Pham Ton’s Blog

Tháng Một 8, 2021

Hai anh em tôi _ P1

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:51 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 1 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC:

HAI ANH EM TÔI

Phạm Tôn

(Phần 1)

Sau hai tháng nằm nội trú tại Khoa Lao Bệnh viện Bạch Mai san L.12A, tôi ra viện để điều trị ngoại trú. Bác sĩ Hơn và bác sĩ Hải hằng tháng khám lại, chiếu điện rồi cho đơn. Đơn nào cũng như nhau, chỉ có hai thứ thuốc là Rimifon (còn gọi là INH) thuốc viên và Phi-la-tốp thuốc tiêm, đều do nước ta sản xuất. Cuối đơn bao giờ cũng có câu mà tôi thuộc lòng đến nay, hơn nửa thế kỷ vẫn nhớ: Bệnh đang tiến tới ổn định.

Tôi đi tàu điện từ trạm Phùng Hưng tới bệnh viện chỉ mất năm xu tiền vé. Có lần bác sĩ cho đơn, vẫn ghi câu ấy, mà tôi hiểu là bệnh không biết đến bao giờ mới khỏi, nên thất vọng, hoang mang lên tầu mà còn mơ màng, đến khi bừng tỉnh thì đã qua trạm Phùng Hưng tôi phải xuống mà đến ga Hàng Cót rồi, tôi phải vứt vé năm xu đi mà mua vé tám xu. Tôi chán nản đi bộ thất thểu về phố Hàng Da nhà tôi.

Năm tôi bị bệnh, anh chị tôi mới sinh con đầu lòng. Anh ở Ty Kiến trúc Vĩnh Yên; chị khi ở Hà Nội, khi đi Hải Phòng. Con gái nhỏ do bà cô người Huế, hơn mẹ tôi hai tuổi trông nom là chính. Có hồi con bé cứ xụt xịt hoài, chảy nước mũi có mùi. Bà cô lấy tăm cuộn bông rồi nhúng nước muối ngoáy vào mũi làm con bé khóc. Tôi cùng bà đưa cháu đi khám bệnh, bác sĩ lấy ra một hòn sỏi đen nhỏ mắc trong hốc mũi. Tôi ra bưu điện gửi ngay cho chị dâu đang ở Hải Phòng, nói rõ là lấy ra từ hốc mũi cháu. Từ đấy cháu khỏe hơn.

Tôi nghỉ học để điều trị ngoại trú khá lâu, tâm trạng u uất, thường ra Đền Ngọc Sơn, đến Trấn Ba Đình ngồi một mình suy nghĩ, tự cho là có bộ chính trị đang họp trong đầu mình để tìm hướng ra cho cuộc đời. Kết quả vẫn chỉ là yên tâm điều trị, học được cái gì hay cái nấy, chủ yếu là ngoại ngữ để sau này khỏi bệnh sẽ dùng.

Mẹ đi làm ở hợp tác xã may mặc trên phố Hàng Lược, gần chợ Đồng Xuân. Đi làm về, đến trước rạp Hồng Hà thấy có khẩu hiệu Tất cả cho xây dựng chủ nghĩa xã hội… Về nhà mẹ vừa gạt mồ hôi trên mặt vừa cười nói: Với mẹ bây giờ chỉ là Tất cả cho Chành. Chành là tên tôi hồi nhỏ mẹ thường gọi. Chị dâu có cái bìa mua nửa ký đường cũng cho tôi để bồi dưỡng. Chị đi công tác về, tôi thường có quà. Có hôm chị ăn trưa ở viện, thấy có nấu xúp cà rốt củ cải trắng với nước xương ăn với bánh mì cũng về nhà ăn cơm dành món ngon ấy cho tôi. Chị đun sôi xúp, bôi mỡ vào bánh mì rồi nướng cho tôi ăn. Tôi cảm động nhưng không khỏi nghĩ là mình ăn mất phần của cháu gái đây. Chị mê truyện Nhạc sĩ mù của Kôrôlencô đến nỗi chỉ mong suốt đời tôi cứ sống cùng anh chị và dạy con bé nên người như người thương binh già trong truyện, từng là chiến hữu của Garibanđi đã giúp chú bé mù trở thành nhạc sĩ. Chị hào hứng nói mà không biết cái viễn cảnh ấy làm tôi buồn đến thế nào: Tôi chỉ là kẻ ăn bám suốt đời.

Cảm thấy không có triển vọng gì khỏi để quay trở lại Học viện Nông Lâm tôi phải viết đơn xin thôi học. Lý do chính là sợ cứ nhận tiền mãi thế này mà không đi học được ngộ nhỡ bị đòi nợ thì sao, nhà mình đã nghèo lắm rồi.

Hồi còn nằm ở bệnh viện Bạch Mai, em trai vào thăm, tôi đã khuyên em đi tìm việc ngay, nhà ta kiệt quệ lắm rồi. Em bảo có lớp giáo viên đào tạo cấp tốc 10+2, tức là học sinh tốt nghiệp lớp 10, học thêm nghiệp vụ sư phạm hai tháng rồi đi dạy ở ngoại thành. Tôi bảo em ghi tên ngay đừng chần chừ gì nữa. Từ đấy em tôi vào nghề giáo dục, nơi dạy đầu tiên là trường ở huyện Đông Anh.

Tôi không bao giờ quên nét mặt tươi cười của anh Đại tôi mỗi lần về nhà. Đến đầu cầu thang, trước khi vào phòng ngoài, anh đã gọi vào phòng trong gia đình tôi ở: Em Thành đâu, thế nào rồi… Anh em gặp nhau, anh nắm vai tôi, lắc lắc, thế này là được rồi. Anh mở ba lô đưa cho lọ sữa bột Trung Quốc, mấy gói đường tiêu chuẩn hai lạng rưỡi gói giấy nâu buộc dây gai trông như quả nem chua. Rồi lại mấy gói bánh nữa. Và quan trọng nhất là anh đưa ra mấy gói nhỏ là thuốc Rimifon mà tôi phải uống hằng ngày. Từ ngày thôi học, tôi không được chữa ở bệnh viện Bạch Mai nữa nên không có thuốc. Mua ở Hà Nội tất nhiên không khó, nhưng hồi ấy bệnh lao là bị kỳ thị lắm, người ta thường ghê sợ, nên gia dình không muốn người ngoài biết tôi bị lao. Thuốc Philatốp thì dễ mua, lại là thuốc bổ ai dùng cũng được. Hồi ấy trị lao bằng Philatốp là để phổi xốp ra, cho INH dễ thâm nhập diệt vi trùng. Không ngờ chuyện mua INH ấy sau này suýt mang họa cho cả hai anh em.

Mùa hè nóng bức, anh thương tôi bệnh nặng, nhà không có quạt, mái lại bê tông không có trần, chắc khổ lắm. May thay, anh được giao thiết kế đài khí tượng Tam Đảo. Anh thân với trạm trưởng là anh Trương Trọng Xuân cũng dân Hà Nội nhà ở phố Lý Quốc Sư. Bàn bạc với bạn và cả chủ nhà là ông Nguyễn Văn Hựu chủ tịch xã, anh quyết định cho tôi nghỉ mát Tam Đảo, ít nhất một tháng. Tôi chỉ cần cắt gạo, xin giấy chuyển lương thực, còn mọi việc để anh lo. Trong túi tôi lúc ấy còn đúng một đồng hai, vừa một vé tàu lên Vĩnh Yên. Thế là 8g50 ngày 17 tháng bảy năm 1963 tôi lên tàu, đến ga Vĩnh Yên ngay trong buổi sáng.

Anh tôi làm việc cùng hai bác lớn tuổi là cụ Châu (nhà ở Hàng Bạc Hà Nội) và bác Lục Văn Minh. Bữa trưa, hai bác và anh em tôi vào nhà ăn liên cơ, vì cơ quan anh nhỏ, không có nhà ăn riêng. Tôi theo anh và hai bác đến bàn của ta thì ta ngồi, hai bác nói thế rồi bảo tôi cứ tự nhiên ngồi vào chỗ. Bàn này cũng vuông, nhỏ như những bàn khác ở nhà ăn. Bàn gỗ, mặt bọc nhôm. Nhưng khác biệt ở chỗ trên một góc bàn có viết lem luốc mấy chữ bằng sơn đỏ BÀN HO LAO. Vì thế mà không ai dám ngồi ở dây. Cũng vì thế mà hai ông già Hà Thành chịu chơi và anh tôi bao giờ cũng chọn bàn này, vừa không phải tranh giành với ai, bàn lại sạch sẽ vì có ai dám dùng đâu, chỗ ngồi lại rộng rãi vì … cách li! Ngày hai bữa trưa chiều chúng tôi ăn cơm ở đấy. Còn buổi sáng thì hình như tổ thiết kế ăn xôi do chị vợ một người trong tổ nấu. Còn tôi, mỗi ngày anh tôi bảo ra cửa hàng mậu dịch ăn một bát phở thịt lợn ba hào. Nhớ là nói ăn phở dừ, thì sẽ nhiều thịt hơn vì họ gỡ ở xương nấu nước dùng ra.

Tôi đi chơi thăm thú tỉnh lẻ cho biết. Nào là tắm ở Đầm Vạc giữa thị xã. Cảnh đẹp, nước mát, nhưng xuống nước là mình bị tức ngực, tuy vậy, tối về ngủ rất ngon. Cán bộ nhân viên nhà nước hồi ấy ai cũng biết câu cắt cơm, bơm xe, nghe thời tiết, liếc đồng hồ vẽ nên tâm trạng chiều thứ bảy của họ. Một số cán bộ về Hà Nội, số khác về gia đình gần đấy. Ra vườn hoa chỉ gặp đông nhất là bộ đội, mang theo cái bi đông nước uống phòng khi khát, vì làm gì có tiền mà mua. Cũng có mấy đôi thanh niên nam nữ ngồi ghế đá tâm sự, chủ yếu là nói chuyện tếu và… nhìn nhau cười. Một cặp bộ đội thủ thỉ rất dễ thương. Tôi để ra ba tiếng để ngắm và nghe, cuộc đời thật là thú vị, đa dạng, đa màu sắc.

Đến chiều thì anh Đại dẫn tôi vào nhà nghỉ mát của anh Minh, một họa viên trong tổ. Nhà mái lá, giường tre, có giàn mướp cùng khu vườn xinh trồng hoa. Chúng tôi ngồi chơi đến bữa cơm chiều thì về ty kiến trúc. Có hôm, cháu trai độ hai tuổi con anh chị đòi tôi dẫn đi chơi. Tôi nắm tay cháu đi dọc bờ đường ra công viên. Anh chồng bảo cháu nó có vẻ mến anh đấy, khi nào rỗi anh cứ sang nhà nghỉ cho mát, lại yên tĩnh, bên cơ quan sát đường ồn ào lại nóng.

Từ đấy, tôi nghỉ ngủ ở nhà anh Minh. Anh tôi bảo tay này làm việc tốt, lại dễ mến, ai cũng quý, nhưng nghe nói dính Nhân Văn hay sao ấy mà gần như chẳng ai dám đến nhà.

Gần nhà anh có một bà bị lao hạch sắp chết. Hôm sau thì bà ta chết. Chị Dần vợ anh Minh về nhà để còn đi đưa đám. Người nhà đem đốt hết giường, chiếu và quần áo đồ dùng của người bệnh ở ngay gần nhà, gây ấn tượng khủng khiếp về bệnh lao.

Tôi đi đâu cũng thủ theo sách, nhưng chỉ để dành. Ở đâu có sách gì tôi cũng tìm đọc, nhất là báo địa phương, hồi ấy đang sôi nổi vụ hợp tác xã Hòa Loan phá rào, khoán hộ và kinh doanh nhiều ngành nghề. Đi đâu cũng nghe nói ông Kim Ngọc thế này, thế nọ, thật là một cán bộ hết lòng vì dân.

Tôi cũng cố dò hỏi tung tích hai con bò giống lạ Mông Cổ tặng ta xem nay phát triển ra sao. Hỏi mãi cuối cùng họ dẫn đến ty… Văn Hóa! Hai con bò đã được nhồi, đứng sừng sững trong nhà triển lãm. Tôi học khoa chăn nuôi cho nên hay để ý đến những con vật lạ được nước ngoài tặng.

Hôm ấy, tôi đưa cháu bé về nhà sau cuộc đi dạo ven bờ sông. Vừa đến đầu dốc dẫn xuống nhà anh Minh, đã nghe thấy tiếng chị vợ nói to cứ vừa khóc vừa nói: Chính em vẫn bán thuốc Rimifon cho anh Đại, bảo mua cho cậu em. Thì bây giờ anh này lên chơi, gầy gò, lại chẳng làm gì cả mà chỉ đọc sách. Không phải mua thuốc cho anh ấy thì cho ai. Thế mà anh lại rước anh ta về nhà, cho con đi chơi với anh ấy, lại còn mời ăn cơm. Thế có khổ thân tôi không. Tiếng anh chồng trầm, nhỏ nhưng nghiêm khắc: cô không được lu loa lên như thế. Có gì để tôi lo.

Lúc tôi dẫn cháu bé đến cửa nhà thì cả hai im lặng, chị vợ vào bếp, anh chồng đón con, tôi nói đã đến giờ cơm chiều, xin phép về kẻo anh và hai bác cùng phòng phải chờ. Anh niềm nở nhắc ăn xong lại sang nhà tôi ngủ nhé.

Về đến ty Kiến Trúc, tôi kể ngay chuyện cho anh Đại nghe. Trưa 25/6, anh Đại đột nhiên sang nhà anh Minh bảo tôi thu dọn đồ đạc quần áo về ngay ty. Lúc ra cổng, gặp anh Minh về. Anh này vội nói: Vợ mình hôm qua khóc, vì cô ta bị đau gan, lo quá… Nhưng sau anh Đại cho biết anh ta đã nói sự thật với anh là chị ta nghi mình bị lao nên dày vò chồng. Anh Đại bảo tôi phải giải quyết ngay việc này, không làm phiền anh Minh. Buổi tối, tôi vẫn ngủ ở nhà anh Minh như thường, vờ không biết và từ giã chị vợ để sang nơi ở mới tiện chờ xe lên Tam Đảo. Anh Minh muốn giữ tôi ở lại, còn rủ cả anh Đại ra ngủ ở nhà để cùng bàn bạc. Nhưng anh Đại kiên quyết đưa tôi đi. Sáng 26, gặp chị vợ, mình muốn nói mấy lời cho chị yên lòng nhưng chị ngượng ngùng lánh mặt. Chuyện này có lẽ sẽ làm anh Minh buồn, nhưng biết làm sao.

Về phòng ngủ của tổ thiết kế, cụ Châu chăm chú hằng ngày lo dựng non bộ bằng một tảng bê tông cũ, nham nhở, nay đã lên rêu xanh. Cụ bảo khi nào tôi lên người, các ông mới thấy hết là nó đẹp đến thế nào. Cụ nói nhưng lộ rõ vẻ thiếu tự tin: Làm xong, bán cũng được cả triệu đồng ấy. Xem ra cụ làm non bộ chỉ để giết thời giờ và quên đời tẻ nhạt. Cụ bảo tôi khi nào về Hà Nội, cứ đến phố Hàng Bạc hỏi cụ Châu là ai cũng biết. Câu tục ngữ Pháp mà cụ ưa nói là: Hãy chớ ngăn con la hí. Cứ để cho nó hí sẽ biết nó chính là con la.

Chiều chủ nhật, anh Đại đưa đến chơi nhà anh Tiềm trung cấp kiến trúc cùng làm việc với anh. Một gia đình ngăn nắp, giản dị. Anh Đại khen anh ta tốt, lại thông minh. Vợ là xã viên hợp tác xã nông nghiệp. Gia đình đầm ấm, anh có vẻ thư thái mỗi khi về nhà. Không phức tạp như nhà anh Minh.

Tối thứ bảy, anh em tôi đi dạo vườn hoa, nói chuyện với nhau rất kỹ về những vấn đề lớn của cuộc đời hai anh em.

Hôm sau anh bảo may quá, có xe của bộ Kiến Trúc sáng mai lên Tam Đảo, anh đã nhờ họ đưa em lên. Cơm xong, anh em tôi sang nhà anh Minh cảm ơn anh chị đã giúp đỡ và thông báo là sáng mai tôi đi sớm nên xin chào anh chị trước. Nhẹ cả người. Anh tôi gặp cô bán căng tin một lát mang về cho một cái khăn mặt, một bánh xà phòng giặt, một gói đường. Tôi xếp đồ vào ba lô, nghe hai cụ cán bộ hát quan họ, tiết mục ưa thích của hai cụ chỉ có ba câu: Anh đi ị / Em đi ị / Đôi ta cùng đi ị. Cả buồng cùng cười vui vẻ trước khi ai vào giường nấy, buông màn ngủ.

Sáng hôm sau, 3/7 tôi được quá giang xe com măng ca đít vuông của Bộ Kiến Trúc lên Tam Đảo. Từ thị xã Vĩnh Yên lên xã Tam Đảo chỉ có 24 cây số, nhưng xe đi khá lâu, vì phải leo dốc. Chốc chốc lại dừng để tránh xe đi xuống, mà nhiều nhất là tránh những người đi xe đạp xuống thị xã. Xe đạp thường, nhưng sau xe buộc một cành cây khá to rậm lá làm vật cản, giảm bớt tốc độ đổ đèo. Anh lái xe Hà Nội lên rất sợ gặp những xe đạp cảm tử này. Nhưng những người đi xe đạp xuôi Vĩnh Yên thì rất bình tĩnh, tài giỏi, tuần nào cũng vài lượt đi như thế, có sao đâu, công việc mà, đời sống mà. Đến chỗ Cát săng (tiếng Pháp Quatre cent ở độ cao 400 mét so với mặt biển) có một thợ cắt tóc hành nghề dưới bóng cây.

Xe com măng ca đít vuông hổn hển bò thêm một quãng nữa thì đến vùng san sát mái nhà lẩn trong màu xanh giàn su su bao phủ bên trên. Hỏi nhà ông chủ tịch xã thì người dân cho biết ông ở thôn I, còn đây là thôn 2. Ngoài su su còn thấy trồng nhiều dưa chuột to như quả bí đao bao tử, chừng hơn ký một quả, và vo ve là tiếng đàn ong đi kiếm mật. Rải rác trong vườn cũng thấy nhiều đõ ong bằng gỗ.

Đoàn công tác của Bộ Kiến Trúc đến gặp ông chủ tịch liên hệ. Vừa may anh Trương Trọng Xuân trưởng trạm khí tượng Tam Đảo cũng đang ở đây. Mấy hôm trước anh đã đến ty Kiến Trúc gặp anh Đại nói về việc cho tôi lên nghỉ ở Tam Đảo, coi như khách của trạm. Anh Xuân làm việc ngay tại nhà ông chủ tịch. Trạm có một nhân viên là anh Xiêm. Hai anh chịu trách nhiệm thu nhận số liệu quan trắc khí tượng trong một vườn khí tượng lập ngay gần đó chỗ đầu dốc. Họ được cấp một rađiô pin trang bị áo mưa như bộ đội và cả ủng cao su nữa. Khi mưa to gió bão là phải ra trạm ghi số liệu dưới ánh sáng đèn pin. Trạm chỉ có hai người mà không hợp tính nhau, thật khó sống. Nhưng ở đấy, tôi chỉ nghe tiếng anh Xuân, còn anh Xiêm thì hoặc không nói, hoặc nói lí nhí không ai nghe được gì. Có lẽ vì thế, mọi việc vẫn ổn. Anh Xuân tự hào là người Hà Nội, không chấp dân tỉnh lẻ.

Ông chủ tịch Hựu có bốn con trai và một gái rốt lòng. Sinh ra và lớn lên ở xứ mát mẻ quanh năm, không khí thoáng đãng nên năm anh em đều đẹp trai xinh gái, da trắng má hồng mắt đen lay láy. Tên ông bắt đầu bằng chữ H cho nên các con ông đều có tên theo vần ấy: Hùng, Hậu, Hòa, Hoạt (còn gọi là Nam, Tư), và con gái là Hương. Hôm ăn bữa cơm đầu tiên với gia đình, lạ miệng, lại đang đói ngấu, tôi thấy ngon lạ lùng. Chỉ có rau cải xoong luộc chấm lạc giã nhuyễn chưng với nước muối, và cũng lại cải soong trộn giấm. Tôi để ý bé Hương năm tuổi, xem nó ăn có gì khác không. Còn bé xúc cơm với rau luộc thái nhỏ và chan nước lạc giã trăng trắng. Chỉ khác là nó ngồi riêng ở bậu cửa, và ăn ít hơn người lớn là bốn anh đang tuổi ăn  cứ ào ào như mây bay gió cuốn, loáng cái đã quẹt đáy nồi xoàn xoạt. Mà thời ấy, toàn là cơm độn ngô xay. Đang ăn thì mưa. Rồi mưa rả rích cả buổi chiều. Cây, núi cứ chìm trong màn mưa một lát lại hiện ra hệt như những bức tranh thủy mặc biến đổi mơ hồ.

Tôi vốn khó thở khi trời lạnh, cho nên cứ tảng sáng là đã thức dậy. Mấy hôm đầu, tôi nghe bà vợ ông Hựu gọi Hùng ơi dậy nấu cơm, tôi cũng mặc. Nhưng từ hôm thứ ba, tôi dậy luôn cùng cháu lo cơm sáng cho cả nhà. Có bếp lửa ấm áp, hai chú cháu vừa làm vừa trò chuyện rất vui. Mấy hôm sau, tôi dậy, thấy cháu ngủ ngon, cũng chẳng thấy mẹ gọi, tôi tự làm mọi việc. May mà hồi ở Đội 5 Cảng Hà Nội, tôi được chị Vương Thị Tửu dạy cho cách nhóm lửa và thổi cơm. Món ăn thì vẫn như mọi ngày, không cải xoong thì su su luộc, chấm với lạc giã nhuyễn với muối rồi chưng. Những hôm ăn su su, có quả già, tôi lấy cái hột hấp nồi cơm cho bé Hương bóc ăn ngon bùi thích lắm. Từ đấy việc nấu cơm sáng coi như tôi nhận. Ăn xong, tôi thường đi loanh quanh làng với cháu Tư (tên là Hoạt hay Nam nhưng cả nhà hay gọi là cu Tư). Cháu biết hết mọi nhà. Tôi vào nhà nào cũng thấy trẻ con ho, nhiều cháu ho sù sụ. Tôi hỏi thì bố mẹ cháu nói là ở đây lạnh, mưa nắng thất thường, trẻ con chạy chơi ra mồ hôi, bị gió là ho. Nhà nào cũng phải có vài lọ tép. Tôi biết bà con gọi tép là kháng sinh streptômyxin. Hóa ra nhà nào cũng biết tiêm. Cứ khi con ho lâu là tiêm, hết thuốc thì vay hàng xóm, ai cũng có. Đến lúc bé Hương và anh Tư ho, tôi bảo gia đình đừng tiêm tép, để tôi lo. Tôi ra suối hái nắm cải soong, giã nhỏ, vắt nước, cho ít mật ong vào, hai anh em uống chung. Chỉ vài hôm là hết ho. Không phải tiêm đau, hai anh em thích lắm khoe khắp xóm. Nhà nào có trẻ con ho đều bảo đến nhà ông chủ tịch, gặp chú Hà Nội. Mỗi đứa mang một cái chén nhỏ có vài thìa mật ong, rồi tôi pha với nước rau cải soong cho uống, đứa nào cũng khỏi. Nhưng thấy ngon, vẫn xin bố mẹ mật ong để uống thuốc chú Hà Nội nữa. Tôi biết, chỉ pha nước cho mật loãng rồi cho uống. Ai cũng vui.

Anh Hùng lớn hơn cả, hay trò chuyện với tôi. Cháu hỏi chú học lớp mấy mà biết nhiều thứ thế, tôi nói lớp 13. Cháu tròn mắt. Tôi phải giải thích chú học xong lớp 10 thì thi đại học, học thêm ba năm nữa. Hùng cười, đúng là lớp 13 rồi! Một hôm đang đi ven ruộng sau cơn mưa, tôi cúi xuống nhặt một hạt đen bọc trong cùi trong như cùi nhãn, bỏ miệng ăn.

Chú mà cũng biết ăn cái hạt này hả, nhạt chết, chán lắm. Tôi đáp ăn cho khỏi buồn mồm và nhớ lại thời thơ ấu ở nhà quê. Chú học ở trong sách một phần, phần nhiều là học mọi người, học trong cuộc sống. Chịu hỏi, lại chịu nghe thì sẽ có nhiều người dạy mình. Thí dụ, chính cháu và gia đình cháu đã dạy chú rất nhiều. Trước ở Hà Nội chú đâu biết đõ ong, cầu ong là gì, cũng chưa bao giờ được ăn trứng rán với nhộng ong, mà nhộng càng già lại càng ngon.

(Còn một phần)

P.T.

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: