Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 14, 2019

100 năm Nam Phong tạp chí – Khái lược tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:53 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 7 năm 2019

100 năm Nam Phong Tạp Chí

Khái lược tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam Phong tạp chí

Nguyễn Hữu Sơn

(Bài thu tại www.tapchisonghuong.com.vn ngày 19/8/2017)

  1. Việc nhận diện tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam phong tạp chí (1917 – 1934) trước hết cần đặt tạp chí này trong bối cảnh lịch sử – văn hóa dân tộc giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, dưới chế độ thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam và xu thế thực dân hóa trên thế giới đã vượt qua cao trào và chuyển dần sang giai đoạn thoái trào. Thời điểm ra đời Nam phong tạp chí (1917) rơi vào khoảng lặng giữa hai cuộc khai thác thuộc địa của nhà nước thực dân Pháp, lần thứ nhất (1897 – 1914) và lần thứ hai (1919 – 1929). Sự tồn tại qua 17 năm của Nam phong tạp chí hoàn toàn nằm trong quỹ đạo của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, khi thực dân Pháp đã căn bản dẹp xong các cuộc kháng cự, từng bước đạt được sự ổn định và phát triển. Trên nền tảng thực tại đời sống tư tưởng, kinh tế, xã hội đã tạo đà cho học thuật, văn chương nghệ thuật, báo chí, xuất bản phát triển lên một tầm mức mới. Ở đây cần đặc biệt coi trọng quan điểm lịch sử cụ thể, nhận diện đúng các đặc điểm và xác định đúng mức giá trị, ý nghĩa tiến bộ của Nam phong tạp chí, hạn chế tối đa lối đánh giá cực đoan, quy kết một chiều như đã từng đối xử với tổ chức Tự lực văn đoàn, phong trào Thơ mới, tư trào văn học lãng mạn và các nhóm Tri tân, Thanh nghị, Xuân thu nhã tập, v.v…
  2. Việc xác định tương quan giữa chính trị và văn học trên Nam phong tạp chí cần được xem xét, khảo sát đồng bộ ở ba phương diện cơ bản: Vai trò đội ngũ tác giả – Định hướng sáng tác – Hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình và dịch thuật.
    • Vấn đề cần nhận thức và đi sâu khảo sát trước hết là định hướng tổ chức chính trị và đội ngũ tác giả đã làm nên lịch sử của Nam phong tạp chí, tức là tìm hiểu thực chất mối quan hệ giữa người chủ trương và những người thực thi, thực hiện…

Không có gì phải bàn cãi việc ngài Albert Pierre Sarraut (1872 – 1962), quan cai trị, chính khách đương nhiệm Toàn quyền Đông Dương lần hai (1917 – 1919), đã chỉ đạo Louis Marty, Giám đốc Phòng An ninh và chính trị Đông Dương làm người sáng lập Nam phong tạp chí cùng học giả 25 tuổi Phạm Quỳnh làm Chủ bút kiêm Chủ nhiệm… Không chỉ với Nam phong tạp chí, Phủ Toàn quyền và Nhà nước bảo hộ Pháp đương thời còn khai sinh, bảo trợ cho Viện Viễn Đông bác cổ (từ 1900) và các tờ Gia Định báo (1865 – 1910), Đại Nam đồng văn nhật báo (1907), Đại Việt tân báo (1905 – 1908), Lục tỉnh tân văn (1907 – 1944), Đông Dương tạp chí (1913 – 1939), Trung Bắc tân văn (1913 – 1941), kể cả tài trợ in sách Đại Nam quốc âm tự vị (hai tập, 1895 – 1896) của Huỳnh Tịnh Của (1834 – 1907), bảo trợ cho gánh hát cải lương Phụng Hảo (1936), v.v… Hãy xem các ông chóp bu của chế độ thực dân nửa phong kiến bấy giờ trực tiếp xác lập tư tưởng chính trị và định hướng tôn chỉ, mục đích bản chí: “Mục đích báo Nam phong là thể cái chủ nghĩa khai hóa của Chính phủ, biên tập những bài bằng quốc văn, Hán văn, Pháp văn để giúp sự mở mang tri thức, giữ gìn đạo đức trong quốc dân An Nam, truyền bá các khoa học của Thái Tây, nhất là học thuật tư tưởng Đại Pháp, bảo tồn quốc túy của nước Việt Nam ta, cùng bênh vực quyền lợi người Pháp người Nam trong trường kinh tế… Báo Nam phong lại chủ ý riêng về sự tập luyện văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An Nam” (Nam phong tạp chí, số 1, tháng 7/1917, tr.1)… Cứ bằng vào lời phi lộ này và thực chất thước đo hiệu quả “nói và làm” trong suốt 17 năm tồn tại có thể ghi nhận Nam phong tạp chí đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, đặc biệt trên phương diện văn hóa – văn học, trong khi mệnh đề thứ hai “cùng bênh vực quyền lợi người Pháp người Nam trong trường kinh tế” dường như chỉ là những mỹ từ cho đẹp đường lối chung chứ tuyệt nhiên không ăn nhằm gì và cũng vượt ra ngoài khả năng của một tờ tạp chí chuyên về khoa học xã hội và nhân văn. Trên thực tế, tạp chí đã chú trọng xây dựng, duy trì, điều hòa tốt mối quan hệ Đông – Tây, dân tộc – quốc tế, truyền thống – hiện đại với việc xuất hiện các bài viết bằng cả ba loại hình ngôn ngữ Quốc ngữ – Hán ngữ – Pháp ngữ. Thêm nữa, trong bối cảnh dân chủ tư sản, tạp chí vẫn rộng đường thông tin, trao đổi nhiều vấn đề nhạy cảm, dễ thường không lợi cho xu thế tập quyền của nhà nước bảo hộ: Khảo luận về chính đảng (số 103), Chế độ lập hiến và chế độ đại nghị (số 154), Nhân quyền luận (số 133), Chủ nghĩa quốc gia ở Ấn Độ (số 103), Khảo về hiện tình nước Nga (số 121), Vấn đề độc lập của Phi Luật Tân (số 196), v.v. Chính nhờ tinh thần khảo cứu khách quan và thượng tôn tư liệu mà các trang viết trên Nam phong tạp chí được người đương thời đón nhận, đánh giá cao và cho đến ngày nay vẫn còn nhiều phần giá trị.

Trên thực tế, làm nên thành công của Nam phong tạp chí, học giả Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh (30/01/1893 – 6/9/1945) đã có được một ban biên tập và cộng tác viên hùng hậu, gắn bó trong hầu suốt 17 năm tạp chí tồn tại… Nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên (1923 – 2005) trong công trình Mục lục phân tích tạp chí Nam phong (Tái bản. Nxb. Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2002, tr.10-22) từng nhấn mạnh vị thế mấy tác giả chính: Phạm Quỳnh – Nguyễn Hữu Tiến – Nguyễn Trọng Thuật – Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đôn Phục và chia loại, tôn vinh theo hai nhóm chủ yếu là nhà văn và nhà thơ… Có thể nói họ đều là những trí thức yêu nước, những cây đại thụ văn hóa đã gắn bó chặt chẽ với Nam phong tạp chí và góp công kiến tạo nền quốc văn – văn học Việt Nam giai đoạn bản lề nửa đầu thế kỷ XX.

  • Qua 17 năm phát triển, mảng sáng tác đã ghi dấu ấn sắc nét trên Nam phong tạp chí, đặc biệt khi đặt trong tương quan đời sống văn học trên báo chí giai đoạn cùng thời (1917 – 1934). Thực tế cho thấy, mặc dù có hai năm tồn tại song song, giao thoa với phong trào Thơ mới (1932 – 1934) nhưng thơ ca trên Nam phong tạp chí chủ yếu thuộc dòng thơ cũ gắn với thể Đường luật và không để lại dấu ấn nào đáng kể.

Do tính chất phức tạp, phức hợp, nguyên hợp của các loại hình và thể loại văn học mà nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên trong Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong đã phân loại bộ môn XII- VĂN HỌC theo sáu chủng mục cơ bản: Văn học, văn hóa, văn minh – Văn gia, thi gia – Văn phẩm – Văn thể – Văn học thế giới – Văn học Pháp – Văn học Trung Hoa… Trên thực tế, có thể xác định thành tựu sáng tác trên Nam phong tạp chí chủ yếu lại là văn xuôi với hai thể loại chính là du ký và truyện ngắn…

2.2.1. Trong nền văn học trung đại Việt Nam đã có nhiều sáng tác thuộc thể tài du ký như thơ ca đề vịnh phong cảnh Thăng Long, núi Bài Thơ, Yên Tử, Hoa Lư, sông Hương núi Ngự, Gia Định, Hà Tiên… Bước sang thế kỷ XX, thể tài du ký có bước phát triển mạnh mẽ. Khi thực hiện công trình Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong, nhà thư mục Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký (còn được ông gọi là du hành) là một trong 14 bộ môn và nêu nhận xét: “Nhiều khi chúng ta tự cảm thấy, sống trong đất nước với giang sơn gấm vóc mà không được biết tới những cảnh gấm vóc giang sơn. Thì đây, theo tờ Nam phong, chúng ta có thể một phần nào làm lại cuộc hành trình qua tất cả những phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến đảo Phú Quốc, từ núi Tiên Du đến cảnh Hà Tiên và Ngũ Hành Sơn, từ Cổ Loa, Hạ Long đến Huế thơ mộng… Với thời gian, hẳn những tài liệu này càng ngày càng trở nên quý hoá đối với chúng ta… Trong mục Du ký này, phải kể bài Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, Lại tới Thần kinh của Nguyễn Tiến Lãng; Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, và nhất là Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh”…

2.2.2. Như đã phân tích, bên cạnh thể tài du ký nổi trội, ở đây chúng tôi tiếp tục xem xét thành tựu sáng tác truyện ngắn trên Nam phong tạp chí.

Theo thống kê của Nguyễn Đức Thuận, Nam phong tạp chí đã in tổng cộng 73 truyện ngắn (bên cạnh cách duy danh thể loại đoản thiên tiểu thuyết) (Văn trên Nam phong tạp chí (Diện mạo và thành tựu). Nxb. Văn học, Hà Nội, 2008, tr.257)… Sau này nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Hào đã in Toàn tập truyện ngắn Nam phong (Nxb. Văn học, Hà Nội, 2012, 540 trang) với tổng cộng 64 truyện. Đối chiếu các tác phẩm truyện ngắn trên Nam phong tạp chí với định hướng tư tưởng chính trị thường được lược quy là “bán nước hại dân”, “cột Việt Nam vào Pháp bằng dây thừng văn hóa”, “nằm trong mưu lược của thực dân Pháp” lại thấy một nội dung khác hẳn. Khác biệt với định hướng chính thống, có thể khẳng định tất cả các tác giả truyện ngắn của Nguyễn Bá Học (1857 – 1921), Phạm Duy Tốn (1881 – 1924), Hoàng Ngọc Phách (1896 – 1973), Nguyễn Mạnh Bổng (1879 – 1951), Nguyễn Tiến Lãng (1909 – 1976)… đều nhằm đề cao tinh thần dân tộc, phản ánh hiện thực đời sống xã hội và con người giai đoạn đương thời, tuyệt nhiên không thấy đâu một chiều tâm thế tuyên truyền và phục tùng chế độ thực dân Pháp như một số ý kiến từng quy kết. Xin đơn cử truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn được in vào ngay năm thứ hai sau khi tạp chí ra đời, được định dạng trong mục “Một lối văn hay”, trong đó phản ánh thực trạng người nông dân khốn khổ vì lũ lụt và phê phán sâu sắc bọn quan lại ích kỷ, vô trách nhiệm (cho dù truyện có chịu ảnh hưởng và mô phỏng La partie de billard của nhà văn Pháp A. Daudet, 1840 – 1897). Cốt truyện cô đúc, ngắn gọn, phác vẽ một bên là cảnh người dân cơ cực chống lụt với một bên là tên quan phụ mẫu, “quan cha mẹ” và đồng đảng, mỗi bên hút theo một mối quan tâm, cho đến kết cuộc: “Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!” (Nam phong tạp chí, số 18, tháng 12/1918, tr.355-357)…

Điều đặc biệt là truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn đã được ông Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh trực tiếp viết lời dẫn, trong đó nhấn mạnh chiều sâu và sức mạnh nghệ thuật “Shakespeare hóa”: “Quốc văn ta sau này tất phải chịu ảnh hưởng văn Tây nhiều, lối tả thực rồi tất mỗi ngày một thịnh hành. Như bài văn ông Phạm Duy Tốn sau này cũng khá gọi là một bài tả thực tuyệt khéo: đối hai cái cảnh trái ngược nhau, như bày hai bức tranh trước mặt người ta, mà tự khắc nảy ra một cái cảm giác, một cái tư tưởng tự người đọc biết, không cần phải diễn giải ra, là cái cảm giác tức giận, cái tư tưởng thống mạ kẻ “chễm chện” này không biết thương lũ “lấm láp” kia. Văn tả thực mà được như vậy cũng đã khéo thay. Bản báo đăng bài này mà có lời khen ông Phạm Duy Tốn đã có công với quốc văn”…

Có thể nói bản lĩnh nhà văn, tinh thần hướng về quốc gia, dân tộc, thượng tôn bản chất thực tại cuộc sống và ý nghĩa khách quan của hình tượng nghệ thuật đã tạo nên tính nhân dân trong Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn cũng như thể loại truyện ngắn, mở rộng đến toàn bộ văn xuôi, kể cả tiểu thuyết Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và tất thảy thể tài du ký đã từng xuất hiện trên Nam phong tạp chí. Điều này thể hiện định hướng, dòng chủ lưu của tiếng nói nhân dân trong các sáng tác văn xuôi trên Nam phong tạp chí mà không một ai có thể cực đoan bao biện, quy kết, phủ nhận…

2.2.3. Đối với Nam phong tạp chí, hoạt động nghiên cứu, lý luận và phê bình trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng chính trị và khoa học xã hội vốn là định hướng chủ yếu của tạp chí.

Đặt trong tương quan với định hướng tư tưởng chính trị cũng như xu thế chung của quá trình hội nhập, giao thoa Đông – Tây và quy luật canh tân, đổi mới, phát triển, hiện đại hóa “thổ nạp Á – Âu”, việc các tác giả Nam phong tạp chí quan tâm nhiều đến yêu cầu “điều hòa tân cựu”, “tồn cổ lục”, “tổ quốc túy ngôn”, tập trung bảo tồn di sản văn hóa – văn học truyền thống, đi sâu khảo cứu chữ Hán, chữ Nôm, tiếng Việt, chữ quốc ngữ; khởi động tìm hiểu từ cội nguồn ngữ văn dân gian đến trung đại và hiện đại; tổ chức kỷ niệm và đề cao vị thế danh nhân tác gia văn học như Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Vũ Quỳnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Lê Quý Đôn, Nguyễn Án, Phạm Đình Hổ, Lê Hữu Trác, Nguyễn Công Trứ, Mạc Thiên Tích, Lý Văn Phức, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà, Tương Phố,…; dịch và giới thiệu nhiều tác phẩm tiêu biểu mà con cháu ngày nay vẫn còn được thừa hưởng như thơ văn thời Lý – Trần (123 bài), Lĩnh Nam chích quái, Quân trung từ mệnh tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân thi tập, Hà Tiên thập cảnh, Thượng kinh ký sự, Văn tế thập loại chúng sinh,

Điểm danh và kiểm định toàn bộ phần sáng tác cũng như khảo cứu, lý luận, phê bình, dịch thuật văn học trên Nam phong tạp chí, thật khó mà qui kết đơn giản, cực đoan một chiều về những âm mưu, tác hại, nọc độc phản dân tộc, ru ngủ thanh niên, xa rời cuộc đấu tranh, phục vụ cho mưu đồ cướp nước, làm lợi cho thực dân…

  1. Trên tinh thần Đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có Đổi mới văn học, nhiều hiện tượng tác gia, tác phẩm, trào lưu văn học quá khứ đã được đánh giá, tôn vinh, giới thiệu trở lại, trong đó có vấn đề Nam phong tạp chí và học giả Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh…

Theo thống kê bước đầu, các công trình nghiên cứu, giới thiệu từ 1986 đến nay đã khẳng định vị thế Nam phong tạp chí và vai trò học giả Phạm Quỳnh trong nhiều bộ từ điển danh nhân văn hóa, từ điển văn học, chuyên khảo, luận án, luận văn; đặc biệt nhiều tác phẩm quan trọng đã lần lượt được sưu tập và công bố trở lại: Truyện ngắn Nam phong (1989), Mười ngày ở Huế (2001), Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong (Tái bản, 2002), Luận giải văn học và triết học (2003. Tái bản, 2016), Pháp du hành trình nhật ký (2004), Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam phong (1917 – 1934), ba tập (2007), Thượng Chi văn tập (2007), Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp (2007), Văn trên Nam phong tạp chí (Diện mạo và thành tựu) (2008), Phạm Quỳnh – con người và thời gian (2010), Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ (2011), Phạm Quỳnh – một góc nhìn, Tập I (2011), Tập II (2012), Toàn tập truyện ngắn Nam phong (2012), Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc (2012), Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký (2013. Tái bản, 2014), Đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn trên Nam phong tạp chí (2013), Thượng Chi Phạm Quỳnh (2015), Phạm Quỳnh – những góc nhìn xứ Huế (2015), v.v.

Có lẽ không cần có thêm lời bình về xu thế Đổi mới, hướng đến các giá trị chân – thiện – mỹ, hướng đến sự đánh giá khoa học, khánh quan, toàn diện, công bằng trước hiện tượng Nam phong tạp chí và học giả Phạm Quỳnh.

  1. Lời kết mở

Việc khảo sát, nhận diện tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam phong tạp chí không chỉ nhằm xác định, lý giải những so le nhất định trong hoạt động thực tiễn giữa những người làm báo yêu nước với chủ trương của giới thực dân, giữa những cách thức lựa chọn biện pháp đấu tranh khác nhau và hoàn cảnh lịch sử cụ thể giai đoạn 1917 – 1934 quy định, mà cao hơn thế, còn cần đánh giá tổng thể các lĩnh vực tư tưởng chính trị, khoa học xã hội và nhân văn qua 17 năm tồn tại của tạp chí. Đương nhiên việc đánh giá Nam phong tạp chí theo tinh thần Đổi mới trước hết cần dựa trên sự khảo sát, nghiên cứu tư liệu cụ thể, nghiêm túc, xác định đúng mức những đặc điểm, hạn chế lịch sử, đồng thời khẳng định những giá trị đồng hành với tiến bộ xã hội, với xu thế hội nhập, phát triển, canh tân đất nước. Đã đến lúc cần tổng kết, đánh giá đúng mức vị thế Nam phong tạp chí trong lịch sử báo chí và quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc những năm đầu thế kỷ XX.

N.H.S
(TCSH341/07-2017)

 

Sự cộng tác có hiệu quả (phần 1)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:47 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 7 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại

SỰ CỘNG TÁC CÓ HIỆU QUẢ

Phạm Tôn

  1. Bước đầu học nghề báo

Thep Moi BV BACH MAI

Ngày đầu năm 1973, vừa mở nhật ký ra, chưa viết được chữ nào thì Vũ Tuấn Hùng đến hỏi việc học tiếng Nhật ở nhà tiếp tục ra sao, rồi sau đó là các chú công nhân Cảng Bùi Lê Nghiên và Nguyễn Tiến Trung đến hỏi về đám cưới em Thân xem có việc gì cần giúp không… Thế là hết buổi tối. Hôm sau mới ghi được mấy chuyện này. Chiều 1/1, mình mang giấy thôi trả lương của Cảng đến báo Nhân Dân tìm phòng tổ chức nhưng không gặp ai cả. Ra sân, gần gốc đa thì gặp mấy bạn đội bán báo cũ. Đỗ Quảng hồ hởi đón mình. Còn Nguyễn Văn Bào thì chân thành hỏi mức lương, khi biết là chỉ có 45 đồng thì cười khẩy, vẻ ngao ngán, quá thấp. Còn Vũ Đình Hạnh chỉ nói mấy câu nhạt nhẽo cho qua chuyện.

Bao Quang Hanh.jpg

Sáng hôm sau đến sớm, vẫn không gặp. Mình ra bờ hồ chơi, xem triển lãm Chiến Thắng, Thep moi dungrồi triển lãm sách Liên Xô, lướt mấy hiệu sách… Một lát sau lại quay về tòa soạn. Gặp Phạm Duy Phùng, Phùng mừng lắm, tay bắt mặt mừng. Chưa nói gì với nhau thì không ngờ lại gặp anh Thép Mới. Anh kéo cả hai đứa vào cái buồng con bên trong rất lộn xộn mà cửa vẫn khóa… Có lẽ là buồng anh. Anh nói ngay vào chuyện, thật thà mộc mạc như mọi khi : Hai thằng ngồi đây… Thế này nhé… Anh quay sang mình. Thế là tao hết lòng với mày rồi đấy.  Bây giờ thì chỉ chú ý vào mà làm việc thôi, cái quyết định là làm việc cho tốt. Đứng dính dáng gì , suy nghĩ  gì về Pham Duy Phungnhững việc khác cả. Mày về đây là công an nó có làm rắc rối đấy. Thằng hộ tịch viên nó nói là mày hay giao du với phần tử xấu lắm. Chú ý đừng để phiền… Mày mà để xảy ra chuyện gì là chết tao đấy, mày hiểu chưa. Nói rồi anh giao ngay cho mình cuốn sách Le Journalisme en 30 leçons (Nghề báo qua 30 bài học) của Gilberte và Henry Cotton để về nhà dịch bao giờ xong thì đem đến cơ quan. Từ điển thì đến nhà anh lấy.

Thật không ngờ được làm đúng việc mình thích theo đúng cách mình muốn. Ngay sáng hôm sau, trời rét căm căm mình lo đọc sách, ghi chép đến quên cả mặc áo ấm, bị cảm lạnh…

Căn buồng duy nhất của cả nhà mình ở 16 Hàng Da đã được kê dọn trang trí lại thành phòng cô dâu đẹp và sang. Có cả một rađiô Liên Xô to, kèm máy quay đĩa ở trên, mượn của một bạn già của mẹ làm ở mặt trận Tổ Quốc. Mình làm việc ở nhà nên chuẩn bị được nhiều việc giúp đám cưới em Thân. Em đón Trang về xem, cả hai vui ra mặt. Cả nhà mình rút về sống ở nhà dì Hỷ. Vợ chồng em Nhàn cũng về, mang theo cả gà, gạo nếp, nấm mộc nhĩ. Em rể Long lo việc chăm gà cho béo để làm bữa cơm trong lễ cưới. Bà mang hết dao thớt và những đồ dùng nấu ăn khác đến nhà bà dì. Hôm làm cỗ phải chờ mãi mới thấy em rể mang gà làm sẵn đến. Hỏi ra mới biết chú phải lấy con dao rọc giấy của tôi để mổ bốn con gà, vì dao sắc bà mang đi hết rồi. Chú từng đi bộ đội, nay lại ở rừng nên mới tài thế. Còn tôi, xong việc trang trí thì rảnh, nhưng lấy đâu ra quần áo mà đi dón dâu đây. Cậu Tuyên bảo không phải lo, cậu có hai bộ com lê để nơi sơ tán, lấy về là hai cậu cháu diện được rồi vì vóc người gần như nhau. Đêm hôm trước, cậu đến báo bận việc quá không đi lấy com lê được, lại đành mặc lu dông đi đón dâu vậy. Thế là chết tôi rồi. Tôi lùng mãi mới tìm ra cái áo lu dông nhung kẻ, mua từ hồi giải phóng mới 14 tuổi, sau bạc màu quá lại nhuộm đen, lâu  nay không mặc vì ngắn quá, tay chỉ dài quá khuỷu, áo ngắn trên thắt lưng, có mặc cũng không cài khuy được, còn hở đến gang tay mà tôi lấy đâu ra sơ mi trắng. Cả nhà xúm vào lo cho phù rể là tôi. Cuối cùng theo phương án của mẹ và em Nhàn, lấy len xanh tháo ở mấy cái áo cũ ra, đan hai tay áo đáp vào áo lu dông, lại đan cái diềm khâu vào cho áo dài ra, cổ cũng đan len. Thành ra mặc được, chỉ có ngực bị hở. Chị dâu tôi có khiếu thẩm mỹ, lấy ngay cái khăn ông anh đi Liên Xô về cho vàng, xanh lá, sọc đen đỏ bảo tôi quàng vào cổ, kéo dài đến thắt lưng thì nhét vào. Kết quả là cậu cháu tôi bận lu dông cũng tháp tùng bà Thụy bạn mẹ tôi đi xe đạp đón được dâu. Về sau em Thân kể, bà dì bên nhà gái bảo, anh Thân anh ấy hiền lành chứ ông anh thì rõ là tay chơi, ăn mặc kiểu quá.

Đám cưới Thân Trang vui vẻ đã kết thúc những ngày yên ổn ngắn ngủi. Trời vẫn rét. Tình hình chính trị cũng còn rất phức tạp. Người Hà Nội lại tích cực sơ tán. Có cảm tưởng là thời gian tạm nghỉ đã hết. Ngay trong những ngày vui này mọi người vẫn không quên nhắc tới kẻ địch, không quên những người không còn nữa, những ngôi nhà đã sập… Còn giặc thì không gia đình nào êm ấm được, không niềm vui nào trọn vẹn.

Mình đọc qua cuốn sách một lượt, nhưng khi bắt tay vào dịch mới thấy nhiều khó khăn, nhất là các thành ngữ, tiếng lóng dân báo chí hay dùng. Mình hết sức cố gắng, tin là sẽ trưởng thành qua việc làm đầu tiên. Cuộc phiêu lưu của tin tức là một trận công đồn thì Nghề báo là cả một chiến dịch. Phải dịch cả một quyển sách mà hôm nay, mới được có hai trang. Trước đó đã mất bốn ngày chuẩn bị. Chất lượng là tiêu chuẩn mà. Ngày 10/1, dịch được năm trang.

Buổi trưa không ngủ lo chuẩn bị cho mẹ và cháu Hà hôm sau lên Mộc Châu. Người Hà Nội đang khẩn trương sơ tán. Mọi người theo dõi cuộc mật đàm Lê Đức Thọ – Kítxingiơ vừa được nối lại tại Paris. Tất nhiên là qua theo dõi đài BBC đưa tin bằng tiếng Việt. Một bà bán thịt ở chợ Hàng Da nói với tôi Cứ nghe cụ Thọ cụ ấy đập bàn một cái là mẹ con tôi lại đi ngay… Cụ ấy đi Paris thì mẹ con tôi lại về…

Buổi tối, mình và anh Đại đi xem phim ở câu lạc bộ điện ảnh. Phim Tội ác tột cùng, trừng trị đích đáng về những sự kiện từ 18/12/1972. Phim sản xuất năm 1973. Chỉ một chi tiết đó đủ làm người xem xúc động. Các nhà quay phim thời sự hết sức dũng cảm, tài giỏi, đã ghi lại tội ác của giặc và khí phách anh hùng của nhân dân Thủ đô ta. Mình cùng phải ghi lại bằng phương tiện của mình chứ. Ít dành thì giờ để ghi chép quá, không xứng là người thư ký của thời đại.

Có nên coi là chiến thắng không khi mà mình đã vượt qua một trận ốm không cần một viên thuốc, một mũi tiêm, mà vẫn làm việc, học tập và tập thể dục theo đúng qui định. Chỉ buồn là sáng 12/1, mẹ, Long, Hà đi Mộc Châu mình không đi tiễn được như mọi khi mà phải để mẹ đến bên màn từ biệt con. Việc này gây ấn tượng nặng nề khiến mẹ lo nghĩ.

Hà Nội vẫn yên ổn và vẫn sẵn sàng chiến đấu chống xâm lược. Đợt 12 ngày Hà Nội – Điện Biên Phủ vừa qua, cậu Tuyên đã viết được những bài hát thỏa lòng mong nước của người Hà Nội thời ấy. Nào là Hà Nội  – Điện Biên Phủ, nào là Hà nội những đêm không ngủ.

Mình đã kê xong cái bàn làm việc giáp lưng vào tủ sách trên có treo bức tranh Rêpin vẽ Tônxtôi đi cày, bức tranh bắt nghĩ tới những điều thật cao xa mà gần gũi. Bàn ở đấy, có ánh sáng tự nhiên hắt qua cửa kính hoa từ bên trái. Cửa sổ đầy hoa, mỗi khe giữa hai song sắt là một cây hoa cúc tây vàng tím hồng trắng đỏ. Chỉ còn một điều chưa vừa ý: Năng suất làm việc còn thấp quá.

Tối hôm sau, dịch xong năm trang. Thế là khá, vì còn phải xông, tắm nước nóng và tiếp khách người nhà: Anh Đại chị Thủy về.

Tối 17/1, tập thể dục xong đặt mình lên giường là ngủ luôn. Một giấc ngủ thật ngon, hiếm có. Có lẽ nguyên do là đêm hôm trước, dịch một lèo từ trang 137 đến 22:20 thì xong trang 149. Chất lượng lại tốt. Một kỷ lục.

Hôm 16, đài BBC báo tin, rồi ngày 17, báo Nhân Dân đăng Mỹ ngừng ném bom toàn miền Bắc và ngừng thả mìn. Nhưng vẫn thấy mấy bay trinh sát bay qua Hà Nội.

Một cây hoa cúc tây mình trồng héo rũ, chết, có lẽ do úng nước. Thế đấy, không chăm sóc còn đỡ ân hận, đã chăm sóc mà không đến nơi đến chốn để làm hại cho cái mình chăm sóc thật hết sức đáng giận.

Đêm 24/1, nằm mãi không sao ngủ được lòng xốn xang tràn ngập niềm vui chứa chan hy vọng vào tương lai tươi sáng của mình và cả gia đình. Buổi trưa, đài công bố Hiệp định đình chiến và lập lại hòa bình ở nước ta đã được ký tắt tại Paris. Suốt đêm, tiếng loa khu phố rót vào tai toàn văn bản hiệp định.

Chúng ta đã thắng, đã thắng rất to.

Sáng 25/1, cơ quan tiễn anh Thành Tín đi nhận nhiệm vụ mới ở ủy ban liên hợp, một cái ủy ban mà chỉ hôm qua thôi, có ai biết nó là cái gì đâu. Tôi bắt tay anh Hoàng Tuấn Nhã trước khi anh đi làm phóng viên thường trú báo Nhân Dân tại … Sài Gòn. Chị Trần Hòa, vợ anh, mặt cứ tươi như hoa. Rồi họp, nghe anh Thép Mới thay mặt ban biên tập thông báo tình hình mới và nêu lên nhiệm vụ mới. Không cái gì không làm mình phấn khởi, sung sướng. Niềm vui chiến thắng tràn ngập trong lòng. Thấy thèm làm việc lạ thường, muốn làm thật nhiều, thật tốt, muốn thương yêu tất cả mọi người….

Cuộc đời mình rồi sẽ ra sao nhỉ…Khó mà biết trước thật chính xác…Nhưng chắc chắn là sẽ tươi đẹp, sáng ngời và quí giá: được sống và chiến đấu liên tục, thật còn gì hạnh phúc hơn đây…

Sáng chủ nhật 28/1, loa khu phố vang vang đọc lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Chính phủ ta: Hiệp định đã được ký chính thức. Hòa bình đã lập lại trên đất nước ta. Đây là một bước ngoặt lớn của cả dân tộc ta, cũng là bước ngoặt lớn của cả gia đình và bản thân mình. Mình xúc động, náo nức lắng nghe, ra sân vừa tập thể dục vừa nghe cho rõ hơn. Rồi lấy một xô nước, tưới cho tất cả các cây cối mình trồng, những cây đã từng nở hoa, những cây chưa ra hoa, cả những cây chưa biết khi nào mới nở hoa như cây hoa quỳnh còn rất bé nhỏ của mình… Mình muốn chia vui với tất cả, muốn chúng cũng hạnh phúc sung sướng như mình lúc này đang nghe lời tuyên bố…

Mình đã chuẩn bị là Tết này sẽ lên Yên Bái ăn Tết hòa bình với bà và cô yêu quí. Mình không chịu được cảnh mùa xuân này có người không có Tết, không vui Tết nổ trời trong niềm vui chung của dân tộc.

Tối hôm qua, đã ra ga Hà Nội, đèn ống sáng choang ngay bên cạnh khu nhà lớn trước đây có chân dung Bác, nay đã bị đánh sập hòa toàn. Có tàu đi tất cả các tuyến đường rồi. Tất nhiên là đi Hải Phòng thì phải qua Gia Lâm, còn đi Lao Cai Yên Bái thì phải sang ga Đông Anh mua vé lên tàu. Ta vẫn thiếu những cây cầu. Cầu Long Biên vẫn bị đứt mấy khúc. Chúng ta còn phải nhanh chóng lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền Nam Bắc, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của toàn dân ta. Loa đang vang lên bài ca hùng tráng Giải phóng miền Nam. Phải, còn phải giải phóng Miền Nam, thật sự giải phóng miền Nam

Hôm nay, bốn anh em mình Đại Thành Thân Nhàn và hai nàng dâu là chị Thủy và cô Trang, cháu Ánh Hồng sẽ liên hoan mừng chiến thắng, chiến thắng của cả dân tộc, cũng là chiến thắng của gia đình mình, kết quả của hai mươi năm phấn đấu không ngừng, rèn luyện không ngừng, càng ngày càng trong sạch hơn, cứng rắn hơn, sáng suốt hơn, tài trí hơn thật sự trở thành những công dân tiên tiến của đất nước Việt Nam anh hùng. Sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới, một cuộc chiến đấu mới gay go và gian khổ, cuộc chiến đấu mà trong đó bản thân và cả gia đình mình thật sự hạnh phúc được chính thức đứng trong hàng ngũ những người cách mạng. Không còn hạnh phúc nào lớn hơn được đem hết sức mình chiến đấu cho mục đích cao cả, lý tưởng là đem lại hạnh phúc cho từng người dân Việt nam. Hạnh phúc tràn ngập lòng mình. Cô bạn nhỏ nay đang ở đâu… Trường Sơn, Quảng Trị hay đã vào đến Huế quê hương mình rồi.

Quyết lên ăn Tết hòa bình với bà và cô ở Yên Bái, tôi điện cho chú em rể chí cốt đưa mẹ tôi về gấp 16 Hàng Da, gặp mẹ là 18:30 hai tám Tết tôi đạp xe qua cầu phao, sang Đông Anh, lên tàu lúc 3 giờ sáng, tăng bo ở Bạch Hạc Việt Trì đến 12:30 ngày 29 Tết thì đến ga Yên Bái, đạp xe 40 km đến Thác Bà, gặp  bà, cô lúc 16:30. Ở miền núi giờ ấy đã chập choạng tối. Bà và cô vui mừng quá, cô bảo bà nói chiều nay để cơm phần cháu, thế nào nó cũng lên. Cơm để trong liễn nhỏ, ủ chăn dạ. Tôi nghĩ thật sẽ có tội nếu tôi không lên. Ở lại ngày 30 Tết, cả ngày mồng 1, sáng mồng hai. Trưa mồng hai Tết là đạp xe về ga Phú Thọ, vừa lúc tàu sắp chạy mua vội vé ke rồi xách xe đạp chạy vội kịp toa chở xe, được anh em trên tàu giúp đỡ, lên toa xin mua vé bổ sung về Hà Nội.

Về đến nhà mới thấm thía việc hoạt động quá mứng trong chuyến về dã làm bệnh viêm thần kinh hông to bùng phát dữ dội, đi đứng rất ró khăn phải uống thuốc, châm cứu… nhưng trong lòng nhẹ nhõm, thanh thản vì đã thực hiện được việc tốt đẹp, đem lại niềm vui cho bà và cô.

17/2/1973, đến nhà thày dạy tiếng Nhật xong là ghé nhà Vũ Tuấn hùng đường Trần Quốc Toản định báo Hùng đến học thì biết Hùng đã mất sáng mồng 2 Tết Quý Sửu (4/2/1973) đang lúc ngồi ăn bánh chưng sáng với anh chị họ ở Sơn La. Cũng chôn ngay trên ấy. Thật là đau đớn. Mất Đỗ Mộng Hoàn rồi, nay lại mất Hùng nữa, hai bạn thân thiết của mình. Hai bạn đang hăng hái chuẩn bị cho tương lai của mình đúng lúc đất nước đang cần nhân tài nhất. Hoàn mất khi từ Thái Nguyên về làm thủ tục đi học nước ngoài ngành lắp máy. Hùng mất khi đang thực nghiệm thành công cách nuôi gà trong lồng nhiều tầng thi đua với các chuyên gia Hunggari cùng làm ở trại gà Cầu Diễn.

Mình còn sống và vẫn làm việc được, cố thu vào tâm hồn và trí óc cả tâm hồn cao đẹp và trí tuệ đang vươn cao của hai bạn. Nhớ rất rõ là hai bạn đã tin yêu và hy vọng ở mình như thế nào. Hoàn, Hùng ơi. Lần này, về báo Nhân Dân mình cảm thấy giống như Marie Curie hồi mới đến Trường Sorbonne Paris: Hoàn toàn lao vào học tập, làm việc… Đến mức không để ý gì đến các cô gái mà ở đây không ít cô xinh, các trò chơi giải trí mà chỉ chăm chú vào sách vở và gần gũi các ông già, nhưng người mình coi là thầy. Anh Thép Mới hoàn toàn ủng hộ cổ võ mình trong việc này. Bác Phan Đăng Tài, trưởng ban tư liệu cũng khuyến khích mình học rất nhiều, luôn động viên, ra nhưng câu hỏi tiếng Pháp bắt mình trả lời. Phòng tư liệu là một phòng lớn, nhiều kệ sách cao. Bàn mình kê ngay bên phải cửa to vào phòng. Một hôm, nhà báo Anh Vũ ban Khoa Giáo vào tìm tư liệu, mình nghe loáng thoáng anh hỏi bác Tài là muốn tìm xem angström là cái gì thì mình buột miệng nói là mười lũy thừa âm tám cm. Anh nhìn mình, rồi lục nhiều sách.

Trước khi về có hỏi cụ Tài mình là ai, cụ ghé tai nói nhỏ. Từ đấy anh có thiện cảm với mình, lần nào vào phòng cũng nói vài câu.

Một hôm bác Tài cho mình tự do lục kho sách. Quá phấn khởi, mình đến ngay các giá sách cao, thấy đủ mặt cả Gorki, Hemingway, Balzac, Maupassant, cả Dostoïevsky nữa với Journal d’un écrivain (Nhật ký một nhà văn). Phan Dang Tai.jpgVấn đề bây giờ là phải thật khéo sắp xếp thời giờ và có cách giữ gìn sức khỏe. Hiện giờ, các tối đi học ba buổi (2 Hán, 1 Nhật) Ngoài ra còn học Tây Ban Nha, Trung văn, Anh văn. Tất nhiên vẫn phải cày để đóng góp cho gia đình và có tiền mua sách. Lâu lắm rồi, không dám vào hiệu sách. Lương kể cả phụ cấp mới có 50đ. Đưa gia đình 40, còn 10 đồng thì để trả nợ. Năm tháng nữa mới hết, nếu như không phải vay thêm. Tiền kiếm thêm, trông vào viết báo lại rất bấp bênh, bao giờ cũng không kịp thời. Thật đau lòng khi để lỡ một cuốn sách hay, báo cũng chỉ mua lẻ từng số một.

Mất nhiều thời gian đi châm cứu quá.

Suốt tuần qua hoàn toàn không ngủ trưa, 11 giờ đêm mới đi ngủ, 5 giờ sáng đã dậy. Vậy mà vẫn chưa làm được những việc định làm. Bao giờ cũng ưu tiên cho học, thành ra học thì tạm ổn, nhưng viết, gặp gỡ nhiều người, kiếm tiền thì không làm được chút gì. Biết là bậy, nhưng chưa làm được gì thì đã mệt nhoài cần nghỉ. Như tối qua, chỉ làm đồ chơi cho cháu Hải con em Nhàn. Sáng nay, dưa cháu đi chợ Bắc Qua, Đồng Xuân, đi các hiệu sách chỉ xem cho biết thôi, không dám mua gì. Chiều thì sửa mấy cái bếp dầu. Tất nhiên, tranh thủ đọc Contes choisies de Guy de Maupassant ( Truyện ngắn chọn lọc của Guy đơ Môpatxăng). Càng đọc càng thèm viết, giận mình lười biếng. Sáng sau dậy rất sớm, suy nghĩ thoải mái, nhiều ý hay muốn viết ngay… Nhưng nghĩ lại, thấy những cái đó chẳng có ý nghĩa gì mấy, tài năng mình lại còn quá non nớt, viết làm gì vội. Thiếu gì việc cần làm hơn, thiếu gì cái cần học hơn… Rồi lại mệt, đầu nhức, chân đau… tha hồ là nhiều lí do để thoái lui. Thật nguy quá, chắc chắn là sai rồi, nhưng làm sao đây.

Suốt thời gian qua, làm việc học tập rất khẩn trương, hệt như một người khát đã lâu, nay gặp nguồn nước trong mát chỉ lo uống lấy uống để, không thiết gì đến hoa thơm bướm đẹp quả ngon bên dòng nước.

Hôm nay, chủ nhật 11/3/1973, nghỉ cả ngày. Sáng cả nhà xuống nhà anh Đại mừng anh chị cưới đã được 11 năm và cháu Ánh Ngọc vừa 10 tuổi. Mình không có tiền, nhưng cũng đủ quà cho anh, chị và hai cháu Ngọc, Hồng. Trưa sang nhà thăm gia đình Đinh Bá Đào (buồng 8_C12 Tập thể Kim Liên). Cậu ta mới chuyển từ tòa soạn về nhà in, nên có vẻ buồn, suy nghĩ nhiều. Rất thông cảm với bạn vì sự hụt hẫng này. Khác hẳn năm nào mình vui vẻ từ tòa soạn về nhà in bắt đầu những ngày hạnh phúc nhất đời. Chiều về nhà, khuân vác một lúc rồi lại đâm đầu vào gặm sách. Đọc Con đường dẫn tới tài năng… Rõ là mình đang đi trên con đường ấy. Có điều, đi quá chậm. Buổi tối, đến bác Trần Hữu Thông, người bạn vong niên, nhờ bác lấy hộ hồ sơ ở Cảng. Bác buồn chán lắm… Lại nhớ lời cụ Mỹ, một nhân viên già của cảng tận tụy với công việc ở kho vật tư. Cụ bảo chú không biết chứ cái cảng này là một cái lò luộc người. Luộc xong thì chỉ còn cái xác, vứt đi thôi.

Mình cùng bác Thông đi chơi, đến hơn mười giờ tối mới về nhà. Đầu tiên là đến phố Khâm Thiên thăm hai vợ chồng công nhân già ở cảng nhân dịp cưới con. Riêng một dãy phố Khâm Thiên đổ nát này còn chưa xây dựng lại được bao nhiêu đã có đến ba bốn đám cưới. Trò chuyện với các công nhân bốc xếp và công nhân cơ khí xe lửa ở đây thật vui. Chân thành thiết thực vững chắc, hầu như không có lời than vãn, chỉ có những cái đang làm và định làm mà chưa làm được thôi. Bản chất hành động của công nhân rất rõ rệt. Rồi cũng xuống tập thể Nam Đồng tới nhà anh Trần Hữu Mai, em anh Thông thằm bà cụ sinh ra hai anh. Khoảng hơn 20 giờ anh Mai mới về. Bà cụ bảo ngày nào cũng khoảng giờ này anh mới về nhà ăn cơm, mà ăn rất ít. Anh Mai nói chuyện rất cởi mở, chân tình như với người nhà. Chủ yếu nói về việc cải tiến báo chí trong thời đại mới, vấn đề làm nảy nở cái mới, thế hệ trẻ, nhất là việc tài liệu lịch sử rất thiếu thốn, gây trở ngại cho việc viết hồi ký, cụ thể là việc anh đang làm là chấp bút viết hồi ký cho đại tướng Võ Nguyên Giáp… Mình vẫn có tật ngu ngốc là còn nói nhiều. Bác Thông thì chỉ ngồi nghe, im lặng lắng nghe. Bác là một người chân thành, nhiệt tình đối với mình, mong điều tốt cho mình… tuy không sáng suốt bao giờ. Hơn 50 tuổi rồi, chẳng còn mong gì làm được những việc mơ ước từ hồi còn trẻ nữa nhưng bác vẫn cố gắng không rời bỏ những ước mơ xa xưa ấy…

Hôm nay, chủ nhật 8/4/1973 có lẽ cũng nên coi là một ngày dáng nhớ: Báo Nhân Dân đăng ở trang cuối một bài mình viết về Hoàng Diệu, khoảng 600 chữ thôi, không ký tên. Sau hiệp định Paris báo có cả một trang cuối số chủ nhật viết về các nhân vật đã làm nên lịch sử chống ngoại xâm thời chống Pháp và chống Mỹ. Số đầu đăng bài của anh Thép Mới, bac Phan Đăng Tài, bài của mình và nhiều bài khác. Thế là bài đầu tiên mình viết trên báo Đảng lại là về một vị quan triều Nguyễn. Do bác Tài chỉ định thôi.

Lại chơi suốt ngày, theo kiểu Đức như trong Pie Đệ nhất đế nhà anh Đại đèo mẹ ngồi sau và cháu Hoàng Hải ngồi gióng trước yên. Thăm cháu Ánh Hồng ốm. Sau đó lại xuống Đống Đa thăm Hà Khánh Linh. Linh có mang vẻ mệt mỏi, gặp cả chị họ Nguyễn Khoa Thị Nhuận con bà chị bố mình. Chị hơn 40 mà chưa chồng, khô héo, mắt cứ đau đáu trông mà thương. Chị đang chuẩn bị độ ngày 15 này sẽ về lại Huế. Trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài của ta có biết bao người đã lặng lẽ hy sinh, âm thầm chịu đựng như chị, cô gái Huế làm y tá chăm sóc thương binh, cán bộ.

Tối thứ hai, được nghỉ, mình lại 11 Ngô Văn Sở, không gặp ai. Bèn viết một mảnh giấy, đại ý: Thân gửi hai bạn, tôi đến thăm, rất tiếc là không gặp. Xin chúc các vị vạn sự như ý. Từ trước đợt B52 ném bom Hà Nội, bây giờ mình mới lại đến đây… Hôm nay, thứ năm 12/4, đi làm về thì mẹ cho biết là cô bạn nhỏ có đến khi mình đi làm chiều, định viết giấy để lại. Song lại thôi, nói là sẽ đến gặp sau. Không hiểu là thế nào. Người nhà dưới đã cho biết là mình đi vắng, vẫn cứ lên. Kiểu như muốn tham quan nơi giam giữ cuối cùng chăng… Đây là lần đầu cô bạn đến nhà mình. Lần trước cô hẹn hẳn hoi, nhưng lại không đến làm mất công chờ cả buổi chiều không dám đi đâu.

Sau khi được phân công viết về Đinh Công Tráng, lại được phân công viết về Phan Châu Trinh mai là phải xong.

Chủ nhật, 15/4, mình dồn vào đọc lịch sử và tiếng Nhật là hai môn mình cần mà còn rất kém. Tối, vừa giở sách Nhật ra thì có người đến cho vé xem vở Đôi Mắt diễn ngay rạp Hồng Hà gần nhà. May mà vở kịch khá hay, sạch sẽ, mấy vai thứ yếu đều rất đạt. Trang cuối báo chủ nhật đăng bài Phan Chu Trinh mình viết. Đây là bài thứ hai đăng trên báo Nhân Dân. Cụ Tài bảo những bài báo đầu tay này nên cắt ra dán thành một tập làm kỷ niệm. Cụ là thủ trưởng, nhưng khi nào trao nhiệm vụ cho ai thì đến tận bên bàn người ấy, nói nhỏ nhưng rõ ràng nhiệm vụ rồi vỗ khẽ tay vào vai người đó động viên. Bình thường vào phòng tư liệu không ai thấy trưởng phòng đâu. Cụ vốn thấp, lại hay cúi xuống mà bàn cụ thì ba bề đều chất đầy sách và các bản tin che lấp hẳn cụ.

Ngày 19/4/1973, họp toàn ban tư liệu nghe công bố phân công cán bộ mới của Ban Biên tập. Tôi về ban văn hóa – văn nghệ do anh Thép Mới phó tổng biên tập làm trưởng ban. Cụ Tài ghé tai tôi nói nhỏ: Tình nghĩa đôi ta có thế thôi. Nhưng, cái Pháp văn của anh là kiếm ăn được rồi đấy… Tôi, thế nào cũng tìm cách giúp anh học. Ngày hôm sau, về ban mới. Chiều họp ban mới xong, lại gặp cụ Tài, cụ cười: Nói riêng với anh nhá, điều này nói ra thì các ông ấy kỷ luật cho chết. Ông Thép Mới mà đi Nam là họ lại điều anh về Tư liệu thôi. Chân tình của cụ tôi nhớ mãi, một con người hiền hậu, nhân đức.

Mình gặp anh Thép Mới, hỏi về nhiệm vụ mới. Sau đó nói luôn là chỉ có một nguyện vọng: được đi B. Anh cười, nói ngay: Cứ làm việc đi, tao đi là tao sẽ lôi mày đi theo. Thế là ổn,  đó là điều mình mong mỏi nhất, mình vẫn muốn được thử thách, được rèn luyện nhiều hơn.

Tối thứ tư, được nghỉ học tiếng Tây Ban Nha, mình đến gặp cô bạn nhỏ. Cô gầy đi, bệch bạc, chán nản… Mình còn gặp ở đây một chị ở trường nhạc là chị Thúy, một anh ở đài Giải Phóng tên là Thanh… Xem ra, bao quanh cô bao giờ cũng có những người mến mộ, lại còn được một số anh bên hội đỡ đầu.. .Cho nên cô khó biết rõ bản thân là ai, còn cần học hỏi gì nữa. Chẳng biết mình có ích gì cho cô mà đến với cô.

Tối thứ ba 24/4 cùng em Nhàn đi Thư viện Nhân Dân Hà Nội nghe thầy Hoàng Thiếu Sơn nói chuyện về Chiến tranh và Hòa bình của Tônxtôi. Hai anh em đến sớm hơn giờ bắt đầu vậy mà đã hoàn toàn hết chỗ ngồi rồi, người nghe đứng ngồi ở các bậc thang, ngoài sân rất đông, không phải chỉ vì yêu kính hâm mộ Tônxtôi mà còn vì tín nhiệm diễn giả Hoàng Thiếu Sơn, một người tham gia nhóm dịch tác phẩm này, một diễn giả uyên bác, duyên dáng quen thuộc với người yêu văn học nghệ thuật Hà Nội. Đúng giờ, thầy bắt đầu nói thẳng ngay vào vấn đề chính, không chào hỏi rào đón, không mua hoặc xin một tràng pháo tay như nhiều diễn giả khác. Rồi cứ thế, cứ thế, không uống nước, không giải lao không cười theo người nghe cũng không để cho người nghe cười lâu, cứ vanh vách trình bày hết nhân vật này đến sự kiện kia, dẫn ra hết cách này đến tài liệu nọ, chủ động vững vàng dẫn dắt người nghe theo đúng con đường mĩnh đã định. Rồi kết thúc cũng giản dị như khi bắt đầu. Trừ một lần giở sách ra đọc nguyên văn một đoạn trích, không hề cần giấy tờ, tài liệu gì cả, hoàn toàn nhập thân vào tác phẩm, nói về tác phẩm mà như nói chuyện riêng của bản thân mình.

Mình đã say mê nghe thầy giảng từ năm 1955 hồi học trường tư Kiến Thiết góc đường Bà Triệu – Nguyễn Du do thầy Nguyễn Dương và Khuất Duy Các chủ trương mời nhiều thầy giáo dạy đại học giảng dạy. 18 năm qua, thầy chỉ chuyên nghiên cứu, giảng dạy. Không vợ con, toàn đi bộ, không biết cả đi xe đạp, chân vẫn đi đôi dép lốp cao su đen tay xách cái túi nhỏ may bằng những mảnh vải vụn tiết kiệm xếp thành hình ô trám. Mình thường hay gặp thầy ở hiệu sách ngoại văn Tràng Tiền như thế. Hôm nay, thầy có hơi béo ra, cái béo của người già. Mái tóc đã bạc trắng cả, nhưng vẫn bờm ra một cách nghịch  ngợm, trẻ trung, che trên vầng tráng rộng. Cặp mắt nheo nheo lại rất tươi, bên trên hầu như không có lông mày. Thầy là một người trí thức hiến dâng cả đời mình cho nhân dân, tổ quốc… Chắc chắn thầy không nhớ mình, nhưng, cho đến hôm nay, thầy vẫn là thầy mình, đã vừa dậy cho mình thêm một bài học mới mà chắc chắn thầy không hay biết.

Tối thứ ba, 1/5/1973, 20:30, vừa chấm dứt đợt bắn pháo hoa tuyệt đẹp kéo dài đến nửa giờ mừng ngày lễ Chiến Thắng của những người lao động Việt Nam anh hùng…Mình đang đau thần kinh tọa, viêm họng, lại sốt nữa, nên chỉ nằm ở nhà mà xem trên bầu trời đêm. Những bông hoa lửa đầu tiên vừa nở trên bầu trời Hà Nội mới đêm nào còn đỏ tím màu lửa máy bay B52 – pháo đài bay của Hoa Kỳ cháy rơi lả tả, mình chợt nghĩ: bản thân mình có góp phần gì vào chiến thắng mà cả dân tộc hôm nay nô nức mở hội mừng không nhỉ. Và tự hào trả lời ngay: Có, có một phần nhỏ. Giống như trong chùm pháo hoa đẹp đẽ kia mình đã góp một bông hoa lửa trắng sáng không màu mè, nhưng nó tôn lên cái đẹp rực rỡ của những pháo hoa màu kia. Pháo xanh pháo đỏ pháo vàng, sao mà nhớ những bông pháo hiệu bắn lên từ những tàu viện trợ của Cuba, Ba Lan, Liên Xô… những ngày chào mừng năm mới 1969 ở Cảng Gianh thế. Có bao giờ còn được xem một đêm pháo hoa giàu ý nghĩa làm xúc động lòng mình sâu xa đến thế không?… Không, không bao giờ… Vì bấy giờ mình còn trẻ và đang ở chiến trường…

Bỗng mình nhớ Đào Văn Thùy, nhớ Thùy quá, chàng công nhân lái cẩu lớn ở cảng, sau thành chiến sĩ xe tăng, lần gần đây nhất Thùy viết thư báo tin rất phấn khởi: xe tăng em sắp được xuất trận…. Thế đấy, thường những người làm nên chiến thắng có mấy khi lại được có mặt trong lễ mừng chiến thắng. Họ còn đang trên đường mở rộng chiến thắng cho to lớn hơn vẻ vang hơn, có ích lợi sâu xa hơn…

Pháo hoa, pháo hoa đủ màu sắc dệt long lanh trên nền trời chiến thắng Thủ Đô, của cả nước và có lẽ của cả loài người. Mình muốn góp thêm một bông hoa chiến thắng ở bầu trời phương Nam anh dũng kiên cường. Sao mà mong ngày lên đường làm vậy…

Sáng nay, cùng Đỗ Xuân Bảo về nhà Bảo, nơi mình nhiều ngày tá túc trước khi đi Quảng Bình. Trưa, ăn cơm với Tân và gia đình nhỏ của Bảo, trò chuyện với các bạn lái xe. Chiều nay, Ngô Tiến Thái bây giờ là thợ điện đến chơi, tâm sự mấy giờ liền về… cuộc đời.

Cả ngày 1/5 mình là khách của công nhân và cũng chỉ có khách là công nhân thôi. Bao năm nay, mình cố rèn luyện, học tập để biết nhìn đời bằng cặp mắt công nhân, cặp mắt của một người cách mạng Việt Nam.

Thật sung sướng biết bao mình có thể tự hào là một người lao động Việt Nam.

Ban văn hóa văn nghệ có hai bộ phận ngồi ở hai phòng. Một phòng văn hóa do họa sĩ Nguyễn Thọ đứng đầu, gồm: anh Trần Đĩnh, Vũ Công Thạo, chị Mai Hân và tôi… Phòng Hoa si Nguyen ThoVăn Nghệ do nhà văn Nguyễn Địch Dũng phụ trách, có anh Chính Yên, Trung Đông, Vũ Đình Hạnh, Nghiêm Thanh và chị Phong Lan. Tôi là thư ký ban, lo việc trả nhuận bút, lĩnh văn phòng phẩm cho cả ban. Trưởng ban Thép Mới thường trưng dụng tôi làm những việc cần thiết sau khi được sự đồng ý của anh Nguyễn Thọ. Anh Thọ là một người Hà Nội gốc, có đầy đủ phẩm chất của một người trí thức Hà Nội. Một hôm trò chuyện vớ vẩn, tôi nói cứ bảo di truyền là đúng lắm, nhưng tôi thấy như vào trường hợp tôi thì chẳng đúng tí nào. Mẹ chỉ hơn 1,5m, bố cũng khoảng 1,6m mà tôi thì thế này. Anh Thọ cười. Cậu giống ông ngoại, tôi đã thấy ông nhiều lần ở Thái Hà ấp, cụ cao như cậu. Anh có một nết ai cũng quí là hễ có việc gì giúp được ai là anh giúp ngay. Nghiêm Thanh có vợ ở Hải Phòng, anh Thọ đã viết thư giới thiệu với anh Vạnh Lịch là chánh văn phòng tổng cục đường sắt cấp cho cái giấy như người trong ngành đi miễn phí. Anh giới thiệu người bà con làm cho tôi cái răng cửa kịp lên tàu vào Sài Gòn sau giải phóng. Chính anh vẽ mẫu cái phù hiệu của Đội Thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân chúng tôi, và cả măng sét báo Nhân Dân với chữ Dân viết hoa

Ngày 9/7/1973, mình viết một bài báo sau khi được phân công đi dự hội nghị của Tổng cục Thông tin tổ chức ở Yên Bái. Anh Nguyễn Thọ bảo cậu phải ký tên dưới bài viết. Anh nhắc đi nhắc lại cậu phải chọn một cái tên đi, sẽ còn phải viết nhiều đấy… Thế là bắt đầu rồi đấy. Từ nay báo Nhân Dân sẽ có thêm một tác giả mới tên là Nguyễn Trung. Còn điều này thì chỉ một mình mình biết thôi, tác giả ấy chỉ thôi viết khi tim ngừng đập, khi trút hơi thở cuối cùng và hơi thở cuối cùng ấy cũng thuộc về nước về dân, trung với nước, hiếu với dân như trong hai chữ trung hiếu mà ông ngoại vẫn tôn thờ, lấy làm phương châm sống và làm việc suốt cả cuộc đời.

22:04 ngày 11/7, mình cùng mẹ lên tàu hỏa rời Hà Nội, đến Phú Thọ, vừa 3:30 ngày 12. Ô tô chạy lúc hơn 6:00, 8:30 thì đến Thác Bà.

Đúng là đi nghỉ, từ hôm lên nhà bà, chỉ có ăn, ngủ, đi chơi và nói chuyện phiếm. Đọc sách rất ít. Vì mình coi sách là đồ hộp, khi nào không có đồ tươi sống là cuộc sống thực mới gặm đến. Hôm 15/7 lại là giỗ chồng bà (16/6 âm lịch). Có mẹ con mình lên bà và cô vui lắm. Thật ra mẹ muốn đi thăm bà, mình cố chọn ngày đi gần ngày giỗ ông.

Hằng ngày ăn na mít, ăn dứa rồi ra sông Chảy tắm mát. Ăn no, ngủ kỹ, khỏe ra rõ rệt. Có một ngày đi chơi, đến nhà hoạ sĩ Lưu Công Nhân, Luu Cong Nhan.pngcó ấn tượng rất mạnh mẽ. Lần đầu mình gặp một nghệ sĩ như thế, một nghệ sĩ khác thường. Đêm mùa đông, anh thức dậy, mặc áo bông, đốt hai đèn đất để kịp vẽ tranh kẻo sáng ra mới vẽ thì mất tranh ấy. Hồi mở cho nước qua đập Thác Bà, anh đứng ngay cửa cống ai cũng sợ, anh bảo nếu không là mất cái ấn tượng nước về thế nào. Ai biết Lưu Công Nhân cũng biết anh chuyên vẽ tranh trừu tượng. Vậy mà ở Yên Bái quê hương dòng họ Lưu Công nhà anh tôi thấy rất nhiều nhà treo tranh anh vẽ chì đen chân dung các cụ gần như tranh truyền thần, có điều các huân huy chương các cụ đeo đều vẽ màu giống như thật. Tôi hỏi, anh cười, mình vẽ cho người ta mà người ta muốn mình vẽ thế.

Chủ nhật 5/8/1973, báo Nhân Dân đăng bài tiểu phẩm Kẻ cướp – nhà văn và nhà văn – kẻ cướp  viết về J.Steinbeck tác giả Chùm nho nổi giận nổi danh thế giới nay cầm súng tiểu liên M16 ngồi trực thăng Mỹ đi càn ở Nam Việt Nam. Đây mới là trận đầu đánh thắng vì tiểu phẩm mới là loại mình ưa thích. Bài lại ra đúng ngày 5/8 trận đầu ta đánh thắng không lực Huê Kỳ. Chủ nhật 12/8, lại đăng Số phận thần đồng Robertino Loretti viết về chú danh ca thần đồng khi hết xài, đành đi hát ở quán rượu nghèo. Các bài này đều đăng trang cuối, mục Trong thế giới tư bản. Bài mình viết chỉ ký tên TT, thậm chí còn ghi thêm hai chữ sưu tầm vô nghĩa. Phó tổng biên tập Nguyễn Thành Lê chuyên về các vấn đề quốc tế rất thích mục tiểu phẩm này. Có hôm ông gọi mình lên văn phòng nói bài vừa viết hay nhưng phải bỏ, ta đang có quan hệ tốt với Italia,. Nhưng tôi vẫn giữ cho cậu 200 chữ như mọi khi ở trang cuối số chủ nhật. Về lấy ngay bài khác đưa tôi duyệt cho kịp số ngày mai. May là tôi có dự trữ, rảnh là lại viết đưa anh Thọ duyệt sẵn.

Chiều 13/8, anh Thép Mới đi Đức về. Anh hơi gầy đi nhưng khỏe ra. Anh về đúng lúc mình đang cần có anh.

Hôm nay, thứ hai 17/9/1973, mình bắt đầu làm một việc là ghi lại lời các đàn anh ở tòa soạn bàn về nghiệp vụ báo chí và văn học nghệ thuật. Chủ yếu là anh Thép Mới. Và cố gắng cất giữ các bản thảo của anh để làm tài liệu học tập theo kiểu Lỗ Tấn đã làm. Những bản thảo đầu tiên này là do anh viết ngày 15/9 để đăng vào trang 3 báo Nhân Dân ra chủ nhật dưới tiêu đề chung Tinh thần Chilê – Văn hóa Chilê kỷ niệm sự kiện đau buồn mới xảy ra ở Chilê: phái quân sự Pi-nô-chê đã đảo chính lật đổ chính phủ dân cử Allende, đúng lúc Fidel vừa đặt chân lên đất Việt nam. Văn hóa – là cái vững chắc, bền lâu… Ba năm ấy không dễ gì xóa bỏ được…

Cuối tháng 9, cuối quí 3 bắt đầu vào mùa làm việc mình đã dự định nhiều việc cần làm thì lại gặp chuyện không may: viêm ống mật tái phát. Bốn ngày nay rồi, rất mệt. Mỗi ngày đều uống thuốc tẩy để thông mật, kèm theo là kháng sinh. Suốt ngày hôm qua, nằm đọc Kinh Thánh phúc âm Đức Chúa Giê su- cứ như ông Thánh Mát cô đã chép. Chẳng phải tin tưởng gì mà chỉ để thu nạp thêm kiến thức vì trong cuộc sống luôn tiếp xúc với những tín đồ Công giáo, mà nhiều người rất tốt, như bạn Ngô Thị Hòa, vợ Đoàn Di chẳng hạn là tín đồ Thiên Chúa Giáo nhưng bạn cũng là Đảng ủy viên bệnh viện Xanh Pôn. Gần 22:00 thì có chú Long đến chơi. Chú cận thị, người nhỏ bé chữa xe đạp ở đầu phố Hàng Điếu gần nhà mình, quen trong một lần xe đạp hỏng nhờ chú chữa. Một thanh niên đáng mến, nhiều suy nghĩ về cuộc đời có quyết tâm vươn lên nhưng đang đứng ở bước ngoặt cuộc đời, chú gặp mình mong có người trút bầu tâm sự… Gặp những con người như chú, cảm thấy bên mình còn nhiều người muốn làm cho cuộc đời đẹp hơn, thật là dễ chịu, muốn làm việc nhiều hơn.

Chiều 11/10, bắt đầu theo học lớp bổ túc quốc tế ngữ Esperanto của VPMA tại Klubo (câu lạc bộ). Lớp có 10 người, lớn tuổi nhất là bác sĩ Vũ Quang Tiệp, ít tuổi nhất là mình đã 33 tuổi. Chính anh Đào Anh Kha nhà thơ, tổng thư ký hội hướng dẫn. Lâu lâu lại thu một băng ghi âm gửi nước này nước nọ, tức là làm công tác đối ngoại. Học viên lớp đọc thơ, văn bằng esperanto, có khi hát nữa. Mình là lớp trưởng lớp esperanto trường Chu Văn An do thầy Bạch Năng Thi trực tiếp dạy từ 1956. Mình đăng bài giới thiệu hội trên báo Nhân Dân và tích cực tham gia mọi hoạt động của lớp, được hội trưởng cho bộ từ điển Nhật – Pháp Pháp – Nhật, có chữ ký của hội trưởng Nguyễn Văn Kỉnh.

Thời gian qua, nhiều  lúc mình nghĩ nếu không biết một chút ngoại ngữ thì không biết mình đọc gì vì sách của ta hồi ấy rất ít, những sách mình cần đọc càng ít hơn. Tối 22/11, vừa đọc kịch bản Le Feu Dompté (Chế ngự lửa). Phim này kể về nhà bác học sáng chế tên lửa đầu tiên của Liên Xô, mình đã xem hai lần, nay được đọc kịch bản, càng thấm thía: Muốn làm một con người sáng tạo, phải chịu nhiều thử thách hy sinh nhiều lắn… Song niềm vui lớn nhất của con người lại nằm chính trong bản thân quá trình sáng tạo gian khổ đó. Còn niềm vui nào to lớn hơn, cao quí hơn, trong sạch hơn…

Một tối thứ bảy, cho cháu Hà ăn mặc thật diện đưa đi xem  phim xiếc Liên Xô ở câu lạc bộ Lao Động mà thèm cái sức khỏe và phản ứng thần kinh nhanh nhạy của các diễn viên quá. Mình hầu như mất cả hai thứ đó mặc dù rất cố gắng rèn luyện. Cả ngày chủ nhật, cống hiến cho việc nhà sửa chữa lại ba cái bếp dầu hỏa và dọn dẹp cái phòng nhỏ mà bề bộn vì quá đông người. Tối lại đi câu lạc bộ Đoàn Kết xem phim tài liệu dù mệt, mình cũng muốn cố nhặt thêm một ít kiến thức về đời sống thật.

Mình là thư ký ban, chuyên điếu đóm cho cả ban, nhưng làm việc với anh Thép Mới nhiều. Thường mình là người đầu tiên đọc bản thảo anh viết, anh hỏi thì góp ý kiến, và cũng là người đọc bản anh sửa cuối cùng. Thường viết xong một bài, anh đưa mình và nói mày xem tao viết bài này có được không. Anh chú ý những lời nhận xét, rồi sửa. Anh còn thường hỏi ý kiến mình về nhiều việc nhiều người. Mình xem đây là một loại kiểm tra trình độ cho nên cố gắng đạt điểm cao, không khi nào đón ý anh rồi mới trả lời. Anh bắt buộc mình phải cố gắng học tập suy nghĩ. Bản thảo của anh, anh đưa mình tất cả. Có sáng anh gọi mình cho xem một bài mới viết đêm qua với vẻ hào hứng. Mình đọc, khen hay, nhưng nói thêm là bài này cho vào phần anh đang viết thì lạc lõng, như một miếng gấm thật đẹp đem khâu vào một bộ áo quần nâu giản dị, nền nã. Không ngờ anh đem gửi báo Văn Nghệ đăng thành một bài riêng: Cách mạng và những giọt máu tiên phong

Rõ ràng là cùng làm việc, năng suất cả hai anh em đều tăng lên rõ rệt. Nhiều việc làm cả cơ quan ngạc nhiên. Không ai tin một người, dù người đó là nhà báo Thép Mới có thể làm được những việc như vậy… Sau khi Bác Hồ mất, chỉ hơn một tuần, nhà báo Pháp Jean La Couture ra được hẳn một cuốn sách đến 700 trang. Mình khen ông tài thì anh Thép Mới thở dài: Nó làm theo kiểu công nghiệp, không thủ công như mình Một mình nó có đến 15-20 trợ lý. Tất cả ngồi quanh một bàn to. La Counture trình bày đề cương, phân công mỗi người một chương, rồi cứ đi quanh bàn mà nói, phần ai nấy ghi, cần thì hỏi, sau đó về nhà phần ai nấy viết rồi nó duyệt lại tất cả, bảo chỗ nào cần sửa cái gì, bớt chỗ nào, thêm cái gì rồi duyệt lại tất cả. Thế là xong quyển sách dầy cộp. Anh bảo ở Pháp làng báo gọi những trợ lý ấy là nègre tức tôi mọi, nô lệ cho nhà báo nổi tiếng.

Những lần nói chuyên riệng chân thành cởi mở với nhau, mình học được nhiều điều về chính trị, tư tưởng, nhất là về nghề, những điều không ai trong cơ quan được anh truyền nghề nhiều như mình… Mình cố gắng không phụ công anh dạy dỗ. Mọi việc đều phải gấp gáp lên. Mau chóng nâng cao tay nghề, bản lĩnh của người làm báo cách mạng Việt Nam. Thật lòng chỉ mong ngày được cùng anh lên đường tiến vào mặt trận mới, gay go gian khổ thức thách nhiều hơn.

Tối chủ nhật 2/12, đi xem phim tài liệu và mua sách hụt bèn đến thăm cô bạn nhỏ gặp cả Thanh và Huệ. Cô bạn vẫn buồn, chưa hòa mình vào cuộc sống mới, thật tội. Cô kém sáng suốt lắm. Hình như ở cô mọi cái đều dễ thay đổi. Cô hẹn mang sách đến nhà cho mượn, tiếc là đã mấy lần mang đến mà chẳng là nào gặp anh.

Sáng hôm nay, thứ ba 4/12/1973 dậy từ 5:00 đi bộ dẻo hông ra đến vườn hoa Canh Nông sau nhà thì bắt đầu tập chạy. Được một vòng đã mệt bở hơi tai. Tối qua, tập chống đẩy được 45 cái, vượt yêu cầu 50%. Tập thể dục rèn luyện thân thể là không tiếc thời giờ. Ngày nào cũng tắm nước lạnh một lần. Xét cho cùng đó cũng là để trở thành người làm báo thôi có thể sống và làm việc trong bất kỳ tình huống nào.

Chiều nay, anh Thép Mới cho gọi mình lên. Anh hỏi mày đã xem tin Nhà Bè chưa. Mình biết anh muốn nói vụi pháo kích kho xăng Nhà Bè báo đăng sáng nay. Anh bảo đi lấy giấy giới thiệu anh viết gửi cơ quan 103 Quán Thánh để lấy tài liệu. Mình đi ngay. Không ngờ đến  nơi lại gặp tài liệu sống là ba chiến sĩ miền Nam có biết kho xăng Nhà Bè đang chờ để mình khai thác tài liệu. Mình trấn tĩnh ngay và làm như đã có chuẩn bị kỹ càng. Tài liệu lấy được rất đặc sắc…

Trước khi đi, anh Thép Mới bảo tao làm thế này để bảo cho chúng nó biết làm báo là như thế nào. Trong tuần, thấy sự kiện gì nổi bật là phải chớp ngay lấy, tìm sẵn tư liệu, cần là có mà viết. Cứ lấy sẵn, hôm nào chúng nó cần, tao cho… Làm báo là phải như thế chứ!

Có lẽ anh không biết rằng chính bằng cái việc bắt đi đột ngột vào một lĩnh vực không quen biết thế này thì anh cũng đã bảo cho em biết làm báo là như thế nào.

Tối nay, cùng Nghiêm Thanh một bản trẻ cùng ban và hai em Thân Nhàn đi nghe nghệ sĩ Thái Thị Liên biểu diễn piano các tác phẩm của Bach, Mozart, Beethoven và Chopin… Tuyệt vời. Nghe mà thèm làm việc quá, muốn viết. Dân nghèo mà dám đi Nhà hát Lớn nghe nhạc cổ điển. Đó là do tôi làm thư ký ban văn hóa văn nghệ của báo, nhận được công văn đề nghị đăng thông báo biểu diễn nhạc cổ điển, kèm theo có bốn vé tặng báo. Tôi thủ luôn.

Ngày 5/12, dậy từ 4:30 chạy một vòng vườn hoa Canh Nông rồi về nhà, mồ hôi đầm đìa, dễ chịu. khi ra chỗ tập đã thấy có mấy người chạy rồi, phần lớn là trung niên, như mình là rất ít, trẻ hơn thì chẳng có ai.

Cả tuần chạy rất đều. Đến sáng thứ sáu, tập xong thì thấy đau kéo dài ở phía trên ngực trái. Càng về sau càng đau không sao hít thở căng ngực được. Chườm muốn rang. Xoa dầu nóng. Sáng hôm sau phải nghỉ tập, đau không chịu nổi.

Tối đưa hai cháu Hải, Hà đến cơ quan xem vô tuyến truyền hình. Cơ quan ngạc nhiên hóa ra ông Thành có hai tằng con xinh trai quá. Chỉ các cô gái là biết anh chỉ có hai con mắt. Tối về nhà, không làm gì được. Cho đến sáng thứ hai mới tập trở lại song không chạy mà chỉ đi bộ dẻo hông. Trời rất rét, nhưng áo lót ba lỗ có ướt đẫm mới về. Vẫn cố rèn sức dẻo dai chịu đựng được gian khổ.

Đọc xong Những linh hồn chết của N.Gôgôn (tập I) Tuyệt diệu. Ngoài ra chỉ đọc báo và học.

Ngày thứ hai 24/12/1973, không ngờ mà mình cũng có quà Nôen: Báo Tiền Phong gửi thư báo tin đã đăng bài tiểu phẩm mình viết, hết sức hoan nghênh và trông đợi sự công tác thường xuyên của đồng chí… rất hân hạnh nếu được gặp đồng chí tại tòa soạn… mong đồng chí thông cảm chưa đến thăm đồng chí tại nhà được. Thật là quá sức tưởng tượng, mình mới chỉ gửi cho họ một bài. Có nơi tiêu thụ thế này mới thúc đẩy sản xuất được.

Quanh quẩn thế nào mà đã sắp hết một năm. Nhật ký chưa viết xong một tập nhỏ. Học tập cũng chưa đi đến đâu. Có điều có thể yên tâm là đã không để phí một chút thời gian nào. Đáng trách có lẽ chỉ là chưa biết làm việc theo kế hoạch, chưa dám lao hẳn vào một dự án dài hơi, cứ chuẩn bị chuẩn bị mãi mà thiếu những bước tập luyện, thử thách ngòi bút của mình . Cái sai ấy phải sửa ngay từ tối mai. Sẽ viết tất cả các tối, hôm nào không viết thì phải dịch, không dịch thì ghi chép. Tất cả mọi sự ý nghĩ trong đầu phải hiện trên mặt giấy. Bản mình dịch Quan Ngự Sử báo Thống Nhất đã nhận đăng.

Từ tuần sau, mình sẽ lên làm việc hẳn ở buồng anh Thép Mới.

Bây giờ phải thực hiện kế hoạch nhỏ kiếm tiền cho gia đình và có tiền mua sách, xem phim là hai cái thú của mình.

(Còn tiếp)

P.T.

Các con càng hiểu và thương yêu cha mẹ hơn

Filed under: Ý kiến,Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:37 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 7 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục

CÁC CON CÀNG HIỂU VÀ THƯƠNG YÊU CHA MẸ HƠN

Cụ bà Ngô Thị Hòa mất, được các con thực hiện đúng theo nguyện ước của bà trước khi xa rời gia đình là làm theo đúng nghi lễ Thiên Chúa giáo cũng chôn cất ở chính nơi bà chọn. Sau khi cụ Hòa mất, cụ Đoàn Di có vào Nam thăm gia đình tôi, tháp tùng là cháu đích tôn đẹp trai, cao lớn và một phụ nữ mà cụ giới thiệu là con nuôi, tôi nhặt được. Cô này lo mọi việc cho cụ Di như một người con gái ruột. Tất nhiên, dẫn đường là con rể Binh, chồng cháu Minh con gái quí báu của hai cụ. Sau đó, năm 2019, cụ Di còn vào nhà tôi một lần nữa, đi cùng con út Đoàn Minh Tâm.

Gia Dinh anh Binh Chi Minh.jpg

Gần đây, Blog PhamTon chúng tôi có đưa lên Thư gửi bạn Ngô Thị Hòa do tôi viết từ ngày 12/8/2008. Bạn Di tôi không liên lạc thư từ, cũng không gọi và nghe điện thoại. Tôi đành bảo con trai in bài đó ra rồi gửi cho như những lần trước. Nhưng nghĩ lại, thời đại 4.0 rồi mà cứ làm như thế mãi thì khổ con tôi quá, tôi bèn nhắn tin cho cháu Binh là con rể, xin email của con cả Di là cháu Hùng và em út là Tâm. Cháu Binh tế nhị và tinh ý không gửi cho tôi hai địa chỉ email mà viết như sau: 15:09 ngày 7/7/2019, Cháu có gửi bài chú viết hôm trước cho anh Hùng và em Tâm rồi chú ạ. Vợ cháu khen chú viết hay và rất chi tiết, cháu cám ơn chú ạ.

Thấy thế, tôi bảo con gởi luôn cho Tâm và Minh bài Vượt Ngục đưa lên blog khá lâu. 16:17, Tâm lại gửi tin nhắn: Giờ cháu mới đọc hết bài. Xúc động quá tình cảm của thế hệ chú và bố cháu. Cháu cũng đã nghe bố cháu nói nhiều chuyện về chú. Chú vất vả quá, hiện tại vẫn thế, nhưng cháu thấy chú luôn lạc quan. Học tập chú, cháu thấy mình phải cố gắng nhiều hơn nữa ạ.

21:07 cùng ngày, cháu lại gửi: Cháu theo gương chú học tiếng Nhật, có thể nói tiếng Nhật thành thạo, có thể đi dịch những chuyên ngành quen thuộc, dịch ca bin, nhưng chưa dịch truyện, sách như chú được. Chú giữ gìn sức khỏe để chăm sóc cô bị bệnh nặng. Năm tới, cháu cố gắng động viên bố cháu vào TP Hồ Chí Minh chơi và thăm chú. Bố cháu giờ cũng yếu rồi. Khi còn nhỏ cháu hay cùng bố vật tay, khi bố cho thắng thì rất vui mà nay, thắng được bố thì lại buồn, vì bố mình không còn khỏe nữa như thời thanh niên.

Tôi thật mừng vì các cháu đọc blog của mình mà càng hiểu và thương yêu cha mẹ hơn. Suốt dời tôi chỉ mong sao làm được việc như thế.

Tất nhiên, những việc này tôi không thể làm được nếu thiếu sự giúp đỡ về kỹ thuật của con trai. Mà tôi chỉ có một con thôi.

8/7/2019.

P.T.

Tin buồn nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân qua đời

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:34 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 7 năm 2019.

TIN BUỒN

Chúng tôi đau buồn biết tin nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Quảng Tuân đã từ trần ngày 20/5/2019 tại thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 95 tuổi. Nhân dịp này, chúng tôi đăng lại bài đã lên Blog PhamTon tuần 2 tháng 11 năm 2010, xin mời các bạn cùng đọc để tưởng nhớ ông, một nhà Kiều học của nước ta

PHẠM QUỲNH

Con Người thời đại

Nguyễn Quảng Tuân

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Quảng Tuân sinh năm 1925 ở Bắc Ninh, học chữ Hán từ thời tiểu học, trung học. Thời gian học trường Bưởi (Lycée du Protectorat) học toàn tiếng Pháp, nhưng ông lại rất Nguyen Quang Tuanham thích quốc văn và bắt đầu sưu tầm sách quí. Năm 1949, bắt đầu đi dạy học ở Hải Phòng, ông đã biết và bắt đầu say mê Truyện Kiều và viết nhiều bài thơ vịnh Kiều, năm 1953 xuất bản ở Hải Phòng trong quyển Chu Mạnh Trinh và Thanh Tâm tài nhân. Sau đó dạy học ở Nha Trang, Phan Rang, biên soạn bộ sách Giảng Văn, bậc trung học từ lớp 6 đến lớp 12. Năm 1964, làm Phó Chánh Sở Học chính Khánh Hoà, nhưng vẫn tiếp tục nghiên cứu Hán Nôm và sưu tầm sách quí. Năm 1973 làm thanh tra đặc biệt Bộ Quốc gia Giáo dục ở Sài Gòn, còn dành cả hai tầng lầu để làm thư viện. Năm 1975, sau ngày Sài Gòn giải phóng, ở nhà đọc sách, chuyên nghiên cứu Hán Nôm và sắp xếp các tài liệu mang từ Nhật bản về từ năm 1974.Ông bắt đầu cộng tác với Tạp chí Văn Học từ năm 1977 và tạp chí Nghiên cứu Hán Nôm(sau này là tạp chí Hán Nôm) từ năm 1985. Ngoài ra ông còn cộng tác với các báo Giác Ngộ, Người du lịch, Mỹ thuật, Kiến thức ngày nay, Nghiên cứu và Phát triển, Hồn Việt…Ông đã biên soạn và cho xuất bản 30 quyển sách, đặc biệt phiên âm bản Nôm Truyện Kiều năm 1871 xuất bản năm 2002, và quyển Ca trù – Hồn thơ, xuất bản năm 2006.

Hiện nay nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân là thành viên Hội đồng Khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. Năm 2010, ông vinh dự được Giải thưởng Balaban Award về những đóng góp trong công cuộc nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hoá chữ Nôm của Hội bảo tồn di sản Nôm. (VNPF).

Nhạc sĩ Phạm Tuyên có gửi tặng ông Nguyễn Quảng Tuân quyển Phạm Quỳnh – Con người và thời gian của Khúc Hà Linh. Ngày 7/10/2010, ông viết thư cho nhạc sĩ, trong đó có đoạn: “Sau khi đọc xong quyển sách ấy, tôi có viết một bài hát nói để nhớ lại một nhân vật đáng kính trong văn học.”

Dưới đây là nguyên văn bài do ông gửi tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên.

*

*   *

Xuất thân nhà báo (1)chu ky nguyen quang tuan

Đã một tay kiến tạo Nam Phong.

Bao công phu suốt mười bảy năm ròng (2),

Kể toàn bộ (3) thật vô cùng quí giá.

Nhất thế chi hùng lâm các hạ (4),

Tuần hoàn định số biệt Hoa Đường (5),

Nhưng phương danh còn đó chốn văn chương,

Tin tổ quốc sẽ trường tồn vạn đại.

Nhớ câu nói trung kiên kia để lại:

“Kiều truyện còn, còn mãi nước Nam ta” (6).

Những lời tâm huyết thiết tha,

“Tương tri dường ấy mới là tương tri”

Lẽ nào quên được Thượng Chi? (7)

————————-

(1). Tư năm 1913, Phạm Quỳnh bắt đầu viết cho tờ Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh.

(2). Nam Phong tạp chí xuất bản mỗi tháng một số, từ tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934 thì đình bản, tính ra được 17 năm.

(3). Toàn bộ Nam Phong có 210 số, nay đã được thu vào đĩa DVD và đã hoàn thành vào năm 2009.

(4). Cả câu ý nói: Phạm Quỳnh sau một thời làm báo và làm Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức đã rất nổi tiếng nên đến tháng 11 năm 1932 đã được vua Bảo Đại cử làm Ngự tiền văn phòng, sau đến ngày 2/5/1932 được cử vào làm Thượng thư Bộ Học trong triều đình ở Huế (các hạ: lâu đài nhà cửa trong cung điện).

(5). Cả câu ý nói: Theo số mệnh của cuộc đời ông, từ 13/3/1945, Phạm Quỳnh phải từ quan, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ sông An Cựu. Ngày 23/8/1945 ông bị bắt đem đi, từ biệt hẳn Hoa Đường.

Trong lời tự sự ghi ở tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến văn, Cảm tưởng, Phạm Quỳnh có ghi lại bốn câu Kiều:

Nâng từ lánh gót vườn hoa,

Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.

Nhân duyên đâu nữa mà mong,

Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thì thôi…

Ông bị giết vào ngày 6/9/1945 (tức là ngày mồng 1 tháng 8 năm Ất Dậu). Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nghe tin ông bị giết cũng lấy làm tiếc.

Theo ông Vũ Đình Huỳnh thì Người có bảo: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì, cách mạng được gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp. Đó không phải là người xấu”.

Sau này qua Cù Huy Cận, Hồ Chủ tịch có nhắn lại gia đình là: “Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng”.

(6). Phạm Quỳnh cho rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, Tiếng ta còn, nước ta còn

(7). Một số những bài viết của Phạm Quỳnh được in lại trong bộ Thượng Chi văn tập gồm 5 quyển do Nhà xuất bản Alexandre de Rhodes in năm 1943.

GS TS Đặng Thị Kim Chi lại xuất hiện trên VTV1

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:31 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 7 năm 2019.

GS TS Đặng Thị Kim Chi lại xuất hiện trên VTV1

Phạm Tôn

Bản tin 6:00 sáng nay 10/7/2019, tôi quá mừng khi thấy xuất hiện trên bản tin sáng VTV1 GS TS Đặng Thị Kim Chi, chuyên gia môi trường trả lời phỏng vấn về việc nên đặt nhà máy xử lý rác thải ở địa điểm như thế nào sau khi cả nước đã xảy ra khá nhiều sự cố nhân dân phản ứng dữ dội do các bãi rác đặt ở địa phương đã quá tải, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nổi bật nhất là nhân dân các vùng xung quanh bãi rác khổng lồ Nam Sơn đã ra đường ngăn chặn tất cả các xe chở rác đến đổ rác ở đây khiến Hà Nội, thủ đô thanh lịch của nước ta bỗng biến thành một nơi không… thơm tho cũng thể hoa nhài như người Tràng An xưa nay vẫn tự hào.

Tôi gọi ngay điện thoại hỏi thăm sức khỏe em Chi, vì cũng như tôi, em là cháu ngoại học giả Phạm Quỳnh, danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại như đã được công nhận từ 2018, tại Lễ trao giải hằng năm của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh. Chi ngạc nhiên nói là họ mới đến gặp em hôm qua, không ngờ sáng nay đã lên bản tin. Em đã bỏ được cái khung đỡ khi đi, nay đứng trên hai chân mình. Tôi khen em thon thả hơn, nên cũng xinh đẹp hơn. Nhưng em chỉ hỏi anh xem em nói có chỗ nào không rõ ràng không, có đúng và dễ hiểu không.

Tôi mừng em đã trở lại trận địa của mình, cũng là trận địa nóng của nước ta đang trên đường hội nhập.

Với tin vắn này, chúng tôi mong chia sẻ với bà con cháu chắt học giả Phạm Quỳnh và bạn đọc yêu quí tin vui này.

Sáng 10/7/2019.

P.T.

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.