Pham Ton’s Blog

Tháng Chín 9, 2020

Chuyện một người cháu ngoại_Ba chị em tôi _p1 (kỳ 2 tháng 9 năm 2020)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:13 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 9 năm 2020

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

Phạm Tôn

Ba chị em tôi (Phần 1)

Sáng 29/9/1991, tôi nhận được thư chị An tôi từ Sacramento (Hoa Kỳ) báo là ngày 22/10/1991 chị sẽ về thăm gia đình tại Sài Gòn. Máy bay sẽ hạ cánh ở sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi phôtô ngay gửi chị Thủy, em Thân, và đưa mẹ một bản gửi em Nhàn. Cả nhà sẽ tập trung ở nhà tôi 82 Lý Chính Thắng để cùng đi đón chị về thăm gia đình sau ngót bốn mươi năm xa cách.

Tôi vừa trải qua một tháng trời bận rộn buồn vui lẫn lộn rất mệt: vừa chính thức xin thôi việc ở báo Nhân Dân  sau khi làm việc và công tác ngót 30 năm cho nhà nước được Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng 3. May mà vừa liều mình tự cứu bằng cách cắt từng chút một cặp nhung cháu Ánh Ngọc con anh Đại gửi cho ăn cùng cháo nấu thật nhừ. Có lẽ vì thế mà chưa đổ. Nay tự nhiên thành trưởng ban tổ chức đón tiếp khách nước ngoài và hai miền Nam Bắc.

Ngày 20/10, em Nhàn và cháu Minh Tuấn (tức Hà) từ Bạc Liêu lên. 21/10, sáng sớm gia đình tôi ba người đi tập thể dục ở công viên Lê Văn Tám về đến nhà dã gặp chị Thủy và vợ chồng các em Thân Trang. Anh Đại còn dạy học ở tận Ănggôla châu Phi. Tôi cũng đi báo vợ chồng anh Nguyễn Đảnh và chị Vũ Bích Thái bạn thân chị An, con nuôi mẹ.

Ngày 22/10, anh chị cùng cả gia đình tôi đi đón, nhưng đến gần giờ hẹn mới biết là chuyến bay chị An về đã hoãn lại đến ngày 25/10. Tất nhiên là nhà tôi đã đăng cai thì phải lo giữ khách cho đến khi đón được chị.

Vấn đề nan giải là sau ngót 40 năm sống ở nước ngoài, từ khi là một cô gái Hà Nội thuần Việt 23 tuổi nay đã là một bà mẹ người Mỹ gốc Việt ba con liệu tôi có thể nhận ra chị không. Mà tất cả mọi người đi đón đều chỉ trông vào một mình tôi là người duy nhất được vào phòng cách ly trước khi chị ra khỏi sân bay.Chi An o nha Ton That Thanh

Tôi đến bên cửa kính, nhìn hành khách xuống máy bay đang làm thủ tục. Cố nhìn thật kỹ mọi phụ nữ mong tìm lại hình ảnh chị mình ngày xưa. Tôi phát hiện ra một chị hơi thấp, đang cúi xuống bàn kê khai nhận ra khung vai rộng thân yêu ngày nào còn nhỏ, mỗi khi đi học về, tôi chạy vội xuống nhà ngang, nơi chị xay lúa, sàng gạo, ôm chầm lấy vai chị líu lo kể chị nghe hôm nay em đi học vui như thế nào, học được bài gì mới và chờ chị quay mặt lại nhìn tôi mỉm cười. Tôi mạnh dạn gọi cô gái tiếp viên mặc áo dài xanh da trời, nhờ cô nhắn với người đó là có người nhà tên Tôn Thất Thành xin gặp. Và người đó quay lại, ra vội cửa. Hai chị em nhìn nhau, nhận ra nhau ngay. Tôi nói là em nhận ra chị nhờ cái vai rộng giống ba. Chị cười, thật không ngờ.

*

*        *

Mẹ tôi cưới năm 18 tuổi, bố hơn mẹ sáu tuổi. Mẹ sinh chị năm 19 tuổi, sau đó thêm hai em gái rồi mới tới anh Tôn Thất Đại tôi. Hai chị kế chị An là chị Nga mất năm sáu tuổi, chị Mỹ mất năm 15 tuổi. Chính vì chị Mỹ bị lao mà mẹ tôi phải bỏ vùng kháng chiến ra Hà Nội Pháp tạm chiếm để chữa chạy cho chị, nhưng rồi chị cũng mất. Mẹ đi phải đem theo hai em còn quá nhỏ là Thân năm tuổi và Nhàn hai tuổi (Có dì Giễm mạnh khỏe đi cùng). Thành ra chỉ còn chị An 16 tuổi, anh Đại 11 tuổi và tôi tám tuổi ở lại vùng giải phóng Nam Định với bà ngoại đã khánh kiệt tản cư về làng Vạn Lộc phủ Xuân Trường tỉnh Nam Định, ở nhờ nhà cụ Chánh Đoán do cụ Nghị Kính là thân phụ chồng dì Thức thu xếp. Vợ chồng dì cũng chu cấp cho bà ngoại nuôi mấy cô cậu và một lũ cháu nội ngoại.

Doan don bac An tai chua Vinh Nghiem

Anh tôi cùng lứa tuổi, được đi học như cô Lệ, cậu Tuân. Ban đầu học cô giáo Minh tản cư ở nhà ông Hào cạnh nhà cùng các con nhà giáo Vũ Tam Tập. Tôi nhỏ ở nhà, cậu Tuyên dạy cho những chữ cái đầu đời; chỗ chữ i cậu minh họa bằng hình hai bàn chân để dễ nhớ chuyện đi ị do đó nhớ chữ i. Toán thì chỉ mới dậy tính cộng, tính trừ. Tôi thèm học nhưng giấy bút không có, đành lấy lá chuối non vót que tre nhọn làm bút viết lên những dòng trên lá thấy cũng giống như trang sách. Cứ dần dà học từng chút như vậy mà rồi tôi cũng biết đọc. Cứ thấy đâu có chữ là đọc, có nhiều cái đọc mà chẳng hiểu gì hết cũng vẫn cứ đọc.

Còn chị An tôi, 16 tuổi, biết thân biết phận nên không dám đòi đi học mà bao giờ cũng ở nhà ngang, chỗ phụ nữ nhà chủ xay lúa giã gạo. Chị cũng xay lúa, giã gạo, sàng sảy như con nhà nông. Chị không muốn vì không có mẹ mà hai em phải khổ. Chỗ sợi mẹ xe thời còn ở đây, chị cuộn được một cuộn to hơn cái đầu tôi là đứa trẻ nổi tiếng đầu to. Chị nghe hàng xóm nói có thể đem lên chợ Cổ Lễ bán, thế là cũng theo họ đi thật sớm, đến trưa lại thấy chị ôm sợi về, mướt mồ hôi vì trời nắng lại đi bộ xa. Ở chợ, họ xem rồi chê sợi kéo vụng, lỗi nhiều, không mua. Chị đem nhờ dệt thành tấm vải khổ hẹp, đầy lỗi, nhưng đem nhuộm củ nâu, phơi nắng cũng đẹp, một mặt nâu sẫm, một mặt nâu non. Chị cắt khâu cho anh Đại tôi vừa một áo sơ mi cộc tay và một cái quần soóc đẹp. Tối nằm cạnh anh, tôi thấy trong ánh trăng, đang đêm anh cũng dậy mặc thử, vui vẻ lắm. Tôi cũng thấy đẹp và mong có một bộ quần áo mới như thế. Nhưng không dám nói, thương chị quá.

Nhà gia đình bà cháu tôi ở nhà là nhà cụ chánh tổng, cho nên từ cái cổng gạch quét vôi trắng vào đến sân phơi thóc trước tòa nhà chính hai tầng là một con đường lát gạch đỏ chạy giữa hai bờ trúc rậm. Mọi người chỉ đi theo con đường gạch đỏ còn tôi bé lại ưa thám hiểm, tôi  tìm ra chỗ hổng giữa hàng trúc rậm, chui qua mé phải, thấy hiện ra cả một khung cảnh thần tiên: Một ao nước trong vắt, bên bờ có mấy cây vối. Con đường đất nhỏ dẫn từ bờ ao đến một căn nhà vách đất mái rơm. Tôi leo lên thềm, gặp một bạn nhỏ trạc tuổi mình, thế là bắt chuyện. Bạn xưng tên là Tý. Hai anh đi làm đồng, chỉ có mình bạn ở nhà với con chó tên Vàng. Bạn hỏi mày có thích chuột không. Tôi bảo có. Bạn mới cẩn thận mở một cái nắp gỗ ngay dưới nền đất đắp cao làm chỗ giải chiếu ba anh em ngủ rồi gọi chít chít. Một con chuột nâu, to chui ra. Bạn cho nó ăn thóc. Tôi chỉ ngồi xem. Bạn bảo vuốt ve đi nó thích đấy, tôi mới dám động vào lưng chuột. Thấy nó nhìn tôi, nằm ép mình xuống, đúng là nó thích như bạn Tý bảo. Từ đấy tôi thường chui rào sang nhà bạn chơi, còn bạn khi nào cũng ở nhà, các anh bảo phải trông nhà, kẻo gà qué nó vào nhà bươi bẩn. Nhà nền đất nhưng bao giờ cũng sạch. Tôi thích nhất là cùng bạn ra ngồi bờ ao, ngắm hoa bèo tím nở, xem chim bói cá xanh đỏ rình mồi, ngắm cá ngoi lên mặt ao đớp bóng và ăn quả vối bạn Tý hái cho chua chua ngọt ngọt.

Tôi nghe bạn mách cũng biết cách tra hạt bầu vào gốc trúc. Chẳng bao lâu tôi chui vào bụi trúc vườn nhà, lấy được mấy quả bầu to. Bà bảo của nhà người ta trồng, không được lấy, như thế là ăn cắp. Tôi phải nói rõ bầu này là cháu trồng bà mới tha, bảo đưa u Nấm nấu canh. Tôi rất thích trồng trọt, chăn nuôi. Thứ gì phát triển, sinh sôi tôi đều thích quan sát rồi thử thực hành. Tôi nuôi gà cũng mát tay. Bao giờ cũng chọn những con trụi, rồi o bế chăm sóc đặc biệt. Coi như con cưng. Tôi xí phần cho gà ăn cũng chẳng ai tranh. Bọn bạn chạy chơi, còn tôi cho gà ăn và xem kỹ từng con ăn thế nào, chú ý những con hay bị chèn ép, cho ăn riêng. Tôi chỉ xem chuột của bạn Tý chứ không bao giờ nuôi chuột.

Hồi ấy, anh em tôi và chú Miềng (cậu Tuân con trai út của ông bà) nuôi chung một con chim sẻ. Nghe có vẻ lạ, nhưng sự thật đúng là như vậy… Một hôm gió to, lùa vào mái ngói nhà cụ Chánh Đoán cao nhất làng, làm rơm rác lá khô vương trong mái rơi lả tả xuống sàn gác nơi cụ để bà ngoại tôi ở. Chú Miềng phát hiện trong đám rác ấy có tiếng kêu chiêm chiếp, một con chim sẻ non chưa vỡ bụng cứt vừa vẫy hai cánh chưa mọc lông vũ vừa ra sức kêu. Ba chú cháu quyết định nuôi. Chú Miềng lấy nhúm gạo cho vào miệng nhai rồi mớm cho con sẻ. Nó đang đói nên cứ nuốt lấy nuốt để. Anh em chúng tôi cũng theo chú, thay phiên nhau mớm cho con sẻ. Ban đầu, còn chờ nó há miệng mới mớm. Sau này quen dần cứ nhai gạo rồi ghé sát mỏ là nó đớp ngay, môi chạm mỏ chim hơi nhồn nhột, nhưng rồi cũng quen. Ba chú cháu cứ thay nhau mớm như thế mà con chim non lớn dần, ra lông khắp thân cánh, cho ăn là vui vẻ vẫy cánh, rồi bắt đầu tập bay. Tiếng nó kêu cứ chéc chéc cho nên chúng tôi đặt luôn tên là con Chéc. Cứ gọi chéc chéc là nó bay lại, đậu vào vai chờ mớm gạo nhai sẵn. Dần dà, nó ăn được cả hạt gạo, càng lớn nhanh và cứ nghe gọi là đến gần chờ rắc gạo ăn. Chúng tôi nuôi như thế có đến mấy tháng, nó hết đậu vai người này lại đậu vai người kia, toàn những người cho nó ăn, yêu quí nó. Nhưng nó thích nhất vẫn là đậu vào vai chú Miềng. Ăn được gạo rồi vẫn thích mổ nhẹ vào môi chú. Chú là người đầu tiên cứu nó mớm cho nó ăn. Một hôm, chắc là gặp bạn tình nó bỏ ba chú cháu tôi bay đi mất. Đến nay, tôi vẫn nhớ cái mỏ xinh xinh, đôi con mắt đen lánh như hai hạt cườm, bộ lông nâu đen xen kẽ tuyệt đẹp

Bọn trẻ chúng tôi chơi ở cái sân rộng, tắm ở ao to cạnh vườn hoa, còn chơi đủ trò đào đất ở vườn dâu bên kia ao. Bà ngoại mặc cái áo đỏ, đứng ở ban công gác trên, trông thấy hết. Bà chỉ sợ chúng tôi làm nhà chủ phiền lòng.

Chúng tôi rất thích tắm, tức là xuống ao lội bì bõm, bơi chó, đuổi theo nhau té nước làm bùn vấy lên. Bùn bám vào lông nhỏ trên mình thành ra to như người khỉ. Cuối buổi tắm là đứng thành vòng tròn, đứa nọ kỳ lưng đứa kia cho hết bùn, thì té nước cho sạch. Chúng tôi thích tắm lắm. Còn bà ngoại thì thấy tắm như thế chỉ thêm bẩn, lại ồn ào cho nên chỉ cho tắm cách ngày. Tôi làm ngay bài thơ: Hôm nay đến phiên tắm / Bà ngoại không cho tắm / Tôi lủi thủi đi nằm. Ngồi bên ao, nhìn lên cây nhãn, thấy có sợi dây thừng nhỏ ai treo ở cành cây, bèn lại làm thơ: Vắt vẻo trên cành cây / Lõng thõng một sợi dây / Hoa ra người thắt cổ / Tại sao lại vắn số / Chết chi cho uổng đời / Sống để hưởng tương lai. Bài này có vần hơn bài trên nhưng xem  ra cũng chẳng hay ho gì.

Chúng tôi còn rủ nhau leo lên cái cây cao to gọi là cây sắn. Cây này có quả chỉ bằng đầu ngón tay, khi chín đỏ ăn ngọt ngọt, nhưng ăn xong thì môi miệng đen kịt lại vì nhựa. Muốn xóa dấu vết, phải lấy khế chua, chà xát lên rồi lấy tay áo chùi thì lại đỏ đẹp rồi sạch bong.

Trò ăn quả sắn này cũng phải giấu bà ngoại, vì leo trèo, lại là cây nhà hàng xóm, ăn thì bẩn, vì bà không biết nó ngon ngọt thế nào. Bà chỉ ăn trầu suốt ngày. Cũng có cách ăn sắn không sao mà cũng ngon. Phải lấy chùm sắn xanh, đem vùi vào tro nóng, ăn dẻo, bùi như ngô nướng ngon đáo để. Nhưng vẫn phạm lỗi là nghịch lửa bếp nhà người ta.

Tôi còn hay ngước mắt ngắm hoa trên dậu trúc, có nhiều cây hoa dây leo. Đáng chú ý nhất là dây hoa giun, gọi như thế vì nó ra quả nhỏ như quả giành giành, chín thì màu nâu, bóc ra có cái nhân trắng ăn ngon như cùi dừa, ăn nhiều thì ra giun. Hoa thì từ trắng chuyển qua hồng, rồi đỏ, ăn cũng hơi ngọt lại chua nhẹ, ngon. Sau này tôi biết tên thuốc Nam của nó là sử quân tử, một vị thuốc trong Thuốc Cam Hàng Bạc nổi tiếng chuyên dùng cho trẻ biếng ăn chậm lớn. Nói chung trong vườn và hàng trúc quanh nhà cụ chánh, cái gì ăn được tôi đều biết hết. Hoa đỏ vàng ở cây dong giềng lá tím mút cuống ngọt như mật, ngon.

Chỉ vì bị cấm những trò chơi làm phiền người khác mà có thời chúng tôi không ưa bà ngoại, coi chừng bà, báo cho nhau biết bà có theo dõi không và còn lén gọi bà bằng biệt danh Cỏ Đủy (Quỷ Đỏ) như một nhân vật ma quái trong quyển Quần hùng kiếm hội ai cũng đọc. Sách này có lẽ cũng từ cái bồ cũ của anh ho lao con cụ chánh. Chỉ vì bà hay mặc cái áo cộc tay đỏ.

Mỗi lời nói của bà anh em tôi đều coi là mệnh lệnh phải tuân theo. Một hôm bà nói dạo này thóc cao gạo kém quá, chúng mày phải ăn bớt đi mới được. Thế là chúng tôi – tức anh tôi và tôi – bảo nhau phải tuân theo. Còn anh cháu nội bằng tuổi tôi thì cứ ăn thoải mái, cũng chẳng ai nói gì. Một tối, anh em tôi đã đi ngủ, chị An lén đến cạnh bảo hai em ra đây với chị. Ba chị em lén ra bên bờ ao, ngồi trong bóng tối cây nhãn đêm trăng sáng. Chị mở một gói lá chuối khô ra lấy cho mỗi đứa một miếng chè lam thơm mùi gừng, bùi ngon dẻo vị nếp lạc ngào với nhau. Chị biết hai em đói lắm. Ba chị em nói đủ thứ chuyện, nhưng đều tránh nhắc đến mẹ, chị và hai em ở xa. Nhắc đến là sẽ khóc mất. Từ lâu, không một tin tức gì.

Một sáng, khi bà đang bổ cau chuẩn bị ăn miếng trầu đầu ngày, tôi đến gần nhỏ to trò chuyện. Bà chỉ ở nhà, thậm chí không rời căn gác cho nên bà thích nghe tôi kể chuyện trong nhà, ngoài ngõ. Bà thích nghe để còn biết mà lo liệu cho cái gia đình này. Và vì bà biết bao giờ tôi cũng nói thật, không bao giờ nói dối nói thêm. Sáng ấy tôi kể là ở đầu làng, chỗ gần cây gạo to có quán nước bên đường ra khỏi làng Vạn Lộc mới dựng một cái cổng lạ. Cổng to ngay giữa đường trên có đề chữ Cổng Sáng, ai biết chữ thì được đi qua cổng ấy. Cổng nữa ở mé đường, lại phải đi xuống dốc, nhỏ hẹp, mưa thì bùn lầy, trên đề hai chữ Cổng Mù. Ai không biết chữ thì phải đi xuống cổng ấy. Bà chăm chú nghe rồi hỏi: Đi chùa có phải qua đường cây gạo không? Tôi đáp có. Thế là bà bảo tôi dạy bà học, trước hết là viết chữ Vân tên bà. Một hôm bà vừa viết xong chữ ấy, cô Hoàn đi qua khen: Me viết đẹp quá. Bà cười. Nhưng người vui hơn lại chính là tôi.

Cậu Tuyên hồi chưa tìm được đường vào Yên Mô học thi suốt ngày cứ ở trong cái buồng thờ anh ho lao đọc sách và viết lách. Cậu tự viết kịch bản và đạo diễn cho lũ trẻ chúng tôi diễn hai vở kịch rất vui là Bạch Tuyết và bảy chú lùn. Anh Đại tôi 11 tuổi, nhỏ nhắn, rất xinh gái, được cô Hoàn, chị An và chị Kỳ con nhà giáo Vũ Tam Tập ở nhà bên trang điểm cho thật đẹp, đóng vai Tân Nương, tức mụ dì ghẻ của Bạch Tuyết. Trai làng đi xem chỉ mê dì ghẻ mà lại không mấy thích người đóng Bạch Tuyết là con gái thật xinh xắn, vì anh đóng có duyên, mặn mà hơn. Còn kịch lịch sử Hai Bà Trưng diệt Tô Định thì có cả bài hát tiếng Tàu do Tô Định hát, còn nhớ câu Công ngà pố lý ắng xể ê à ê ế a rõ ra là tiếng Tàu dỏm mà ai nghe cũng thích. Tôi nhút nhát, lại mờ nhạt đã được cậu cho đóng vai Xuềnh Xoàng một trong bảy chú lùn trong vở Bạch Tuyết, còn trong vở diệt Tô Định thì đóng vai lính bên ta. Đến nay vẫn còn nhớ mấy câu hát vui tươi phấn khởi của bảy chú lùn mỗi sáng vác cuốc chim đi làm: Hầy hô hây hồ / rừng xanh tiếng chim vang lừng / Ngày đêm hát hò ngày đêm cùng nhau múa ca/ Hầy hô hẩy hồ hây hô/ Ta hát lên việc chi mà lo / Ta múa lên sợ chi việc to / Hây hồ…

Cả hai vở đều có nhiều bài hát, chúng tôi phải tập khá lâu, tối nào cũng sang nhà ông Hào láng giềng tập. Cậu Tuyên còn liên hệ với linh mục nhà thờ Vạn Lộc ngay sau nhà cụ chánh được sang nhà thờ tập đàn phong cầm đạp chân cho đến thành thạo, đến khi diễn hai vở đều được giáo dân theo lệnh linh mục khiêng đàn đến tận sân nhà cụ chánh còn cùng dân làng dựng rạp cho cả hai đêm diễn. Mỗi tối diễn xong, tất cả diễn viên và người phục vụ đều được bà ngoại tôi đãi một bữa chè bà cốt thứ chè quê nấu bằng gạo nếp với mật mía và thơm hương gừng. Bà tôi nấu quà quê thật ngon. Cậu Tuyên bày trò cho trẻ con chơi như thế này bà ngoại thích hơn là cứ để bọn chúng tôi tự biên tự diễn toàn trò nguy hiểm, bẩn thỉu, ồn ào. Vì sợ làm phiền, chúng tôi tập ở nhà hàng xóm, khi diễn chính thức mới về sân nhà, mời bà và hai cụ chủ nhà và hàng xóm xem. Buổi nào cũng kín sân những người là người. Cậu Tuyên là người có tài tổ chức từ nhỏ. Hồi ở Huế, tôi nhớ bà thấy chỗ nào đông trẻ con tụ tập là biết ngay do cậu đầu têu. Những năm ấy, tôi chỉ từ hai đến bốn tuổi, đã là quân của cậu rồi, toàn đi cuối hàng.

*

*       *

Bà dì chuyển về Ninh Bình theo chồng ở đơn vị công tác mới. Dì nhớ thương mẹ, cho người về đón bà và cô cậu út về chơi. Khi đi, bà giao nhiệm vụ và tiền cho chị An tôi mặc dù hồi ấy cô Hoàn vẫn ở với chúng tôi. Vì bà không tin cô quán xuyến nổi. Một hôm bà bảo cô muối dưa, thấy cô lấy sách ra đọc, bà nổi nóng mắng, thì cô bảo em đang mở sách để xem cách muối dưa mà. Cô Hoàn thấy bà và các cô cậu ăn ở nhà trên, còn các cháu ăn ở dưới bếp, mà cũng ngủ luôn ở đấy. Cô xuống ăn với các cháu, tự tay xới cơm cho các cháu. Từ đó có thêm món ăn tôi cho là ngon tuyệt vời: Trứng chưng tương. Một quả trứng và một bát tương to.

Chị tôi nắm quyền trong nhà, lo đủ thứ, mua thóc, xay lúa, giã gạo, đưa tiền cho u Nấm đi chợ, cùng u nấu ăn. Nhà có thêm một nguồn thu nhập do bà làm tương rất ngon; cậu Tuân khéo tay mài gạch non viết ngay cổng vào nhà Ở đây có bán tương ngọt. Dân làng ăn thử rồi kéo nhau đến mua khen ngon lại rẻ. Họ gọi là Tương cụ Thượng. Chúng tôi ăn ngày nào cũng có tương, không phải chỉ để chấm rau mà còn kho cá, nấu canh rau muống tương gừng, cả nhà đều thích.

Bà đi một thời gian, sợ ở nhà hết tiền, nhất định đòi về, bà dì đành chịu. Khi về, bà gọi chị An tôi lên nhà hỏi tình hình, chị tôi trình bày đâu ra đấy, rồi đưa tiền còn dư lại cho bà. Bà không thể ngờ cái chum tương bà làm đã cứu cả nhà. Bà xuống nhà xem xét kỹ, tương vẫn còn lưng chum. Thì ra tương càng dưới càng mặn. Nhưng nước mưa ở cái máng cạnh chum cứ hắt sang, hòa với tương mặn, lại thành tương ngon. Ăn được. Bán cũng được. Tương Cụ Thượng vẫn ngon. Thật không ngờ, trời thương cho lộc mà thôi.

Chính trong thời gian này, tôi được đi học. Các bạn hàng xóm nói ở huyện có mở trường, chỉ dạy một lớp nhì,mày học được thì đi với chúng tao. Tôi xin chị cho đi học. Chị tôi rất thèm học nên bằng lòng ngay.

Trường đặt ở huyện Thọ Vực trong một mái đình. Sân đình có cây đa to. Con đường nhỏ len giữa các thửa ruộng dẫn đến sân trường là nơi các bạn và tôi mỗi sáng đều hướng về để đón thầy giáo tên là Quốc. Thầy nói giọng Hà Nội, rất dễ nghe, mắt sáng và đôi môi đỏ. Hôm khai trường, thầy mặc sơ mi cộc tay trắng và quần soóc xanh có thắt lưng da. Thầy xách cái cặp to đan bằng cói trắng xen xanh đỏ. Chúng tôi thường tranh nhau xách cặp cho thầy. Thầy bảo các em từ nhiều nơi đến đây, nghỉ học đã lâu nên tháng đầu là ta tập cho quen việc học, cũng là để thầy nắm được trình độ của các em nên bài làm bài học chưa lấy điểm số và xếp hạng. Các em cùng bàn nhau trang trí lớp sao cho đẹp, ai có gì đóng góp được thì mai mang đến đây. Bài tập đầu tiên là các em hãy tả lại ngày khai trường hôm nay, kể từ lễ chào cờ cho đến các tiết mục văn nghệ tự do đóng góp. Chú ý vì là ngày lễ trang trọng cho nên các em nên kể là thầy giáo mặc quần dài. Không như các em thấy. Cố viết cho thật nắn nót dễ đọc. Cả lớp cười vui vẻ bắt đầu tiết học đầu tiên, bài tập đầu tiên.

Tôi đi học cùng bọn bạn trong làng. Mới tám tuổi, tôi nhỏ nhất nên bọn bạn giao cho xách mực. Mấy lọ mực tím có buộc dây ở cổ lọ tôi phải xách thật khéo để không sóng sánh ra ngoài, trước hết là dây vào chân rất bẩn, sau đó là bị bọn nó trách mắng. Nhờ chịu khó xách mực mà các bạn sẵn sàng chỉ bảo cho tôi biết nhiều điều. Chẳng hạn tôi chỉ biết tính nhân là gấp đôi lên thôi, nhờ chúng tôi mới biết là có cả bảng cửu chương, học cho thuộc thì làm tính nhân rất nhanh. Tôi về nhà được anh Đại dạy cho ngay, thế là biết tính nhân, tính chia. Chỉ có môn viết chính tả là tôi khá, làm văn tả cảnh cũng được. Tôi nhỏ nên được ngồi bàn đầu lớp. Bài học nào tôi cũng thuộc ngay khi học xong. Tôi thèm học đã lâu nên chăm chú ghi nhớ từng lời thầy giảng. Trời nắng, chúng tôi đi chân đất trên bờ ruộng. Còn trời mưa thì cởi quần áo cặp vào nách bọc ngoài sách vở chạy xuống mép ruộng. Đến gần trường mới rửa chân qua loa rồi mặc quần áo vào lớp. Ai cũng thế. Chỉ bọn con gái là rúm ró cả người thôi.

Sau tháng học thử, tháng tiếp theo bắt đầu chấm điểm. Tổng kết tháng ấy tôi đứng nhất lớp với điểm trung bình là 8. Bọn bạn cùng đi học kể với các bạn trong lớp là thằng đó nhất lớp là do bọn tao dạy đó, nó chẳng biết gì, vẫn chuyên đi xách mực cho bọn tao. Tôi nghe nói, thấy cũng đúng. Vừa đến hôm học vẽ lá cờ đỏ sao vàng xong thì quân Pháp và quân ngụy đổ bộ, dân tản cư chạy trước, dân làng cũng lo chạy giặc, trường tôi phải nghỉ. Tôi cố giữ mãi trang vở vẽ lá cờ đỏ sao vàng, cho đến khi về lại Hà Nội vẫn còn. Tôi thèm học có lẽ một phần cũng vì các lớp tôi học thường không được học đến nơi đến chốn. Lớp đầu là lớp 6 học năm 1946 ở trường tiểu học Hoài Đức phố Hàng Trống Hà Nội mới khai giảng được mấy hôm đã toàn quốc kháng chiến. Cả nhà tản cư.

Cũng năm 8 tuổi ấy tôi bị một tai nạn không đâu. Chiều ấy, tôi vừa tắm xong, chải đầu gọn ghẽ đi tìm bạn chơi. Chạy ra đến cổng nhà, thấy đám đông tụ lại, có chuyện gì đây bèn tò mò len đến vòng trong xem thì bỗng Ba Hoancảm thấy có gì đó đập mạnh vào đầu mình, rồi mọi người tản ra hết, chỉ còn mình tôi đứng chơ vơ mé đường. Một lát thì chị An, anh Đại tôi, và cả bà cũng chạy ra. Ai cũng nhìn tôi chằm chằm, chị tôi khóc to, tôi sợ quá đưa tay lên bịt chỗ đau trên đỉnh đầu, thì máu theo tay chảy xuống vai. Tôi không thấy đau cũng chẳng hiểu chuyện gì. Chị ôm tôi đưa vào nhà, bảo nằm để chị lau rửa cho. Tôi nằm yên cho chị rửa vết thương. Chiều đó chị nấu cháo cho nhưng tôi xin ăn cơm, ăn cháo đói chết, hồi ấy bao giờ tôi cũng thấy đói. Mấy hôm sau, mới thấy đau. Cả nhà lo lắng. Nhưng rồi mỗi người mỗi việc, anh tôi đi học, chỉ tôi lo xay lúa giã gạo. Pham Tuyen tai nha Ton That ThanhTôi lại không kêu ca gì nên mọi người cũng quên đi. Hằng ngày, tôi sờ tay lên đầu thấy nhớp nháp thì đi rửa tay rồi thôi. Ai cũng bận, mình cũng chẳng đau gì, nên cũng cho qua. Cho đến một sáng, tôi sờ tay lên đầu kéo tóc ra xem sao thì thấy tóc rời ra từng nhúm. Tôi tìm cô Hoàn, vì cô rảnh rỗi lại thường quan tâm đến các cháu. Cô rẽ tóc tôi ra vứt từng lọn rời cùng mảng da đầu. Cô bảo cứ sáng lên cô cô rửa cho bằng nước muối. Cứ thế cô săn sóc tôi hằng ngày, rửa xong thì lấy cái gạc vuông cậu Khuê hồi ấy ở quân y ghé nhà cho một hộp. Gạc vuông đặt trên đỉnh đầu, hai dây vòng qua tai buộc lại dưới cằm. Thế là an toàn. Tôi đội cái mũ cói rộng vành nữa là ổn. Bọn trẻ chơi ở sân, tôi cũng xuống nhưng chỉ ngồi xem, cố tránh va chạm, nhất là va chạm vào đầu. Rồi cậu Tuyên đi Yên Mô học ôn cấp tốc thi đỗ tú tài cũng về. Cậu đi bộ lên tận Hành Thiện, mua cho tôi một viên đagiênăng những tám đồng. Cô Hoàn lấy dao cạo thành bột, cứ vài ngày lại thay gạc, rắc thuốc, chưa hết nửa viên cô bảo đã lành và cho tôi soi gương xem đỉnh đầu mình. Ngay giữa đỉnh lồi lên một cục thịt đỏ như nửa quả mận nằm giữa đám tóc xơ xác. Nhờ cô kiên trì rửa nước muối cho hằng ngày, lại được cậu Tuyên kiếm thuốc kịp thời tôi đã lành lặn lại. Có điều đỉnh đầu cao hơn trước, mỗi khi dùng lược bí chải chấy thường bị mắc vào đó, sau rút kinh nhiệm, tránh đi.

Sau này, nghe anh Đại và cậu Tuân kể lại tôi mới biết sự việc hôm ấy xảy ra như sau: Tôi ra tới cổng nhà vừa lúc hai đối thủ trong đám trai làng tôi và làng bên tranh cãi nhau về chuyện các cô gái làng bị dụ dỗ đã đến lúc quyết liệt. Một anh to khỏe quyết giết đối thủ bằng cách khiêng một khối đất cày khô nỏ, trong có một mảnh  sành vỡ, cố sức ném vào đối thủ. Không ngờ tay yếu, lạng sang bên trúng ngay đầu tôi đang tò mò ló ra xem. Khối đất nặng, mảnh sành nhọn làm tôi chảy máu khiến cả hai hoảng sợ, đám đông cũng giải tán.

Đấy là chuyện mùa hè. Mùa đông, trời lạnh ngắt, tôi bước lên cái bậc cao để lấy nước xúc miệng, bước hụt gãy một răng cửa, thế là bị hổng cho đến năm 10 tuổi gặp mẹ mới được làm răng giả.

Cũng hồi ấy, anh Đại hơn tôi ba tuổi, cũng bị một tai nạn. Nhà ấy có vườn bao quanh khu nhà lớn, thường trồng dâu. Gia đình cũng có buồng tằm tối om ở cuối nhà ngang, chuyên để nuôi tằm. Các nong tằm xếp thành tầng trên các giá. Mùa ấy, người nhà đang đánh luống, bón phân rồi cắm xuống những thân dâu chém xéo để trồng vụ mới. Anh tôi đang chạy chơi với cậu và mấy bạn hàng xóm thì giẫm phải một thân dâu cắt vát bị rách toạc lòng bàn chân đúng chỗ có nhiều phân bón dâu dính vào. Máu chảy, đau nhưng không dám kêu khóc vì sợ bà biết sẽ giận lắm. Thế là chị tôi chỉ còn biết rửa sạch bằng nước muối rồi băng lại bằng mảnh áo cũ. Đi cà nhắc, nhưng vẫn không bỏ học. Về nhà lại cùng ngồi chầu rìa như tôi xem các bạn nô đùa ở sân mỗi chiều. Chỉ thế thôi mà cuối cùng cũng khỏi, để lại một cái sẹo dài nổi lồi tím thâm chỗ gan bàn chân. Chẳng thuốc thang gì cả.

Sau khi mẹ tôi cùng dì Giễm, chị Mỹ, cụ Hạt và hai em đi, gia đình bà vợ hai bác cả tôi cũng theo dì Bích Đào là em gái về đón đi về vùng địch tạm chiếm, rồi sống ở Hải Phòng. Căn nhà bếp, nơi trước đây gia đình tôi sống nay chỉ còn u Nấm và bác bếp Nguyên. Cậu Tuyên đi thi rồi học ở khu an toàn trên Việt Bắc. Cô Hoàn cũng đi học, nhưng thi trượt. Căn gác đâm ra rộng. Bà nằm một giường. Chị An nằm với cô Hoàn. Còn cái sập ngang bộ bàn ghế khảm trai thì bà bảo hai anh em tôi lên nằm. Mùa hè, nằm trên sập mát rượi. Nhưng mùa đông rét thấu xương thì thật khổ. Hai anh em gầy gò ôm lấy nhau ngủ mà vẫn rét quá. Nửa đêm tỉnh dậy, nói chuyện khẽ với nhau về nỗi nhớ mẹ nhớ em sợ bà thức giấc. Tôi kêu rét quá em không ngủ được. Hôm sau, anh Đại bảo có cách rồi. Kế phòng dành cho bà và chúng tôi là một phòng thờ. Cậu Tuyên hồi ở nhà thường vào đây đóng cửa lại đọc sách, viết lách, đặt lời cho các bài nhạc không lời của các tác giả cổ điển. Ở phòng ấy, cạnh bàn thờ chúng tôi thấy có một cái bồ to. Tôi tìm được ở đấy khá nhiều sách, đọc được nhiều truyện hay, trong đó có truyện Lá thư rơi kể chuyện một đứa bé xa mẹ đi ở nhà người ta. Thấy giống cảnh mình tôi say mê đọc, nhưng không để ý tác giả là ai. Anh tôi lại để ý ngay đến cái chăn bông cũ nát, còn một vài mảnh bông chần, hầu hết đã tơi ra thành bông vụn. Tối đến, chờ bà ngủ kỹ, anh tôi bảo em nằm im để anh lấy bông nát rắc lên cho ấm, tự anh sẽ đắp cho anh bằng những miếng bông còn dính nhau. Cứ thế, đêm nào anh em tôi cũng ngủ ấm áp bên nhau. Chỉ phải tội là sáng sớm lúc đang ngủ say sưa ngon lành nhất, anh tôi đã lay dậy. Phải thu dọn hết bông cho sạch sẽ, đem cất đi, không để bà biết. Hai thằng bé 11 và 8 tuổi đã theo đúng kế hoạch, không hề bị phát hiện. Mãi sau này mới biết cái bồ quí báu ấy là của con trai nhà chủ, bị ho lao, sống cách ly gia đình ở buồng đó, đọc các sách đó, từng đắp chăn đó. Gia đình thương con vẫn giữ lại làm kỷ niệm. Bàn thờ trong buồng cũng chỉ thờ riêng anh. Bàn thờ gia tiên đặt ở giữa gian chính nhà dưới, nơi cụ chánh Đoán vẫn dạy chữ nho cho con trai và mấy đứa cháu.

Tôi không đi học, chỉ quanh quẩn ở nhà nên biết được cách cụ Chánh dạy học. Cụ ngồi trước mặt lũ học trò là anh Kế và mấy đứa cháu. Cụ cầm sách đọc một câu, cả lũ nhìn sách của mình đọc theo. Học được một thời gian thì cụ hướng dẫn cả bọn đóng những bài đã chép để học hằng ngày thành một quyển. Bìa làm bằng những tờ giấy chép bài sai bị bỏ đem phết nhựa cậy, dán chồng lên nhau mấy lớp thành bìa dầy dai màu nâu rất đẹp. Tôi thích nhất là cái gáy sách. Sách đóng chắc chắn rồi thì phết nhựa cậy liên tiếp nhiều lớp đến khi thành một khối cứng bóng như sừng mới xong. Cầm gáy sách là dễ dàng mở từng tờ ra đọc.

Chúng tôi chơi đùa  với nhau vui vẻ, nhưng cũng có khi cãi cọ vì những chuyện không đâu. Một hôm như vậy, cậu tôi chạc tuổi anh tôi nói trong lúc giận dữ: Tao nói cho anh em mày biết là chị mày chết rồi. Anh tôi giận quá, nhưng cũng đành nín nhịn, chẳng biết mách ai. Nói với chị, chị bảo có lẽ cậu nói đúng, hôm nọ có người đến gặp bà ngoại nói vừa ra Hà Nội về, có kể tin tức gì về nhà mình mà bà bảo phải giấu, đừng cho chúng nó biết, tội nghiệp. Ba chị em khóc rấm rứt với nhau. Rồi ai lại việc nấy. Anh tôi đi học ở trường Nguyễn Khuyến bên Trà Bắc, gần  nhà thờ Phú Nhai nghe nói to nhất Đông Dương. Tôi hay leo lên cây cau trong vườn hoa nhà chủ, ôm lấy cái bẹ cau nhìn ra xa xa thấy nhà thờ mờ dưới làn mưa. Mưa chạy đến gần ao nhà, tôi mới tụt xuống. Trà Bắc, nhà thờ Phú Nhai với tôi như một xứ thần tiên mà tôi bao giờ cũng ao ước được đến thăm. Thì may thay tôi gặp dịp. Sáng hôm ấy, cậu tôi đi học nhưng lại để quên vở ở nhà. Tôi xin bà cho đem vở đến trường cho cậu. Được lệnh tôi chạy như bay trên con đường nhỏ giữa cánh đồng lúa mà hằng ngày vẫn theo dõi anh tôi và cô cậu đi học. Chỉ biết hướng, chứ không biết đường nhưng tôi cứ chạy cố đến kịp lúc cậu chưa vào lớp. Tôi biết từ lâu là đường ở mồm, không biết thì hỏi, thế thôi. Đưa cho cậu vở xong tôi vội đi tìm nhà bạn Quân bằng tuổi tôi, trước ở nhà ông Hào cạnh nhà. Nhớ lời bạn dặn, tôi tìm nhà không khó. Ba chị em Thân, Linh, Quân ở nhà thuê rộng rãi ngay gần trường Nguyễn Khuyến. Mẹ là bà con bên chồng dì tôi. Nên chúng tôi coi nhau như người nhà, ai lớn thì là anh chị. Quân đãi tôi nước cam, còn cho uống cả một thứ nước thần kỳ ngon mà bổ có tên là Thuốc bổ Máu Bò của dược sĩ Vũ Đỗ Long – Vũ Đỗ Thìn ở Hà Nội chế tạo. Còn khoe là chị cả có cái bút cũng thần kỳ, tùy theo ánh sáng mà đổi màu, chủ yếu là nâu vằn vàng rực. Bút đẹp quá.

Trời lạnh, ba chị em Quân mặc áo len xanh lá cây và đỏ rực. Thật là sung sướng, đẹp và chắc là ấm lắm. Quân còn muốn giữ tôi ở lại chơi nhưng tôi sợ đi quá lâu bà sẽ mắng nên nhất quyết đòi về. Đường về, tôi rẽ vào xem nhà thờ Phú Nhai, đúng là to thật, ngay cái cửa vào cũng to quá, người lớn đứng chỉ đến bệ cửa. Tôi thích đi đây đi đó vì mỗi lần ra khỏi nhà là thấy được rất nhiều thứ, hiểu thêm được nhiều điều. Chứ ở nhà thì chỉ quanh quẩn hết sân lại ao vườn. Tất nhiên cũng có nhiều chuyện vui chỉ riêng tôi biết. Ví dụ như mấy chuyện sau đây về gà mái mấy ai đã biết. Tôi tha thẩn ở vườn sau thì thấy một gà mái mắc đẻ, trông điệu bộ lúng túng rất buồn cười lúc nào cũng chỉ chực tìm chỗ nằm. Tôi lập tức đuổi theo, không cho nó kịp nằm chỗ nào cả, thế là mái ta cứ vừa chạy vừa cục tác ầm lên rồi nó đẻ ra quả trứng ngay trên một cành cây nằm ngang. Quả trứng nóng hổi, cong như một chữ U. Tôi đem trả nhà chủ. Ai cũng lạ không hiểu tại sao lại có quả trứng như thế. Tôi cũng chỉ nói là đi chơi ở vườn, tình cờ thấy nên mang về trả thôi. Một hôm khác, tôi vơ vẩn chơi ở gần ao lại thấy một gà mái đang đi, tôi ra sức đuổi không còn đường nào khác nó đành bay, tức là dùng sở đoản của mình để đối phó. Tôi tiếp tục đuổi còn hét to dọa nạt, nó bay sà thấp rồi lại cố bay lên, cuối cùng bay sang đến tận vườn dâu bên kia ao, cách bờ bên này đến 15-20 mét. Không biết có ai tin con gà mái thường mà bay xa như thế. Trong vườn tôi còn say mê theo bắt chuồn chuồn kim, chuồn chuồn ngô, có khi cứ ngồi mà lần theo mãi chẳng bắt được con nào. Trong các côn trùng, tôi mê nhất là bọ rùa. Nó có màu sắc đẹp đỏ chấm đen lại lồng trong hai cánh trong như kính. Tôi chỉ ngắm chưa bắt bọ rùa bao giờ.

(Còn tiếp)

P.T.

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: