến thăm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao thành tựu nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ hiện đại bậc nhất Thụy Điển và thế giới của Stockholm Exergi và Ericsson; cho rằng đây là những mô hình công nghệ có tính ứng dụng cao để Việt Nam tham khảo, hợp tác. Thủ tướng khẳng định, Chính phủ và các cơ quan chức năng của Việt Nam sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Thụy Điển đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.

Cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng Giám đốc điều hành Tập đoàn Ericsson đã chứng kiến lễ ký kết “Thỏa thuận hợp tác Đổi mới sáng tạo công nghệ 4.0 và in-tơ-nét vạn vật” giữa Ericsson và Tập đoàn VNPT.

* Nhân dịp thăm chính thức Thụy Điển đúng dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, tối 27-5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam có cuộc gặp mặt các nhà ngoại giao, chuyên gia Thụy Điển, Ban Chấp hành, Ủy ban Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia, bạn bè Thụy Điển tại Thủ đô Xtốc-khôm. Đến dự buổi gặp mặt, về phía Thụy Điển có bà B.Đa-lơ, nguyên Chủ tịch Quốc hội Thụy Điển; ông A.Phót-bơ-xơ, nguyên Tổng Thư ký Quốc hội Thụy Điển cùng các vị Đại sứ, cựu Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam, các quan chức và cựu quan chức ngoại giao Thụy Điển; các thành viên Ủy ban Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia. Đặc biệt buổi gặp gỡ có sự hiện diện của hai người con của cố Thủ tướng Ô.Pan-mơ, người bạn lớn của nhân dân Việt Nam.

Phát biểu ý kiến tại buổi gặp mặt, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ xúc động được gặp gỡ những chuyên gia, người bạn Thụy Điển của nhân dân Việt Nam; cảm ơn những tình cảm nồng ấm của những người bạn Thụy Điển đã dành cho Thủ tướng và Đoàn. Thủ tướng cùng các đại biểu đã ôn lại lịch sử 50 năm trước, khi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đang ở giai đoạn cam go nhất, nhân dân, bè bạn khắp năm châu đã xuống đường tuần hành ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Trong các nước phương Tây, Thụy Điển nổi lên như một tấm gương sáng chói về tình đoàn kết vô tư, nhiệt thành với Việt Nam và là nước phương Tây đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, luôn đồng hành cùng Việt Nam qua những giai đoạn thăng trầm lịch sử nửa thế kỷ qua.

Đánh giá cao sự phát triển tốt đẹp trong quan hệ hợp tác hai nước thời gian gần đây trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng vui mừng thông tin về thành công của cuộc hội đàm với Thủ tướng Thụy Điển X.Lốp-ven, trong đó hai bên đã thống nhất nhiều biện pháp tiếp tục thúc đẩy quan hệ song phương lên tầm cao mới. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ tin tưởng các kết nối đối tác hai bên sẽ góp phần thúc đẩy hợp tác thương mại – đầu tư, đón đầu cơ hội mới do EVFTA sắp được ký kết mang lại. Nhân dịp này, Thủ tướng bày tỏ cảm ơn sự ủng hộ của Chính phủ, doanh nghiệp và những người bạn Thụy Điển đối với sự phát triển quan hệ hợp tác Việt Nam – EU. Trong không khí thân mật, thắm tình hữu nghị, những người bạn Thụy Điển và Đoàn cấp cao Việt Nam khẳng định sẽ mãi mãi gìn giữ, kế thừa và phát huy tình hữu nghị truyền thống mà các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước đã cùng dựng xây, vun đắp.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 25/5/2019:

Chủ tịch Quốc hộ Cam-pu-chia Xăm-đéc Hêng Xom-rin và Phu nhân thăm chính thức Việt Nam

Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Ðoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Vương quốc Cam-pu-chia do Chủ tịch Quốc hội Xăm-đéc Hêng Xom-rin dẫn đầu và Phu nhân hôm nay đến Hà Nội, bắt đầu thăm chính thức nước ta.Heng Xam Rin

Tham gia Ðoàn cấp cao Quốc hội Cam-pu-chia có: ông Che-ang Vun, Chủ nhiệm Ủy ban Ðối ngoại, Hợp tác quốc tế, Thông tin và Truyền thông, Phó Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Cam-pu-chia – Việt Nam, Ðại biểu Quốc hội tỉnh Bát-tam-bang; bà Ban Xrây-mom, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Giáo dục, Thanh thiếu niên, Thể thao, Tôn giáo, Văn hóa và Du lịch, Ðại biểu Quốc hội tỉnh Pai-lin; ông Keo Pi-xệt, Thư ký Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, Chánh Văn phòng của Chủ tịch Quốc hội, Thành viên Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Cam-pu-chia – Việt Nam, Ðại biểu Quốc hội tỉnh Tbong Khmum; ông Xa Cham-rong, Thư ký Ủy ban Nhân quyền, dân nguyện, điều tra và quan hệ giữa Quốc hội và Thượng viện, Ðại biểu Quốc hội tỉnh Cra-ti; ông Thong Vo-liếc, Ðại biểu Quốc hội tỉnh Prây Veng; ông Bu Lam, Ðại biểu Quốc hội tỉnh Ra-ta-na-ki-ri; ông Leng Peng Long, Tổng Thư ký Quốc hội. Cùng đi có ông Prạ Nguôn Hông, Ðại sứ đặc mệnh toàn quyền Vương quốc Cam-pu-chia tại Việt Nam, cùng nhiều quan chức khác.

Chủ tịch Quốc hội Hêng Xom-rin sinh ngày 5-5-1934. Ông tham gia cách mạng từ năm 1959 và đã giữ các vị trí công tác quan trọng trong quá trình hoạt động cách mạng và trong quân đội. Từ tháng 12-1978, ông được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Ðoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia. Từ tháng 1-1979, ông được cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng nhân dân cách mạng nước Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia. Tháng 1-1979, ông được bầu vào Ban Chấp hành T.Ư Ðảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia. Tháng 5-1981, ông được bầu vào Ban Chấp hành T.Ư Ðảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia và Bộ Chính trị, được Quốc hội nước Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Tháng 12-1981, ông được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Ðảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia. Tháng 10-1985, ông được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Ðảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia. Tháng 10-1991, ông được cử giữ chức Chủ tịch danh dự Ðảng Nhân dân Cam-pu-chia (CPP). Năm 1993, ông được Quốc vương Nô-rô-đôm Xi-ha-núc bổ nhiệm làm Cố vấn tối cao của Quốc vương. Tháng 5-1993, ông trở thành Nghị sĩ Quốc hội khóa I. Tháng 5-1998, ông giữ cương vị Phó Chủ tịch thứ nhất Quốc hội Cam-pu-chia khóa II. Tháng 5-2003, ông tiếp tục giữ chức Phó Chủ tịch thứ nhất Quốc hội Cam-pu-chia. Năm 2005, ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội khóa III. Năm 2007, ông kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc gia Mặt trận Ðoàn kết và Phát triển Tổ quốc, được Quốc vương phong tước Xăm-đéc Ạ-kẹ Mô-ha Pô-nhi-a Cha-k’rây. Từ năm 2008 đến 2013, ông làm Chủ tịch Quốc hội Cam-pu-chia khóa IV. Tháng 9-2013, ông làm Chủ tịch Quốc hội Cam-pu-chia khóa V. Từ tháng 9-2018 đến nay, ông làm Chủ tịch Quốc hội Cam-pu-chia khóa VI, nhiệm kỳ 2018-2023. Hiện nay, ông là Chủ tịch danh dự CPP, Chủ tịch Quốc hội Cam-pu-chia, Chủ tịch Hội đồng quốc gia Mặt trận Ðoàn kết và Phát triển Tổ quốc Cam-pu-chia.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 26/5/2019:

Tuyên bố chung Việt Nam – Na Uy

Nhận lời mời của Thủ tướng Na Uy Ê-na Xôn-béc, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã thăm chính thức Vương quốc Na Uy từ ngày 24 đến 26-5-2019.

  1. Trong chuyến thăm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã hội đàm với Thủ tướng Ê-na Xôn-béc, hội kiến Nhà Vua Ha-ran đệ ngũ và Chủ tịch Quốc hội Na Uy Tô-ne Trô-en.
  2. Tại hội đàm, hai Thủ tướng bày tỏ vui mừng trước việc quan hệ Việt Nam – Na Uy không ngừng được củng cố và mở rộng. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao những thành tựu phát triển kinh tế Na Uy đạt được thời gian qua và những tiến bộ đạt được trong lĩnh vực tăng trưởng xanh. Thủ tướng Ê-na Xôn-béc đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam về phát triển kinh tế xã hội và vai trò thành viên có trách nhiệm của Việt Nam tại các diễn đàn đa phương, trong đó có việc tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC năm 2017, Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN năm 2018 và Hội nghị cấp cao Hoa Kỳ – Triều Tiên lần thứ hai đầu năm 2019.
  3. Thủ tướng Ê-na Xôn-béc và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao sự phát triển quan hệ ngoại giao, quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác nhiều mặt giữa hai nước trong hơn bốn mươi năm qua.
  4. Hai Thủ tướng hoan nghênh sự phát triển ngày càng sâu rộng trong quan hệ hợp tác kinh tế song phương, nhất là trong các lĩnh vực lâm nghiệp, bảo vệ môi trường, nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản, năng lượng tái tạo, khí hóa lỏng, vận tải biển và đóng tàu; khẳng định quyết tâm của Việt Nam và Na Uy tiếp tục tăng cường hợp tác thương mại – đầu tư bền vững và bao trùm; tái khẳng định cam kết sớm hoàn tất đàm phán Hiệp định Thương mại tự do (FTA) toàn diện và sâu rộng giữa Việt Nam và Khối Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA).
  5. Hai Thủ tướng khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp hai nước thúc đẩy và mở rộng hợp tác đầu tư kinh doanh, đặc biệt trong các lĩnh vực ưu tiên của hợp tác song phương như các ngành kinh tế biển, năng lượng xanh và tái tạo, công nghệ thông tin và hàng tiêu dùng. Hai bên hoan nghênh Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam – Na Uy được tổ chức tại Ô-xlô nhân dịp chuyến thăm.
  6. Hai Thủ tướng khuyến khích các bộ, ngành hai nước mở rộng trao đổi và hợp tác trong các lĩnh vực giáo dục, du lịch, thể thao, văn hóa, giao lưu nhân dân cũng như về các vấn đề liên quan phụ nữ, hòa bình và an ninh nêu trong Nghị quyết số 1325 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
  7. Cả Na Uy và Việt Nam trong năm đang tham gia Tiến trình rà soát nhân quyền phổ quát của Liên hợp quốc (UPR). Hai bên nhấn mạnh đây là cơ chế phổ quát, minh bạch do các quốc gia tiến hành dựa trên đối thoại và hợp tác. Hai bên đánh giá cao cơ chế Ðối thoại nhân quyền mang tính xây dựng giữa Việt Nam và Na Uy; nhất trí về tầm quan trọng của pháp quyền, quyền con người cũng như tầm quan trọng của việc thực hiện Tuyên bố về các Nguyên tắc cơ bản và các Quyền tại nơi làm việc của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng như các cam kết trong các hiệp định thương mại tự do khu vực và quốc tế.
  8. Hai bên nhất trí tiếp tục duy trì tiếp xúc và trao đổi đoàn cấp cao, các cấp, trong đó có chuyến thăm chính thức Việt Nam năm 2015 của Thủ tướng Na Uy Ê-na Xôn-béc và chuyến thăm làm việc tới Na Uy năm 2018 của Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Trịnh Ðình Dũng, góp phần tạo xung lực cho quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước. Hai bên nhất trí tiếp tục tiến hành tham vấn chính trị hằng năm cấp Thứ trưởng Ngoại giao và các cơ chế đối thoại song phương khác về các vấn đề cùng quan tâm.
  9. Hai Thủ tướng nhấn mạnh tầm quan trọng của các nỗ lực toàn cầu nhằm giảm phát thải do tình trạng rừng bị phá hủy và suy thoái; đánh giá cao việc thực hiện thành công Chương trình hợp tác của Liên hợp quốc về Giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển (UN-REDD) được thực hiện trong sáu năm tại Việt Nam. Hai bên nhấn mạnh cam kết chung của hai nước đối với phát triển bền vững và bao trùm theo Chương trình Nghị sự 2030 của Liên hợp quốc về các Mục tiêu Phát triển bền vững, đồng thời ghi nhận các hoạt động quan trọng của các nước trong việc ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng và rác thải nhựa. Thủ tướng Ê-na Xôn-béc ghi nhận các dự án đang và sẽ được triển khai với sự tham gia của các nước thành viên ASEAN trong lĩnh vực xử lý rác thải biển. Nhân dịp này, Thủ tướng Ê-na Xôn-béc hoan nghênh việc Việt Nam sẽ tham dự Hội nghị Ðại dương của chúng ta, được tổ chức tại Ô-xlô trong tháng 10-2019.
  10. Hai Thủ tướng cũng trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, đặc biệt là trong khuôn khổ Liên hợp quốc, Quan hệ đối tác đối thoại theo lĩnh vực ASEAN – Na Uy và Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM).
  11. Việt Nam và Na Uy chia sẻ cam kết đối với trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng, dựa trên luật lệ và hệ thống đa phương với vai trò trung tâm của Liên hợp quốc. Hai bên nhấn mạnh vai trò quan trọng của Liên hợp quốc trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế thông qua đối thoại và tham vấn, phù hợp Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Hai bên chia sẻ ưu tiên bảo vệ người dân trước bom mìn còn sót lại sau chiến tranh, trong đó có việc giáo dục về hiểm họa bom mìn và việc rà phá mìn sát thương và bom đạn chùm. Với tư cách Chủ tịch Công ước cấm mìn sát thương trong năm 2019, Na Uy mời Việt Nam tham gia Phiên rà soát lần thứ tư của Công ước cấm mìn sát thương sẽ được tổ chức tại Ô-xlô trong tháng 11-2019.
  12. Hai bên cho rằng sẽ là cơ hội tốt để hai nước tăng cường hợp tác nhằm thúc đẩy hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế nếu được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam nhiệm kỳ 2020-2021 và Na Uy nhiệm kỳ 2021-2022.
  13. Hai bên ủng hộ các nỗ lực thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và hữu nghị tại khu vực Ðông – Nam Á. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc bảo đảm tự do, các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), là khuôn khổ pháp lý quy định mọi hoạt động trên biển và đại dương; kêu gọi các bên liên quan giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế.
  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 24/5/2019:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hội kiến Tổng thống V.Pu-tin và các lãnh đạo Quốc hội LB Nga

Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Liên bang (LB) Nga, tại Mát-xcơ-va, chiều 22-5 (giờ địa phương), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hội kiến Tổng thống LB Nga V.Putin.

Nguyen Xuan Phuc Putin

Phát biểu ý kiến tại cuộc gặp, Tổng thống Nga V.Putin nhấn mạnh, quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Nga có độ tin cậy cao, hoan nghênh chuyến thăm chính thức LB Nga lần này của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong bối cảnh hai nước tổ chức các hoạt động kỷ niệm 25 năm ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị Việt Nam – Nga và 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ vui mừng được thăm lại nước Nga; khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nga, trân trọng sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu mà nhân dân Nga dành cho Việt Nam trong quá khứ, cũng như ngày nay.

Hai bên đánh giá cao thành tích hợp tác thương mại thời gian qua với việc triển khai hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh kinh tế Á-Âu, bày tỏ sẵn sàng tiếp tục tháo gỡ các rào cản thương mại, nhất là đối với nông, thủy, hải sản hai nước. Hai nhà lãnh đạo cho rằng, Việt Nam và Nga vẫn còn rất nhiều tiềm năng để thúc đẩy hợp tác, cần phấn đấu đạt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên 10 tỷ USD vào năm 2020. Hai lãnh đạo khẳng định tầm quan trọng của hợp tác năng lượng và dầu khí đối với quan hệ Việt Nam – Nga; nhất trí tiếp tục khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp dầu khí hai nước tại Việt Nam và Nga, cũng như thúc đẩy triển khai dự án Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ hạt nhân tại Việt Nam, coi đây là lĩnh vực hợp tác triển vọng. Bên cạnh các lĩnh vực hợp tác truyền thống, hai bên cho rằng, Việt Nam và Nga còn nhiều tiềm năng hợp tác trên các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ số. Tổng thống V.Putin khẳng định, Nga sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam xây dựng Chính phủ điện tử, bao gồm cổng dịch vụ công trực tuyến, trung tâm an ninh an toàn thông tin, mô hình thành phố thông minh.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định Nga là đối tác tin cậy của Việt Nam trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và kỹ thuật quân sự. Hai bên nhất trí tiếp tục hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ đa phương, cũng như song phương trên các lĩnh vực này, đáp ứng lợi ích thiết thực của hai nước vì hòa bình, ổn định và phát triển tại khu vực và trên thế giới.

Trên tinh thần quan hệ chính trị tin cậy, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Nga V.Putin đã thảo luận nhiều vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm, nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương. Tổng thống V.Putin khẳng định, Nga ủng hộ giải quyết mọi tranh chấp tại Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chuyển tới Tổng thống V.Putin lời thăm hỏi và lời mời sớm thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Tổng thống Nga V.Putin vui vẻ nhận lời và sẽ thu xếp sớm thăm Việt Nam.

* Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Nga, tối 22-5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Nga D.Medvedev dự lễ khai mạc “Năm Việt Nam tại Nga và Năm Nga tại Việt Nam” (Năm hữu nghị chéo Việt – Nga) được tổ chức tại thủ đô Mát-xcơ-va.

Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, quan hệ Việt Nam – Nga là quan hệ hữu nghị thân thiết, thủy chung, sâu sắc, đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, từ những năm tháng khó khăn của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cho đến xây dựng đất nước phát triển thịnh vượng. Tròn 25 năm trước, Việt Nam và Nga đã ký Hiệp ước về các nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị, mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ song phương. Nhân sự kiện này, cũng như nhân 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, hai nước đã quyết định tổ chức “Năm Việt Nam tại Nga và Năm Nga tại Việt Nam” với mong muốn tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị, anh em truyền thống tốt đẹp và hợp tác toàn diện giữa hai nước. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, nhiều người Việt Nam vẫn giữ những kỷ niệm đẹp về đất nước, con người Nga với tấm lòng bao dung, gần gũi; tin tưởng sẽ ngày càng có nhiều người lựa chọn Việt Nam và Nga là địa chỉ làm việc, du lịch, học tập, cũng như ngày càng nhiều doanh nghiệp hai nước tìm được cơ hội làm ăn, hợp tác cùng nhau, góp phần đưa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Nga ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả.

Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng D.Medvedev cho rằng, “Năm chéo” là một sáng kiến tuyệt vời, khẳng định tính chất đặc biệt, nhiều mặt của hợp tác Nga – Việt Nam và quyết tâm của cả hai bên củng cố mối quan hệ bằng mọi cách. Thủ tướng Nga cho biết, người Nga đang ngày càng khám phá rộng hơn cho mình lịch sử phong phú, hội họa và âm nhạc truyền thống của Việt Nam, mà trước hết là trong các chuyến du lịch đến đất nước Việt Nam tuyệt vời. Chỉ riêng năm 2018, hơn 600 nghìn người Nga đã được chào đón nồng nhiệt khi đến Việt Nam.

* Trước đó, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng D.Medvedev đã xem triển lãm tranh ảnh với chủ đề “Cảm xúc nước Nga” và triển lãm ảnh giới thiệu văn hóa, đất nước, con người Việt Nam.

* Sáng 23-5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hội kiến Chủ tịch Hội đồng Liên bang Nga V.Matviyenko.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao hợp tác Việt Nam – Nga phát triển năng động thời gian qua, trong đó có đóng góp quan trọng của Quốc hội hai nước; hoan nghênh việc Quốc hội hai nước duy trì tiếp xúc và trao đổi thường xuyên, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn nghị viện quốc tế như Đại hội đồng Liên minh nghị viện thế giới (IPU), Đại hội đồng liên nghị viện ASEAN (AIPA), Diễn đàn Phụ nữ Á – Âu, Hội nghị Chủ tịch Quốc hội các nước Á – Âu…, góp phần làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Nga.

Chủ tịch V.Matviyenko khẳng định sự đồng thuận cao trong lãnh đạo cấp cao Nga về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam, nhấn mạnh tình cảm tốt đẹp và chân tình giữa lãnh đạo và nhân dân hai nước. Hội đồng Liên bang Nga sẽ tiếp tục phối hợp Quốc hội Việt Nam và Chính phủ LB Nga thúc đẩy triển khai hiệu quả các thỏa thuận và dự án hợp tác giữa hai nước, nhất là Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á – Âu. Chủ tịch Hội đồng Liên bang hoan nghênh việc hai nước tổ chức Năm Việt Nam tại Nga và Năm Nga tại Việt Nam, với nhiều hoạt động phong phú và ý nghĩa, góp phần thắt chặt quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao sự hỗ trợ hiệu quả từ phía Hội đồng Liên bang Nga và cá nhân bà chủ tịch đối với hợp tác giữa các địa phương hai nước thời gian qua, thông báo các địa phương Việt Nam và Nga đã ký nhiều thỏa thuận hợp tác trong khuôn khổ chuyến thăm lần này, mong Hội đồng Liên bang Nga tiếp tục làm cầu nối giúp các tỉnh, thành phố của Việt Nam kết nối, thiết lập quan hệ hợp tác với các địa phương của Nga, triển khai hợp tác với kết quả cụ thể, thiết thực trên cơ sở các thỏa thuận đã ký.

Hai bên đánh giá cao hợp tác nhân văn giữa Việt Nam và Nga phát triển tích cực thời gian qua, nhất trí tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của công dân hai nước, góp phần tăng cường hiểu biết và hữu nghị giữa hai dân tộc.

Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chuyển lời chào và thăm hỏi của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tới Chủ tịch Hội đồng Liên bang Nga V.Matviyenko.

* Ngày 23-5, tại trụ sở Duma quốc gia Nga, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hội kiến Chủ tịch Duma quốc gia Nga V.Vô-lô-đin.

Hai bên bày tỏ hài lòng về sự phát triển năng động của hợp tác song phương trên các lĩnh vực, trong đó có hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Duma quốc gia Nga. Thủ tướng đánh giá cao kết quả chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch Duma quốc gia Nga V.Vô-lô-đin tháng 12-2018, bày tỏ mong muốn tiếp xúc và trao đổi đoàn các cấp, đặc biệt là cấp cao, được duy trì thường xuyên giữa hai Quốc hội. Thủ tướng đánh giá cao Quốc hội hai nước đã phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế, góp phần tích cực thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Nga; nhấn mạnh nhiệm vụ ưu tiên của Chính phủ, các bộ, ngành hai nước hiện nay là triển khai hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á – Âu. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao việc Quốc hội Việt Nam và Duma quốc gia Nga quyết định thành lập Ủy ban liên nghị viện, góp phần tăng cường phối hợp và giám sát việc thực hiện các thỏa thuận và dự án hợp tác giữa hai nước.

Chủ tịch Duma quốc gia Nga V.Vô-lô-đin khẳng định, Duma quốc gia Nga luôn dành sự quan tâm đặc biệt trong thúc đẩy và tăng cường hơn nữa hợp tác kinh tế – thương mại, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, quốc phòng, an ninh, du lịch… Duma quốc gia Nga sẽ tích cực hỗ trợ xây dựng khuôn khổ pháp lý phù hợp để đẩy mạnh hoạt động đầu tư, hợp tác công nghiệp, nông nghiệp, năng lượng, dầu khí giữa hai nước. Chủ tịch Vô-lô-đin khẳng định, Duma quốc gia Nga ủng hộ và sẽ góp phần để Năm Việt Nam tại Nga và Năm Nga tại Việt Nam, nhân kỷ niệm 25 năm ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị (1994-2019) và 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1950-2020), thành công tốt đẹp, tạo dấu ấn mới trong quan hệ hai nước.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Duma quốc gia Nga, với tư cách là cơ quan lập pháp tối cao, quan tâm hỗ trợ về mặt pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam sinh sống, làm ăn ổn định và hợp pháp tại Nga, có điều kiện đóng góp cho sự phát triển chung của quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Nga.

* Trong khuôn khổ chuyến thăm, chiều 23-5, tại Mát-xcơ-va, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có cuộc gặp đại diện Hội Hữu nghị Nga – Việt và Hội cựu chuyên gia quân sự Nga từng tham gia giúp Việt Nam trong thời gian chiến tranh. Tại buổi lễ, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt V.Bui-a-nốp thay mặt Hội, trân trọng trao Huân chương Hữu nghị tặng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Phát biểu ý kiến tại buổi gặp mặt, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ xúc động gặp lại các chuyên gia, cựu chiến binh Nga đã có nhiều đóng góp cho quan hệ hai nước, nhất là những cựu chiến binh từng có mặt, sát cánh với những người lính Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam và nhiều chuyên gia, cựu chiến binh Nga đã quên mình, hy sinh vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Thủ tướng khẳng định, Việt Nam luôn ghi nhớ sự ủng hộ to lớn, sự giúp đỡ chí tình, vô tư và hiệu quả mà nhân dân Liên Xô trước đây và nhân dân Nga ngày nay đã dành cho Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

Nhân dịp này, Thủ tướng đã thông báo với các cựu chiến binh và chuyên gia Nga những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam. Vui mừng thông báo kết quả các cuộc hội đàm, hội kiến, tiếp xúc cấp cao với các nhà lãnh đạo Nga trong chuyến thăm, Thủ tướng cũng cho biết, hai bên đã tổ chức một số hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại quy mô lớn. Đánh giá cao kết quả công tác của các hội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mong muốn Hội Hữu nghị Nga – Việt và Hội cựu chuyên gia quân sự Nga từng tham gia giúp Việt Nam trong thời gian chiến tranh tổ chức nhiều hơn nữa các hoạt động theo hướng đa dạng, hữu nghị, hiệu quả hơn, đóng góp nhiều hơn nữa vào việc phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước.

Tại buổi gặp mặt, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trân trọng trao Huân chương Hữu nghị của Chủ tịch nước tặng bà I-ri-na V.Xa-ma-ri-na, Trường đại học Tổng hợp Nhân văn quốc gia Nga và ông V.Ma-di-rin, Viện Hàn lâm Khoa học LB Nga vì đã có những đóng góp to lớn thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

* Cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam đến đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các liệt sĩ vô danh ở Quảng trường Đỏ, Thủ đô Mát-xcơ-va. Đây là nơi tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại với biểu tượng ngọn lửa vĩnh cửu trong vườn A-lếch-xan-đrốp-xki, gần Điện Crem-li.

Tại buổi lễ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đã dành một phút mặc niệm tưởng nhớ những chiến sĩ Hồng quân Xô-viết và quân đồng minh đã ngã xuống vì hòa bình, cứu cả nhân loại thoát khỏi chủ nghĩa phát-xít.

Tiếp đó, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đã vào Lăng viếng V.I.Lê-nin – Lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và phong trào Cộng sản quốc tế. Tên tuổi của Lê-nin gắn liền với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917. Với thắng lợi này, Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã ra đời.

* Trong khuôn khổ chương trình thăm chính thức LB Nga, tối 23-5, tại Mát-xcơ-va, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dự lễ kỷ niệm 15 năm đường bay thẳng Việt Nam – Nga do Vietnam Airlines tổ chức.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vui mừng và đánh giá cao thành công của Vietnam Airlines giữ vững đường bay 15 năm, kết nối trực tiếp Việt Nam và LB Nga. Thủ tướng cho rằng, với những máy bay hiện đại, phi công tài năng, dịch vụ tốt và an toàn tuyệt đối, Vietnam Airlines là hãng hàng không uy tín của Việt Nam và trên thế giới. Vietnam Airlines đang đóng vai trò là sứ giả cho sự hợp tác hữu nghị, quảng bá hình ảnh, con người và niềm tự hào Việt Nam đến với “Xứ sở Bạch Dương” và ngược lại. Riêng năm 2018, hơn 600 nghìn người Nga đến với Việt Nam, đóng góp quan trọng vào thương mại, đầu tư giữa hai nước.

Thủ tướng nhấn mạnh, LB Nga là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Đặc biệt, năm 2019 khai mạc Năm chéo Việt Nam – Nga tiến tới kỷ niệm 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, Vietnam Airlines cần tiếp tục xác định chiến lược phát triển vững bền, tổ chức nhiều hoạt động kết nối văn hóa phong phú trong Năm chéo Việt Nam – Nga. Nhấn mạnh kết quả các cuộc hội đàm, hội kiến và tiếp xúc cấp cao với lãnh đạo LB Nga, Thủ tướng nêu rõ, hai bên thống nhất đẩy mạnh quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, trước hết là thương mại, đầu tư. Do đó, việc đi lại giữa hai nước là yêu cầu quan trọng được đặt ra và việc kết nối cầu hàng không với LB Nga được Chính phủ giao cho Vietnam Airlines thực hiện với chất lượng cạnh tranh, bảo đảm an toàn tuyệt đối. Thủ tướng cũng mong muốn các cơ quan chức năng của LB Nga tạo mọi điều kiện để Vietnam Airlines có điều kiện thực hiện tốt nhiệm vụ kết nối quan trọng này, nhất là về giờ bay, điểm đỗ và thủ tục hàng không, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc đi lại, giao thương giữa nhân dân hai nước.

Hiện nay, Vietnam Airlines khai thác đường bay thẳng Hà Nội – Mát-xcơ-va với tần suất ba chuyến/tuần bằng máy bay thân rộng, hiện đại Boeing 787-9 cùng chất lượng dịch vụ quốc tế 4 sao. Thị trường Nga luôn đứng trong tốp 10 thị trường có lưu lượng khách du lịch đến Việt Nam lớn nhất, đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, trung bình 30%/năm. Các chuyến bay thẳng của Vietnam Airlines đã trở thành “cầu hàng không” quan trọng kết nối Việt Nam và LB Nga, mở ra cơ hội hợp tác toàn diện về kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóa – du lịch giữa hai quốc gia, hai dân tộc. Từ ngày 2-7-2019, Vietnam Airlines sẽ chuyển hoạt động khai thác tất cả các chuyến bay đi, đến tại Mát-xcơ-va từ sân bay Đô-mô-đê-đô-vô sang sân bay Sê-re-mê-ti-e-vô, một trong những sân bay hiện đại nhất tại Nga hiện nay.

* Trước đó, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tiếp ông C.E.Va-len-ti-nô-vích, Tổng Giám đốc Tập đoàn công nghệ thông tin Kapersky. Thủ tướng nhấn mạnh Việt Nam có nhu cầu hợp tác rất lớn về an ninh mạng và mong Kapersky hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong lĩnh vực này, nhất là hỗ trợ chống vi-rút, mã độc trong hệ thống máy tính các cơ quan, công sở. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, Nga và Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, tin cậy trên nhiều lĩnh vực. Chính phủ Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho Kapersky và các doanh nghiệp Nga hoạt động thuận lợi tại Việt Nam.

Tổng Giám đốc Kapersky đánh giá cao việc Chính phủ Việt Nam đề cao vấn đề an ninh mạng không chỉ liên quan máy tính, thiết bị di động, mà cả ở lĩnh vực công nghiệp, hạ tầng giao thông; khẳng định, hiểu rõ vị thế địa chính trị của Việt Nam, Kapersky sẽ giúp đỡ Việt Nam các giải pháp để bảo đảm an ninh mạng, với lộ trình cụ thể.

* Theo phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Nga, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Nga của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, sáng 23-5, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng có buổi làm việc với đại diện một số bộ, ngành của LB Nga về việc triển khai một số nội dung khuôn khổ Năm chéo Việt Nam – LB Nga. Cùng dự, về phía Việt Nam có Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp (VCCI) Vũ Tiến Lộc, đại diện Bộ Xây dựng và Bộ Tài chính. Về phía Nga có ông C.A.Ép-ghê-nhi-e-vích, Đại biểu Duma quốc gia Nga, Chủ tịch Hội đồng – Giám đốc Công ty Tổ chức sự kiện “Expo nước ngoài” Đ.Va-ta-mốp, cùng đại diện Bộ Công thương, Trung tâm Xúc tiến xuất khẩu LB Nga.

Phát biểu ý kiến tại buổi làm việc, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng khẳng định, Năm chéo Việt Nam – Nga 2019 là sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử quan hệ Việt Nam – Nga. Nhiều hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư sẽ được tổ chức tại Nga và Việt Nam, trong đó có Triển lãm quốc tế Việt – Nga và Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – Nga. Phó Thủ tướng hoan nghênh VCCI và các đối tác Nga có hàng loạt sáng kiến hoạt động nhân dịp này. Phó Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ, ngành hai nước sớm có các giải pháp để tăng kim ngạch thương mại hai chiều, đồng thời đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực, tạo điều kiện để doanh nghiệp hai nước tìm hiểu cơ hội hợp tác kinh doanh trong các lĩnh vực mà hai bên có thế mạnh. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy hợp tác về văn hóa giáo dục, tăng cường giao lưu văn hóa, du lịch giữa hai nước, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hai nước để cùng nhau hiểu và có trách nhiệm gìn giữ, phát huy mối quan hệ truyền thống, hữu nghị giữa hai nước.

* Tối 23-5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Phu nhân và Đoàn cấp cao Chính phủ Việt Nam đã rời thủ đô Mát-xcơ-va, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức LB Nga và lên đường sang thủ đô Ô-xlô, bắt đầu thăm chính thức Na Uy.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 22/5/2019:

Cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng

Ngày 21-5, tại Hà Nội, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (Ban Chỉ đạo) tổ chức cuộc họp, thảo luận, cho ý kiến đối với một số vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo từ sau Phiên họp thứ 15 đến nay. Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì.

Nguyen Phu Trong hop ban chap hanh trung uong khoa XII

Tại cuộc họp, Thường trực Ban Chỉ đạo biểu dương các cơ quan chức năng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp thứ 15 của Ban Chỉ đạo. Các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương đã tập trung lực lượng, phối hợp chặt chẽ khởi tố mới bốn vụ án, phục hồi điều tra bốn vụ án, kết thúc điều tra hai vụ án, bảy bị can, ban hành cáo trạng truy tố năm vụ, 15 bị can, xét xử sơ thẩm năm vụ, 12 bị cáo, xét xử phúc thẩm bốn vụ, 109 bị cáo; đã kết thúc xác minh, giải quyết 14 vụ việc theo đúng Kế hoạch của Ban Chỉ đạo; Thanh tra Chính phủ đã tập trung kết luận thanh tra Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 – Công ty Gang thép Thái Nguyên; việc quản lý, sử dụng số tiền tạm ứng và nguồn vốn tái cơ cấu Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (Vinashin); Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra, xử lý, kiến nghị xử lý kỷ luật nhiều cán bộ cấp cao có sai phạm liên quan đến tham nhũng, kinh tế được nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.

Về nhiệm vụ trong thời gian tới, Thường trực Ban Chỉ đạo đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chức năng đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; hoàn thành đúng tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án; xác minh, xử lý các vụ việc theo Kế hoạch của Ban Chỉ đạo; phấn đấu từ nay đến hết năm 2019 kết thúc điều tra 28 vụ án; ban hành cáo trạng truy tố 24 vụ án; xét xử sơ thẩm 29 vụ án; xét xử phúc thẩm bảy vụ án; kết thúc xác minh 36 vụ việc. Nhất là, tập trung điều tra, truy tố, đưa ra xét xử sơ thẩm tám vụ án nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm trong năm 2019. Đó là:

(1) Vụ án “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam;

(2) Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng đất đai; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Công ty Hải Thành; (

3) Vụ án “Nhận hối lộ, đưa hối lộ; vi phạm quy định về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Tổng công ty viễn thông Mobifone;

(4) Vụ án “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty cổ phần Hóa dầu và Nhiên liệu sinh học dầu khí (PVB), Phú Thọ;

(5) Vụ án “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng” xảy ra tại Ngân hàng Phương Nam;

(6) Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý đất đai; Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Đà Nẵng;

(7) Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Tổng công ty Bia rượu nước giải khát (Sabeco);

8) Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát lãng phí” liên quan đến dự án tại số 8-12 Lê Duẩn, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Tại cuộc họp, Thường trực Ban Chỉ đạo cho ý kiến đối với báo cáo kết quả kiểm tra công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế theo Kế hoạch số 192-KH/BCĐTW, ngày 4-9-2018 của Ban Chỉ đạo; Đề án sửa đổi, bổ sung Quy định số 163-QĐ/TW, ngày 1-2-2013 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo; Quyết định bổ sung ba vụ án vào diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo; kết thúc theo dõi, chỉ đạo đối với năm vụ án, 14 vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo do đã được giải quyết theo quy định của pháp luật.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 19/5/2019:

Thông báo hội nghị lần thứ mười ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, từ ngày 16-5 đến ngày 18-5-2019, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII họp Hội nghị lần thứ mười để thảo luận, cho ý kiến về Đề cương các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng; góp ý việc chỉ đạo tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng; và một số vấn đề quan trọng khác. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc và bế mạc Hội nghị.

  1. Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đại biểu tham dự Hội nghị đã thảo luận, cho ý kiến, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc vào Đề cương các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng: (1) Đề cương Báo cáo chính trị; (2) Đề cương Báo cáo 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011 (bổ sung, phát triển); (3) Đề cương Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011 – 2020, xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030 và Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020, Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021 – 2025; (4) Đề cương Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng. Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị, căn cứ ý kiến thảo luận của Trung ương để tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu, xây dựng các dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng.
  2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận, cho ý kiến về Báo cáo tổng kết thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và dự thảo Chỉ thị của Bộ Chính trị khóa XII về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
  3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét, thảo luận về Báo cáo các công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 9 đến Hội nghị Trung ương 10 khóa XII và một số vấn đề quan trọng khác.
  4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tăng cường đoàn kết, thống nhất, phát huy những kết quả đã đạt được, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia, hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho năm 2019 và cả nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng; tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, tích cực chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 16/5/2019:

Hội nghị quốc tế về khoa học, công nghệ

Ngày 15-5, tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) phối hợp Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia, Liên minh Đổi mới Sáng tạo phát triển quốc tế (IDIA) tổ chức Hội nghị quốc tế với chủ đề “Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo – Một trụ cột cho phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam”. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì hội nghị.

Cùng dự có đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư T.Ư Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận T.Ư; đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành, cơ quan T.Ư, địa phương; các cơ quan ngoại giao, tổ chức, nhà tài trợ quốc tế.Nguyen Xuan Phuc chu tri hoi nghi quoc te ve khoa hoc

Hội nghị nhằm làm rõ vai trò của KHCN và đổi mới sáng tạo (ĐMST) như là trụ cột quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội (KTXH), đồng thời khuyến nghị những giải pháp, chính sách cụ thể cho Việt Nam. Hội nghị là diễn đàn để các bộ, ngành, địa phương, các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học, doanh nghiệp nhận được sự tham vấn của các chuyên gia đến từ các quốc gia, tổ chức hàng đầu quốc tế về ĐMST cho định hướng phát triển KTXH của Việt Nam, trong đó KHCN và ĐMST gắn với nền kinh tế số trong tương lai được xác định là một trụ cột mới. Hội nghị là điểm nhấn của Tuần lễ KHCN và ĐMST quốc gia của Việt Nam diễn ra từ ngày 13 đến 17-5.

Phát biểu ý kiến tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đặt một câu hỏi: Trên hành tinh này có thứ tài nguyên nào khi càng khai thác sẽ càng nảy nở? Đồng thời trả lời: đó chính là chất xám, là sự sáng tạo. Tài nguyên là luôn có hạn, còn sự sáng tạo của con người là vô hạn”. Thủ tướng đánh giá cao Bộ KHCN cùng Đại sứ quán Australia tại Việt Nam và Liên minh Đổi mới Phát triển quốc tế lần đầu tiên tổ chức Hội nghị tại Việt Nam về chủ đề rất quan trọng. Hội nghị là sự kiện quan trọng để Chính phủ tham vấn ý kiến tâm huyết từ các tổ chức tư vấn quốc tế, KTXH 10 năm 2021-2030, với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để các bộ, ngành, tổ chức, DN trao đổi, học tập kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng KHCN và ĐMST như một đột phá cho phát triển KTXH.

Thực tiễn đã cho thấy nhiều nước giàu tài nguyên, nhưng không thể tăng trưởng nhanh và bền vững, ngược lại có nước rất ít tài nguyên nhưng vẫn đạt được tăng trưởng kinh tế cao. Vậy bí quyết là gì? Yếu tố quan trọng tạo nên sự khác biệt đó chính là con người và công nghệ. Nhân loại ngày càng khan hiếm tài nguyên tự nhiên để khai thác và Việt Nam cũng vậy, nhưng chúng ta lại có thứ tài nguyên vô tận, đó chính là chất xám, là sự sáng tạo của con người, của chính tiềm năng trong mỗi chúng ta. Nếu như tài nguyên tự nhiên càng khai thác càng cạn kiệt thì tài nguyên sáng tạo của con người càng khai thác sẽ càng sinh sôi nảy nở. Trong DN hay bất kỳ tổ chức nào, không phải máy móc thiết bị, không phải nguyên vật liệu, chính sự sáng tạo của con người mới là vốn quý giá nhất.

Sáng tạo phải từ con người và vì con người. Con người phải là trung tâm của sáng tạo. Người Việt Nam chúng ta có đầy đủ tố chất bẩm sinh cho sự sáng tạo, Thủ tướng tin nếu có đủ những dưỡng chất tốt sẽ tạo ra những con người xuất sắc cho đất nước và tâm huyết đóng góp vì sự phồn thịnh của đất nước. Chỉ số ĐMST Toàn cầu (GII) của Việt Nam những năm gần đây liên tục tăng cao, dẫn đầu nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp (năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng tiếp hai bậc, xếp thứ 45/126 quốc gia, trong đó, nhóm chỉ số về tri thức – công nghệ của Việt Nam có thứ hạng rất cao, thứ 28). Các lĩnh vực khoa học tự nhiên Việt Nam có thế mạnh như Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học luôn đạt vị trí tốp đầu ASEAN. Theo Báo cáo Chỉ số hiệu quả ĐMST, Việt Nam đã thành công trong việc tiếp cận với kiến thức KHCN của thế giới và hòa nhập vào các chuỗi giá trị toàn cầu, tạo điều kiện cho việc trao đổi tri thức hiệu quả. Một số tổ chức, DN Việt Nam đã rất quan tâm đầu tư cho KHCN, đổi mới, sáng tạo và đã đạt được kết quả tương xứng.

Tuy nhiên, phải nhìn thẳng vào thực tiễn để thấy rằng phát triển KHCN và ĐMST của Việt Nam còn nhiều hạn chế, bất cập. Do vậy, cả Nhà nước và khu vực tư nhân cần nhận thức đúng tầm quan trọng của đầu tư cho KHCN và ưu tiên chi cho KHCN một cách tương xứng hơn, hiệu quả hơn. Chú trọng tính thiết thực, hiệu quả, không làm theo phong trào, gây lãng phí.

Các DN cũng cần hiểu rằng, đầu tư cho Nghiên cứu và Phát triển (R&D) là con đường “ngắn nhất” để đạt được hiệu quả, tăng năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh hội nhập, mức độ canh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn đòi hỏi phải đầu tư vào việc phát triển năng lực công nghệ, bao gồm R&D. Việc nâng cao năng lực ĐMST trở nên cấp thiết để DN Việt Nam có thể giành được vị thế cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Chúng ta cần tìm ra điểm kích hoạt khuyến khích DN hăng hái đầu tư cho R&D chứ không chỉ kêu gọi bằng lời nói.

Thời gian tới, Việt Nam cần phải có một bước chuyển đổi về mặt chiến lược để thúc đẩy R&D khởi nghiệp sáng tạo, ứng dụng kết hợp với phát triển công nghệ trong một số ngành, lĩnh vực mới có thế mạnh. Cần phải xác định KHCNvà ĐMST phải là nền tảng thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước; là lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực chính của mô hình phát triển KTXH. Và phải làm tốt hơn nữa sự phối hợp giữa Nhà nước và xã hội trong phát triển KHCN, kết hợp tốt hơn giữa nội lực và ngoại lực trong phát triển KHCN và ĐMST.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các ngành, các địa phương cần nhân cao nhận thức, trách nhiệm trong chỉ đạo phát triển KHCN, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế chính sách. Tập trung hoàn thiện hệ thống ĐMST quốc gia với DN là trung tâm, gắn kết chặt chẽ giữa viện nghiên cứu, trường đại học với DN nhằm kiến tạo và tích lũy tài sản trí tuệ, tạo ra nguồn nhiên liệu mới cho tăng trưởng kinh tế nhanh, bao trùm và bền vững.

Thủ tướng yêu cầu Bộ KHCN đầu mối phối hợp các bộ, ngành, tổ chức liên quan tham mưu cho Chính phủ năm vấn đề lớn:

Một là, đề xuất chính sách khuyến khích và thúc đẩy ĐMST trong khu vực DN. Coi DN là trung tâm của hệ thống ĐMST. Phát triển mạnh hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới công nghệ trong DN.

Hai là, phát huy vai trò của các trường đại học, viện nghiên cứu trong việc tăng cường nền tảng vốn con người cho ĐMST. Cần nhất là gắn liền các hoạt động nghiên cứu ứng dụng với nhu cầu DN, nhu cầu của nền kinh tế.

Ba là, thúc đẩy liên kết các mạng lưới ĐMST trong và ngoài nước.

Bốn là, xây dựng năng lực quản trị nhà nước đối với hệ thống ĐMST và hoàn thiện thể chế cho các hoạt động ĐMST.

Năm là, tập trung phát triển sản phẩm quốc gia dựa vào công nghệ mới, công nghệ cao để hình thành các ngành nghề mới và các sản phẩm mới, giá trị gia tăng cao, nhất là lĩnh vực mà Việt Nam có thế mạnh như: nông nghiệp, công nghiệp chế biến chế tạo, công nghệ thông tin…

Theo đó, Thủ tướng đề nghị cần xây dựng khuôn khổ cho việc đo lường và đánh giá hiệu quả của nền kinh tế số, của hoạt động các trường đại học, viện nghiên cứu, các cơ sở có hoạt động KHCN. Đề nghị ngành thống kê nghiên cứu phương thức đo lường và thống kê hiệu quả hoạt động KHCN và các hoạt động ĐMST theo các chuẩn mực quốc tế để có thể so sánh. Gắn các chương trình tài trợ nghiên cứu của Nhà nước với việc ứng dụng thực tế và thương mại hóa sản phẩm. Để tránh nghiên cứu rồi “cất vào tủ”, dành một phần ngân sách để thưởng cho các dự án được đưa ra ứng dụng trong thực tế.

Cần nghiên cứu thành lập ngân hàng dữ liệu quốc gia về KHCN và ĐMST. Xây dựng chính sách nhằm thu hút và cộng tác với các chuyên gia giỏi ở trong và ngoài nước, đặc biệt là cộng đồng các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài. Chú ý đặc biệt đề xuất những giải pháp không theo khuôn mẫu. Chúng ta muốn thúc đẩy ĐMST thì bản thân chính sách, cơ chế cũng phải thoáng, mở và sáng tạo.

Áp dụng mô hình đối tác công – tư (PPP) nhằm khuyến khích DN tham gia nhiều hơn vào các hoạt động ĐMST. Thử nghiệm mô hình “Nhà nước sở hữu, tư nhân vận hành”. Chuyển từ mô hình sử dụng ngân sách nhà nước sang đồng tài trợ, tiến đến tự chủ tài chính, Nhà nước đặt hàng đối với các cơ sở nghiên cứu, các cơ sở KHCN và ĐMST.

Ngay sau hội nghị này, Thủ tướng yêu cầu Bộ KHCN sớm hoàn thiện Chỉ thị thúc đẩy, hấp thụ phát triển KHCN và hoạt động ĐMST, bao gồm quỹ phát triển KHCN của DN; khẩn trương trình Chính phủ Đề án hoàn thiện thể chế thu hút nguồn lực xã hội đầu tư cho KHCN và ĐMST, nhất là từ DN; Trình Thủ tướng phê duyệt Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia; Trình Thủ tướng phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ quốc gia.

Bộ KHCN cần phát huy vai trò điều phối, nâng cao hiệu quả công tác giữa các bộ, ngành và giữa các cấp trong phát triển và ứng dụng kết quả KHCN vào phát triển KTXH. Thúc đẩy hợp tác quốc tế về KHCN và ĐMST; nhằm khai thác lợi thế, chia sẻ kinh nghiệm và tận dụng các thành tựu KHCN tiên tiến, cũng như chủ động nắm rõ các xu thế KHCN trên thế giới để có phương án vận dụng hiệu quả vào Việt Nam.

Thủ tướng mong rằng, mỗi bộ, ngành, địa phương, tổ chức, DN bắt tay vào hành động cụ thể, từ việc có các hoạt động thúc đẩy sáng kiến cải tiến, ĐMST; đồng thời, đầu tư và sử dụng hiệu quả KHCN, ĐMST như là một đột phá phát triển nhanh và bền vững. Thủ tướng cũng mong tiếp tục nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của Australia, Ngân hàng Thế giới, các quốc gia và các tổ chức quốc tế khác đối với việc xây dựng hệ sinh thái ĐMST của Việt Nam, hỗ trợ các DN Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Cũng nhân dịp sắp tới Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Thủ tướng gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến cộng đồng khoa học Việt Nam ở trong và ngoài nước, các nhà khoa học nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam; chúc ngành KHCN Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ và có nhiều kết quả cụ thể đóng góp vào sự phát triển KTXH của đất nước, đạt được nhiều thành tựu mới hướng tới kỷ niệm 60 năm thành lập ngành KHCN.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 30/5/2019:

Hàng Việt Nam chiếm tỷ lệ 90% trong kênh phân phối hiện đại

Ngày 29-5, tại Hà Nội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổng kết 10 năm thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

Theo VCCI, tại thị trường nội địa, hàng Việt Nam đang chiếm tỷ lệ từ 80 đến 90% tại các kênh phân phối hiện đại, ở một số siêu thị hơn 90% và hơn 60% ở các kênh bán lẻ truyền thống. Cuộc vận động đã tạo được niềm tin, sự quan tâm của phần lớn người tiêu dùng với thương hiệu và sản phẩm hàng hóa Việt Nam. Từ đó, phát huy nội lực của các doanh nghiệp trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hàng hóa với hàm lượng khoa học – công nghệ cao trong sản phẩm,…

Các đại biểu đều nhất trí cần tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động một cách sâu rộng và toàn diện hơn trong giai đoạn tiếp theo.

  • Trang 4 báo Nhân Dân ngày 30/5/2019:

Xây dựng nhà máy đốt rác phát điện công nghệ cao tại Bắc Ninh

Ngày 29-5, tại thôn Đồng Sài, xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh diễn ra Lễ khởi công xây dựng nhà máy đốt rác phát điện công nghệ cao đầu tiên tại tỉnh Bắc Ninh với tổng kinh phí đầu tư 1.357 tỷ đồng.

Nhà máy được xây dựng trên khu đất có diện tích gần 5 ha thuộc khu quy hoạch xử lý chất thải của tỉnh Bắc Ninh do Công ty cổ phần môi trường năng lượng Thăng Long làm chủ đầu tư.

Dự kiến, công trình đi vào hoạt động sẽ tiếp nhận và xử lý 500 tấn rác/ngày đêm với tổng công suất phát điện lên tới 11,7 mWh.

Theo UBND tỉnh Bắc Ninh, hiện mỗi ngày, trên địa bàn tỉnh phát sinh khoảng 870 tấn rác thải sinh hoạt; đến năm 2020 sẽ lên khoảng 1.000 tấn. Vì vậy, việc xây dựng nhà máy sẽ góp phần giải quyết, cải thiện đáng kể môi trường của tỉnh.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 29/5/2019:

Đầu tư khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Đác Lắc

Chiều 28-5, tại TP Buôn Ma Thuột đã diễn ra Lễ ký kết biên bản ghi nhớ giữa UBND tỉnh Đác Lắc với Tập đoàn De Heus (Hà Lan) và Tập đoàn Hùng Nhơn (tỉnh Bình Phước) về hợp tác đầu tư dự án “Tổ hợp khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao DHN Đác Lắc”. Quy mô dự án sử dụng 200 ha đất gồm: khu trang trại chăn nuôi 2.400 lợn giống cụ kỵ được chọn lọc và nhập khẩu trực tiếp từ Hà Lan với diện tích khoản 80 ha; khu trang trại chăn nuôi gà giống khoảng 30 ha; nhà máy giết mổ lợn thịt và sản xuất phân hữu cơ khoảng 15 ha; khu điều hành và dịch vụ hỗ trợ khoảng 20 ha; khu canh tác theo hướng hữu cơ và đất cây xanh khoảng 30 ha; đất giao thông và hạ tầng kỹ thuật khoảng 25 ha… Dự án có tổng số vốn đầu tư 66 triệu USD (khoảng 1.500 tỷ đồng). Thời gian thực hiện dự án từ quý 3-2019 đến quý 4-2025, sẽ giải quyết việc làm cho 250 – 300 lao động là người dân tộc thiểu số trên dại bàn tỉnh Đác Lắc

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 25/5/2019:

JPA khai trương hai đường bay Đà Nẵng đi Thanh Hóa và Phú Quốc

Chiều 24/5, tại sân bay Đà Nẵng, chuyến bay đầu tiên từ Đà Nẵng hãng hàng không Jetstar Pacific Airlines (JPA) đã cất cánh đi Phú Quốc; chuyến bay từ Phú Quốc đi Đà Nẵng cất cánh lúc 19 giờ cùng ngày. Đại diện JPA cho biết, đã có hơn 350 hành khách đăng ký bay trong ngày đầu tiên khai trương đường bay này. Ngày 25/5, hãng khai trương thêm đường bay Đà Nẵng – Thanh Hóa. Ca hai đường bay được JPA khai thác với tần suất bốn chuyesn khứ hồi mỗi tuần. Mức giá được JPA mở bán giữa chuyến khứ hồi mỗi tuần. Mức giá được JPA mở bán giữa Đà Nẵng – Phú Quốc từ 890 nghìn đồng/chặng, Đà Nẵng – Thanh Hóa từ 370 nghìn đồng/chặng

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 23/5/2019:

Mổ lấy thai cho người bệnh ung thư giai đoạn cuối

Chiều 22/5, gần 20 bác sĩ, nhân viên y tế của hai bệnh viện: K và Phụ sản T.Ư phối hợp thực hiện ca mổ lấy thai cho thai phụ Nguyễn Thị Liên (ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam), người bị ung thư vú giai đoạn cuối đã di căn. Đặc biệt, trong ca mổ thai phụ không thể nằm, cho nên các bác sĩ phải thực hiện mổ ở tư thế ngồi, đây là tư thế khó để thực hiện mổ sinh, trong khi đó thai phụ rất yếu, buộc các thao tác mổ phải bảo đảm nhanh, chính xác.

Cháu bé chào đời khi được 31 tuần tuổi với cân nặng 1,5kg được đặt tên là Đỗ Bình An. Ngay sau khi mổ, cháu bé được các bác sĩ chuyên ngành sơ sinh tiếp nhận cấp cứu đưa vào lồng ấp và chuyển sang Bệnh viện Phụ sản T.Ư để tiếp tục theo dõi và chăm sóc. Ê-kíp còn lại tiếp tục hoàn thành ca mổ, và sau đó là “cuộc chiến” khác với hy vọng cứu người mẹ.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 20/5/2019:

Đưa vào khai thác cầu Vàm Cống

Sáng 19-5, Bộ Giao thông Vận tải phối hợp với UBND TP Cần Thơ và UBND tỉnh Đồng Tháp tổ chức lễ khánh thành và thông xe công trình cầu Vàm Cống và đường dẫn hai đầu cầu.

Cầu Vàm cống bắc qua sông Hậu nối TP Cần Thơ và tỉnh Đồng Tháp, nằm cách bến phà Vàm Cống 3km về phía hạ lưu với chiều dài 2,97km. Mặt cắt ngang cầu rộng 24,5m bao gồm bốn làn xe cơ giới và hai làn xe thô sơ. Cầu được thiết kế với quy mô dây văng hai mặt phẳng dây, nhịp chính dài 450m. Trụ tháp hình chữ H cao 143,9m. Đường dẫn vào cầu rộng 20,6m cũng gồm bốn làn xe cơ giới và hai làn xe thô sơ, tốc độ thiết kế 80km/h, với tổng mức đầu tư hơn 5.700 tỷ đồng.

Cầu Vàm Cống là cây cầu chiến lược, góp phần phát triển kinh tế-xã hội 3 địa phương là TP Cần Thơ, An Giang và Đồng Tháp nói riêng và ĐBSCL nói chung. Đây là cây cầu nằm trên tuyến đường Hồ Chí Minh và là trục giao thông ngang của vùng ĐBSCL nhằm kết nối, rút ngắn thời gian đi lại giữa trung tâm vùng ĐBSCL với vùng TP Hồ Chí Minh. Người dân hai bên bờ sông Hậu không còn phải chờ phà qua sông mất nhiều thời gian như trước đây.

Đây là dự án thành phần 3 thuộc Dự án kết nối trung tâm đồng bằng Mê Công được đầu tư bằng nguồn vốn vay của ưu đãi của Chính phủ Hàn Quốc và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 19/5/2019:

Xây dựng nhà cộng đồng an toàn cho nhân dân vùng lũ

Sáng 16-5, Hội chữ thập đỏ Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam phối hợp huyện Tương Dương tổ chức lễ khởi công xây dựng nhà cộng đồng an toàn cho nhân dân vùng lũ tại xã Lượng Minh.

Dự án “Nhà an toàn cho cộng đồng” với ba hoạt động chính: Xây nhà an toàn, hỗ trợ sinh kế và tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng về giảm nhẹ rủi ro do thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu cho chính quyền và người dân vùng lũ. Dịp này, các đơn vị sẽ hỗ trợ cho xã Lượng Minh huyện Tương Dương xây dựng sáu ngôi nhà cộng đồng an toàn, với tổng kinh phí hơn 300 triệu đồng. Phần hỗ trợ bao gồm chất lợp và một số nội thất bên trong nhà.

Hoạt động này nằm trong chương trình hỗ trợ khắc phục hậu quả do bão lũ cho đồng bào các tỉnh chịu thiệt hại nặng nề, trong đó có huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An của Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam. Đoàn cũng đã trao 11 cặp lợn giống cho 11 hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở bản Xốp Mạt, xã Lượng Minh (mỗi cặp lợn giống trị giá 5 triệu đồng).

Tại chương trình, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Nghệ An và Hội Chữ thập đỏ huyện Tương Dương cũng trao 5 chiếc xe đạp, sáu suất quà cho các gia đình nghèo, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn; với tổng kinh phí 14 triệu đồng.

Dự kiến, trong tháng 5, Hội Chữ thập đỏ tỉnh sẽ tiếp tục khởi công thêm tám ngôi nhà cộng đồng an toàn và trao 11 cặp lợn giống cho người dân vùng lũ huyện Kỳ Sơn. Đây là chuỗi hoạt động trong chương trình dự án “Nhà an toàn cho cộng đồng” do Công ty bảo hiểm Prudential Việt Nam tài trợ nhằm giúp đỡ các hộ gia đình tiếp tục vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống sau thiệt hại nặng nề do bão lũ.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 18/5/2019:

Biểu dương các đơn vị vừa triệt phá đường dây vận chuyển ma túy lớn

Ngày 17-5, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình gửi thư khen các lực lượng tham gia triệt phá đường dây vận chuyển 507,5 kg Ketamine, trị giá gần 500 tỷ đồng. Trong thư khen gửi các đơn vị: Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan), Phó Thủ tướng Thường trực vui mừng trước thành tích phối hợp phá án của các lực lượng.

Chiến công của các lực lượng đã thể hiện tinh thần chủ động, mưu trí, sáng tạo; sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng với tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm cao trong tấn công trấn áp tội phạm, góp phần giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội.

Thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình nhiệt liệt biểu dương và khen ngợi những chiến công xuất sắc trên…

Phó Thủ tướng Thường trực chúc các lực lượng mạnh khỏe và tiếp tục giành được nhiều thành tích xuất sắc trong thời gian tới. Như Báo Công an nhân dân đã đưa, khoảng 16 giờ ngày 11/5, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh đồng chủ trì, phối hợp với Tiểu đoàn Cảnh sát đặc nhiệm 2 – Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Đội 6 – Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) và các lực lượng chức năng đã phá thành công chuyên án ma túy lớn tại TP Hồ Chí Minh, thu giữ gần 500 kg Ketamine, 1 ô tô và 4 máy ép bao bì.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 31/5/2019:

Hơn 80% số người bệnh hài lòng với chất lượng khám, chữa bệnh

Kết quả khảo sát trên 7.500 bệnh nhân nội trú và người nhà đi theo chăm sóc ở 60 bệnh viện trong năm 2018 cho thấy, chỉ số hài lòng người bệnh trung bình đạt 4,04/5, tương ứng với mức độ hài lòng của người bệnh nội trú với chất lượng phục vụ khám, chữa bệnh đạt mức 80,8%.

Ngày 30-5, tại Hà Nội, Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Sáng kiến Việt Nam đã tổ chức Hội thảo công bố báo cáo chỉ số hài lòng người bệnh năm 2018.

Theo PGS, TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, khảo sát chỉ số Hài lòng người bệnh (Patient Satisfaction Index – viết tắt PSI) là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa Bộ Y tế và các chuyên gia của mạng lưới Sáng kiến Việt Nam, Đại học Indiana, Hoa Kỳ trong khuôn khổ Dự án “Equitable Healthcare through PSI” do Oxfam Việt Nam, Đại sứ quán Bỉ và Đại sứ quán Hà Lan tài trợ. Khảo sát được thực hiện dựa trên phỏng vấn qua điện thoại ý kiến đánh giá của người bệnh nội trú đã xuất viện về trải nghiệm ở nhiều khía cạnh then chốt khác nhau trong quá trình khám, chữa bệnh.

Từ tháng 8-2016, Bộ Y tế đã giao Cục Quản lý khám, chữa bệnh làm đầu mối chủ trì, hợp tác với Sáng kiến Việt Nam xây dựng chỉ số Hài lòng người bệnh thông qua ứng dụng công nghệ di động, điện toán đám mây cho phép thu thập, phân tích dữ liệu và kết quả khảo sát theo thời gian thực.

Phương pháp và kết quả nghiên cứu chỉ số hài lòng người bệnh được thảo luận và hoàn thiện dựa trên nhiều cuộc tham vấn sâu rộng với các chuyên gia của Bộ Y tế, lãnh đạo và cán bộ phòng quản lý chất lượng các bệnh viện, tham vấn người bệnh và người nhà bệnh nhân. Báo cáo đã nhận được góp ý từ các chuyên gia của các vụ, cục, viện liên quan của Bộ Y tế, các Sở Y tế và các bệnh viện tham gia chương trình khảo sát thí điểm, chương trình tập huấn phương pháp khảo sát hài lòng người bệnh qua điện thoại.

Kết quả khảo sát trên 7.500 bệnh nhân nội trú và người nhà đi theo chăm sóc ở 60 bệnh viện cho thấy, chỉ số hài lòng người bệnh trung bình đạt 4,04/5, tương ứng với mức độ hài lòng của người bệnh nội trú với chất lượng phục vụ khám, chữa bệnh đạt mức 80,8% so với kỳ vọng.

Trong số 60 bệnh viện khảo sát, có 13 bệnh viện được người bệnh hài lòng nhất và thuộc nhóm xếp hạng rất tốt, chiếm 21,7% số bệnh viện được khảo sát; 26 bệnh viện người bệnh hài lòng và được xếp hạng tốt, chiếm 43,3%; 21 bệnh viện thuộc nhóm xếp hạng khá, chiếm 35%.

Tiếp theo thành công của năm 2017, đây là năm thứ hai khảo sát được thực hiện với trên 7.500 người bệnh và người nhà bệnh nhân sau khi xuất viện ở 60 bệnh viện công tại 23 tỉnh, thành trên cả nước năm 2018.

So sánh với kết quả khảo sát gần 3.000 bệnh nhân nội trú ở 29 bệnh viện công năm 2017, chỉ số hài lòng người bệnh năm 2018 đã có sự cải thiện theo hướng tích cực. Chỉ số PSI năm 2018 đạt 4,04/5 so với PSI năm 2017 đạt 3,98/5 (tương ứng với mức độ hài lòng đạt mức 80,8% ở năm 2018 so với mức 79,6% ở năm 2017). Đây là kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh năm 2018 số bệnh viện được mở rộng khảo sát nhiều hơn hai lần so với năm 2017.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 31/5/2019:

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh nhà thơ Cù Huy Cận

Ngày 30-5, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phối hợp Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh nhà thơ, nhà văn hóa Cù Huy Cận (31-5-1919 – 31-5-2019). Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc gửi lẵng hoa chúc mừng.

Ðến dự, có các đồng chí Ủy viên T.Ư Ðảng: Vũ Ðức Ðam, Phó Thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Thế Kỷ, Tổng Giám đốc Ðài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương; cùng dự có nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, đông đảo các văn nghệ sĩ, đại diện gia đình nhà thơ Huy Cận.

Nhà thơ Cù Huy Cận sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học và yêu nước tại xã Ân Phú, huyện Ðức Thọ (Hà Tĩnh) và sớm thể hiện tài năng thơ ca. Ông có thơ đăng báo từ năm 1936 và ra mắt tập thơ Lửa thiêng năm 1940, tạo thành một hiện tượng thơ ca có tiếng vang lớn thời kỳ này, đưa ông trở thành một trong những tên tuổi hàng đầu của phong trào Thơ mới. Huy Cận tham gia Mặt trận Việt minh từ năm 1942 tại Hà Nội và được cử đi dự Ðại hội quốc dân Tân Trào tháng 8-1945 và được cử vào Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam.

Trong những ngày Cách mạng Tháng Tám lịch sử, nhà thơ Huy Cận là một trong ba thành viên của phái đoàn Chính phủ lâm thời vào kinh đô Huế tiếp nhận lễ thoái vị của Vua Bảo Ðại. Sau khi cách mạng thành công, ông từng được giao nhiều trọng trách trong Chính phủ và ngành văn hóa, là đại biểu Quốc hội nhiều khóa và từng là Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Á- Phi, đồng Chủ tịch Ðại hội Văn hóa toàn thế giới, thành viên Việt Hàn lâm thơ thế giới…

Tại lễ kỷ niệm, các đại biểu là nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học đã có nhiều tham luận khẳng định và đánh giá cao những đóng góp của nhà thơ Huy Cận cho nền văn hóa, văn học nước nhà, nhìn nhận lại quá trình nghiên cứu, khai thác các giá trị di sản thơ ca của ông. Trong lĩnh vực thơ ca, Huy Cận có công lớn góp phần định hình gương mặt thơ mới và thơ Việt Nam nói chung với nhiều tác phẩm nổi tiếng.

Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thơ ca, nhà thơ, nhà văn hóa Cù Huy Cận đã được Ðảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật…

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 30/5/2019:

Việt Nam đón gần 7,3 triệu lượt khách quốc tế

Theo Tổng cục Thống kê, số khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 5 ước đạt 1,32 triệu lượt, giảm 9,7% so tháng 4 và tăng 14,3% so với tháng 5-2018.

Năm tháng đầu năm, tổng lượng khách quốc tế ước đạt gần 7,3 triệu lượt, tăng 8,8% so cùng kỳ năm 2018; trong đó, khách đến bằng phương tiện đường không tăng 6,3%, đường biển giảm 17,5%, đường bộ tăng 23,7% so cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh các thị trường khách tăng mạnh như: Thái-lan (tăng 47,5%), Đài Loan – Trung Quốc (tăng 26%), In-đô-nê-xi-a (tăng 25,7%), Phi-li-pin (tăng 22,7%), Hàn Quốc (tăng 22,4%)…; có một số thị trường khách giảm như: Cam-pu-chia (giảm 47,3%), Lào (giảm 19,8%), Phần Lan (giảm 9,2%), Trung Quốc (giảm 0,8%)… Lượng khách du lịch nội địa năm tháng đầu năm ước đạt 38,5 triệu lượt, trong đó có 19,4 triệu lượt lưu trú.

Tổng thu từ khách du lịch đạt 285.700 tỷ đồng, tăng 9,8% so cùng kỳ năm 2018.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 28/5/2019:

Sân bay Vân Đồn đón chuyến bay quốc tế đầu tiên

ào 0 giờ 56 phút, sáng 27-5, chuyến bay mang số hiệu DZ62249 xuất phát từ Bảo An, Thẩm Quyến (Trung Quốc) đã hạ cánh tại Cảng hàng không quốc tế (HKQT) Vân Đồn. Chiều ngược lại khởi hành lúc 3 giờ và đến Thẩm Quyến lúc 5 giờ 45 phút cùng ngày. Hãng Donghai Airlines khai thác đường bay này dưới dạng các chuyến bay charter (thuê riêng cho khách của công ty lữ hành). Như vậy sau gần 5 tháng vận hành, sân bay Vân Đồn đã đón hơn 90 nghìn lượt khách với 664 chuyến bay của ba hãng hàng không Việt Nam khác.

VNA ra mắt dịch vụ đưa dẫn ưu tiên cho hành khách

Ngày 27-5, Hãng hàng không Vietnam Airlines (VNA) cho biết, đáp ứng nhu cầu của nhiều hành khách mong muốn di chuyển và làm thủ tục hàng không tại sân bay thuận tiện hơn, VNA chính thức triển khai dịch vụ “Chào đón và đưa dẫn ưu tiên” (Meet and Greet) do Công ty Dịch vụ mặt đất Việt Nam (VIAGS) – đơn vị thành viên của VNA cung cấp. Dịch vụ được sử dụng cho hành khách đi, đến và nối chuyến tại ba sân bay Nội Bài, Đà Nẵng và Tân Sơn Nhất. Đây là nỗ lực của VNA trên lộ trình nâng cao chất lượng dịch vụ mặt đất, tiến tới tiêu chuẩn 5 sao quốc tế. Hành khách được đón tiếp, hỗ trợ làm thủ tục chuyến bay, an ninh soi chiếu, xuất nhập cảnh và dẫn đén cửa ra tàu bay, nhà ga. Dịch vụ trợ giúp thiết thực nhất cho các hành khách không thông thạo ngoại ngữ, người già hoặc người lần đầu đi máy bay.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 26/5/2019:

Liên hoan Âm nhạc ASEAN – 2019

Tối 25/5, tại Nhà hát TP Hải Phòng, khia mạc Liên hoan Âm nhạc ASEAN – 2019 do Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) chủ trì, phối hợp một số đơn vị và TP Hải Phòng tổ chức.

Liên hoan có hơn 160 nghệ sĩ, diễn viên đến từ bảy nước ASEAN tham gia, gồm: Việt Nam, Cam-pu-chia, Lào, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-li-pin, Thái-lan. Trong đó, Việt Nam có bốn đơn vị nghệ thuật tham dự, gồm: Nhà hát Ca múa nhạc Sơn La; Nhà hát Ca múa nhạc dân tộc Bông Sen; Đoàn Ca múa dân tộc tỉnh Đác Lắc và Đoàn Ca múa Hải Phòng. Liên hoan cũng là cầu nối để nhân dân các nước trong khu vực thêm hiểu biết, gắn bó, đoàn kết, góp phần xây dựng cộng đồng ASEAN ngày càng phát triển thịnh vượng. Dịp này, các đơn vị sẽ tham gia biểu diễn phục vụ nhân dân tại Trung tâm Triển lãm và Mỹ thuật TP Hải Phòng, quận Đồ Sơn và huyện đảo Cát Hải. Liên hoan sẽ diễn ra đến hết ngày 31/5.

Nhà thơ, nhà văn hóa Huy Cận – những điều còn mãi

Ngày 25/5, tại TP Hà Tĩnh, UBND tỉnh Hà Tĩnh phối hợp Trường đại học Vinh tổ chức hội thảo khoa học “Nhà thơ, nhà văn hóa Huy Cạn – những điều còn mãi”, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Huy Cận (31/5/1919- 31/5/2019).

Tại hội thảo, 42 tham luận của các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ đến từ Hội Nhà văn Việt Nam, Viện Văn học dân gian Việt Nam và giảng viên, sinh viên các trường đại học trên cả nước đã đề cập nhiều vấn đề về con người, cuộc đời, quê hương và sự nghiệp của Huy Cận; về di sản thi ca và văn hóa tinh thần lớn lao mà nhà thơ để lại cho nền văn học, văn hóa nước nhà.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 25/5/2019:

Thủ tướng Chính phủ chúc mừng 10 năm Cù Lao Chàm – Hội An được công nhận Khu dự trữ sinh quyển thế giới

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa gửi thư chúc mừng 10 năm Cù Lao Chàm – Hội An được UNESCO công nhận Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Sau 10 năm được công nhận, Cù Lao Chàm – Hội An đã có bước chuyển mình toàn diện với sự bảo tồn nguyên vẹn và phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên, trở thành viên ngọc quý tỏa sáng trong thu hút du khách, đời sống người dân không ngừng được cải thiện, phát triển dịch vụ du lịch sinh thái bền vững,…

Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương sự nỗ lực vượt bậc và những kết quả quan trọng mà các cấp ủy đảng, chính quyền, quân và dân địa phương đã đạt được. Thủ tướng mong muốn và tin tưởng cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân địa phương phát huy hơn nữa những thành tích đã đạt được, huy động sự chung tay của cộng đồng, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đặc biệt là sự hỗ trợ, giúp đỡ quý báu của UNESCO để Cù Lao Chàm – Hội An tiếp tục là minh chứng rõ nét, sống động về kết nối, hài hòa giữa thiên nhiên và con người, để chiến dịch “Cù Lao Chàm nói không với túi ni-lông” tiếp tục được nhân rộng và tác động lan tỏa đến các địa phương trong cả nước, thiết thực hưởng ứng chủ trương của Chính phủ kêu gọi toàn xã hội chung tay hành động chống rác thải nhựa vì đất nước Việt Nam trong lành, phát triển bền vững,…

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 25/5/2019:

Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình thực hiện thành công ca phẫu thuật tim

Ngày 24-5, các bác sĩ thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình lần đầu phẫu thuật tim mạch thành công cho bệnh nhân Nguyễn Văn Bảy, trú tại huyện Kiến Xương (Thái Bình) sau hơn hai giờ trong phòng mổ đã được kíp phẫu thuật thay thành công van hai lá. Đây là kỹ thuật chuyên sâu thường được thực hiện tại các Bệnh viện tuyến trên, nhưng đối với một đơn vị y tế cấp tỉnh đây là bước tiến đột phá, thể hiện trình độ tay nghề chuyên môn cao của đội ngũ cán bộ y tế Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình.

Đến nay, sau 5 năm cử cán bộ y tế đi đào tạo tại Bệnh viện Chợ Rẫy (TP Hồ Chí Minh) và được Trung tâm Tim mạch (Bệnh viện E) chuyển giao nhiều kỹ thuật chuyên sâu như phẫu thuật lồng ngực, phẫu thuậ mạch máu, phẫu thuật tim hỏ, Bệnh viện đa khoa Thái Bình là một trong số ít bệnh viện tuyến tỉnh làm chủ được kỹ thuật phẫu thuật tim mạch

Đà Nẵng phát hiện súng thần công niên đại gần 200 năm

Sáng 24-5, ông Huỳnh Đình Quốc Thiện, Giám đốc Bảo tàng Đà Nẵng xác nhận thông tin trên và cho biết, hiện đơn vị đang phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan tiến hành đo đạc hiện vật, khoanh vùng vị trí phát hiện hiện vật. Sau khi các cơ quan chức năng kiểm tra các vấn đề về kỹ thuật liên quan, Bảo tàng Đà Nẵng sẽ tiếp nhận khẩu súng thần công này để đưa về bảo tàng, bổ sung vào vào bộ sưu tập Súng thần công hiện đang được trưng bày tại Di tích đặc biệt cấp Quốc gia Thành Điện Hải. Bước đầu ghi nhận, khẩu súng này là khẩu súng thần công được đúc vào thời nhà Nguyễn, và là một trong những khẩu thần công được trang bị cho hệ thống phòng thủ Đà Nẵng, gồm thành Điện Hải và An Hải. Khẩu súng được đúc bằng đồng dành cho cấp chỉ huy, kích thước nhỏ hơn các khẩu súng thần công đang được trưng bày tại Di tích đặc biệt cấp Quốc gia Thành Điện Hải. Hiện súng còn nguyên vẹn. Về mặt niên đại, khẩu súng này có niên đại 200 năm. Hiện vật rất có giá trị, góp phần khẳng định, làm rõ thêm về ý nghĩa của cuộc chiến tranh giai đoạn 1858-1860 của quân và dân Đà Nẵng.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 22/5/2019:

Bế mạc Liên hoan Tuồng và Dân ca kịch toàn quốc

Tối 20-5, Liên hoan Tuồng và Dân ca kịch toàn quốc – 2019 đã bế mạc sau 10 ngày tranh giải với sự tham gia của gần 300 diễn viên, nhạc công và các thành phần sáng tạo đến từ 11 đơn vị Tuồng và Dân ca kịch chuyên nghiệp trên cả nước, cùng sự cổ vũ của hàng nghìn lượt khán giả tới xem tại Nhà hát Lam Sơn, thành phố Thanh Hóa.

Đại diện cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Tổ chức Liên hoan đã trao hai Huy chương Vàng, bốn Huy chương Bạc cho các vở diễn; 27 Huy chương Vàng, 49 Huy chương Bạc cho các vai diễn và một giải cho mỗi thành phần sáng tạo xuất sắc: tác giả, đạo diễn, nhạc sĩ, họa sĩ tại Liên hoan.

Đến dự Lễ Bế mạc có các đại biểu, đại diện lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Thanh Hóa, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa – những đơn vị tổ chức Liên hoan; đại diện các cơ quan, ban, ngành tại tỉnh Thanh Hóa cùng đông đảo nghệ sĩ, diễn viên của các đơn vị nghệ thuật và khán giả Thanh Hóa…

Phát biểu tổng kết Liên hoan, PGS, TS Trần Trí Trắc – Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật ghi nhận: “Bằng tất cả thanh – sắc – thục – tinh – khí – thần của một đời, các nghệ sĩ đã “đốt cháy” mình dưới ánh đèn sân khấu và đã thắp lên ánh sáng huyền diệu của hình tượng tuồng, hình tượng dân ca kịch dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng từ thể tài chính kịch tâm lý xã hội, chính kịch sinh hoạt tả thực, chính kịch anh hùng ca đến bi kịch và bi hài kịch. Hầu hết các vở diễn đều được đồng nghiệp thừa nhận là sạch sẽ, suôn sẻ, chuyên nghiệp…”.

Bên cạnh đó, ông cũng bày tỏ những nhìn nhận hết sức khách quan: “Tuy nhiên Liên hoan cũng không nhiều tác phẩm có câu chuyện mới mẻ, độc đáo mà phần lớn chỉ là những câu chuyện quen thuộc đã nghe, đã biết, đã thấy ở lịch sử, ở truyền thanh, truyền hình hoặc đơn vị nào đó đã diễn, đã biểu hiện theo thể loại khác. Vẫn còn vở kết cấu thiếu chặt chẽ – logic, lớp thừa – lớp thiếu, lớp dài – lớp ngắn, lớp thiếu tinh tế; có vở thiếu thi pháp cơ bản của kịch hát dân tộc, nên đã tạo ra thực trạng “kịch nói cắm tuồng”, “kịch nói cắm dân ca”; có vở lại dùng ngôn từ đương đại và đôi chỗ cục cằn thiếu thẩm mỹ…”

Tuy vậy, nhìn chung Liên hoan đã có được những ngày hội của nghề nghiệp trong gặp gỡ, giao lưu và quảng bá tới đồng nghiệp cùng người xem xứ Thanh. Đó là những kết quả của sáng tạo nghệ thuật và những nỗ lực vượt qua khó khăn của mỗi đơn vị nghệ thuật truyền thống.

Về các giải thưởng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trao hai Huy chương Vàng cho hai vở diễn: Chói rạng sơn hà (Đoàn ca kịch bài chòi Bình Định) và Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư (Nhà hát Tuồng Việt Nam); bốn Huy chương Bạc cho các vở: Quan khiêng võng (Nhà hát Tuồng Đào Tấn), Trung thần (Nhà hát Tuồng Việt Nam), Hoạn lộ (Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh), Cái mẻ kho (Nhà hát Nghệ thuật Ca kịch Huế – Đoàn Ca kịch 2).

Về giải thưởng dành cho diễn viên: có 27 diễn viên đạt Huy chương Vàng và 49 diễn viên đạt Huy chương Bạc.

Ngoài ra Ban Tổ chức còn trao một giải cho mỗi thành phần sáng tạo xuất sắc nhất đã có nhiều tìm tòi, sáng tạo mang lại hiệu quả cao cho vở diễn tham gia Liên hoan, đó là: Tác giả xuất sắc – Nguyễn Sỹ Chức (vở Chói rạng sơn hà – Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định); Đạo diễn xuất sắc – NSND Hoài Huệ (vở Chói rạng sơn hà – Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định); Nhạc sĩ xuất sắc – NSƯT Cao Đình Lưu (vở Triết vương Trịnh Tùng – Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Thanh Hóa); Họa sĩ xuất sắc – Nguyễn Hoàng Phong (vở Chói rạng sơn hà – Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định).

Cứu người bệnh bị vỡ tim do tai nạn giao thông

Vào lúc 2 giờ sáng ngày 21-5, nạn nhân bị tai nạn giao thông do đâm vào phía sau xe tải trên đường Võ Chí Công (theo hướng Hà Nội đi sân bay Nội Bài), gây vỡ túi khí trong xe. Sau tai nạn, nạn nhân rơi vào tình trạng lơ mơ, kích thích, da xanh, huyết áp tụt, đau ngực dữ dội, khó thở…, được xe cấp cứu 115 đưa vào Bệnh viện E. Ngay lập tức, các bác sĩ tiến hành cấp cứu khẩn cấp cho bệnh nhân trong tình trạng: đau vùng thành ngực trước, cảm giác khó thở, đồng tử giãn, đa chấn thương vùng ngực, xuất hiện bầm tím trước thân xương ức…

Các bác sĩ đã nghĩ ngay đến chấn thương ngực kín, không loại trừ khả năng bệnh nhân bị vỡ tim. Các bác sĩ đã chỉ định chụp cắt lớp vi tính 64 dãy lồng ngực, phát hiện trong lồng ngực bệnh nhân có dịch ngoài màng tim, gây ép tim, làm tim ngừng đập. Vì thế, các bác sĩ quyết định mổ tối cấp cứu cho bệnh nhân.

Nhận thấy tình hình khẩn cấp của bệnh nhân, các bác sĩ, điều dưỡng Khoa Gây mê hồi sức, Bệnh viện E đã chuẩn bị sẵn sàng một lượng máu lớn và phòng mổ, gây mê… Một kíp bác sĩ thuộc khoa Phẫu thuật tim mạch và lồng ngực, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện E gồm TS, BS Nguyễn Công Hựu, ThS, BS Ngô Thành Hưng cũng nhanh chóng, khẩn trương tiến hành mổ cấp cứu cho bệnh nhân.

Sau khi gây mê nội khí quản, các bác sĩ phẫu thuật tim mạch và lồng ngực mở ngực dọc đường giữa xương ức toàn bộ, mở màng ngoài tim giải phóng ép tim. Khi các bác sĩ mở màng ngoài tim, các bác sĩ phẫu thuật thấy trong lồng ngực có rất nhiều dịch và máu cục nên đã xử lý hút lượng máu tươi và máu cục khoảng hơn ba lít máu. Các bác sĩ tiến hành kiểm tra, xác định vết thương thấu ngực gây thủng phễu thất phải ngay dưới động mạch phổi với đường kính là 2 cm, đang phun máu xối xả… Bệnh nhân lập tức được khâu vết thương tim và bổ sung 10 đơn vị hồng cầu khối (tương đương với 3.500ml) và 1.200 ml plasma (yếu tố đông máu) cho bệnh nhân. Thực tế, một người bình thường có 5.000-6.5000 ml máu, thì để cứu sống bệnh nhân này, các bác sĩ đã phải truyền 4.200 ml máu cho bệnh nhân…

ThS.BS Ngô Thành Hưng, người tham gia cấp cứu trực tiếp cho bệnh nhân, cho biết, sự nguy hiểm của vị trí vỡ tim của bệnh nhân là hiếm gặp. Đa phần bệnh nhân sẽ tử vong trước khi kịp cấp cứu vào bệnh viện. Tuy nhiên, trong trường hợp này, bệnh nhân được cấp cứu kịp thời, cộng thêm sự phối hợp tốt, nhịp nhàng giữa nhiều chuyên khoa: cấp cứu, phẫu thuật tim mạch, gây mê, hồi sức tích cực. Đến nay, tình trạng bệnh nhân đã dần ổn định.

GS, TS Lê Ngọc Thành, Giám đốc Bệnh viện E khẳng định, rất may mắn cho bệnh nhân này đã được đưa vào cấp cứu trong ngưỡng thời gian “vàng” để cứu sống quả tim của bệnh nhân. Chỉ cần chậm hơn vài giây, bệnh nhân sẽ đối mặt với nguy cơ tử vong rất cao do mất máu ồ ạt. Thực tế, Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa với nhiều chuyên khoa mũi nhọn như cấp cứu, tim mạch, gây mê hồi sức… đã phối hợp một cách chặt chẽ, khẩn trương để cứu sống bệnh nhân vỡ tim trong gang tấc. Trong thời gian qua, đã có rất nhiều trường hợp bệnh nhân liên quan đến tim mạch vỡ tim, thủng thất, vết thương tim… được các bác sĩ bệnh viện cứu sống thành công.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 20/5/2019:

Thừa Thiên – Huế tuyên dương hơn 1.900 học sinh giỏi

UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế vừa tổ chức lễ tuyên dương, khen thưởng hơn 1.900 học sinh giỏi cấp quốc gia và cấp tỉnh năm học 2018-2019.

Trước khi tuyên dương, hơn 150 học sinh xuất sắc của Trường THPT chuyên Quốc học Huế đại diện cho hơn 250 nghìn học sinh của Thừa Thiên – Huế báo công lên Bác Hồ kính yêu về những kết quả và thành tích xuất sắc đạt được trong năm học này, nguyện tiếp tục phấn đấu để gặt hái được nhiều kết quả trong năm học tới.

Năm học 2018-2019, toàn tỉnh Thừa Thiên – Huế có hơn 1.900 học sinh đoạt giải cao trong kỳ thi học sinh giỏi các cấp, trong đó có 649 giải học sinh giỏi cấp tỉnh bậc THCS; hơn 1.100 giải học sinh giỏi cấp tỉnh bậc THPT ở các môn văn hóa. Đội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp quốc gia có 52 học sinh đoạt giải. Dịp này, em Lê Công Minh Hiếu (lớp 11 chuyên Lý 1, Trường THPT chuyên Quốc học Huế, đoạt Huy chương đồng kỳ thi Ô-lim-pích Vật lý châu Á được UBND tỉnh tặng Bằng khen…

Giới thiệu văn hóa dân tộc Mông ở Yên Bái tại Hà Nội

Trong hai ngày 18 và 19-5, tại vườn hoa Lý Thái Tổ (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), UBND thành phố Hà Nội phối hợp UBND tỉnh Yên Bái tổ chức chương trình “Giới thiệu sắc màu văn hóa dân tộc Mông Yên Bái tại Hà Nội”.

Yên Bái là một tỉnh Tây Bắc, có tiềm năng lớn về du lịch, với hệ thống ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải, đỉnh Tà Xùa hùng vĩ, hồ Thác Bà thơ mộng… Thiên nhiên hoang sơ được tô điểm thêm bằng nét đẹp của văn hóa các dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào Mông, phân bố chủ yếu ở các huyện: Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn… Văn hóa ẩm thực, trang phục, đời sống sinh hoạt, văn nghệ của đồng bào Mông luôn là những chủ đề hấp dẫn khách du lịch. Dịp này, tỉnh Yên Bái đã giới thiệu nhiều nét đặc sắc trong văn hóa dân tộc Mông, từ lễ mừng cơm mới, trình diễn trang phục dân tộc, đến trình diễn khèn, đàn môi, các món ẩm thực của người Mông…; giới thiệu triển lãm ảnh về Yên Bái.

Thông qua chương trình, Ban tổ chức mong muốn thu hút khách du lịch đến với Yên Bái. Đây cũng là sự kiện quảng bá cho chương trình du lịch “Bay trên mùa nước đổ” – chương trình trình diễn dù lượn với sự tham gia của nhiều khách du lịch ưa mạo hiểm trong nước và quốc tế tổ chức vào cuối tháng 5 này.

Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc thiểu số Việt – Lào

Ngày hội Văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc thiểu số các tỉnh vùng biên giới Việt Nam – Lào khu vực miền trung và Tây Nguyên năm 2019 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH, TT và DL) và UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế phối hợp tổ chức đã chính thức khai mạc tối 17-5, tại Quảng trường huyện A Lưới (tỉnh Thừa Thiên – Huế).

Ngày hội có sự tham gia diễn xuất của hơn 600 nghệ sĩ, nghệ nhân, diễn viên đến từ các đoàn nghệ thuật tại năm tỉnh Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế, cùng các đoàn nghệ thuật của bốn tỉnh: Át-ta-pư, Sê-kông, Sa-va-na-khẹt và Sa-la-van (Lào).

Trong khuôn khổ ngày hội còn có các hoạt động trưng bày, giới thiệu, quảng bá sản phẩm văn hóa, du lịch và di sản của các dân tộc vùng biên giới hai nước Việt Nam – Lào. Hàng loạt chương trình hấp dẫn sẽ diễn ra như: Trình diễn dệt vải thổ cẩm; các hoạt động thi đấu thể dục, thể thao, bắn nỏ, kéo co, bóng chuyền; trích đoạn lễ cưới truyền thống của đồng bào Pa-Cô (huyện A Lưới); Chương trình famtrip tham quan các địa điểm du lịch A Lưới; Liên hoan văn nghệ quần chúng và trình diễn trang phục truyền thống dân tộc; Không gian ẩm thực Huế và ẩm thực truyền thống các dân tộc huyện A Lưới; trình diễn Bộ sưu tập Dèng của nhà thiết kế Minh Hạnh…

Chương trình nghệ thuật tưởng nhớ nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương

Tối 19-5 tới, một chương trình nghệ thuật đặc biệt mang tên “Trở về đất mẹ” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh GS, NS, NSND Nguyễn Văn Thương sẽ diễn ra tại Trung tâm Nghệ thuật Âu Cơ, số 8 Huỳnh Thúc Kháng, Ba Đình, Hà Nội.

Chương trình do Nhà hát Ca Múa Nhạc Việt Nam phối hợp với Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam thực hiện nhằm tri ân những đóng góp to lớn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương cho nền âm nhạc Việt Nam cũng như nền nghệ thuật cách mạng Việt Nam.

Đêm nghệ thuật “Trở về đất mẹ” có sự tham gia của nhiều thế hệ NSND, NSƯTđã được nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương phát hiện, dìu dắt như: NSND Quang Thọ, NSND Thu Hiền, NSƯT Quang Huy, NSND Thái Bảo, NSƯT Thanh Vinh, NSƯT Đức Long, NSƯT Mạnh Hà cùng các nghệ sĩ trẻ của nhà hát như: NSƯT Phương Thảo, ca sĩ Phương Mai, ca sĩ Minh Đức, Hoàng Thịnh Ketsle, Thanh Bình Accordion, nhóm Phương Bắc, nhóm Thăng Long, nhóm Pha Lê… và tập thể nghệ sĩ múa Nhà hát Ca Múa Nhạc Việt Nam.

Ngoài ra còn có sự tham gia của một số nghệ sĩ, ca sĩ đến từ Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam như NSƯT Hoa Đăng, ca sĩ Lê Anh Dũng, ca sĩ Thu Thủy Sao Mai 2017….

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 17/5/2019:

Kỷ niệm 1.000 năm Ngày sinh Thái úy Lý Thường Kiệt

Tối 16-5, tại Khu đền thờ Lý Thường Kiệt (xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) diễn ra Lễ kỷ niệm 1.000 năm Ngày sinh Thái úy Lý Thường Kiệt (1019 – 2019). Tới dự, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Quốc phòng; Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Công an; đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên T.Ư Đảng, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông; đại diện lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng huyện Yên Phong.

Lý Thường Kiệt là nhà quân sự, nhà chính trị lỗi lạc thời nhà Lý, nước Đại Việt. Ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (năm 1069), đánh phá ba châu: Khâm, Ung, Liêm, nước Tống (1075 – 1076). Đặc biệt, cách đây 942 năm, vào mùa Xuân năm 1077, trên bờ sông Như Nguyệt (sông Cầu), xã Tam Giang, huyện Yên Phong (Bắc Ninh), ông đã chỉ huy trận quyết chiến chiến lược của quân và dân Đại Việt đánh bại đại quân nhà Tống, do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy, làm thất bại hoàn toàn cuộc xâm lược của nhà Tống… Năm 2013, Lý Thường Kiệt được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh sách một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu của lịch sử Việt Nam.

Để tri ân những công lao, đóng góp to lớn của Việt Quốc Công, Thái úy Lý Thường Kiệt và các vị anh hùng, bậc tiền nhân, tỉnh Bắc Ninh đã phê duyệt Dự án phân khu khu du lịch, lịch sử – văn hóa chiến tuyến Như Nguyệt, với tổng diện tích hơn 250 ha, hình thành năm phân khu. Trong đó, phân khu 1 là Đền chính, có diện tích gần 9 ha, là một trong sáu công trình trọng điểm của tỉnh Bắc Ninh. Sau hai năm tổ chức triển khai dự án, đến nay, một số hạng mục chính đã được hoàn thành, với tổng kinh phí gần 200 tỷ đồng.

Tại lễ kỷ niệm, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Nguyễn Nhân Chiến đã trao Bằng xếp hạng Đền thờ Lý Thường Kiệt là Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 29/5/2019:

Hơn 90% số ca ung thư phổi liên quan đến sử dụng thuốc lá

Ngày thế giới không thuốc lá (31-5) hằng năm là dịp để Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và các nước triển khai các hoạt động nâng cao nhận thức về tác hại của việc hút thuốc và khuyến khích nói không với thuốc lá. Năm nay, chủ đề được chọn là “thuốc lá và các bệnh về phổi”.

Theo WHO, trên thế giới, sử dụng thuốc lá là nguyên nhân chính gây ra các bệnh về phổi, điển hình nhất là ung thư phổi và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. 90% trong số hơn 600 nghìn người mắc ung thư phổi hằng năm là người hút thuốc lá. Hút thuốc là nguyên nhân của 75% các ca bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Còn tại Việt Nam, theo số liệu của Bệnh viện K, tỷ lệ người bệnh ung thư phổi có hút thuốc lá lên tới 96,8%. Hút thuốc thụ động (hít phải khói thuốc) còn là nguyên nhân gây các bệnh về phổi đối với trẻ em. Hút thuốc thụ động từ khi còn nhỏ sẽ khiến các em có thể phải gánh chịu những hậu quả sức khỏe ở tuổi trưởng thành, như bị tăng nguy cơ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính do nhiễm trùng đường hô hấp dưới thường xuyên.

Với chủ đề “Thuốc lá và các bệnh về phổi”, WHO muốn thông tin tới cộng đồng hậu quả của việc sử dụng thuốc lá với sức khỏe con người, nhất là các bệnh về phổi, đồng thời kêu gọi các quốc gia có những hành động kịp thời nhằm giảm nguy cơ tử vong do các bệnh về phổi liên quan đến sử dụng thuốc lá. Một trong những biện pháp hiệu quả để bảo vệ sức khỏe phổi là không hút thuốc và giảm đến mức thấp nhất việc tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động. Đồng thời kêu gọi các nhà hoạch định chính sách ủng hộ các chính sách phòng, chống tác hại thuốc lá để giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá; tăng cường sự quan tâm và thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Các nghiên cứu và bằng chứng khoa học cho thấy, hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ung thư phổi (chiếm hơn hai phần ba tổng số ca tử vong do ung thư phổi). Hút thuốc thụ động (tại nơi làm việc, tại nhà, trong môi trường khép kín…) cũng làm tăng nguy cơ ung thư phổi cho người không hút thuốc nhưng thường xuyên hít phải khói thuốc… Bỏ thuốc lá giúp làm giảm nguy cơ mắc ung thư phổi (sau 10 năm bỏ hút thuốc, nguy cơ ung thư phổi giảm xuống khoảng một nửa so với người hút thuốc). Hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), một tình trạng tích tụ chất nhầy và mủ trong phổi người hút thuốc dẫn đến ho, đau ngực và khó thở. Nguy cơ mắc bệnh COPD đặc biệt cao ở những người hút thuốc từ khi còn trẻ, vì các chất độc trong khói thuốc lá làm suy giảm sự phát triển của phổi. Khói thuốc lá cũng là nguyên nhân làm trầm trọng thêm bệnh hen suyễn, góp phần gây ra tàn phế và tử vong cho cả người hút thuốc và người hút thuốc thụ động.

Đáng chú ý, hút thuốc lá thụ động có rất nhiều tác hại đối với hệ hô hấp của trẻ nhỏ. Trẻ sơ sinh bị ảnh hưởng với các chất độc trong khói thuốc từ khi còn ở trong bụng mẹ sẽ bị chậm phát triển chức năng phổi; có nguy cơ bị phát bệnh hen suyễn hoặc làm bệnh hen trầm trọng hơn, tăng nguy cơ mắc viêm phổi, viêm phế quản và thường xuyên nhiễm trùng đường hô hấp dưới. Trẻ em hút thuốc thụ động từ khi còn nhỏ có thể phải chịu những hậu quả sức khỏe ở tuổi trưởng thành như tăng nguy cơ mắc COPD do việc bị nhiễm trùng đường hô hấp dưới thường xuyên khi còn nhỏ. WHO ước tính trên toàn cầu, mỗi năm có tới 165 nghìn trẻ em chết trước 5 tuổi do nhiễm trùng đường hô hấp dưới vì hút thuốc thụ động gây ra.

Bệnh lao gây hại cho phổi và làm giảm chức năng của phổi. Bệnh sẽ trầm trọng hơn ở những người hút thuốc. Với những người hút thuốc, nguy cơ mắc bệnh lao cao gấp hai lần những người không hút thuốc. Ở những người đang mắc bệnh lao, nếu tiếp tục hút thuốc thì sự kết hợp của bệnh lao với các tác hại của khói thuốc lá, sẽ làm tăng đáng kể nguy cơ tàn tật và tử vong do suy hô hấp.

Khói thuốc lá làm ô nhiễm không khí, nhất là trong môi trường khép kín, tại các khu vực trong nhà. Với hơn 7.000 hóa chất, trong đó có 69 chất gây ung thư, sự ô nhiễm các chất độc hại trong khói thuốc là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi, các bệnh hô hấp mãn tính và giảm chức năng phổi đối với những người sống và làm việc tại các nơi này. Khói thuốc lá có thể tồn tại trong không khí tới năm giờ kể cả khi không còn nhìn thấy hoặc ngửi thấy.

Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững nhằm giảm một phần ba tỷ lệ tử vong sớm do các bệnh không lây nhiễm gây ra vào năm 2030, WHO nhấn mạnh, phòng, chống tác hại của thuốc lá cần phải được coi là ưu tiên hàng đầu của các quốc gia và cộng đồng trên toàn thế giới. Các nước cần tăng cường phòng, chống tác hại của thuốc lá thông qua việc thực hiện đầy đủ và mạnh mẽ các nội dung của Công ước khung về kiểm soát thuốc lá. Tại các gia đình, cha mẹ và các thành viên khác cần thực hiện các biện pháp để môi trường trong lành không có khói thuốc lá nhằm bảo vệ sức khỏe của chính mình và con cái, người thân trong gia đình.

Hưởng ứng Ngày thế giới không thuốc lá và Tuần lễ quốc gia không thuốc lá (từ 25 đến 31-5) Bộ Y tế muốn gửi đến những người hút thuốc thông điệp: Hãy bỏ thuốc lá ngay hôm nay, ngừng hút thuốc sớm là phương pháp hiệu quả nhất giúp ngăn ngừa và làm chậm sự phát triển của bệnh tật do việc hút thuốc. Chúng ta hãy chung tay xây dựng cuộc sống không khói thuốc để bảo vệ sức khỏe cho chính bản thân mình, cho gia đình và cho cộng đồng.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 28/5/2019:

Xử phạt chủ dự án chung cư The Summit 275 triệu đồng

Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ vừa ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính 275 triệu đồng đối với Công ty TNHH Đất Kinh tuyến số Một, chủ đầu tư dự án khu chung cư cao cấp The Summit (tên thương mại là Sơn Trà Ocean View, thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà). Qua kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện chủ đầu tư đã bàn giao 16 căn hộ đưa vào sử dụng và hợp đồng bán 338 căn hộ khi chưa đủ điều kiện bán nhà ở. Dự án cũng bị đình chỉ hoạt động kinh doanh bất động sản cho đến khi chủ đầu tư hoàn tất nộp phạt và các thủ tục phát lý theo quy định

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 28/5/2019:

Xét xử đối tượng chống chính quyền nhân dân

Ngày 27-5, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định mở phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Quốc Bình (45 tuổi, trú tại TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Sau khi nghị án, Tòa đã tuyên phạt Lê Quốc Bình một năm tù về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” theo khoản 5 Điều 113, Bộ luật Hình sự năm 2015 và năm năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” được quy định tại Khoản 2 Điều 304, Bộ luật Hình sự năm 2015. Tổng hợp hình phạt là sáu năm tù.

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, do bất mãn chính sách đền bù, giải tỏa đất đai của Nhà nước đối với gia đình trong quá trình triển khai thi công đường Nguyễn Tất Thành nối dài (TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định), Lê Quốc Bình có tư tưởng chống đối. Từ tháng 7-2016, Bình sử dụng mạng xã hội facebook với nick “Le Binh” chia sẻ và bình luận nhiều nội dung sử dụng vũ khí, dùng bạo lực chống Nhà nước. Từ tháng 6 đến 8-2018, Bình nhiều lần qua Campuchia mua súng quân dụng và hàng trăm viên đạn về nhà riêng cất giấu.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 27/5/2019:

Xử phạt cơ trưởng để máy bay lăn quá vạch đỗ

Một cơ trưởng của Hãng hàng không Turkish Airlines (Thổ Nhĩ Kỳ) vừa bị nhà chức trách hàng không xử phạt hành chính 7,5 triệu đồng do lỗi “điều khiển tàu bay trên đường lăn, sân đỗ tàu bay không tuân theo hướng dẫn của hệ thống dẫn đỗ tàu bay, làm ảnh hưởng hoạt động hàng không mà chưa uy hiếp đến an ninh, an toàn hàng không”.

Theo đó, sau khi điều khiển chuyến bay TK170 hạ cánh an toàn tại sân bay Nội Bài, trong quá trình lăn vào vị trí đỗ tàu bay, vị cơ trưởng này đã thiếu quan sát và không làm chủ tốc độ, điều khiển tàu bay lăn quá vạch dừng đỗ 1,1 m so quy định. Tàu bay sau đó được đơn vị phục vụ mặt đất đẩy lùi về đúng vị trí đỗ và cập cầu phục vụ khai thác bình thường.

Theo nhà chức trách hàng không tại sân bay Nội Bài, phi công này thực hiện nhiệm vụ không đúng quy trình phối hợp, ảnh hưởng hoạt động hàng không dân dụng, tuy nhiên chưa uy hiếp đến an ninh, an toàn hàng không. Căn cứ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng, nhà chức trách hàng không đã phạt phi công này 7,5 triệu đồng. Trước đó, nhà chức trách hàng không cũng đã từng xử phạt vi phạm hành chính một số phi công của các hãng hàng không khác do lỗi “điều khiển tàu bay lăn quá vạch dừng đỗ”.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 24/5/2019:

Khởi tố bị can vụ hai tử thi bị đổ đầy bê-tông

Ngày 19-5, Công an tỉnh Bình Dương cho biết, đã khởi tố vụ án phát hiện hai tử thi trong thùng nhựa bị đổ đầy bê-tông tại căn nhà số 90, tổ 3, ấp 5, xã Hưng Hòa, huyện Bàu Bàng.

Trước đó, qua điều tra, thu thập các chứng cứ có liên quan để làm rõ vụ án phát hiện vào chiều ngày 15-5, ngày 18-5, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Dương đã đưa bốn phụ nữ và một ô-tô BKS 51A-718.30 về cơ quan làm việc. Quá trình điều tra, công an đã xác định, hai tử thi là Trần Đức Linh (quê Nghệ An) và Trần Trí Thành (tạm trú TP Hồ Chí Minh), khoảng 30 đến 35 tuổi.

Vụ án vẫn đang được tiếp tục điều tra, làm rõ.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 23/5/2019:

Phạt hai doanh nghiệp chậm đóng bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, UBND thành phố Đà Nẵng vừa ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty cổ phần Licogi 10 và Chi nhánh Công ty TNHH Apave châu Á – Thái Bình Dương tại thành phố Đà Nẵng vì hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội.

Theo đó, UBND thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty cổ phần Licogi 10 (có trụ sở chính tại số 382 Núi Thành, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, Đà Nẵng) vì hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc, BH thất nghiệp, BH tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp với số tiền gần 1,4 tỷ đồng.

Xử phạt vi phạm hành chính đối với Chi nhánh Công ty Trách nhiệm hữu hạn Apave châu Á – Thái Bình Dương tại thành phố Đà Nẵng (có trụ sở chính tại tầng 4 – Tòa nhà VNPT, số 346 đường 2/9, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu) vì hành vi chậm đóng tiền BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp, BH tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp số tiền hơn một tỷ đồng.

Hình thức xử phạt đối với hai đơn vị sử dụng lao động bao gồm phạt tiền 150 triệu đồng; buộc truy nộp số tiền BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp, BH tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp chậm đóng; buộc đóng số tiền lãi của số tiền BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp, BH tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp chậm đóng.

Thời hạn thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định. Mọi chi phí tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do các công ty trên chi trả.

UBND thành phố Đà Nẵng yêu cầu Công ty Cổ phần Licogi 10 và Chi nhánh Công ty Trách nhiệm hữu hạn Apave châu Á – Thái Bình Dương tại thành phố Đà Nẵng nghiêm chỉnh chấp hành quyết định xử phạt. Nếu quá thời hạn, các đơn vị trên không tự nguyện chấp hành, sẽ bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 21/5/2019:

Nguyên Giám đốc Sở Địa chính tỉnh Bình Dương bị tuyên phạt 12 năm tù

Ngày 20-5, Hội đồng xét xử sơ thẩm TAND tỉnh Bình Dương tuyên án ba bị cáo trong vụ thanh lý 658 ha cao-su của Công ty Chế biến cây công, nông nghiệp xuất khẩu tỉnh Bình Dương (Sobexco), phạm tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ”.

Theo đó: Bị cáo Cao Minh Huệ (SN 1954, thường trú TP Hồ Chí Minh), nguyên Giám đốc Sở Ðịa chính tỉnh Bình Dương, bị tuyên phạt 12 năm tù. Bị cáo Phan Văn Trung (SN 1964, thường trú tỉnh Bình Dương), nguyên Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bến Cát (nay là thị xã Bến Cát), bị tuyên 11 năm tù. Bị cáo Ðỗ Văn Sâm (SN 1959, thường trú tỉnh Bình Dương), nguyên cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển huyện Bến Cát, bị tuyên 10 năm tù. Hình phạt tù được khấu trừ đi thời gian các bị cáo đã tạm giam (từ cuối năm 2009 đến đầu năm 2011). Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, cho nên vẫn tiếp tục tại ngoại cho tới khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về trách nhiệm bồi thường dân sự, ba bị cáo phải liên đới bồi thường số tiền thuê đất hơn 230 triệu đồng; yêu cầu UBND thị xã Bến Cát thu hồi hơn 128 tỷ đồng đã bồi thường giải phóng mặt bằng sai cho 32 hộ dân; đồng thời thu hồi hàng chục nghìn mét vuông đất tái định cư đã cấp cho các hộ dân. Về khoảng 114,7 ha đất chưa bồi thường để mở rộng Khu công nghiệp An Tây do liên quan vụ án, Hội đồng xét xử đề nghị UBND tỉnh Bình Dương thực hiện các thủ tục đất đai theo quy định của pháp luật.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 29/5/2019:

Truy nã Tổng Giám đốc Công ty Nhật Cường

Ngày 19-5, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu – Bộ Công an vừa ra quyết định truy nã đối với Bùi Quang Huy (SN 1974, trú tại Hà Nội), Tổng giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Nhật Cường.

Bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người đang bị truy nã đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Sau khi bắt hoặc tiếp nhận đối tượng truy nã phải báo ngay cho Phòng 14 Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu – Bộ Công an.

Trước đó, Cơ quan Công an đã tiến hành khám xét hàng loạt cửa hàng kinh doanh của Nhật Cường Mobile, phát hiện nhiều hoạt động vi phạm pháp luật và đã ra các quyết định khởi tố bị can để điều tra đối với Bùi Quang Huy và tám đồng phạm.

Bước đầu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an xác định, Bùi Quang Huy và một số đối tượng đã thực hiện hành vi phạm tội buôn lậu có tổ chức, xuyên quốc gia; đã lập, sử dụng hai hệ thống sổ sách kế toán tài chính, để ngoài sổ sách hàng nghìn tỷ đồng doanh thu.

 

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.