Pham Ton’s Blog

Tháng Sáu 26, 2021

Khái lược tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 6 năm 2021

Khái lược tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam Phong tạp chí

Nguyễn Hữu Sơn

(Bài thu tại www.tapchisonghuong.com.vn ngày 19/8/2017)

  1. Việc nhận diện tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam phong tạp chí (1917 – 1934) trước hết cần đặt tạp chí này trong bối cảnh lịch sử – văn hóa dân tộc giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, dưới chế độ thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam và xu thế thực dân hóa trên thế giới đã vượt qua cao trào và chuyển dần sang giai đoạn thoái trào. Thời điểm ra đời Nam phong tạp chí (1917) rơi vào khoảng lặng giữa hai cuộc khai thác thuộc địa của nhà nước thực dân Pháp, lần thứ nhất (1897 – 1914) và lần thứ hai (1919 – 1929). Sự tồn tại qua 17 năm của Nam phong tạp chí hoàn toàn nằm trong quỹ đạo của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, khi thực dân Pháp đã căn bản dẹp xong các cuộc kháng cự, từng bước đạt được sự ổn định và phát triển. Trên nền tảng thực tại đời sống tư tưởng, kinh tế, xã hội đã tạo đà cho học thuật, văn chương nghệ thuật, báo chí, xuất bản phát triển lên một tầm mức mới. Ở đây cần đặc biệt coi trọng quan điểm lịch sử cụ thể, nhận diện đúng các đặc điểm và xác định đúng mức giá trị, ý nghĩa tiến bộ của Nam phong tạp chí, hạn chế tối đa lối đánh giá cực đoan, quy kết một chiều như đã từng đối xử với tổ chức Tự lực văn đoàn, phong trào Thơ mới, tư trào văn học lãng mạn và các nhóm Tri tân, Thanh nghị, Xuân thu nhã tập, v.v…
  2. Việc xác định tương quan giữa chính trị và văn học trên Nam phong tạp chí cần được xem xét, khảo sát đồng bộ ở ba phương diện cơ bản: Vai trò đội ngũ tác giả – Định hướng sáng tác – Hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình và dịch thuật.
    • Vấn đề cần nhận thức và đi sâu khảo sát trước hết là định hướng tổ chức chính trị và đội ngũ tác giả đã làm nên lịch sử của Nam phong tạp chí, tức là tìm hiểu thực chất mối quan hệ giữa người chủ trương và những người thực thi, thực hiện…

Không có gì phải bàn cãi việc ngài Albert Pierre Sarraut (1872 – 1962), quan cai trị, chính khách đương nhiệm Toàn quyền Đông Dương lần hai (1917 – 1919), đã chỉ đạo Louis Marty, Giám đốc Phòng An ninh và chính trị Đông Dương làm người sáng lập Nam phong tạp chí cùng học giả 25 tuổi Phạm Quỳnh làm Chủ bút kiêm Chủ nhiệm… Không chỉ với Nam phong tạp chí, Phủ Toàn quyền và Nhà nước bảo hộ Pháp đương thời còn khai sinh, bảo trợ cho Viện Viễn Đông bác cổ (từ 1900) và các tờ Gia Định báo (1865 – 1910), Đại Nam đồng văn nhật báo (1907), Đại Việt tân báo (1905 – 1908), Lục tỉnh tân văn (1907 – 1944), Đông Dương tạp chí (1913 – 1939), Trung Bắc tân văn (1913 – 1941), kể cả tài trợ in sách Đại Nam quốc âm tự vị (hai tập, 1895 – 1896) của Huỳnh Tịnh Của (1834 – 1907), bảo trợ cho gánh hát cải lương Phụng Hảo (1936), v.v… Hãy xem các ông chóp bu của chế độ thực dân nửa phong kiến bấy giờ trực tiếp xác lập tư tưởng chính trị và định hướng tôn chỉ, mục đích bản chí: “Mục đích báo Nam phong là thể cái chủ nghĩa khai hóa của Chính phủ, biên tập những bài bằng quốc văn, Hán văn, Pháp văn để giúp sự mở mang tri thức, giữ gìn đạo đức trong quốc dân An Nam, truyền bá các khoa học của Thái Tây, nhất là học thuật tư tưởng Đại Pháp, bảo tồn quốc túy của nước Việt Nam ta, cùng bênh vực quyền lợi người Pháp người Nam trong trường kinh tế… Báo Nam phong lại chủ ý riêng về sự tập luyện văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An Nam” (Nam phong tạp chí, số 1, tháng 7/1917, tr.1)… Cứ bằng vào lời phi lộ này và thực chất thước đo hiệu quả “nói và làm” trong suốt 17 năm tồn tại có thể ghi nhận Nam phong tạp chí đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, đặc biệt trên phương diện văn hóa – văn học, trong khi mệnh đề thứ hai “cùng bênh vực quyền lợi người Pháp người Nam trong trường kinh tế” dường như chỉ là những mỹ từ cho đẹp đường lối chung chứ tuyệt nhiên không ăn nhằm gì và cũng vượt ra ngoài khả năng của một tờ tạp chí chuyên về khoa học xã hội và nhân văn. Trên thực tế, tạp chí đã chú trọng xây dựng, duy trì, điều hòa tốt mối quan hệ Đông – Tây, dân tộc – quốc tế, truyền thống – hiện đại với việc xuất hiện các bài viết bằng cả ba loại hình ngôn ngữ Quốc ngữ – Hán ngữ – Pháp ngữ. Thêm nữa, trong bối cảnh dân chủ tư sản, tạp chí vẫn rộng đường thông tin, trao đổi nhiều vấn đề nhạy cảm, dễ thường không lợi cho xu thế tập quyền của nhà nước bảo hộ: Khảo luận về chính đảng (số 103), Chế độ lập hiến và chế độ đại nghị (số 154), Nhân quyền luận (số 133), Chủ nghĩa quốc gia ở Ấn Độ (số 103), Khảo về hiện tình nước Nga (số 121), Vấn đề độc lập của Phi Luật Tân (số 196), v.v. Chính nhờ tinh thần khảo cứu khách quan và thượng tôn tư liệu mà các trang viết trên Nam phong tạp chí được người đương thời đón nhận, đánh giá cao và cho đến ngày nay vẫn còn nhiều phần giá trị.

Trên thực tế, làm nên thành công của Nam phong tạp chí, học giả Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh (30/01/1893 – 6/9/1945) đã có được một ban biên tập và cộng tác viên hùng hậu, gắn bó trong hầu suốt 17 năm tạp chí tồn tại… Nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên (1923 – 2005) trong công trình Mục lục phân tích tạp chí Nam phong (Tái bản. Nxb. Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2002, tr.10-22) từng nhấn mạnh vị thế mấy tác giả chính: Phạm Quỳnh – Nguyễn Hữu Tiến – Nguyễn Trọng Thuật – Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đôn Phục và chia loại, tôn vinh theo hai nhóm chủ yếu là nhà văn và nhà thơ… Có thể nói họ đều là những trí thức yêu nước, những cây đại thụ văn hóa đã gắn bó chặt chẽ với Nam phong tạp chí và góp công kiến tạo nền quốc văn – văn học Việt Nam giai đoạn bản lề nửa đầu thế kỷ XX.

  • Qua 17 năm phát triển, mảng sáng tác đã ghi dấu ấn sắc nét trên Nam phong tạp chí, đặc biệt khi đặt trong tương quan đời sống văn học trên báo chí giai đoạn cùng thời (1917 – 1934). Thực tế cho thấy, mặc dù có hai năm tồn tại song song, giao thoa với phong trào Thơ mới (1932 – 1934) nhưng thơ ca trên Nam phong tạp chí chủ yếu thuộc dòng thơ cũ gắn với thể Đường luật và không để lại dấu ấn nào đáng kể.

Do tính chất phức tạp, phức hợp, nguyên hợp của các loại hình và thể loại văn học mà nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên trong Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong đã phân loại bộ môn XII- VĂN HỌC theo sáu chủng mục cơ bản: Văn học, văn hóa, văn minh – Văn gia, thi gia – Văn phẩm – Văn thể – Văn học thế giới – Văn học Pháp – Văn học Trung Hoa… Trên thực tế, có thể xác định thành tựu sáng tác trên Nam phong tạp chí chủ yếu lại là văn xuôi với hai thể loại chính là du ký và truyện ngắn…

2.2.1. Trong nền văn học trung đại Việt Nam đã có nhiều sáng tác thuộc thể tài du ký như thơ ca đề vịnh phong cảnh Thăng Long, núi Bài Thơ, Yên Tử, Hoa Lư, sông Hương núi Ngự, Gia Định, Hà Tiên… Bước sang thế kỷ XX, thể tài du ký có bước phát triển mạnh mẽ. Khi thực hiện công trình Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong, nhà thư mục Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký (còn được ông gọi là du hành) là một trong 14 bộ môn và nêu nhận xét: “Nhiều khi chúng ta tự cảm thấy, sống trong đất nước với giang sơn gấm vóc mà không được biết tới những cảnh gấm vóc giang sơn. Thì đây, theo tờ Nam phong, chúng ta có thể một phần nào làm lại cuộc hành trình qua tất cả những phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến đảo Phú Quốc, từ núi Tiên Du đến cảnh Hà Tiên và Ngũ Hành Sơn, từ Cổ Loa, Hạ Long đến Huế thơ mộng… Với thời gian, hẳn những tài liệu này càng ngày càng trở nên quý hoá đối với chúng ta… Trong mục Du ký này, phải kể bài Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, Lại tới Thần kinh của Nguyễn Tiến Lãng; Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, và nhất là Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh”…

2.2.2. Như đã phân tích, bên cạnh thể tài du ký nổi trội, ở đây chúng tôi tiếp tục xem xét thành tựu sáng tác truyện ngắn trên Nam phong tạp chí.

Theo thống kê của Nguyễn Đức Thuận, Nam phong tạp chí đã in tổng cộng 73 truyện ngắn (bên cạnh cách duy danh thể loại đoản thiên tiểu thuyết) (Văn trên Nam phong tạp chí (Diện mạo và thành tựu). Nxb. Văn học, Hà Nội, 2008, tr.257)… Sau này nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Hào đã in Toàn tập truyện ngắn Nam phong (Nxb. Văn học, Hà Nội, 2012, 540 trang) với tổng cộng 64 truyện. Đối chiếu các tác phẩm truyện ngắn trên Nam phong tạp chí với định hướng tư tưởng chính trị thường được lược quy là “bán nước hại dân”, “cột Việt Nam vào Pháp bằng dây thừng văn hóa”, “nằm trong mưu lược của thực dân Pháp” lại thấy một nội dung khác hẳn. Khác biệt với định hướng chính thống, có thể khẳng định tất cả các tác giả truyện ngắn của Nguyễn Bá Học (1857 – 1921), Phạm Duy Tốn (1881 – 1924), Hoàng Ngọc Phách (1896 – 1973), Nguyễn Mạnh Bổng (1879 – 1951), Nguyễn Tiến Lãng (1909 – 1976)… đều nhằm đề cao tinh thần dân tộc, phản ánh hiện thực đời sống xã hội và con người giai đoạn đương thời, tuyệt nhiên không thấy đâu một chiều tâm thế tuyên truyền và phục tùng chế độ thực dân Pháp như một số ý kiến từng quy kết. Xin đơn cử truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn được in vào ngay năm thứ hai sau khi tạp chí ra đời, được định dạng trong mục “Một lối văn hay”, trong đó phản ánh thực trạng người nông dân khốn khổ vì lũ lụt và phê phán sâu sắc bọn quan lại ích kỷ, vô trách nhiệm (cho dù truyện có chịu ảnh hưởng và mô phỏng La partie de billard của nhà văn Pháp A. Daudet, 1840 – 1897). Cốt truyện cô đúc, ngắn gọn, phác vẽ một bên là cảnh người dân cơ cực chống lụt với một bên là tên quan phụ mẫu, “quan cha mẹ” và đồng đảng, mỗi bên hút theo một mối quan tâm, cho đến kết cuộc: “Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!” (Nam phong tạp chí, số 18, tháng 12/1918, tr.355-357)…

Điều đặc biệt là truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn đã được ông Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh trực tiếp viết lời dẫn, trong đó nhấn mạnh chiều sâu và sức mạnh nghệ thuật “Shakespeare hóa”: “Quốc văn ta sau này tất phải chịu ảnh hưởng văn Tây nhiều, lối tả thực rồi tất mỗi ngày một thịnh hành. Như bài văn ông Phạm Duy Tốn sau này cũng khá gọi là một bài tả thực tuyệt khéo: đối hai cái cảnh trái ngược nhau, như bày hai bức tranh trước mặt người ta, mà tự khắc nảy ra một cái cảm giác, một cái tư tưởng tự người đọc biết, không cần phải diễn giải ra, là cái cảm giác tức giận, cái tư tưởng thống mạ kẻ “chễm chện” này không biết thương lũ “lấm láp” kia. Văn tả thực mà được như vậy cũng đã khéo thay. Bản báo đăng bài này mà có lời khen ông Phạm Duy Tốn đã có công với quốc văn”…

Có thể nói bản lĩnh nhà văn, tinh thần hướng về quốc gia, dân tộc, thượng tôn bản chất thực tại cuộc sống và ý nghĩa khách quan của hình tượng nghệ thuật đã tạo nên tính nhân dân trong Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn cũng như thể loại truyện ngắn, mở rộng đến toàn bộ văn xuôi, kể cả tiểu thuyết Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và tất thảy thể tài du ký đã từng xuất hiện trên Nam phong tạp chí. Điều này thể hiện định hướng, dòng chủ lưu của tiếng nói nhân dân trong các sáng tác văn xuôi trên Nam phong tạp chí mà không một ai có thể cực đoan bao biện, quy kết, phủ nhận…

2.2.3. Đối với Nam phong tạp chí, hoạt động nghiên cứu, lý luận và phê bình trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng chính trị và khoa học xã hội vốn là định hướng chủ yếu của tạp chí.

Đặt trong tương quan với định hướng tư tưởng chính trị cũng như xu thế chung của quá trình hội nhập, giao thoa Đông – Tây và quy luật canh tân, đổi mới, phát triển, hiện đại hóa “thổ nạp Á – Âu”, việc các tác giả Nam phong tạp chí quan tâm nhiều đến yêu cầu “điều hòa tân cựu”, “tồn cổ lục”, “tổ quốc túy ngôn”, tập trung bảo tồn di sản văn hóa – văn học truyền thống, đi sâu khảo cứu chữ Hán, chữ Nôm, tiếng Việt, chữ quốc ngữ; khởi động tìm hiểu từ cội nguồn ngữ văn dân gian đến trung đại và hiện đại; tổ chức kỷ niệm và đề cao vị thế danh nhân tác gia văn học như Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Vũ Quỳnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Lê Quý Đôn, Nguyễn Án, Phạm Đình Hổ, Lê Hữu Trác, Nguyễn Công Trứ, Mạc Thiên Tích, Lý Văn Phức, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà, Tương Phố,…; dịch và giới thiệu nhiều tác phẩm tiêu biểu mà con cháu ngày nay vẫn còn được thừa hưởng như thơ văn thời Lý – Trần (123 bài), Lĩnh Nam chích quái, Quân trung từ mệnh tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân thi tập, Hà Tiên thập cảnh, Thượng kinh ký sự, Văn tế thập loại chúng sinh,

Điểm danh và kiểm định toàn bộ phần sáng tác cũng như khảo cứu, lý luận, phê bình, dịch thuật văn học trên Nam phong tạp chí, thật khó mà qui kết đơn giản, cực đoan một chiều về những âm mưu, tác hại, nọc độc phản dân tộc, ru ngủ thanh niên, xa rời cuộc đấu tranh, phục vụ cho mưu đồ cướp nước, làm lợi cho thực dân…

  1. Trên tinh thần Đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có Đổi mới văn học, nhiều hiện tượng tác gia, tác phẩm, trào lưu văn học quá khứ đã được đánh giá, tôn vinh, giới thiệu trở lại, trong đó có vấn đề Nam phong tạp chí và học giả Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh…

Theo thống kê bước đầu, các công trình nghiên cứu, giới thiệu từ 1986 đến nay đã khẳng định vị thế Nam phong tạp chí và vai trò học giả Phạm Quỳnh trong nhiều bộ từ điển danh nhân văn hóa, từ điển văn học, chuyên khảo, luận án, luận văn; đặc biệt nhiều tác phẩm quan trọng đã lần lượt được sưu tập và công bố trở lại: Truyện ngắn Nam phong (1989), Mười ngày ở Huế (2001), Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong (Tái bản, 2002), Luận giải văn học và triết học (2003. Tái bản, 2016), Pháp du hành trình nhật ký (2004), Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam phong (1917 – 1934), ba tập (2007), Thượng Chi văn tập (2007), Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp (2007), Văn trên Nam phong tạp chí (Diện mạo và thành tựu) (2008), Phạm Quỳnh – con người và thời gian (2010), Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ (2011), Phạm Quỳnh – một góc nhìn, Tập I (2011), Tập II (2012), Toàn tập truyện ngắn Nam phong (2012), Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc (2012), Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký (2013. Tái bản, 2014), Đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn trên Nam phong tạp chí (2013), Thượng Chi Phạm Quỳnh (2015), Phạm Quỳnh – những góc nhìn xứ Huế (2015), v.v.

Có lẽ không cần có thêm lời bình về xu thế Đổi mới, hướng đến các giá trị chân – thiện – mỹ, hướng đến sự đánh giá khoa học, khánh quan, toàn diện, công bằng trước hiện tượng Nam phong tạp chí và học giả Phạm Quỳnh.

  1. Lời kết mở

Việc khảo sát, nhận diện tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam phong tạp chí không chỉ nhằm xác định, lý giải những so le nhất định trong hoạt động thực tiễn giữa những người làm báo yêu nước với chủ trương của giới thực dân, giữa những cách thức lựa chọn biện pháp đấu tranh khác nhau và hoàn cảnh lịch sử cụ thể giai đoạn 1917 – 1934 quy định, mà cao hơn thế, còn cần đánh giá tổng thể các lĩnh vực tư tưởng chính trị, khoa học xã hội và nhân văn qua 17 năm tồn tại của tạp chí. Đương nhiên việc đánh giá Nam phong tạp chí theo tinh thần Đổi mới trước hết cần dựa trên sự khảo sát, nghiên cứu tư liệu cụ thể, nghiêm túc, xác định đúng mức những đặc điểm, hạn chế lịch sử, đồng thời khẳng định những giá trị đồng hành với tiến bộ xã hội, với xu thế hội nhập, phát triển, canh tân đất nước. Đã đến lúc cần tổng kết, đánh giá đúng mức vị thế Nam phong tạp chí trong lịch sử báo chí và quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc những năm đầu thế kỷ XX.

N.H.S
(TCSH341/07-2017)

Một truyện ngắn ra đời (phần 5)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 9:57 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 6 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI:

MỘT TRUYỆN NGẮN RA ĐỜI (Phần 5)

Phạm Tôn

Ngày 22/2/1965.

25 tuổi rồi.

Thế là ít nhất cũng đã dùng mất một phần tư cuộc đời rồi mà vẫn chưa làm nổi một phần mười những nhiệm vụ mà mình đã thấy rõ là sẽ phải gánh vác. Nói cho đúng hơn mình mới chuẩn bị chứ chưa bắt tay vào làm nhiệm vụ ấy…

Nhưng không hoang mang, bi quan chút nào. Những việc đã và đang làm đều đúng phương hướng và rất căn bản. Chưa có kết quả nào, nhưng giống như việc làm đất, nhổ cỏ, bỏ phân, bắt sâu… tất cả là để hạt giống mình gieo có thể nảy mầm, lớn lên lành mạnh rồi sẽ có ngày đơm hoa kết quả.

Bảy năm trước, mình luôn suy nghĩ, thắc mắc liệu mình có tài không. Nay thì chỉ luôn tự hỏi ta đã đổ bao nhiêu mồ hôi và khi cần cả máu nữa, cho lý tưởng mình đã chọn, qua con đường mình đã nguyện

Ton That thanh chup cung bac Tan (anh tach rieng)
hiến cả đời mình, hướng vào những hoàn cảnh bắt buộc phải chịu đựng thử thách, với niềm tin là chỉ có tôi trong lửa đỏ và nước lạnh, thép mới ra đời! Con đường đi đã rõ ràng, mình quí từng phút được sống từng hơi thở, từng giọt máu đều dành cho lý tưởng ấy, con đường ấy.

Ngày hôm sau, đọc xong Anna Karênina tập cuối. Sách này mượn ở Thư viện Hà Nội đường Bà Triệu gần đại sứ quán Pháp. Sách dầy, nhưng tranh thủ mọi lúc mọi nơi nên rồi cũng đọc hết. Quyển cuối đọc lúc xếp hàng mua củ cải trắng ở chợ Đồng Xuân. Dạo ấy nhà hay ăn củ cải trắng kho magi. Chợ Hàng Da gần nhà lại không có. Tôi lên chợ Đồng Xuân, thấy bán nhưng người xếp hàng quá dài. Hôm sau tỉnh dậy là đạp xe lên chợ ngay từ lúc mờ sáng, quầy chưa mở, các xe chở rau từ ngoại thành đang vào bến. Tôi đứng mép quầy rau, đọc sách dưới ánh đèn góc mái quầy. Dần dà người đến đông, chen lấn, tôi mải đọc, có người đẩy thì tôi lùi, cứ thế đến lúc mở quầy, tôi đứng gần cuối hàng,. Có tiếng chị bán hàng quát to: Các bà lùi lại cho tôi nhờ, tôi thấy chú đọc sách đứng ở cửa từ mờ đất, để chú ấy lên mua trước tiên, sau đó ai mua tôi mới bán. Tôi cất sách vào túi, lên hàng đầu mua rau.

Bao giờ đọc tác phẩm của Tônxtôi nhiều lúc tôi phải dừng lại hỏi sao tất cả những sự việc này, nhân vật này, lại chỉ do một con người nghĩ ra, viết ra được nhỉ? Và không bao giờ dám quên lời dạy của Người: “Con đường đúng đắn là: Hãy đồng hóa những gì mà các bậc tiền bối đã làm được và hãy đi xa hơn”.

Buổi sáng, đưa bé Ánh Ngọc đi tầu điện, ăn kem, uống sữa đậu nành, vào cửa hàng bách hóa Bờ Hồ, lại mua thêm

Anh ngoc 3 tuoi
mấy con vịt nhựa vàng mỏ đỏ, vì cũng chẳng có đồ chơi nào khác. Đó là những thứ cháu thích. Mai cháu đi sơ tán xa Hà Nội rồi. Cháu sẽ ở tập thể trong trại trẻ với các bạn và các cô, sớm có ý thức tập thể hơn, sẽ thành người công dân mới trong cái xã hội mà chú mong mỏi sẽ góp phần xây dựng nên ở nước ta.

Mấy hôm nay, người Hà Nội đi sơ tán khá nhiều rồi. Mình sợ nhất phải đi mà chỉ mong được ở Hà Nội trong những giờ phút quyết liệt nhất, được sát cánh với các đồng chí đối mặt với quân cướp nước, chí ít cũng được giao một công tác phục vụ chiến đấu trong tình hình hiện nay. Sáng nay, 24/2, tình cờ gặp cậu Tuyên trên đường Quán Sứ, đã nói với cậu ý muốn được trông nom các em nhỏ ở nơi sơ tán nay đang rất cần người. Lại vừa sức mình. Trưa nay, bé Ánh Ngọc bắt đầu xa nhà. Chú mong được xa nhà quá cháu ơi…

Tối, sắp đi xem phim thì cô Lan đến báo họp chi đoàn. Các đồng chí đề cử mình vào ban chấp hành. Anh Sỹ bí thư chi đoàn là thợ cắt tóc con ông Sáu, anh ông Nguyễn Bảy chủ hiệu cắt tóc ở số 5 bis phố Hàng Da. Ông Sáu có hiệu nhỏ ở đầu phố, truyền nghề cho con, nhưng ông thấy con trai khỏe mạnh, cao lớn, giao du với nhiều bạn bè, sợ hư. Ông giữ chân con bằng cách bắt lấy vợ sớm. Hôm vợ đẻ, anh Sỹ được mua 2 hộp sữa, mang vào cho vợ mà cứ xấu hổ mãi, không biết giấu đâu hai cái hộp sắt. Từ ngày có vợ con anh đứng đắn hẳn. Khi tôi về, anh mừng lắm, có gì cần viết lách đều sang tôi, cùng bàn bạc việc định làm. Có lẽ vì thế mới đưa tôi vào ban chấp hành. Tôi đang mong có việc, làm ngay những việc anh giao. Sỹ ít tuổi hơn , lại biết bố và chú đều quí mến mẹ tôi cho nên coi tôi như người nhà, còn có vẻ nể nữa.

Tôi sửa sang xong cái buồng vách nứa, dán giấy và treo tranh kín, đèn điện cũng mắc thuận tiện cho đọc sách và viết lách. Đang dán vách thì nhận được thư em Nhàn yêu cầu nhận xét về một bác sĩ trẻ công tác ở trên này muốn đặt vấn đề với em và đã cố về tận nhà 16 Hàng Da và có gặp anh. Tôi viết ngay thư cho em, khuyên hãy 3 khoan (thời ấy có ý là khoan yêu, khoan cưới, khoan có con…để còn phục vụ chiến đấu) còn nêu gương chị Vân, chị ruột chị Thủy, ở Trung Quốc về có một anh to cao cùng du học cứ kè kè theo sát nhưng cuối cùng chị ấy lấy anh Phong Lê, người Hà Tĩnh, học trong nước, mà lại thành cặp đôi hạn phúc.

Trưa thì Sỹ và tối thì cả cô Vịnh nữa cũng sang nhà mình bàn chuyện đại hội chi đoàn. Các đồng chí tin cậy và quí mến mình như người thân.

Lâu nay đọc báo Les Nouvelles de Moscou (Tin tức Matxcơva) thấy có mục Dạo quanh Matxcơva, nảy ra ý định viết một bài về mấy cái hầm mới mọc lên ở Hà Nội, nhất là quanh Hồ Gươm. Phải đi ra mãi Mậu dịch Tổng hợp phố Hàng Khay mới mua được gói mực Cửu Long về nhà pha. Thế là lại dạo quanh Hà Nội, lòng đầy ấn tượng mới mẻ, kết hợp với những gì quan sát bấy lâu nay, viết một bài ngắn lấy tên là Chiến tranh và Hòa bình, kể những chuyện thấy trên đường phố thể hiện cái ung dung, bình tĩnh của người Hà Nội đang quen dần với nếp sống thời vừa chiến tranh vừa hòa bình, vừa sản xuất vừa chiến đấu.

Cả buổi chiều viết báo cáo chi đoàn. Sau này anh Sỹ đọc báo cáo ấy trước đại hội, chỗ tôi viết chúng ta đổ mồ hôi và đổ cả máu nữa để xây dựng và bảo vệ Thủ đô thì anh không đọc mấy chữ “và cả máu nữa”. Có lẽ anh cho là lên gân quá.

Cả ngày đi lại và viết nhiều, đêm ngủ say mê man, thấy buồn, thất vọng vô cùng về người bạn chí thân lâu nay vẫn coi nhau như anh em: Đúng lúc mình cần bạn nhất thì bạn từ chối đứng sát bên mình. May chỉ là trong cơn ác mộng.

Hôm sau, anh Đại từ Vĩnh Yên về, theo những nguồn tin không chính thức thì ta, Trung Quốc, Triều Tiên đã thảo luận tỉ mỉ để nếu đế quốc Mỹ dám cả gan xâm lược miền Bắc Việt Nam, xâm lược phe xã hội chủ nghĩa thì chúng sẽ bị quét sạch sành sanh ra khỏi Đông – Nam Á, chẳng những bị quét ra khỏi Đông Dương, Đài Loan, Nam Triều Tiên mà còn ra khỏi cả Nam Dương, Thái Lan, Nhật Bản… Ôi, thật sung sướng khi được chứng kiến và tham gia cuộc cách mạng ngày hội của những người lao động. Vấn đề là tìm cho mình một chỗ đứng trong cuộc chiến đấu đó. Với vũ khí là cây bút và dao găm.

Ngày 28/2/1965, đang viết nhật ký thì có lệnh tập trung khẩn cấp sẵn sàng chiến đấu. Lúc này mới nhớ ra sáng tinh mơ đi mua sữa đậu nành gửi cho bé Ánh Ngọc (ở nhà quen gọi là Gư) dọc đường thấy có rất nhiều công an. Phải trực ở 55 Đường Thành cho đến 17:00 mà vẫn chưa thấy lệnh huy động của khu đoàn, chỉ có đồng chí Thạo đi kiểm tra. Tranh thủ thời gian, mình trò chuyện với mấy bạn nữ chủ yếu kể chuyện Bác Hồ, Mác, Ăngghen và Lênin. Cô Tâm nhỏ ở 85 Hàng Bông bố làm ở nhà máy xay, không ngờ lại là một cô bé gạo truyện đến thế. Chủ yếu mê đọc truyện, có nhận xét khá sâu, nhưng không đọc sách chính trị. Tâm nói không ngờ sách chính trị cũng có nhiều cái hay như thế mà em chưa biết.

Không hẹn, nhưng cứ mong mãi hai cậu Khuê, Tuyên đến mà không thấy. Những giờ khắc này mình mong được hai cậu chỉ bảo hướng dẫn hơn bao giờ hết.

Tối, lại đi nghe bác Ngô Duy Phơn ( ở 25 Xóm Hạ Hồi) một đảng viên 1930 nói chuyện. Cố tìm hiểu về cuộc sống trước đây ở Côn Đảo của những người cách mạng như Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng để tìm gợi ý cho con đường đi hiện nay của mình trong giờ phút này.

Ngày 1/3/1965, tám tuổi Đoàn rồi. Tám năm qua mình đã sống làm việc học tập xứng đáng với tư cách một người Đoàn viên Thanh niên cộng sản, đã đem tất cả trí tuệ, sức khỏe cống hiến cho nhân dân, đã sống gần gũi với Paven, Phạm Hồng Sơn, Chu Văn Pù, bạn với nông dân Lê Văn Trụ ở Yên Bái, hằng ngày sống với Lỗ Tấn, Tônxtôi, Txêkhốp và cả Prômêtê nữa. Bao giờ cũng tìm đến để sống với những con người chân chính. Trung thành-Dũng cảm-Khiêm tốn là nguồn sức mạnh của mình.

Sáng nay trời mưa… Nghỉ một lát trước khi tiếp tục làm việc thì Vũ Văn Chỉ đến. Không nói gì, nhưng rõ là đã hiểu rồi. Hai anh em lại trò chuyện vui vẻ chân tình như mỗi khi gặp nhau. Bảo ở lại ăn cơm.

Vu Van Chi nhin ngang
Chỉ không chịu vì còn nhiều việc, phải về Sơn Tây ngay. Mình hơi tiếc, nhưng cũng vui khi thấy bạn bận rộn.

Hai anh em lại trò chuyện rôm rả, cùng nhau soạn sắp xếp sách báo. Bữa cơm trưa mẹ dọn ra lúc nào không hay. Chỉ cũng tự nhiên ngồi vào mâm không ai phải mời. Có lẽ sự tiếp đón giản dị chân tình của cả nhà khiến Chỉ yên tâm, tuy vẫn còn hơi khách khí. Mẹ gọi chú Chỉ tự nhiên như gọi con cháu trong nhà. Ăn vừa xong thì Phạm Quang Tấn đến, vội vàng như mọi khi, nói với mình mấy câu nhờ một việc vặt rồi về trường. Hai anh em lại trò chuyện, bàn cả chuyện Tấn rõ là yêu “ô mai” nhưng nhát quá. Rồi mình đưa Chỉ ra ô tô, chờ mãi

Pham Quang Tan luc tre
đến 16:00 mới lên xe được. Chờ lâu mà Chỉ có vẻ thích thú, hai anh em lại được bên nhau một lúc nữa. Mình mong chú làm những việc mình định làm nếu còn học nông nghiệp mà không có điều kiện, muốn nhờ chú sống hộ và xem ra chú rất vui lòng.

Hôm sau, làm việc rất có kết quả, thật vui. Tối lại cùng chi đoàn khu phố đi học chính trị, càng yêu mến các đồng chí muôn màu muôn vẻ. Ai cũng mong học hỏi được nhiều hơn; có mình hình như các bạn thích đi họp hơn.

Đọc B.Shaw và bắt đầu đọc Kiếm Sống của Gorki. Mình đọc Người Mẹ do Cựu Kim Sơn dịch từ sau giải phóng thủ đô 1954 trong một tập thiếu đầu mất đuôi, nhưng đã rất lạ về những nhân vật công nhân Nga. Đến 1956 cùng bạn yêu Đỗ Mộng Hoàn là con trai nhưng xinh gái đi xem phim đen trắng Thời Thơ Ấu làm theo tác phẩm của Gorki. Rạp ngoài trời lạnh, hai thằng cứ ôm nhau mà xuýt xoa hay quá, thế mới là sống chứ. Xem theo thẻ của Câu lạc bộ Vọng Đức Thành Đoàn Hà nội, mỗi tuần được hai người xem phim hay không mất tiền ở nhà hát Nhân Dân chứa đến vạn người. Mình làm hiệu đoàn phụ trách tuyên huấn mới có thẻ màu hồng ấy từ đó mê Gorki, nay mới đọc Gorki. Đọc là thấy ngay:

Maxim Gorki
Đây là quyển sách của mình, vẽ nên cuộc sống con người mình sẽ suốt đời noi theo. Từ thơ ấu Aliôsa (tên Gorki hồi nhỏ) đã căm ghét đến tận xương tủy thói tiểu thị dân ti tiện, hèn hạ, luôn ghen tị, ganh ghét những gì tốt đẹp ở những con người mà họ không sao hiểu nổi. Lại còn lòng ham mê sách, khao khát hiểu biết. “Sách vở đã chỉ cho tôi chỗ đứng của mình trong cuộc sống, nói cho tôi biết rằng con người thật là vĩ đại, và đẹp đẽ, luôn hướng về những cái tốt đẹp hơn, rằng con người đã làm nên nhiều thứ trên trái đất và vì cái đó mà họ phải chịu biết bao đau khổ”. Nổi bật nhất là tinh thần hiếu học, chí cầu tiến, óc quan sát tinh vi, nhìn thẳng vào sự việc để phân biệt cái sai cái đúng. Anh cũng không hề thụ động, mà tính cách dần dần hình thành vững vàng trong cuộc đấu tranh chống lại những nguồn gốc xấu xa của đời sống trong khao khát hướng tới những điều tốt đẹp công bằng và nhân đạo.

Tất cả những điều đó sao mà gần gũi, thân thiết với mình. Từ năm 1956 mới 16 tuổi tôi đã biết Gorki, đã biết và hiểu là tôi muốn gì và phải đi theo ai, đi cùng ai trong suốt cuộc đời này.

Sáng 9/3 mưa tầm tã. Trời lại lạnh. Em Thân mặc áo mưa của mình đi dạy học vì mẹ bảo anh Thành chỉ ở nhà, có đi đâu mà dùng. Cái áo cũ em lại quên mang về. Thế là mình đội cái mũ to vành, đèo mẹ đi làm. Khi đón, vẫn mưa rét, bùn đầy đường, mẹ bảo trông mà thương cái xe quá. Tôi muốn về rửa xe ngay, nhưng còn phải ăn, ngủ một chút để chiều còn vào anh Phạm Hồng Sơn, nếu không khó sống tiếp.

Cu Lường người Hoa ở nhà dưới cứ cầu trời cho hết mưa mãi mà khi mình đi trời vẫn mưa. Đành dùng tạm mảnh ni lông rách của bác già Hạt, có còn hơn không, bị mưa lạnh dễ cảm sốt lắm.

Đi qua cửa buồng Anh, thấy màn rủ kín, chăn che kín cả đầu. Mình bước vào, vừa lúc anh thò đầu ra khỏi màn với tay tìm miếng xô lau chùi… Anh xanh tái, má hóp, miệng dô ra, đôi mắt vẫn tươi, nhưng hơi lờ đờ chìm sâu trong hố mắt. Anh thở khe khẽ, luôn nhăn mặt có lẽ vì đau. Chưa bao giờ mình thấy cái chết gần với anh đến thế

Anh nói: Tôi vừa bị một trận thượng thổ hạ tả đồng chí ạ… Trên thì nôn thốc nôn tháo. Ở dưới thì tháo ra toàn nước như tháo cống ấy… Bắt đầu từ hôm thứ bảy, năm hôm rồi. Hôm ấy tôi

Pham Hong Son trang 24
chép gần xong, còn có mười trang. Định bụng buổi chiều chép nốt. Chủ nhật sẽ lên xe làm một chuyến du ngoạn. Đã lâu tôi không đi chơi đâu. Nhưng không ngờ lại thành ra thế này… Nhưng hôm nay, khá nhiều rồi, tôi định chép nốt, kẻo nhà xuất bản họ có ý kiến… Còn có một ít, nó áy náy lắm đồng chí ạ. Bác sĩ nghi là tôi bị đau dạ dày. Mấy hôm nay trời lại rét quá quẩn. Tôi mệt quá. Hai cái chân cứ đau nhức luôn… Nhưng tôi sẽ làm đúng hẹn, chỉ trong tuần này thôi là xong.

Hai anh em bàn về công việc. Mọi việc bận rộn mấy tháng nay thế là ổn. Tôi kể anh nghe tình hình Hà Nội chuẩn bị chiến đấu những ngày này. Anh cũng kể chuyện bệnh viện chuẩn bị sơ tán. Tự nhiên anh hỏi: Ba lô giá bao nhiêu một cái đồng chí nhỉ…

Rồi lại bàn về công việc dịch, về chiến thắng mới đây của Quảng Bình. Tôi kể anh nghe những dự định mới của mình, anh chăm chú lắng nghe và tán thành. Có lẽ anh đang thèm được có quyền dự định như mình.

Buổi tối đi họp chi đoàn. Rét quá chừng, nhưng mình chẳng hề có ý muốn về nhà nằm ở một nơi ấm áp. Bỗng nhớ đôi câu thơ Pêtôfi:

Một ý nghĩ cứ giày vò tôi mãi,

Chết trong chăn ấm một chiếc giường.

*

* *

Hôm sau, mưa nhỏ hạt nhưng vẫn lạnh, lắm, mình thở khó, đau ngực… Cậu Tuyên đi làm ở trụ sở đài phố Quán Sứ đưa em Phạm Thị Thanh Tuyền đến gửi, dặn mình trông nom dạy dỗ em. Con bé

Em Tuyen
thông minh, gan dạ. Hai anh em đi bộ ra mậu dịch Bờ Hồ xem ba lô, hỏi giá hộ anh Sơn mà cũng mong có ngày chính mình được đeo ba lô tham gia chiến đấu. Đã từng được cô bạn Bạch Kim nhờ mua hai ba lô, có lẽ cho cô và bạn trai

Sáng sau dậy học ngay Trung văn cho dễ nhớ, xong lại đọc Gorki. Buổi chiều, viết cho xong cái báo cáo chi đoàn giao, lại đọc Gorki của mình. Mệt và ho, ho là mình ghét nhất, luôn gây lo ngại bệnh cũ trở lại. Hồi ấy chưa biết trận tấn công dồn dập mỗi ngày 1 gam Streptô 20 ngày liền ở Quảng Bá đã dập tắt hẳn mầm mống BK chữa cù cưa suốt thời gian dài với hai thứ thuốc nội rẻ tiền là Rimifon và Filatôp. Cho nên cứ ho là sợ.

Càng đọc Gorki càng thấy hiện rõ những con người mình đã gặp, những nẻo đường đã đi qua, đến nỗi thấy rõ ràng con đường đã đi ấy, muc đích cuộc sống của mình như bắt đầu từ thời thơ ấu… “Cái mớ hỗ độn sách vở ấy không ngăn cản tôi trông thấy được những điều hiển nhiên của thực tế, cũng không làm tôi nguội lạnh cái ý muốn tìm hiểu những con người sống thực, nó bao trùm lấy tôi như một làn mây trong suốt, nhưng không thể xuyên qua được, không để cho những nhơ bẩn truyền nhiễm, những nọc độc của cuộc sống lọt vào”.

Câu đó là viết về ai nhỉ, viết về mình chăng…

Phải chủ động đi sâu vào cuộc sống, học tập nhân dân nhiều hơn nữa. Muốn thế, phải có một sức khỏe đủ vững chắc, càng cần rèn luyện kiên trì, khoa học, bằng không sẽ chẳng thể làm được những gì mình dự định. Hôm nay, đã bớt lạnh chẳng biết anh Sơn có ngủ được chút nào không…

Hôm nay 6/3, mọi việc đều khiến mình vui vẻ. Trời cũng ấm hơn, dễ chịu. Đi mua được một cái ba lô vừa ý. Bỏ tất cả quần áo vào, vừa gọn và đẹp. Nhưng đến ngày nào mới được đeo nó lên vai mà lên đường nhỉ? Chiều, đọc xong một chương dài Gorki, đi xem triển lãm tranh sơn dầu. Nói chung tất cả những hoạt động văn hóa không mất tiền hoặc rẻ tiền như xem phim tài liệu một hào ở rạp Kim Đồng mình đều tận dụng để thỏa mãn lòng ham hiểu biết của mình. Có những phim tư liệu như Bố cục tranh cực kỳ giá trị cả rạp chỉ có hai người. Đến sớm quá, triển lãm chưa mở, đành về thì giữa đường gặp Nguyễn Văn Hùng tức Hùng khảo cổ. Cả hai đứng giữa lề đường nói chuyện khá lâu. Cậu ta vốn mến và nể mình, là người biết nhìn nhận người tốt, người xấu, nhưng không đủ sức nâng mình lên thành người tốt, cũng chẳng dám chống lại kẻ xấu. Mình ưa nói chuyện với Hùng vì dù sao Hùng cũng là người thật thà, tốt bụng, thông minh. Hùng trông gầy hơn, già đi, lại có vẻ lúng túng khi nói là gia đinh không thể sống ở Hà Nội vì quá đắt đỏ và đã chuyển về ở hẳn Sơn Tây. Không hiểu sao thời nay mà còn có thanh niên xấu hổ về những chuyện như thế.

Tôi không quên hôm mưa rét Hùng chở tôi sang trường lấy giấy thôi học trên chiếc xe đạp cà tàng.

Tối, cậu Tuyên, cô Tuyết đến nhà chính thức gửi em Thanh Tuyền cho mẹ. Lúc tiễn cậu về, gặp một cô gái mang hai cái bút của em Thân gửi tặng mẹ và chị Thủy nhân ngày 8/3. Cô gái ăn mặc diêm dúa, có hơi trang điểm phấn son thì phải, thấy xinh hẳn lên. Mình tiễn cậu mợ Tuyên, cũng tiễn luôn cô ấy sau khi trò chuyện xã giao vài câu và cảm ơn cho quà.

Đọc xong sách Gorki, những dòng cuối cứ đọng lại mãi trong trí óc mình. Những dòng ấy, mình đã coi như kim chỉ nam từ năm 1956: “…Tôi nghĩ bụng: Ta phải làm được một việc gì chứ, nếu không thì ta sẽ sống vô ích…”

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 8/4/2021

Mùa Covid-19 giãn cách trong trạng thái bình thường mới.

P.T.

Tết không bánh chưng… vẫn vui

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 9:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 6 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC:

TẾT KHÔNG BÁNH CHƯNG…VẪN VUI

Phạm Tôn

Một hôm, tôi đưa mẹ một quyển vở nhỏ và nói là mẹ muốn mua thứ gì thì cứ ghi vào đây, con sẽ mua. Mẹ tôi cười: con dạo này giàu ghê, mẹ có gì muốn mua chỉ việc ghi vào sổ này… Tôi biết mẹ nói đùa nhưng cũng cứ thưa cho rõ: Mẹ thỉnh thoảng bảo mua thứ này, thứ nọ cho nhà, nhưng chúng con lu bu công việc lại còn học hành, nhiều khi quên đi khiến mẹ phiền lòng. Vì thế nay con đưa ra quyển vở này ghi lại cho rõ, mẹ ghi cũng được mà mẹ bảo con ghi cũng được, cốt để nhớ thứ cần mua thôi. Ghi tất cả lại thì khi có tiền, lại có thì giờ, con sẽ xem tất cả những thứ đã ghi thứ nào cần nhất , lại có đủ tiền thì mua ngay thứ ấy. Những thứ khác để sau. Nhờ thế khi nào cũng có thể mua được thứ cần nhất. Mẹ tôi cười hài lòng…

Quanh quẩn thế nào mà lại sắp đến Tết rồi. Tôi biết Tết đối với mẹ quan trọng như thế nào. Vui như thế nào. Nhất là những ngày chuẩn bị Tết. Mẹ vui và lo nhất là chuẩn bị nấu bánh chưng. Cái thủng nấu bánh chưng của nhà tôi cứ nhỏ dần. Từ nấu mấy chục cái bây giờ chỉ còn nấu bốn năm cái. Nhưng như thế cũng đã dùng hết sổ tem phiếu của cả nhà mới mua đủ nếp, đậu xanh, thịt, hạt tiêu, mì chính (bột ngọt- mỗi cán bộ E ba tháng được một gói ni lông nhỏ chứa đúng 10 gam). Thế là cứ có bánh chưng thì nhà hết sạch. Mẹ lo làm ngay một hũ mắm tép to, đỏ au thật ngon để sau Tết còn có cái mà ăn cơm.

Năm nào cũng thế, tôi nản quá. Tết khách đến nhà sau khi mời trà ngon mỗi gia đình được mau một gói Thanh Hương tám hào, chẳng ai dám mời mứt. Vì cùng cảnh gia đình cán bộ E, chưa mở hộp mứt có vẽ cành đào và hai con chim ra thì khách đã biết trong đó chẳng có gì ngoài mứt bí, mứt cà rốt, xu hào và vài hột sen, mấy quả táo tầu khô. Thành ra chỉ chúc nhau, uống trà nói chuyện vui.

Mẹ con tôi trò chuyện khá nhiều về chuyện bánh chưng. Mẹ bảo ai cũng nói dửng dưng như bánh chưng ngày Têt, có bánh chưng cũng chẳng dám mời ai. Mà nấu được mấy cái bánh thì cả nhà chẳng còn gì ngoài hũ mắm tép. Tôi tát nước theo mưa, nói là cả nhà đều thích ăn xôi, từ ngày mẹ còn nhỏ ở phố Hàng Trống với bác Cả, dì Thức sáng nào chẳng ăn xôi đi học. Rồi hồi cả nhà ở nhà dì phố Lò Sũ, sáng nào chẳng ăn xôi của cô hàng ngồi ngay cửa. Nào là xôi lúa, xôi xéo, xôi đậu xanh, đậu đen, xôi vừng dừa. Cứ mỗi tháng trả tiền xôi một lần. Về Hàng Da thì sáng nào mẹ cũng thổi xôi cho cả nhà ăn vui vẻ. Hay Tết mình làm xôi đặc biệt mẹ nhỉ… Mẹ bảo ngon nhất là xôi gà rô ti. Nhưng gà thịt mỏng quá mà lại đắt, mẹ tính làm rô ti ngan (vịt xiêm), thịt dầy, ăn cho thỏa. Thế là từ năm ấy, cứ gần Tết là mẹ mua một con ngan đực, buộc giây vào chân, cho nó ở chỗ gần cống thoát nước xuống đường. Nó im lặng, thỉnh thoảng mới kêu kiu kiu khàn khàn, ăn no là lạch bạch đi rồi tháo ra một đám phân loãng xòe ra như cái quạt. Giội một gáo nước to là sạch. Tết đến, nhà không nấu bánh chưng nhưng ai cũng vui vì được ăn mấy sáng liền mỗi người một đĩa xôi trắng có mấy miếng thịt ngan rô ti thơm béo rưới nước sốt ngũ vị hương mỡ ngan. Ngoài ra, thịt ngan mẹ và bà cô còn làm nhiều món nấu, xào thơm ngát mùi gia vị và tiêu. Tết có cỗ đàng hoàng. Sau Tết, tất nhiên mắm tép vãn là chủ đạo nhưng cũng còn có món làm từ thịt, xương ngan.

Thành phố Hồ Chí Minh mùa Covid-19.

P.T.

Blog tại WordPress.com.