Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 26, 2021

An dưỡng ở Quảng Bá

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:57 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 5 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOAI – PHỤ LỤC

 AN DƯỠNG Ở QUẢNG BÁ

Phạm Tôn

Sau mấy lần ho ra máu, ngày 18/6/1962, tôi được vào nằm ở trạm xá Học viện Nông Lâm nơi đang theo học hai hơn năm qua. Biết là sẽ về bệnh viện Bạch Mai khám để chính thức nằm viện điều trị, tôi viết thư về nhà. Chủ nhật ấy, mẹ tôi được cậu Phạm Khuê là bác sĩ đèo xe đạp hơn 13 km đến thăm, được dẫn tới căn buồng nhỏ độ 4 mét vuông, nóng bức, nơi tôi nằm cách ly. Tôi gầy trơ xương, nằm trên chiếu trải lên giát giường mà vẫn rất đau, phải xé cái quần cũ làm mấy mảnh, xếp lại lót chỗ xương cùng đè lên giường. Cởi trần, do quá nóng lại chỉ có quạt giấy, vì đây vốn là cái buồng xép bỏ không, thường để dụng cụ vệ sinh như chổi, xô…

Cậu Khuê lấy cái khăn tay đặt lên ngực rồi lưng tôi, bảo thở ra để cậu khám cho. Rồi bắt mạch, đếm nhịp tim. Xong cậu bảo: phải nằm bệnh viện vài tháng, cần nghỉ học một thời gian. Cậu hỏi ở đây ai điều trị, tôi nói tên một y sĩ nữ, nhưng nghe nói sắp có người thay, chưa biết là ai.

Ngày 9/7/1962 xe com măng ca của viện trưởng chở tôi đến bệnh viện Bạch Mai, khám xong, họ bảo chiều vào nhập viện nằm khoa lao. Tôi về nhà, vẫn đeo khẩu trang, cả nhà bảo bỏ ra, nhất là chị Thủy, còn cho bế bé Ánh Ngọc mới sinh nữa. Chiều, tôi vào bệnh viện, nhập khoa lao, san 12A. Chú Đặng Vũ Hỷ và con trai Đặng Vũ Tứ đều là bác sĩ xuống thăm tận giường, hỏi han tình hình. Riêng cậu Khuê, một hôm xuống dặn tôi chú ý là cậu đã được bác sĩ trưởng khoa cho biết mỗi tuần, sẽ cho cháu tiêm một lọ strepto 1g, nhớ theo dõi báo cậu biết. Nhưng đã mấy tuần qua, tôi vẫn chỉ được dùng hai thứ thuốc nội là viên Rimifon uống và ống Filatov tiêm. Một hôm y tá Thanh là ông già vui tính hay đùa với thanh niên, như cũng là đo đếm mạch, nhưng ông lại lấy ở chỗ bẹn, làm nhiều anh cứ tránh vì quá ngượng và buồn cười. Thấy quyển sổ to như tờ báo để ở bàn, tôi mở ra xem các chỉ định về thuốc thì thấy đúng là ở chỗ tên mình, có ghi mỗi thứ năm một lọ strepto 1g. Nhưng bị xóa đi, bên cạnh có chữ ký BS Hơn:Tôi xóa. Tôi biết ông này nhỏ người nhưng chí lớn đang thực hiện thí nghiệm trị lao phổi bằng dung dịch xuyên tâm liên theo cách cho ống bơm thẳng vào phổi người bệnh. Tôi đã thấy ông chọn các thanh niên trẻ, khỏe tham gia thí nghiệm này. Cả chú Hỷ và cậu Khuê đều dặn tôi tuyệt đối không tham gia thí nghiệm nào hết. Thế là tôi toàn dùng thứ thuốc nội cho đến khi xuất viện ngày 18/9/1962 bắt đầu điều trị ngoại trú, mỗi tháng đến viện chiếu điện, khám và lấy thuốc. Tôi về học viện báo cáo tình hình và thanh toán tiền thuốc thì biết là y sĩ nữ đã chuyển đi và người mới về cũng là y sĩ, nhưng là nam và mới xuất ngũ. Tôi về là đến ngay cậu Khuê, cậu nghe nói tên y sĩ mới là Hòa, thì cậu bảo thế cậu quen ông này, thường gọi là ông Hòa lao hủi vì ông phụ trách khoa lây hồi cùng làm việc tại quân y viện K32 Thanh Hóa. Rồi cậu khám cho tôi với đầy đủ ống nghe tim phổi, máy đo huyết áp và còn viết cho một lá thư, bảo khi gặp hỏi nếu đúng là người quen cậu thì đưa thư này.

Tôi sang trường, lên gặp y sĩ Hòa, hỏi thì đúng là người quen của cậu. Ông bảo được dịp thế này tôi rất mừng, tôi quí trọng và còn mang ơn bác sĩ Phạm Khuê nhiều lắm. Tới đây, sắp có một đợt cán bộ nhân viên trường yếu mệt được đi an dưỡng ở Khu Quảng Bá. Tôi sẽ đưa anh vào danh sách, có điều anh không phải là cán bộ công nhân viên nên phải tự túc mọi chi phí, tôi chỉ có thể cấp cho anh bồi dưỡng bốn hào mỗi ngày trong một tháng. Sẽ nghỉ hai tháng, đúng lúc anh đang cần ở nơi thoáng mát, được chăm sóc y tế và bồi dưỡng đúng cách. Tôi không biết cảm ơn ông thế nào.

Cả nhà đều mừng, bảo cứ ăn tiêu chuẩn cao nhất, uống nhiều sữa, mọi việc cả nhà cùng lo. Chị Thủy còn nhắc: nhớ không được đọc sách, suy nghĩ, viết lách gì cả đấy. Thế là ngày 18/9/1962 tôi ung dung vào nhà an dưỡng Quảng Bá, đề nghị cho ăn theo tiêu chuẩn cao là 1đ6 một ngày và được ở một phòng trên tầng hai thoáng mát, nhiều cửa sổ lại có hành lang rộng. Phòng có sáu giường, nhưng mới có năm người. Tôi làm quen ngay với anh Kiên nhỏ người, mắt sâu, nằm gần cửa sổ nhân được anh mời trà. Anh là công nhân nhà in Tiến Bộ, nên anh em có nhiều chuyện để nói với nhau. Ba bác còn lại đều lớn tuổi, gầy gò, người tỉnh khác.

Sáng ăn cháo, mì, từ 6:30 đến 7:30. Trưa ăn cơm lúc 11:00, chiều thì 17:30. Bữa ăn đầu tiên, ai cũng có một đĩa trên có hai con cá giếc rán áp chảo, nói thế vì quá ít dầu mỡ, không giòn, nhưng đủ chín để ăn được. Riêng loại tiêu chuẩn cao, tức 1đ6 như tôi thì thêm một đĩa nhỏ thịt ba chỉ thái mỏng xếp tròn quanh đĩa. Thịt mỡ tôi vốn không thích, nhưng ăn được. Còn cá thì từ năm 10 tuổi, sau hai lần hóc xương cá đến mức đi bệnh viện mới lấy ra được, tôi bỏ hẳn không ăn. Hồi học Học viện Nông Lâm, thực phẩm khan hiếm, thì tôi ăn rau, chứ cá bạn nào thích cứ ăn. Ai cũng biết tính tôi, có cá là có bạn đến lấy phần tôi. Ngay sau bữa trưa đầu ấy, tôi gặp quản lý xin chuyển xuống ăn mức 1đ2. Xong được một việc. Chiều, lại hai con cá giếc nhỏ, tôi nghĩ mình lên đây để phục hồi sức khỏe, chỉ ăn rau thôi thì làm sao khỏe. Nhớ lại hôm khám làm hồ sơ vào bệnh viện Bạch Mai, chiều cao thì vẫn 1m76 nhưng cân nặng chỉ còn 46kg. Lâu nay, tôi chán cân mà chán luôn cả soi gương vì chán cái thân, cái mặt mình quá. Thế là tôi cẩn thận gỡ cá áp chảo ăn như mọi người. Thấy lạ miệng, cũng ngon, thế mà bỏ không ăn hơn chục năm, phí quá. Sữa nhà mua cho và cả sữa nhà an dưỡng cấp tôi đều uống đầy đủ. Sáng dậy, còn ra ven bờ ngắm Hồ Tây với mấy ông già hom hem, coi như cùng cảnh. Dần dà quen một bạn làm trong đoàn địa chất cũng chạc ngoài hai mươi như tôi. Thế là sáng nào hai đứa cũng đi bơi thuyền của nhà an dưỡng trên Hồ Tây. Mấy bác già cùng ngắm cảnh dạo nào bảo hai đứa có đi thì lấy cho các bác lá sen non còn cuộn để thái ra phơi pha trà uống cho dễ ngủ. Thành ra ngày nào chúng tôi cũng có việc, trò chuyện trên thuyền hợp ý rất vui. Không ngờ cứ như thế mà tôi thực hiện được điều chị dâu yêu cầu là không đọc sách, không suy nghĩ viết lách gì cả. Lên bờ là lại đánh cầu lông với các bác. Trong buồng cũng lắm chuyện vui. Tôi vốn ghét rác, to nhỏ gì cũng ghét hết. Cho nên khi ai tiện tay bỏ giấy vụn hoặc cái tăm hay que đóm hút thuốc xong vứt bỏ ra sàn tôi đều nhặt và gói lại vào giấy báo như những cái phong bì rồi mới bỏ sọt rác có lỗ hở. Một chiều đi chơi về, thấy trên bàn mình một xấp phong bì rác, mới biết có bác cùng phòng thấy tôi hay gấp phong bì nay thấy bị vứt vào giỏ rác thì nhặt lại cho tôi. Tôi cảm ơn và giải thích cho bác ấy thì bác cười. Anh thợ in Kiên kể chuyện sáng nào cũng dậy từ bốn giờ để đun nước, pha trà rồi ngồi uống một mình cho đến sáu giờ thì đạp xe đi làm, đến nhà máy vừa đúng giờ lúc 6:30. Buồng bên có nhà báo Lưu Động cao lều kều, sáng nào cũng rửa ấm chén khá lâu, thấy tôi đi rửa mặt chăm chú nhìn, ông cười: chắc chú mày thấy mấy lão già lôi thôi, phí thời giờ vào mấy chuyện vớ vẩn quá phải không. Cứ già bằng bọn tớ đi là đằng ấy sẽ biết trà ngon thế nào, sướng thế nào khi uống trà trong ấm chén sạch bong.

Một hôm tôi và anh bạn cùng chèo thuyền sớm đi quá nửa Hồ Tây, tôi bàn lên chợ Bưởi chơi cùng ăn bún ốc, xem các hàng bán lợn, gà vịt các loại gạo, đồ mây tre đan, chẳng mua gì, chỉ xem thôi mà thoáng cái đã hết buổi sáng. Khi về, còn nhớ hái lá sen non nộp các cụ như mọi ngày thành ra bữa trưa ấy đi ăn muộn, khách đã vãn. Mấy anh còn ngồi nán lại chuyện gẫu, thấy chúng tôi đi qua, nói: Này, chú Sữa , hôm nay có chuyện gì mà về ăn muộn thế?… Tôi đang ngớ người ra không hiểu các anh nói gì thì anh bạn cười: họ hỏi mình đấy, trả lời đi… Hóa ra họ gọi tôi là Sữa, cái tên thật lạ với một thằng má hóp lại gầy trơ xương như tôi. Nghĩ thế, nhưng khi ăn xong đi ra, tôi để ý thấy trong cái gương to để ngay cửa ra vào nhà ăn có hình một thằng lạ mặt, tôi lè lưỡi, nó cũng lè lưỡi, thế đúng là tôi rồi: Một thằng mặt búng ra sữa , trắng trẻo, cao to, mắt đen, vai lệch do di chứng lao màng phổi.

Nhà an dưỡng có y tá bác sĩ nhưng chỉ điều trị theo đơn của bệnh viện. Nói thế chứ thật ra bệnh nhân đưa thuốc là họ tiêm, không dám hỏi han giấy tờ gì cả. Biết thế, tôi lấy strepto cô Hoàn gửi cho anh Đại từ hồi biết anh mắc bệnh năm 1955, nhưng mãi đến khi tôi ra viện Bạch Mai thuốc mới đến, chậm… bảy năm. Thành ra tôi gặp may. Mỗi ngày tiêm một lọ 1g loại hòa tan trong dầu, không cần nước cất, tác dụng kéo dài hơn. Có lẽ vì thuốc quá tốt lại chịu ăn cá, uống sữa, vận động trong không khí trong lành mà tôi khá lên trông thấy.

Tuy khu an dưỡng ở Quảng Bá khá xa, nhưng vẫn có người đến thăm. Một chủ nhật, Nguyễn Hữu Lý, bạn cùng lớp cùng giường (tuy khác tầng, tôi ở tầng trên) dẫn một bạn nữ thân của cả hai tôi đến thăm, kể đủ thứ chuyện, còn đưa tiền bạn thanh toán tiền thuốc ngoại trú, bạn gái thì cho nhiều quả chủ yếu là mận hậu. Người lớn tuổi đến thăm tôi là chú Đặng Vũ Hỷ. Ông nhắn người bảo vệ báo tôi ra ngoài, rồi hai chú cháu trò chuyện ở cổng bên bà hàng nước. Ông mua cho tôi nửa nải chuối tiêu rồi đứng ngay cạnh bà hàng nước dạy tôi cách thở theo kiểu nông dân Pháp cắt cỏ bằng cái hái như của Thần Chết. Ông lặn lội đạp xe đi xa như vậy, chắc là do nể vợ, cả hai ông bà không biết vì sao thương tôi từ nhỏ, mặc dù khi ấy đã có con trai con gái đầy đủ. Nhưng tôi không bao giờ quên một sáng chủ nhật đang đứng trên tầng hai ngắm cái sân đất vừa qua trận mưa đêm qua, giun mẹ giun con đang bò lổm ngổm. Mấy ông ham đi câu lúi húi nhặt cho vào lon sữa bò đủ câu cả tuần. Tôi đang lơ đãng nhìn không chủ đích thì thấy cả trên gác lẫn dưới nhà đều cười ồ cả lên, hầu hết là tiếng đàn ông con trai, như chưa bao giờ được cười như vậy, như chưa bao bao giờ được thấy gì lạ hơn, hay hơn thế. Tôi nhìn ra sân cho rõ thì thấy một cô gái đi giầy vải, nhảy tưng tưng trên sân, cố tránh các chỗ có giun, nhưng làm sao tránh được một cái sân đất  sau trận mưa to giun đang đùn lên khắp mặt sân. Tôi nhìn kỹ, hóa ra em gái tôi, hồi ấy tham gia đội bơi, mới cắt tóc ngắn cho tiện hoạt động thể thao nên trông khác hẳn. Tôi vội chạy xuống đón em. Khán giả được một mẻ cười nôn ruột, đúng là anh hùng cứu mỹ nhân:. Thằng Cu Sữa nhà ta đi cứu công chúa. Tôi nắm tay em đưa về phòng chúng tôi, có anh bạn chèo thuyền đi cùng cho thêm khí thế. Em mang hoa quả và cả liễn miến gà mẹ nấu cho tôi, có dận ít rau cải xanh. Nghe chuyện em kể, cả phòng vừa thương vừa buồn cười: Con gái 17 mà, cô nào chẳng thế, còn trẻ con lắm.

Nhưng lần có người đến thăm cuối cùng mới là lần bất ngờ nhất mà cũng cảm động nhất. Dạo ấy, tôi và anh bạn địa chất cùng tuổi đôi mươi đã dính nhau như đôi sam. Anh ta bảo, mình người vùng biên giới phía Bắc, xa lắm, chẳng mong có ai đến thăm. Đoàn địa chất thì sau khi cho về đây nghỉ đã cho quà rồi. Còn tôi thì nghĩ người nhà và bạn bè đến thăm như thế cũng là quá đủ rồi, không dám mong gì hơn. Cho nên chủ nhật là hai tôi cùng nhau đi bơi thuyền từ sớm, rồi đi chơi, đến gần giờ ăn mới về, khỏi buồn vì cảnh các cuộc thăm hỏi thêm tủi. Hôm ấy cũng vậy, muộn lắm hai tôi mới về nhà ăn. Không ngờ đến chỗ ghế trước nhà ăn thì có tiếng chị dâu Thanh Thủy gọi to, mừng rỡ. Cả anh Đại tôi vừa từ Vĩnh Yên đi tàu về tối hôm trước, sớm nay cũng đèo vợ lên đây thăm. Anh kể đủ thứ chuyện tư và công, nói về những công trình anh mới thiết kế cho tỉnh, từ quầy bán kem cho đến nhà thờ. Chị chỉ ngồi cạnh anh, nhìn hai anh em trò chuyện, mỉm cười vui sướng, chẳng nói câu nào. Rồi đưa ra quà: những gói đường nhỏ gói giấy xi măng buộc giây cói, và sữa bột Trung Quốc trong lọ thủy tinh trông là biết ngay quà Vĩnh Yên của anh, rồi bánh, kẹo toàn thứ tôi thích, biết ngay là quà của chị thường biết sở thích của tôi. Đặc biệt không có sách và giấy bút. Chị sợ tôi mê đọc sách và viết lách hại sức khỏe. Anh chị đi sớm định về sớm mà vì hai tôi đi trốn thăm hỏi làm anh chị đói meo. Chị đòi xem bữa anh của tôi, rồi anh chị ra về.

Rồi buồng tôi cũng có người mới đến, thế là đủ sáu giường. Ở bệnh viện cũng như ở đây, người mới đến được mọi người cũ quan sát theo dõi rất kỹ. Sau đó trao đổi với nhau. Anh này lại độc đáo, ngoài ba mươi tuổi, người đậm đà, đầu hói thường đội mũ cát két, mà được anh rể và chị ruột đưa đến tận buồng, dọn dẹp chăn chiếu, còn dặn dò nhiều lắm trước khi dặn lũ ma cũ là em nó mệt, mong các bác các chú giúp đỡ không nói to để em dễ ngủ. Anh ta chẳng nói chẳng rằng gì cả, lên giường là ngồi xếp chân kiểu kiết già như Đức Phật, mắt nhắm nghiền, hai tay để ngửa trên hai đùi. Dạo ấy mấy ai biết yôga nên xem anh ta như người tâm thần, kệ anh ta muốn làm gì thì làm, đi ăn cũng không báo, vì có báo chưa chắc anh ta đã xuống cùng ăn. Anh ta có nhiều đồ ăn mang theo lắm. Một hôm bà chị đến vội vàng mở cái cặp lồng bé xíu, lấy ra một cái bát nhỏ, trong đựng món xào gì đó đen đen. Anh ta bảo tanh lắm không ăn đâu. Chị bảo cố ăn cho khỏe, khó lắm mới nhờ lấy được, tự tay chị thấm giấy bản hết máu mới rửa sạch xào lên với tỏi, tiêu thơm lắm. Về sau hỏi y tá mới biết đó là món nhau thai nhi hồi ấy rất được tín nhiệm ở Hà Nội. Nhưng một thời gian sau, anh ta lại là người được nhiều bạn hâm mộ. Biết gảy đàn ghi ta, hay vừa đàn vừa hát Bài ca người thủy thủ của Hoàng Vân hồi ấy không được phổ biến vì hòa bình chủ nghĩa chỉ nói thủy thủ mê gái, ra khơi cốt tìm các nàng tiên môi hồng như san hô chẳng nói quyết chiến quyết thắng gì cả. Chiều nào anh cũng ngồi ở ban công tầng hai đàn hát được nhiều người dạo chơi dưới sân nghe vỗ tay hoan nghênh. Nghe nói: anh là em vợ một vị lãnh đạo cấp cao, chẳng ai dám nói gì.

Tôi ở khu an dưỡng nhàn nhã vui chơi như thế cho đến ngày 2/11/1962 dự bữa liên hoan thân mật, nghe anh bạn đàn hát Bài ca người thủy thủ rồi chia tay nhà an dưỡng Quảng Bá với nhiều kỷ niệm đẹp, đáng nhớ.

Về nhà, tôi để ý thấy cái rađiô Marconi to biến mất, quạt trần Marelli cô Hảo cho hồi vào Nam, rồi cả cái bàn thờ bà ngoại rất quí, và một số tượng nhỏ bằng ngọc và ngà voi bầy trong tủ kính cũng không còn. Tôi biết mẹ cố cho các con được học đến nơi đến chốn, cũng không để bữa ăn gia đình quá đạm bạc, ngoài việc cố làm việc ở hợp tác xã may, mẹ đành bán tất cả những gì có thể bán được để bù đắp cho cuộc sống quá thiếu thốn của gia đình.

Tôi nhớ mãi lời cậu Khuê nói trong một lần gia đình họp mặt: Gia đình ta có cái rủi, nhưng lại có cái may là ai biết rõ gia đình mình và cùng sống, làm việc với mình thì đều quí mến, sẵn sàng giúp đỡ khi cần mà không kỳ thị, soi mói. Nguyên việc tôi được đi an dưỡng ở khu Quảng Bá là một dẫn chứng thấm tình nghĩa đó. Tôi chẳng là cái gì, mà chỉ vì vị cây giây quấn mà được hưởng phúc thôi.

Sáu mươi năm qua rồi tôi vẫn nhớ từng người, từng việc đã giúp tôi  còn sống được đến tận bây giờ mà ghi lại những kỷ niệm đầy tình người này.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/4/2021 mùa bình thường mới thời Covid-19.

P.T.

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d người thích bài này: