Pham Ton’s Blog

Tháng Hai 25, 2021

Thầy Tôn Thất Bình… một ngôi sao băng

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:02 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 3 năm 2021.

THẦY TÔN THẤT BÌNH

                        …một ngôi sao băng

Phạm Tôn Tôn Thất Thành

Tôi tình cờ đọc được tin nhắn trên báo Sài Gòn Giải Phóng mời các cựu giáo viên và học sinh Trường Thăng Long (Ngõ Trạm) Hà Nội về họp mặt. Dưới ký tên Võ Thuần Nho và Tô Lâm. Đúng ngày giờ, tôi đến dự tại một cơ sở giáo dục giản dị, trong phòng kê bàn học thành hình chữ nhật, có không hơn 30 người, già có trẻ cũng có, cỡ làng nhàng trên dưới 50 như tôi rất ít. Đầu tiên là màn tự giới thiệu, vì ít người biết nhau lắm.

Ông Võ Thuần Nho – nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục mà ai cũng biết là em ruột đại tướng Võ Nguyên Giáp người từng là giáo sư dạy sử của trường- chủ trì cuộc họp. Đến lượt mình, tôi đứng dậy nói : Tôi không phải thầy mà cũng chẳng phải trò của trường, nhưng tôi đến đây mong được hiểu thêm về trường và về bố tôi thầy Tôn Thất Bình. Ông Võ Thuần Nho và ông Tô Lâm cùng đứng dậy tiến đến bắt tay tôi giữa tiếng vỗ tay.

Sáng 15/2/1994, tôi dự buổi họp mặt đầu năm của hội trường Thăng Long thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều người nói đến bố tôi: nghiêm, trịnh trọng, élégant (tiếng Pháp: thanh lịch). Có người còn nói vui ở trường hồi ấy ăn mặc đúng mốt nhất là hai thầy Tôn Thất Bình và Phan Thanh. Những người nhắc lại kỷ niệm này gồm có các ông Phong, Tô Lâm, Võ Thuần Nho , đặc biệt ông Trịnh Quán (hiệu trưởng trường Lê Hồng Phong Nam Định nổi tiếng đào tạo được nhiều học sinh giỏi). Lập hội này ở thành phố Hồ Chí Minh là muốn thực hiện “nghĩa tình, vui buồn có nhau”. Quỹ hiện có 400.000đ do chị Thục nguyên giáo viên trường tiểu học Thăng Long phụ trách. Ban liên lạc gồm có ông Phạm Gia Khánh 72 tuổi, Tô Lâm, cô Thục, nay bầu thêm ông Trịnh Quán và tôi. Ông Tô Lâm xin rút vì quá bận công tác. Ông Phạm Gia Khánh nói: Chúng tôi rất quí mến thầy Tôn Thất Bình, bây giờ trong ban liên lạc có con trai yêu của thầy, chúng tôi rất vui mừng. Ông Võ Thuần Nho còn nói thêm: ông Bình có học vấn cao, có tài mà không không ra làm việc cho Tây, lại đi dậy tư, rồi cùng ông Nguyễn Bá Húc và 6 người khác lập hội ADEL (Association pour le Développement de L’Engseignement Libre: Hội mở mang nền tư thục) noi gương Đông Kinh Nghĩa Thục hướng học sinh về tinh thần yêu nước và căm ghét thực dân Pháp. Ông Tô Lâm nhận xét: nói chung các thầy trường Thăng Long là élites (tiếng Pháp: tinh hoa) của xã hội thời bấy giờ.

Ngày 24/2 (tức rằm tháng giêng năm Giáp Tuất) tôi đưa ông Phạm Gia Khánh địa chỉ thầy Vũ Đình Hòe tôi biết được do một bạn Chu Văn An họp mặt đầu năm cho biết cụ hiện ở với con gái bên Thủ Đức. 25/2 thì cùng ông Khánh đến mời ông Trịnh Quán cùng sang thăm thầy Hòe. Vợ tôi làm kế toán ở cơ quan báo với lãnh đạo báo Nhân Dân  ở thành phố xin lĩnh nhuận bút hộ thầy Hòe một bài mới đăng báo Tết Giáp Tuất được 400.000đ và một ảnh tư liệu 40.000đ. Số tiền 440.000đ này sẽ là món quà Xuân bất ngờ với thầy.

Sáng 27/2/1994, tôi tháp tùng hai cụ thấp thập cổ lai hy Phạm Gia Khánh và Trịnh Quán đến thăm thầy học cũ Vũ Đình Hòe, 82 tuổi hiện đang ở chơi nhà con gái là chị Vũ Bảo Tuyên tại 121 đường Thống Nhất làng Đại học Thủ Đức. Hai cụ ông cụ bà cảm động mời trà, cà phê dùng với bánh đậu xanh Hà Nội, lại có cả kẹo Mỹ do một học trò cũ gửi biếu. Cụ Hòe mở an bom gia đình cho xem, chỉ rõ ảnh ngày 2/9/1945 cụ hồi ấy đã đeo kính) là một trong mấy người  đứng ngay cạnh Hồ Chủ tịch trên lễ đài. Trong an bom có ảnh cậu Phạm Tuyên tôi, cụ bảo hồi đó trong khu học xá ở Nam Ninh tại Trung Quốc, Phạm Tuyên còn trẻ nhưng rất có uy tín, tài năng. Thầy trò chuyện nọ nối chuyện kia thành ra đến từ lúc 7:30 mà mãi 10:40 mới lưu luyến chia tay. Khi chúng tôi xin phép về, cụ Hòe bùi ngùi nói: Gặp các anh thế này là tôi trẻ ra được mấy tuổi rồi. Riêng món quà bất ngờ tôi định đem sang cụ thì chỉ là tờ báo Nhân Dân số Tết Giáp Tuất, còn nhuận bút Hà Nội cho biết đã đưa anh Vũ Thế Khôi con trai cụ rồi. Trong khi nói chuyện, cụ Hòe biết tôi là con trai thầy Tôn Thất Bình đã khuyến khích tôi viết về bố tôi người mà theo cụ là một người đóng vai trò chủ chốt trong việc tồn tại của trường Thăng Long. Ông ấy còn che chắn nhóm các nhà cách mạng hoạt động trong và ngoài trường khỏi bàn tay của thực dân Pháp.

Tôi mê chụp ảnh, đi đâu cũng mang máy theo. Hôm đó tôi chụp ba bức ảnh: hai vợ chồng cụ Vũ Đình Hòe, cụ Hòe và cụ Phạm Gia Khánh, cụ Hòe và hai cụ Khánh, Quán. Có ảnh là tôi đưa ngay cho cụ Khánh.

Cụ Vũ Đình Hòe bảo phải viết về bố mình, tôi thấy thầy dạy chí phải. Nhưng cha con tôi xa nhau từ tối ngày 7/9/1945 tôi còn quá nhỏ mới năm tuổi. Khi Hà Nội thành lập hội cựu học sinh trường Thăng Long có bảo em tôi là Tôn Thất Thân cung cấp tư liệu về bố. Em báo lại cho tôi, nói là cần gấp bài và ảnh. Đặt hàng theo kiểu làm báo đúng hẹn phải có, tôi đành biết đâu tâu đấy. Chủ yếu là dựa trên những gì mẹ kể. Sợ bài quá ngắn, tôi viết phần đầu về ông nội Tôn Thất Cung. Ban truyền thống trường cắt đi vì lạc đề. Tôi cũng đành chịu. Nhưng nay tôi lại dám viết về bố tôi. Cũng chỉ dựa vào những gì các học trò cũ kể cho nhưng may mắn hơn là còn có Hồi ký của mẹ tôi là cụ Phạm Thị Giá cùng bản sao giấy khai sinh của bố tôi. Bố tôi là một trong những người sáng lập, quản lý và trực tiếp giảng dạy ở trường. Cho nên anh Phạm Ngọc Tâm thư ký ban truyền thống của ban liên lạc hội cựu học sinh trường Thăng Long có lần gặp tôi ở thành phố Hồ Chí Minh cứ nhấn mạnh là bố tôi không phải chỉ giảng dạy mà còn làm cả việc quản lý nhà trường, anh bảo như kiểu bên cạnh hiệu trưởng về giáo trình còn có bố tôi điều hành mọi việc của trường.

Nói vậy chứ mặc dù tư liệu còn thiếu sót nhưng tôi vẫn cứ mạnh dạn viết vì đã đến lúc không chần chờ được nữa. Tôi, dù kém hiểu biết, nhưng cũng đã hơn 80 tuổi rồi, ngày 22/2/2021 này là vừa 81. Đã thụ án chung thân với tiểu đường hơn 20 năm nay, mấy lần biến chứng, lại thêm ung thư mổ từ 2009, mới khám lại lần cuối đầu năm 2021, chưa di căn, nhưng ai biết bao giờ di căn. Cho nên trước khi chết và cả trước khi lẩm cẩm, nhớ nhớ quên quên thì biết gì cứ viết ra hết để thiên hạ phán xử. Không thể để cuộc đời bố tôi mãi mãi chìm trong bóng tối như ngót 80 năm nay.

Bố tôi – thầy Tôn Thất Bình sinh lúc 6 giờ 30 ngày 5/4/1907, tức ngày 25/2 năm Đinh Mùi (Huế ghi là Đinh Vỵ) . Tôi may mắn lần đầu tiên được biết tỷ mỉ như thế về ngày giờ sinh của bố là nhờ cuối năm 2020 chị họ Nguyễn Khoa Thị Nhuận (88 tuổi) từ Huế gửi cho tập bản sao khai sinh từ ông nội Tôn Thất Cung khai tại Phủ Tôn Nhân Huế hệ 7 phòng 8 có hai người làm chứng là Tôn Thất Bính, Tôn Thất Phố và đóng dấu đỏ chữ nho.

Tôi lại có bản sao Hồi Ký duy nhất của mẹ là cụ Phạm Thị Giá viết tại Bạc Liêu từ cuối năm 1993 đến đầu năm 1994. Bà mẹ hơn 80 tuổi ghi lại nhiều chuyện về bố giúp tôi hiểu thêm về ông.

Học sinh Trường Quốc Học Huế Tôn Thất Bình cùng một số bạn bị đuổi học vì chống đối đốc học người Pháp, tham gia các cuộc bãi khóa để tang Phan Châu Trinh (1925) và đòi ân xá Phan Bội Châu (1926). Tri huyện Tôn Thất Cung cho con ra Hà Nội tiếp tục học. Tại đây, anh Bình vừa dạy học ở trường Gia Long vừa tiếp tục học thêm cho đến thi đỗ cả hai phần tú tài Tây. Cũng ở Hà Nội, anh tiếp xúc với chủ bút báo Nam Phong Phạm Quỳnh, biết con gái đầu của ông.

Trong thời gian đó, ông quan huyện từng làm quan ở nhiều huyện Nam Trung Bộ, rồi về huyện Phong Điền Thừa Thiên Huế, chống lại lệnh viên công sứ Pháp, không chịu đi bắt cộng sản mà ông cho là người dân lương thiện, bị buộc từ quan. Anh Bình nhận thư cha viết vắn tắt là: “Nay chú hươu rồi (Nay cha về hưu rồi) Việc nhà con lo”. Từ đấy anh Bình lo cho cả gia đình ở Huế, phụ vào lương hưu ít ỏi của người cha thất sủng, nuôi bà dì là mẹ kế và hai em trai. mấy em gái con bà. Khi anh kết hôn thì cha đã về hưu. Năm 1931 ấy, chủ bút Nam Phong tạp chí Phạm Quỳnh cũng mới ngót 40 tuổi.

Mẹ lo việc nhà chỉ biết bố tôi dạy Pháp văn và có tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa của trường, cũng nhiều khi đại diện nhà trường đi đối thoại với chính quyền thực dân khi nhà trường bị họ gây khó dễ. Có lần bị chất vấn vì sao tại lễ kỷ niệm Jeanne d’Arc anh hùng dân tộc vĩ đại của nước Pháp mà ông lên diễn thuyết lại nói nhiều về Hai Bà Trưng hơn. Ông đáp vì học trò tôi chưa có nhiều hiểu biết về lịch sử Pháp, nói Hai Bà Trưng sau đó mới nói Jeanne D’Arc cũng là người như thế của nước Pháp, họ hiểu ngay. Lần khác bị chất vấn vì sao lệnh treo hai cờ ngày lễ mà trường lại treo cờ Việt Nam to còn cờ Pháp nhỏ. Ông nói ngay trên cờ nước Úc và cờ Canada (thời ấy), ở góc nhỏ có hình cờ nước Anh, bé nhưng đâu phải vì thế mà hai nước trên không dưới quyền nước Anh. Còn nhiều chuyện khác nữa, ông sẵn sàng đương đầu bênh vực trường, bênh vực nước nhà.

Năm 1998, ông Phạm Ngọc Tâm thư ký ban Truyền thống của ban liên lạc học sinh trường Thăng Long trước cách mạng tháng 8/1945 có thư từ với tôi, còn đến nhà tôi và  về tận Bạc Liêu gặp mẹ tôi. Anh cho biết theo các ủy viên ban liên lạc, thì bố tôi không chỉ là thầy dạy Pháp văn mà còn tham gia điều hành nhà trường. Nhờ bản sao khai sinh của bố, lần đầu tiên tôi biết được ông là Phó Đốc Giáo trường Thăng Long. Có lẽ như chức phó hiệu trưởng ngày nay.

Năm 1931 bố cưới mẹ tôi, năm 1932 thì sinh con gái đầu lòng Tôn Nữ Thị An. Vẫn lo chu cấp cho đại gia đình ở Huế cho nên sau khi có con đầu lòng, ông phải nhận làm chủ bút cho một tờ báo tiếng Pháp mang tên La Patrie Annamite (Tổ Quốc An Nam) nhưng do một người Việt làm chủ nhiệm là ông Phạm Lê Bổng. Ông này ra báo chỉ cốt được phép mua giấy giá rẻ để cung cấp cho người nhà có nguyên liệu làm pháo. Mọi việc về bài vở đều một mình bố tôi lo nhưng phải bảo đảm báo không bị đóng cửa làm ông mất nguồn nguyên liệu. “Thầy Tôn Thất Bình là nhà báo được nhiều người biết tiếng do sành tiếng Pháp và có tài hùng biện”. (trích Lịch sử truyền thống trường Thăng Long (Ngõ Trạm) Hà Nội do Phạm Ngọc Tâm sưu tầm biên soạn). Ông Tôn Thất Vỹ, sau này làm cách mạng bị phủ Tôn nhân Huế bắt bỏ họ Tôn Thất mới đổi tên thành Nguyễn Minh Vỹ, từng làm Tổng cục trưởng Tổng cục Thông Tin Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa có kể là những bài báo đầu tiên ông viết là trên báo này, được sự nhuận sắc trau chuốt của bố tôi đã được người đọc khen ngợi. Hồi dựng tượng Pétrus Ký ở Sài Gòn, báo này chê là đúc tượng danh nhân người ta thường ghi lời nói thể hiện tư tưởng của người được tạc tượng, đằng này chỉ thấy toàn là huân chương với bội tinh!!?

“Các công việc đối ngoại của trường Thăng Long với nhà cầm quyền Pháp đều do thầy Tôn Thất Bình đảm nhận.” Năm 1993, thầy Vũ Đình Hòe nêu ý kiến: “Làm tốt việc đó là đảm bảo cho trường Thăng Long tồn tại mà vẫn giữ vững được bản chất yêu nước rất đặc trưng của trường” (trích tài liệu đã dẫn)

Vốn tính biết lo xa của con nhà nghèo, có con đầu lòng ông cho đóng ngay một hộp gỗ nhỏ, đề tên con gái, có khe ở nắp hộp, mỗi tháng cho vào một số tiền nhất định để lo cho con ăn học sau này. Các con kế tiếp cũng thế, mỗi con mỗi hộp. Chỉ có con gái út ra đời khi ông không còn ở nhà mới không có.

Có điều lạ là một người có văn hóa cao như ông mà chưa hề bao giờ mua cho con cái – đến sáu đứa – lấy một món đồ chơi nào. Các con chỉ nghe tiếng mẹ lắc chùm chìa khóa mà nhìn theo lúc còn nằm nôi và khi lớn hơn thì nghe tiếng ấy mà đi theo mẹ để bố yên tĩnh làm việc.

Ngay đến anh Đại tôi là con cưng cũng không có đồ chơi. Được bố đưa đi xem đấu kiếm để bố lấy tài liệu viết báo, anh rất thích. Nhưng về nhà cũng chỉ lấy cái rổ che mặt và que đan dài để biểu diễn đấu kiếm, toàn đồ dùng của mẹ. Trong khi đồ chơi của bố có cả những thứ độc đáo. Thời ấy, người Việt mình mấy ai có xe hơi. Vậy mà giáo sư kiêm diễn giả nổi tiếng Tôn Thất Bình lại đi xe hơi đến nơi diễn thuyết. Mà là tự lái. Một lần đi xa, có tài xế ngồi bên, không may đến chỗ vào cua gắt, vì mới học lái ông trở tay không kịp, xe lăn xuống ta luy âm. May mà không chạy nhanh nên cũng chẳng ai bị thương. Khi lập biên bản, tài xế ngồi bên trái bị phạt phạm lỗi lái xe. Thật ra là chính bố tôi lái, nhưng xe hơi này là loại của Mỹ, hình như mác Studebeker tay lái nghịch. Người lập biên bản xem xét qua loa, không nhận ra hoặc cho qua vì nể nhà báo. Thành ra chuyện này không mấy người biết . Ông kể với vợ chuyện thoát chết, mới đến tai tôi như kể trên.

Nhà số 5 phố Hàng Da các cửa kính đều có rèm lụa vàng. Xe xích lô, xe tay nhà cũng sơn vàng và người đạp xe kéo xe cũng mặc áo vàng, chân quấn xà cạp vàng. Có ý nhấn mạnh chất hoàng tộc của mình

Tuy vậy, có lần mẹ tôi kể hai vợ chồng đứng trên gác hai nhà số 5 nhìn sang phía trước mặt, thấy nhà 22 Hàng Da rao bán có 4.000 đồng, mẹ tôi bàn nên mua vì họ cần tiền nên bán rẻ quá. Bố tôi bảo mua làm gì cái nhà thấp lè tè lại bẩn thỉu thế. Mẹ tôi bảo nhưng nó là nhà của mình, sửa sang là đẹp ngay. Nhà mình đang ở có cao rộng cũng là nhà của thầy. Ông ít chú ý những chuyện lâu dài. Lần khác mẹ tôi bảo mình cũng làm báo diễn thuyết sao không viết sách in sách như thầy hoặc chú Nguyễn Tiến Lãng. Bố tôi bảo: báo người ta đọc rồi quên; diễn thuyết người ta nghe rồi càng quên nhanh hơn; làm sách còn mãi, lôi thôi lắm.

Sau này, tôi đọc sách Hồi ký Vũ Đình Hòe – tập I của Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin mới biết là bố tôi ngoài việc giảng dạy và quản lý trường Thăng Long còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, nổi tiếng nhất là Hội Ánh Sáng do báo Ngày Nay khởi xướng để chống nạn nhà ổ chuột, tối tăm thiếu vệ sinh, ông là một trong ba chủ tịch cùng hai chủ tịch khác là Vũ Đình Hòe và Nguyễn Tường Tam. Hội này đã xây dựng được khu nhà Ánh sáng kiểu mẫu tại bãi Phúc Xá bên Sông Hồng. Ông cũng tham gia phong trào Truyền bá Quốc ngữ với Nguyễn Văn Tố làm chủ tịch, bố tôi và ông Vũ Đình Hòe làm phó chủ tịch (trang IV và V sách Hồi ký Vũ Đình Hòe, tập I)

Có lần ông về Hải phòng diễn thuyết quyên góp cho phong trào xây dựng Nhà Ánh Sáng. Nhà văn Nguyên Hồng chứng kiến toàn bộ buổi diễn thuyết từ khi diễn giả nổi tiếng hùng biện Tôn Thất Bình đến cho tới khi kết thúc, sau này ông bệ gần như nguyên xi cảnh tượng đó vào tác phẩm lớn Sóng Gầm được chọn in trong Tuyển tập Nguyên Hồng (tập III) từ trang 481 đến trang 484. Chỉ có một thay đổi nhỏ là cho diễn giả trong truyện có tên là Tôn Thất Bằng. Cuối trang 484 này lại thuật buổi diễn thuyết khác ở hội quán Trí Tri Nam Định về Nền quân chủ thịnh trị ở Anh và ảnh hưởng của nó đến văn học, nghệ thuật, khoa học như thế nào, nhân vật Thanh “ngạc nhiên hết sức trước sự hiểu biết của một vị giáo sư mà Thanh thấy sao mà rộng lớn đến thế”

Ngoài diễn thuyết, ông còn hay trả lời phỏng vấn của các báo đài từ Pa ri đến. Dì Phạm Thị Thức kém mẹ tôi hai tuổi, hồi ấy ở Hội Vũ gần nhà số 5 Hàng Da, một hôm hớt hải đến bảo mẹ tôi cùng di về nhà dì ngay để nghe bố tôi trả lời phỏng vấn của đài Pa ri, mà dì bảo nghe tức lắm: cứ con đĩ (chỉ người phỏng vấn) hỏi một câu, chàng (tức bố tôi) lại đáp ngay một câu, nào là: Nghe giọng anh nói thì chắc anh đã sống ở Pa ri nhiều năm? – Tôi chưa sang Pháp bao giờ, nhưng có may mắn được học nhiều thầy người Pa ri.

Còn ở trường Thăng Long thì hầu như mọi hoạt động ngoại khóa đều do bố tôi tổ chức như lần cùng thầy Nguyễn Dương đưa nữ sinh đi thăm đền Lý Bát Đế Bắc Ninh và các hoạt động thể dục thể thao của trường có cả vợ con các thầy đến xem… Bản thân thầy Tôn Thất Bình cũng là một tay quần vợt có hạng và khiêu vũ cũng là tay sành điệu. Ông xuất hiện trước công chúng rất nhiều và thường là nổi bật.

Thế rồi tất cả những hào nhoáng lừng lấy ấy đều biến mất từ tối 7 tháng 9 năm 1945. Cả nhà tôi đang ngồi ăn cơm tối quanh chiếc bàn dài. Có tiếng chuông ở cổng, ông lão bộc Nguyễn Văn Hạt ra mở cửa rồi vào báo: Có hai anh học trò trường Thăng Long đến xin gặp thầy. Bố tôi đang ăn cơm nên bảo đưa hai anh ấy vào phòng khách. Ông lão đưa khách vào. Nhưng họ không vào phòng khách mà vào thẳng phòng cả nhà đang ăn. Một anh mặc áo dài trắng, anh kia mặc Âu phục màu vàng đất như người đưa thư của bưu điện vẫn đến nhà. Có khác là anh ta cầm súng lục đã lên đạn, kéo dài súng ra. Tôi năm tuổi mở to mắt nhìn thấy rõ như thế. Anh áo dài trắng lễ độ nói: xin mời thầy đi cùng chúng tôi. Bố tôi nói: để tôi ăn hết chén cơm này đã. Anh áo trắng nói: xin mời thầy.

Mẹ tôi có vẻ lo lắng, năm chị em tôi ngơ ngác, chỉ có chị An gục mặt xuống bàn ăn khóc rấm rứt.

Trong Hồi Ký viết năm 1994, mẹ tôi kể rõ như sau:

Ăn xong, anh lên gác thay quần áo, tôi định lên theo, họ ngăn lại và chỉ một người lên theo, còn người kia đứng canh ở dưới nhà.

Lúc đó tôi lo sợ gần ngất đi. An con gái lớn 13 tuổi biết sự thể nên gục đầu xuống bàn khóc giữa các em nhỏ ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì. Một lúc sau anh (bố tôi – PT chú) xuống mặc áo blouson len nâu, tay không cầm gì, nhìn tôi và các con với đôi mắt ái ngại và theo hai người đi; anh đi giữa, lặng lẽ ra ô tô. Hàng xóm không ai hay gì hết.

Tôi xúc động nước mắt trào ra. Ngay hôm ấy vội cho người báo các em biết rồi cứ nằm vật vã khóc cả ngày mùng 8/9/1945. Đến tối thì thấy đau bụng trở dạ, cô Duy, chị Cả, dì Hỷ, chị Tường đều lại thăm và đưa đi hộ sinh. Đến 20:00 thì sinh em gái út, sinh rất dễ dàng ngay trên giường nằm, em nặng 3kg tròn trĩnh xinh xắn.

Mấy ngày nằm nhà hộ sinh, mỗi khi nghe tiếng giầy cồm cộp lại tưởng như anh được về vào thăm; khi tiếng giày qua phòng bên lại thở dài: “Họ vào thăm vợ con họ đấy (…) Cứ thế lần lữa trông chờ trong lo âu, chờ ba vào khai sinh cho con, mãi cho đến 10 ngày, tức 18/9 mới nhờ chú Duy thay mặt để khai sinh cho con. Nghĩ thương con ra đời vào lúc gia đình gặp cơn tai biến, thương số con vất vả nên đặt tên cho con là Thanh Nhàn (…) Được nửa tháng vội làm đơn lên Bộ Nội Vụ xin cho anh được tha.

Khi ấy ông Hoàng Hữu Nam là chánh văn phòng Bộ Nội vụ, tôi có trình bày: “chồng tôi bị bắt vì tội gì, nếu có tội, xin cho biết, gia đình cam chịu, còn nếu không, xin cho về với gia đình.” Ông chánh văn phòng cho biết: “Bọn Pháp ngày nay đang lùng những người thân Pháp để lợi dụng, nếu ông ở nhà, nó lại bắt dùng vào những việc có hại cho nước, ông sẽ mang tội, mà gia đình cũng không giữ được. Chúng tôi đưa ông đi an trí một nơi, cách biệt với gia đình để giữ cho ông được an toàn. Hồ sơ ông vẫn như tờ giấy trắng vậy thôi. Hành vi của gia đình là sự bảo đảm tốt cho ông”. Như vậy là không nói năng gì nữa. (…) Mấy tháng sau nghe tin con gái ông Bổng (chủ nhiệm báo La Patrie Annamite) xin được phép đi thăm ông, ông ta cũng bị bắt cùng ngày với anh B. Tôi vội vàng cho em Mỹ (11 tuổi) đi cùng, em An còn phải ở nhà coi em bé. Chiều đến, em Mỹ về nói là có được gặp ba. Ba thấy con ba mừng lắm, nhưng không được lại gần nói chuyện, sau ba ghé lại gần nói nhỏ: “Con về nói với me là ba có một lạng vàng để trong tủ sắt me lấy ra mà dùng.” (…)_

Mấy tháng sau, một hôm tôi đứng ở cửa chợt thấy một người thanh niên đi đi lại lại, nhìn trước ngó sau không thấy ai, vội đưa cho tôi một tờ giấy bản gấp kín rồi vội đi ngay, không kịp cho tôi hỏi đôi câu. Mở tờ giấy ra đúng chữ anh viết bằng bút chì: “Nhớ em và các con lắm, anh bị đi kiết lỵ mệt lắm, không biết có thuốc gì cho khỏi.” (…) Sáng hôm sau tôi dậy thật sớm cùng u Bình ra xe điện đi vào Hà Đông, rồi đợi ô tô đi Hoài Đức (…) đến Hoài Đức tôi hỏi thăm đến cửa Phủ thấy có lính bồng súng gác (…) 12 giờ trưa mới thây ô tô về. Bà bán quán nói: “Ô tô ông chủ tịch về đấy”. (…) Tôi vội đến chào ba ông và hướng về ông chủ tịch nói : “Tôi là vợ ông Bình xin phép ông cho tôi được thăm nhà tôi”. Ông ta cũng không hỏi ai bảo cho biết mà vào thăm, mà chỉ cho một ông cán bộ đứng cạnh mà nói: “Bà Bình tự ý vào thăm ông ấy, đồng chí đưa bà vào văn phòng ngồi đợi”. Nói rồi ông ta đi một hướng khác. Ông cán bộ đưa tôi vào một phòng, trong phòng có một bàn giấy và mấy ghế ngồi, gần đấy có một cửa sổ trông xuống sân rộng. (…) chợt cháu bé trai mà tôi gặp lúc ở cổng cứ nhìn tôi và hỏi “Bà tìm ai.” Tôi nói: “Em nói với ông Bình là có người nhà vào thăm”. Tôi thấy cháu chạy đến cửa một gian nhà nhỏ, độ một lúc thì thấy anh Bình đứng ở cửa nhìn lên thấy tôi có vẻ mừng nhưng không dám ra sân, giả vờ làm mấy động tác thể dục, giơ hai tay lên vận động (…) anh mặc bộ quần áo bà ba trắng. (…) đến 3 giờ mới thấy anh cán bộ ngồi nơi bàn giấy và gọi một anh khác bảo: “ Cho tôi ông Bình”. Một lúc thấy anh lên, anh cán bộ chỉ cho anh ngồi một ghế cạnh anh ta, còn tôi thì ngồi cách một bàn giấy trước mặt hai người. Trông anh xanh, tôi hỏi: “Anh có được khỏe không?” Anh nói “Dạo nọ anh có bị đau kiết lỵ nhưng nay đã khỏi rồi”. Anh cán bộ nói thêm” “Ông có bị đau kiết lỵ chúng tôi đã lấy thuốc khỏi rồi. Ông ở đây ăn cùng chúng tôi, hằng ngày lên coi báo chí” . Anh hỏi: “Các con có khỏe không anh nhớ chúng nó lắm, sao em không chụp ảnh em bé cho anh coi”. Tôi nói Bà ngoại và các em đã ra đông đủ cả, em gửi 300đ để anh mua thuốc phòng khi ốm đau”. Anh nói: “Em để tiền mà nuôi các con”. Tôi đưa mấy lá thư các con gửi qua anh cán bộ coi và đưa lại cho anh. Anh hỏi: “Em đi với ai vào đây”, tôi nói “Em đi cùng u Bính, u ngồi đợi ở quán nước”. Vì có người ngồi đấy không tiện nói gì hơn. Sau anh cán bộ nói: “Bà ở Hà Nội vào, ở đây cứ 5 giờ là hết ô tô ra Hà Đông, mà ngoài đường quân Tầu đi lại nhũng nhiễu lắm. “Anh nghe nói vậy lo sợ liền bảo: “Thôi em đi về kẻo lỡ xe phiền lắm, em cố giữ gìn sức khỏe chăm sóc các con. Em Mỹ có nói với em không? Mua cho anh một quyển Tự điển Việt – Anh anh học thêm”. Biết không thể ngồi lâu và nói gì hơn nữa, tôi vội đứng lên chào và cảm ơn: “Tôi vào đây được thấy rõ tôi cũng yên tâm. Cảm ơn các anh đã giúp đỡ nhà tôi khi đau ốm. Tôi xin phép về kẻo tối.”

Anh đứng lên lại gần tôi, tay nắm giải khăn tang tôi đội trên đầu, giật mạnh mấy cái, mắt đỏ hoe, buồn rượi! (…)

Đến tháng 10/1946, trong khi cả nhà đang ăn cơm thì có một thanh niên đến nói là người nhà ông Đặng Thai Mai báo cho gia đình biết là: Ông Bình hiện nay đã đưa về Ty Liêm phóng, vài hôm nữa sẽ được về, có ai đến làm tiền để ông được tha thì gia đình nên cảnh giác kẻo bị lừa.

Cả nhà hay tin mừng quá, sáng hôm sau tôi và cô Hoàn mua quà bánh đến Ty Liêm phóng thăm. Tôi gửi quà, họ nhận và nói: đợi đấy sẽ có trả lời. Tôi và cô Hoàn đợi một lúc thì có một người ra đưa cho mảnh giấy viết bút chì, đúng chữ anh: “Anh đã nhận được quà, anh rất sung sướng, mai sẽ được về sum họp cùng gia đình”.

Tuy chưa được gặp mặt nhưng mừng là ngày mai anh sẽ được về.

Sáng hôm sau, tôi và cô Hoàn đi đón, tới nơi thì được người ta cho biết : “Các người đưa về hôm qua nay đã chuyển đi nơi khác rồi, Pháp nó đánh mạnh ở Kiến An.”

Hai chị em chưng hửng buồn rầu ra về! Còn biết nói gì nữa! Sau tin vui là nỗi buồn muôn thủa!

*

*      *

Trong Hồi Ký mẹ có viết là hồi bị giữ ở Phủ Hoài Đức Hà Đông, bố tôi ở cùng phòng vơi ông quan châu Cầm Văn Dung. Sau Hiệp định Giơne 1954, Hà Nội giải phóng. Năm 1955, ông Cầm Văn Dung về Hà Nội họp các ủy viên Mặt trận Dân Tộc Thống Nhất đến thăm gia đình tôi tại 16 Hàng Da. Chúng tôi vừa mừng vừa lo. Lo vì biết chắc sẽ có cơ quan an ninh theo dõi. Lại mừng vì mong biết tin tức bố tôi.

Mẹ tôi tiếp ông Dung trong buồng nhìn ra đường trên gác hai. Hai cửa sổ và cửa ra ban công đều mở rộng. Tôi hé cửa phía ra sân cạnh buồng nên nghe được hết cả cuộc đối thoại. Ông Dung người nhỏ nhắn, mặc bộ đại cán vàng đất, đầu đội mũ dạ đen có che tai, đi dứng nhẹ nhàng, nói năng cũng nhẹ nhàng. Ông kể là từng ở cùng buồng với bố tôi khi bị giữ ở Hoài Đức, kể rõ tên  từng chị em tôi, kể cả em út chưa biết mặt cha. Sau đó ông hỏi một câu làm chúng tôi thất vọng: Gia đình có biết ông Bình nay ở đâu không? Đó chính là điều chúng tôi mong được ông cho biết khi nhận lời tiếp ông. Mẹ tôi từng gửi thư lên Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi thì văn phòng hỏi lại: xin cho biết đồng chí Tôn Thất Bình nhập ngũ ngày nào, chúng tôi hiểu ngay thư đã không đến tay đại tướng. Khi biết là gia đình tôi chẳng biết gì, bấy giờ ông Cầm Văn Dung mới nói là sau khi có lệnh được tha, bố tôi được đưa về Hà Nội mấy ngày, sau đó đưa trở lại Hoài Đức, nghe nói vì Pháp gây hấn ở Kiến An Hải Phòng, kế hoạch thay đổi. Rồi một sáng sớm, khoảng 5 giờ, có người đến đưa ông Bình đi. Chúng tôi quen với những chuyến đi sớm như vậy, thường là chẳng lành. Mỗi lần đưa đi theo compagnie des six (tiếng Pháp: nhóm sáu người) thường không ai về. Sáng hôm ấy, hơi lạnh, ông Bình mặc cái áo lu dông len nâu quen thuộc. Đến trưa, thì tôi thấy một anh dẫn giải sáng đó mặc chiếc áo tôi rất quen nên nhận ra ngay. Từ đó bặt tin ông. Nay có dịp về Hà Nội họp, gặp cụ Ngô Tử Hạ là người quen cũ, tôi hỏi thăm thì biết bà vẫn ở Hà Nội lại có tham gia công tác mặt trận nên tìm đến nhà hỏi thăm cho biết cuối cùng thì ông Bình ở đâu.

Nhớ lại hồi cuối 1972 đầu 1973 tôi về lại báo Nhân Dân  sau 15 năm trôi nổi, anh Thép Mới người cố công đưa tôi trở lại với nghề mình say mê nhất đã dặn: Về đây, mày nên thận trọng, công an khu vực gây khó dễ khi cơ quan muốn nhận mày, nói mày giao du với phần tử xấu. Tôi nghĩ câu đó chắc ám chỉ việc tối ấy gia đình tôi tiếp ông Cầm Văn Dung.

Bố tôi, thầy Tôn Thất Bình là một trong những người sáng lập và điều hành trường Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng, một cái nôi đào tạo nhiều nhà cách mạng. Ông còn là nhà họat động xã hội có tài hùng biện đóng góp vào sự truyền bá quốc ngữ, cải thiện nhà ở cho dân nghèo và nhiều hoạt động văn hóa khác, đã nổi lên như một ngôi sao và tắt lịm đi như sao băng chìm vào bóng tối. Năm ấy bố tôi chưa đến 40 tuổi.

Nhưng theo tài liệu đã dẫn của Phạm Ngọc Tâm, học sinh Thăng Long khóa 1940-1944 có xác nhận của Trưởng ban liên lạc Đào Thiện Thi ngày 2.9.1994, thì: “Cách mạng Tháng Tám, Thầy cũng bị bắt giữ “vì tình nghi là thân Pháp, nguy hiểm cho cách mạng”. Chưa được xét hỏi thì kháng chiến bùng nổ. “Thầy không hề bị đưa ra tòa án, không có bản án tử hình nào đối với ông cả, và bị chết vì bom đạn khi Pháp nhảy dù Bắc Cạn” (Lời ghi xác nhận của ông Lê Giản, nguyên Tổng Giám đốc Nha Công an 1946)

Thầy Tôn Thất Bình mất cuối năm 1947 khi Pháp nhảy dù Bắc Cạn”.

Bố tôi lại lâm vào cảnh như ông ngoại tôi năm ấy chăng: Không có tội, sao lại bị bắt? Không có tội sao lại chết không rõ ràng?

Mong những ai còn thương yêu, quí trọng và biết rõ về bố tôi lên tiếng để trả lại sự trong sạch và nói rõ tấm lòng yêu nước của thầy Tôn Thất Bình như các cựu học sinh trường Chu Văn An nọ đã đứng ra minh oan cho thầy Dương Quảng Hàm để việc mất tích bí ẩn của thầy được rõ ràng và ông lại trở thành đúng như con người thật của ông là một người thầy – liệt sĩ được đời tôn vinh.

Thành phố Hồ Chí Minh mùa cách ly Covid-19 ngày 19/2/2021

Phạm Tôn Tôn Thất Thành

1 bình luận »

  1. tôi muốn xin danh sách các giáo sư Trường Thăng Long vi tôi muốn biết nhà văn Nhất Linh Nguyễn tường Tam có từng dậy ở đây ko Xin liên lạc với tôi ở tuongtamfriends@gmail.com

    Bình luận bởi nguyễn tường Tâm — Tháng Tư 21, 2021 @ 12:45 sáng | Trả lời


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d người thích bài này: