Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 24, 2021

Nhà văn Sơn Tùng từ giã cuộc đời

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 7 năm 2021.

Nhà văn Sơn Tùng từ giã cuộc đời

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi vô cùng thương tiếc biết tin nhà  văn Sơn Tùng, anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, người bạn nặng ân tình của con cháu Thượng Chi Phạm Quỳnh vừa qua đời ở tuổi 93 tại nhà riêng ở Hà Nội.

Xin có lời chia buồn với cụ bà Phan Hồng Mai và thân nhân nhà văn.

Chúng tôi xin đăng lại sau đây bài của Thiên Điểu trên trang 15 báo Tuổi Trẻ số ra ngày 24/7/2021

*

*       *

Nhà văn Sơn Tùng – tác giả của nhiều tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh và các danh nhân cách mạng, danh nhân văn hóa Việt Nam, trong đó nổi tiếng nhất là tiểu thuyết Búp sen xanh viết về cuộc đời Bác Hồ – vừa qua đời.

Tin từ gia đình nhà văn Sơn Tùng cho biết ông trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng vào khoảng 23h05 hôm qua 22-7. Nha van Son TungNhà văn ra đi ở tuổi 93, sau hơn 11 năm cùng người vợ tảo tần, thủy chung chống chọi với bệnh nặng do tai biến.

Lễ viếng nhà văn Sơn Tùng sẽ diễn ra vào 7h30 ngày 26-7 tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ truy điệu vào 8h30, an táng tại nghĩa trang quê nhà tại xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

“Ông là một người đặc biệt và là một nhà văn đặc biệt. Ý chí sống và sáng tạo phi thường của ông là một tấm gương lớn”, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều chia sẻ lòng ngưỡng mộ của ông với nghị lực sống và sức sáng tạo của nhà văn Sơn Tùng.

Theo nhà văn Thiên Sơn – cháu gọi nhà văn Sơn Tùng bằng bác, tác giả Búp sen xanh sinh năm 1928 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Ông sớm rời quê hương Diễn Châu tham gia cách mạng từ những năm 1950. Ông hoạt động ở tỉnh đoàn, sau ra Hà Nội học Đại học Nhân dân rồi làm giảng viên đại học, làm báo Tiền Phong. Từ năm 1964 ông vào chiến trường Nam Bộ lập báo Thanh Niên Giải Phóng, rồi bị thương nặng trở ra Bắc cuối năm 1971.

Kể từ đó ông bắt đầu cuộc đời của một người cầm bút chuyên tâm, kiên định, sáng tạo trong nghèo khó, bệnh tật bởi những vết thương chiến tranh.

Sơn Tùng có viết về chiến tranh qua các tiểu thuyết: Vườn nắng, Lõm; về danh nhân cách mạng qua các truyện lịch sử như Trần Phú, Nguyễn Hữu Tiến… Mảng sách thành công nhất của ông, để lại ấn tượng nhất là mảng sách về đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông đã viết hàng loạt tiểu thuyết về Bác Hồ như Búp sen xanh, Bông sen vàng, Trái tim quả đất và truyện ký Bác về, Nguyễn Ái Quốc qua ký ức một bà mẹ Nga…

Ngoài tiểu thuyết, cuối năm 1987 Sơn Tùng còn hoàn thành kịch bản phim mang tên Cuộc chia ly trên bến Nhà Rồng mà năm 1990 được dựng phim Hẹn gặp lại Sài Gòn, đạo diễn Long Vân, quay phim Nguyễn Quang Tuấn, diễn viên Tiến Lợi vào vai Bác Hồ.

Sơn Tùng còn sáng tác thơ, trong đó đáng chú ý là bài Gửi em chiếc nón bài thơ (1955) và Cửa sổ xanh (1971). Bài Gửi em chiếc nón bài thơ sau ngày đất nước thống nhất đã được nhạc sĩ Lê Việt Hòa phổ nhạc.

Năm 2011, ông được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, trở thành người thứ 4 thuộc Hội Nhà văn Việt Nam được nhận danh hiệu này.

Thiên Điểu

*

*      *

TƯ  LIỆU CỦA NHÀ VĂN SƠN TÙNG

VỀ MỐI THÂN TÌNH GIỮA

NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH VỚI THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH

Thu son tung

Trang đầu và trang cuối (có con dấu và chữ ký của tác giả) tập bản thảo của nhà văn Sơn Tùng.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Sơn Tùng có nhã ý “ký thác” toàn bộ những sưu tầm của ông trong nhiều năm “Về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với Thượng Chi – Phạm Quỳnh” mà ông trân trọng gọi là “bậc danh nhân văn hóa” cho “nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình kính quí”. Tập tư liệu chép tay quý giá này tròn 20 trang, viết xong ngày 8/12/2008, tức 12/11 Mậu Tý, tại Hà Nội – Chiếu Văn.

Nay, nhà văn đã đồng ý với đề nghị của nhạc sĩ Phạm Tuyên, cho công bố những trang viết của ông trên blog của chúng tôi.

Từ hôm nay, chúng tôi xin trích đăng tập tư liệu với tiêu đề từng phần và lời dẫn, lời bình của chúng tôi.

Xin chân thành cảm ơn thâm tình của nhà văn và xin mời bạn đọc bắt đầu theo dõi tập tư liệu có một không hai này.

—-o0o—-

MẤY LỜI KÝ THÁC

Thân gửi: Nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình kính quí.

Thưa Anh,

Đời cầm bút của tôi: viết báo, viết văn, chí thành với đề tài lịch sử và danh nhân Bác Hồ.

Sống trước viết.

Từ sau Cách mạng tháng 8-1945 đến năm 1970, tôi dấn thân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước; xông pha khắp ba miền Bắc-Trung-Nam tìm tòi, tích lũy vốn sử liệu về các nhân vật lịch sử ,sự kiện, khảo sát, khảo chứng,… Năm 1971, tôi bị thương nặng trong trận giặc Mỹ đánh phá quyết liệt vùng hậu cứ miền Đông Nam Bộ. Sau gần một năm cáng thương qua Trường Sơn, tôi được về lại Thủ đô Hà Nội.

Son Tung va Pham Tuyen

Chiến tranh có kết thúc. Vết thương chiến tranh trên cơ thể chỉ khép lại khi người mang vết thương ấy tắt nghỉ! Gần 40 năm qua, vừa vật lộn với vết thương mỗi khi tái phát hành hạ, vừa moi cái vốn tích lũy được mà viết, viết cho vơi bớt nỗi đau! Cho đến ngày hôm nay, tôi mới viết được trên 20 đầu sách, đã xuất bản. Bản thảo còn đang viết tiếp, vốn có rồi mà chưa viết được bao nhiêu; một số bậc danh nhân trong đó có danh nhân văn hóa Thượng Chi – Phạm Quỳnh đã chuẩn định mà chưa thực hiện được. Giờ đây, tôi đã ngoài tám mươi, liệu còn làm xong được những chuẩn định? Vì vậy tôi thành tâm chép lại những điều tôi sưu tầm được về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với Thượng Chi – Phạm Quỳnh, xin trân trọng ký thác tới gia đình bậc danh nhân văn hóa Phạm Quỳnh.

MINH CHỨNG

 

  1. Ghi theo lời Vũ Đình Huỳnh, bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nguyen Dinh Huynh ho chi minhCỤ VŨ ĐÌNH HUỲNH-số 5 – Hai Bà Trưng, Thủ đô Hà Nội. Cụ xuất thân trong gia đình Thiên Chúa giáo yêu nước. Là nhà trí thức yêu nước dấn thân trong các phong trào đấu tranh Cách mạng kiên cường bất khuất, bị tù qua Hỏa Lò, ngục Sơn La…Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào ngày 16,17/8/1945, cụ Nguyễn Lương Bằng đưa cụ Vũ Đình Huỳnh đến giới thiệu với Cụ Hồ ở nhà sàn làng Kim Lung tên mới là Tân Trào. Cụ Hồ “kết” ngay cụ Vũ Đình Huỳnh là tâm phúc. Tổng khởi nghĩa – Cách mạng tháng 8-1945 thành công, Cụ Hồ về Hà Nội tại “Đại bản doanh”48 Hàng Ngang ngày 25/8/1945; Cụ Hồ sở cầu ngay cụ Vũ Đình Huỳnh làm Bí thư cho Chủ tịch nước, từ việc “Cầu hiền”để lập chính phủ lâm thời; đặc phái viên của Hồ Chủ tịch đến Phát Diệm “thuyết khách” Giám mục Lê Hữu Từ và về Yên Mô (Ninh Bình) mời Linh mục Phạm Bá Trực, rồi đến Liên Bạt (Hà Đông) trao thư Hồ Chủ tịch vời cựu Thượng thư Bộ Hình Bùi Bằng Đoàn, xuống Thái Bình chuyển giao nhiệm vụ cho đồng chí Ba Ngọ, cựu chính trị phạm ở Thái Bình – nay là phái viên của Hồ Chủ tịch mời cụ Vi Văn Định, cựu Tổng đốc Thái Bình ra gánh vác việc nước. Cụ Vũ Đình Huỳnh làm Bí thư – tâm phúc của Bác Hồ cho tới cuối năm 1953…

PHẦN 1: “BẤT TẤT NHIÊN”

Bác Hồ rời Tân Trào, Tuyên Quang, Việt Bắc ngày 22 tháng 8 năm 1945. Ngày 25/8/1945, Người về nhà 48 Hàng Ngang, Thủ đô Hà Nội, lúc thành phố lên đèn.

Ho Chi minh 1945Ngày 26/8, Người triệu tập và điều hành phiên họp đầu tiên Thường vụ Trung ương Đảng tại đây. Quyết định lớn: Thiết lập chính thể Dân chủ Cộng hòa, các thành viên chính phủ lâm thời thật tiêu biểu của dân tộc, của nhân dân; phải có Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào và thế giới với một cuộc mít tinh lớn hàng mấy chục vạn người ở Thủ đô Hà Nội. Chính phủ ra mắt nhân dân và cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 28/8/1945, Hồ Chủ tịch đến làm v`iệc tại Bắc Bộ phủ, 12 phố Ngô Quyền. Một phái đoàn Trung ương – ông Nguyễn Lương Bằng, ông Trần Huy Liệu, ông Cù Huy Cận đã vào Huế dự lễ vua Bảo Đại thoái vị. Hôm phái đoàn lên đường rồi, Hồ Chủ tịch mới về Hà Nội, như chợt nhớ Người nói với ông Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng – Tổng chỉ huy quân đội – Bộ trưởng Bộ Nội vụ; ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) – Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Lê Giản- Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam, Vũ Đình Huỳnh: “Chú Bằng (Nguyễn Lương Bằng), chú Liệu (Trần Huy Liệu), chú Cận (Cù Huy Cận) vô Huế rồi mình mới về thì đã trễ, giờ chú Nam (Hoàng Hữu Nam) hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế gặp Cụ Phạm Quỳnh, trao thư tôi mời Cụ…” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT).

Hai hôm sau, ông Hoàng Hữu Nam đến báo cáo với Hồ Chủ tịch: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt (Chúng tôi nhấn mạnh – PT), hai người con gái của ông ở Hà Nội, gặp tôi thổ lộ việc này”. Hồ Chủ tịch để điếu thuốc đang hút dở xuống gạt tàn, nói lửng: “Bất tất nhiên”!* (Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Người hỏi ông Hoàng Hữu Nam:

– Hai chị ấy tên là gì?

Ông Hoàng Hữu Nam trình bày:

– Dạ…Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức, thưa Bác.

– Chú mời hai chị em cô ấy gặp tôi, chú Tư (Vũ Đình Huỳnh) sẽ sắp xếp ngày giờ gặp…

Ông Hoàng Hữu Nam tươi cười kể lại với Bác là chị Giá, chị Thức bày tỏ xin được gặp Cụ Hồ, nhưng chưa dám hứa chắc vào lúc nào…

Sau buổi làm việc này, ông Vũ Đình Huỳnh trao đổi với ông Hoàng Hữu Nam, Hồ Chủ tịch sẽ tiếp “thân nhân Cụ Phạm” vào cuối buổi sáng ngày 31/8/1945 tại phòng khách Bắc Bộ phủ.

Ngày 31/8/1945, buổi sáng Hồ Chủ tịch rà xét lần cuối bản thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Ông Nguyễn Hữu Đang, Trưởng ban tổ chức ngày lễ Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 và bốn người nữa đến báo cáo với Hồ Chủ tịch về công việc chuẩn bị cho ngày lễ…

Đến 10 giờ 30 phút, ông Hoàng Hữu Nam báo với ông Vũ Đình Huỳnh: “Đã mời thân nhân Cụ Phạm đến, đang ở phòng khách…”. Cụ Vũ Đình Huỳnh khi kể lại với tôi sự việc này, cụ nói trầm trầm như tâm sự: “Tôi nghe danh ông Phạm Quỳnh từ một bỉnh bút, chủ nhiệm, chủ bút báo Nam Phong và Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Có đôi lần nhìn thấy ông khăn xếp áo the, kính trắng đi từ trụ sở Nam Phong phố Hàng Da, qua Hàng Bông đến trụ sở Khai Trí Tiến Đức, phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm. Tôi có biết chị Phạm Thị Giá, vợ giáo sư Tôn Thất Bình dạy Pháp văn ở trường Thăng Long cùng với cụ Phó bảng Bùi Kỷ, dạy Hán văn; các giáo sư Hoàng Minh Giám dạy Pháp văn, giáo sư Đặng Thai Mai dạy Pháp văn, giáo sư Võ Nguyên Giáp dạy văn, sử, địa, giáo sư Vũ Đình Hòe dạy văn, giáo sư Nguyễn Xiển dạy toán, lý… Còn chị Phạm Thị Thức là vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, cùng quê Nam Định với tôi, lại còn thân thuộc nữa. Cho nên, cái phút giây tháp tùng Hồ Chủ tịch đến gặp chị Giá, chị Thức tôi bùi ngùi thấy hai chị rụt rè, sợ sệt, chỉ một thoáng, hai chị xúc động mạnh trước cử chỉ Hồ Chủ tịch cầm tay hai chị thân tình, an ủi và mời ngồi vào ghế đối diện với Người. Người nói:

  • “Tôi ở chiến khu Việt Bắc mới về Hà Nội, nghe tin chẳng lành về Cụ nhà ở Huế…”. Hồ Chủ tịch ngừng giây lát, nói tiếp: “Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ khó tránh được sự lầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi đang trên đường về Hà Nội (ngày 22/8/1945, Hồ Chủ tịch rời Tân Trào, Tuyên Quang). Chị Phạm Thị Giá trình bày sự việc cha bị bắt trong lúc đang làm việc tại nhà…Chị Phạm Thị Thức hai tay nâng phong thư lên Bác, Người nhận và chuyển sang tay cho tôi, dặn: “Chú chuyển sang Bộ Nội vụ”. Bác thân mật hỏi han hai chị em về tình hình gia đình ở trong Huế, ở Hà Nội…Người dặn: “Những việc hai cháu vừa đề đạt, hai cháu sẽ trực tiếp gặp ông Hoàng Hữu Nam, Bộ Nội vụ nhá…”.

Đồng chí Bảy (Luật sư Phan Mỹ) Đổng lý văn phòng vào thỉnh thị Chủ tịch… Người đưa tay cầm chặt bàn tay chị Giá, chị Thức: – “Hai chị em về nhá, tôi có việc khẩn…”

* Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội 1992) thì Bất tất nhiên có nghĩa là: “Không nhất định phải như thế, có thể ra cách khác được.”

Lời bình của Phạm Tôn: Việc hai người con gái đầu của Phạm Quỳnh xin và được Hồ Chủ tịch tiếp từ 11 giờ sáng ngày 31/8/1945 đã được chính người chị là cụ Phạm Thị Giá sau này thuật lại tỉ mỉ trong bài Phạm Quỳnh, Người nặng lòng với nước, đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, cơ quan của Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, số 140, tháng 8/2006, từ trang 99 đến trang 116, và bài Người nặng lòng với nước, đăng trên tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, số 267, tháng 9/2006, từ trang 15 đến trang 20.

Điều này chứng tỏ đã là sự thật thì trước sau gì cũng được xác nhận từ các góc nhìn của những nhân chứng rất khác nhau. Thời đầu Cách mạng thật trong sáng. Chính quyền và nhân dân thật gần gũi. Người đứng đầu chính quyền Cách mạng lúc ấy dẫu bận trăm công nghìn việc, vẫn sẵn sàng, chân tình tiếp và lắng nghe tiếng nói của người dân, dù họ “thuộc diện có vấn đề”, không hề né tránh, để những bức xúc của người dân rơi vào “sự im lặng đáng sợ” như sau này.

Một truyện ngắn ra đời (phần 7)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:12 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 7 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI:

MỘT TRUYỆN NGẮN RA ĐỜI (Phần 7)

Phạm Tôn

Ngày 11/3/1965, vừa dịch xong Bian xi fa de ren (Nhà ảo thuật) từ Trung văn. Câu chuyện giản dị mà thật hay. Mai sẽ sửa và chép lại toàn bộ. Có nhiều từ mới biết lần đầu, lại nhiều thành ngữ Trung văn.

Anh Đại về, nhưng tối mình vẫn đọc Phương pháp sáng tác của Hồng Chương. Không thích lắm nhưng cố đọc cho hết mong thu lượm được chút kiến thức mới. Cũng đã nhờ cháu Lương (thường gọi là Lường) gửi cho Chỉ một tập thời khắc biểu in rônêô. Mong chú hiểu mình quí thời giờ và sức lực của chú ấy đến thế nào… Gần đây, mẹ có nhiều hành động quan tâm đến mình như mua Sirô Benzô chữa ho, nhắc đắp chăn khi trời trở lạnh.

Hôm sau, xem tạp chí Bạn nhỏ của Lường cho mượn. Sẽ chọn một số bài để dịch dần. Anh Khánh bố Lường làm ở hợp tác xã sản xuất phèn chua, giúp mình rất nhiều. Anh viết chữ Nho đẹp, đã viết cho mình ở góc ảnh Bác Hồ ngồi bên bàn mây hai câu nguyên văn trong Nhật ký trong tù: Hiện  đại thi trung ưng hữu thiết, Thi gia dã yếu hội xung phong (Hiện tại trong thơ nên có thép, Nhà thơ cũng phải biết xung phong!) Anh chăm Ton That thanh chup cung bac Tan (anh tach rieng)học và ham hiểu biết, những buổi tối xuống nhà nói chuyện với vợ chồng anh rất bổ ích với mình. Chị Quân (thường gọi là Quắn) làm cùng hợp tác xã với mẹ. Chị khéo tay, hay nói, sắc xảo về nhiều mặt, lại nấu ăn ngon. Anh chồng ít nói, cả gia đình theo ý anh mà sống và làm việc cư xử với bà con hàng xóm. Chị nuôi đôi thỏ, khi làm thịt, chị nấu ragu biếu gia đình mình một bát thật ngon. Anh đi làm về là làm việc nhà. Một hôm anh đem về một cái ang to cao 1 mét, đường kính miệng 8,9 mươi phân, bị vỡ thủng bên thành. Anh mua giây thép, xi măng, cát vá lại thành cái ang đựng nước chung cho cả số nhà. Không nhận của ai một đồng nào. Chúng tôi coi con anh chị như cháu chúng tôi, cùng đi chơi, đi xem phim và khi Mỹ ném bom miền Bắc, bắn phá Hà Nội, anh chị đã gửi hai cháu theo gia đình tôi lên Mộc Châu tạm sơ tán ở nhà em Nhàn.

Ngày 13/3, tôi đến toà soạn báo Nhân Dân nhắc Phạm Duy Phùng có hứa tìm việc làm, nhờ hỏi cả việc phụ trách các cháu đi sơ tán. Bạn nói bận nhiều việc, chưa hỏi được. Tôi đành nói thực tình cảm của mình là rất ngại đến nhờ các đồng chí cũ, mình thấy các đồng chí nay khác xưa nhiều rồi.

Cho tới nay, mình chưa thấy tình bạn nào vĩ đại và cảm động như của Mác và Ăngghen cả. Nhưng sẽ có chứ nhỉ… Phải kiên nhẫn, mở lòng mình ra trước rồi phải qua thử thách…Mình tự hào có nhiều bạn lắm. Chẳng nhẽ lại không tìm được một người hiểu mình ư?

Chiều, ra thư viện bắt đầu học tốc ký, chuẩn bị cho công việc sau này. Các tác phẩm đồ sộ của Đốt (Đốtxtôiépxki) hầu hết là do ông đọc cho cô thư ký ghi. Vì ông bị động kinh, mà nợ nần tiền thuốc thang, chữa bệnh thì nhiều.

Cô thủ thư thân thiết vẫn giúp đỡ mình tận tình vì thường đọc sách xưa, ít người đọc khó tìm. Hôm nay thấy cô ho nhiều quá, tiếng nói khàn, cố nhịn ho mà không được, chỉ cười gượng.

Tối, đi xem phim do chi đoàn “chiêu đãi” Tia lửa cuộc sống. Thấy cảnh giường sắt, áo blu trắng là mình khó chịu. Hồi mình ở bệnh viện Bạch Mai – Khoa lao 12.A vui hơn nhiều. Xem phim về nhà mới biết là vừa nổ ra một cuộc “tranh luận” giữa chị Thủy, mẹ và em Thân về chuyện để em Nhàn về lại Mộc Châu công tác có đúng không. Ai cũng quan tâm thương yêu em, nhưng cái cần là giúp sao cho đúng, để em có tương lai. Mình chẳng nói gì, vì đang quan tâm giúp em cụ thể bây giờ, không muốn bàn lùi.

Sáng chủ nhật 14/3/1965, từ sớm mình đã đèo mẹ đi Từ Sơn Bắc Ninh thăm bé Ngọc. Thấy chú đến cháu đã mừng, khi biết có cả bà nội nữa, cháu chạy ngay đến ôm lấy bà. Cháu khỏe ra, ngoan. Sao mình thấy yêu bọn trẻ thế. Chưa khi nào mình nghĩ là một ngày kia, rồi mình cũng có những đứa con? Mình chưa có người yêu. Nhớ hôm đến trại gà Hung-ga-ri ở Cầu Diễn theo hẹn với Vũ Tuấn Hùng, thấy nhiều cô gái lấp ló tò mò xem anh Hùng đẹp trai đón người yêu lên thăm thế nào. Khi Hùng nói: Đây, người yêu của tôi đây thì các cô nguýt dài bỏ đi.

Về đến nhà, mệt rã rời. Cái mệt do áp huyết cao đã bắt đầu từ trưa hôm qua nhưng mình cố lờ đi, kẻo lại làm mẹ không vui, “nhờ có một việc cũng thoái thác…” Đang định nghỉ một lát thì có bạn đến thăm. Nguyễn Ân cùng học Học viện Nông lâm, cùng làm báo tường Thảo Nguyên. Ân ở tổ I, được bí thư chi đoàn Võ Hồng Huê chỉ định vào ban biên tập do mình phụ trách. Cái vẻ giản dị chân thật lại khỏe mạnh của Ân làm mình cảm thấy sung sướng, dễ chịu. Lâu nay, ít bạn Nông Lâm đến nhà mình, dù đã tốt nghiệp, đâu còn sợ gì ai cho là liên quan phần tử xấu. Trò chuyện hồi lâu, ý hợp tâm đồng lắm, vì Ân cũng ham hiểu biết, đang cố học lại tiếng Pháp, cần tìm sách là nghĩ đến mình. May mà tôi có đúng sách bạn cần: Quyển Danh từ khoa học của Hoàng Xuân Hãn. Đặc biệt sách có đóng dấu tròn đỏ: Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Do một bà con bên ngoại di cư vào Nam năm 1954 biết tôi ham sách nên cho. Ân ăn mặc giản dị, trọng nội dung hơn hình thức, lại thẳng thắn. Ít tiếp xúc với nhau, nhưng là người đồng điệu, chúng tôi nhận ra nhau ngay giữa thời nhiều con người méo mó, biến chất. Ân cho biết có thấy Vũ Văn Chỉ về trường lấy sách rồi đi ngay hôm sau.

Ân về rồi, mình nói chuyện với em Thân. Niềm vui sướng của mình thật sự là đây. Em tỏ ra đã suy nghĩ nhiều, còn yêu cầu mình góp ý cụ thể về phương pháp tu dưỡng. Mình chỉ mới nêu hai yêu cầu: 1/ Cố sống giản dị, hưởng thụ ở mức tối thiểu. 2/ Có thói quen lao động và biết làm mọi việc như một người nông dân bình thường. Vì mình bận quá mà em lại vội đi, cho nên không nói gì thêm khi em nói: “Em đã thấy rõ mình quá thiếu sót trong việc rèn luyện bản thân… Anh cứ nói ngay, chậm ngày nào là nguy cho em ngày ấy…”

Cuối cùng em đã hiểu. Công việc mình tiến hành từ nhiều năm nay thế là có kết quả bước đầu. Thật ra em đang được sống trong một môi trường mình cho là lý tưởng mà hình như em không biết…

Tối, đại hội chi đoàn Đường Thành – Hàng Da, phó bí thư Vịnh đọc lời khai mạc, bí thư Sỹ đọc báo cáo tổng kết. Cả hai đều do mình viết. Thế là mình đã lặng lẽ đóng góp vào đại hội. Châu, một thanh niên lạc hậu tiết lộ Vịnh đã vận động từng đoàn viên không bỏ phiếu cho mình. Việc đó không làm mình ngạc nhiên hay khó chịu, chỉ thấy cần chú ý hai điều là từ nay đừng cho Châu có cơ hội gần mình, và nên biết khi vận động Vịnh nói gì để tránh cho tập thể hiểu lầm về Đoàn và ban chấp hành mới. Phải hết sức giúp đỡ ban chấp hành mới làm việc cho tốt. Có điều hay là lý lịch cá nhân của mình được giới thiệu trung thực, chỉ cắt xén một ít chứ không thêm thắt gì vào bản mình khai.

Điều làm mình khó chịu nhất là nhận được thư của người bạn mình quý đến mức muốn kết nghĩa anh em. Thư gồm hai tờ giấy. Tờ thứ nhất viết ở Sơn Tây từ 27/2. Tờ thứ hai không ghi ngày. Nhưng cả hai được gửi từ Hà Nội ngày 12/3, sau đến nửa tháng! Tờ đầu viết rõ ba điểm, kỳ lạ cả ba. Tình cảm trong toàn thư không thống nhất. Tờ sau mâu thuẫn với tờ trước. Như không phải do một người viết. Hoặc viết theo ý người khác. Không thành thật. Đang lúc mình cô đơn gặp khó khăn thì bạn chí thân ngãng ra, né tránh. Thiếu bản lĩnh như thế đến là khổ…

Tối 15/3, đi dạy bổ túc văn hóa, gặp Đoàn Di. Di hiểu và muốn giúp. Di bao giờ cũng là người bạn tốt nhất của mình. Di đã tìm mọi cách nhưng chưa tìm ra cách nào ổn cả, mới chỉ là từng vụ việc lẻ tẻ. Cái khó chính không phải là sức khỏe mà là hoàn cảnh gia đình mình, nhất là về ông Ngoại. Ở Di không có cái vẻ trịnh trọng của Ngô Lê Dân, nói nhiều mà chẳng làm gì cả. Cũng không có cái vẻ già đời kinh nghiệm như Phạm Duy Phùng bạn nối khố một thời nhưng lúc nào cũng kêu bận quá chưa giúp được. Di thì thẳng thắn, đơn giản, chân thật dưới vẻ cố làm ra khô khan, nhưng chứa đầy lòng yêu mến và tôn trọng bạn sâu sắc. Gần bạn, tin là mình sẽ học tập được nhiều

Hôm sau, mệt quá, nghỉ. Buổi trưa đến thăm bác Hoàng Minh Viễn bạn cùng tham gia Mặt trận như mẹ, Bác vừa tham gia Hội nghị đoàn kết nhân dân Đông Dương chống xâm lược Mỹ. Cũng là một cách để tăng thêm hiểu biết thời cuộc. Tối, mệt lắm, thì lại thực tập báo động, thành ra đến 23 giờ mới đi nằm.

Nhận được thư em Nhàn và cô bạn Bạch Kim. Cả hai chị em đều hăng say công tác, có những chuyển biến mới đáng mừng. Em Nhàn thắc mắc về tương lai, tiền đồ, việc tiếp tục đi học và về “quy luật của gái nông trường”. Em băn khoăn vì đã thoát ra khỏi những ý nghĩ u ám và đang tìm đường đi tới. Quá tốt. Còn cô bạn Kim thì hoàn cảnh sống và công tác hiện nay ở Nghĩa Lộ sẽ giúp bạn tiến bộ nhiều sẽ trưởng thành giữa vùng đậm chất dân tộc đa dạng. Lâu nay, mình thường gửi cho Kim tờ bìa in bài thơ Hãy nhớ lấy lời tôi! của Tố Hữu viết về cái chết bất tử của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, người sinh cùng năm 1940 với hai tôi cùng tuổi canh thìn. Bao giờ, trước nhan đề bài thơ, mình cũng ghi thêm mấy chữ: Đ/c Bạch Kim , Thành ra mở phong bì ra là thấy ngay câu: Đ/c Bạch Kim, hãy nhớ lấy lời tôi! nhắc nhở Kim những gì mình đã viết trong các thư gửi Kim với nhiều hy vọng về tương lai của bạn. Qua thư Kim hôm nay thấy rõ bạn trở lại là cô Bạch Kim nhiệt thành, chất phác, hồn nhiên của ngày xưa, khi lần đầu gặp nhau ở tuổi 15 tại nhà mình 16 Hàng da khi Kim theo cậu Tuyên về. Chúng mình thân nhau từ đấy, luôn sát bên nhau trong từng bước đường đời, động viên, cổ vũ nhau. Mong bạn mau chóng thích nghi với cuộc sống mới trong vùng đất mới.

Hôm sau, theo lệ lâu nay, dậy là lo học Trung văn vì khi ấy đầu óc tươi mới dễ nhớ, rồi cùng cháu Lường đi mua dép cho em Nhàn và mua vé xem phim tài liệu. Tập viết tốc ký. Trình độ nay đạt tới mức: viết được, đọc lại được, với tốc độ như viết… bình thường, chưa tốc chút nào! Xem ra còn cần nhiều thời gian khổ luyện mới được.

Bắt đầu dạy em Tuyền học thơ Bác Hồ, tất nhiên là những bài em hiểu được như Cảnh trời chiều, Giã gạo, v.v… Em sáng dạ, mau thuộc, lại nhớ lâu, tiếng đọc lảnh lót nghe rất hay. Cũng dạy Lường luôn. Mình mong các cháu nhỏ sớm tiếp thu những tư tưởng lớn, tạo nền tảng cho các cháu sau này đi đúng đường ngay từ đầu, khỏi mất thời giờ tìm đường. Gớt nói Người nào bắt đầu từ thời thơ ấu, sau này sẽ thành bậc thầy. Mình mong nước ta sau này sẽ có nhiều bậc thầy. Như thời Phục Hưng đã có những con người khổng lồ để các thế hệ tiếp theo có thể đứng lên vai họ mà tiến xa hơn, bay cao hơn. Bao giờ mình cũng là người mơ mộng, không chịu sống với hiện tại thôi.

Buổi tối, đến thăm nhà bạn Xy thanh niên tích cực của khu phố. Xy cùng gia đình ở ngõ Hội Vũ gần nhà bạn Long bán báo. Hai mẹ con cùng làm than. Đi làm từ sáng sớm, tối mịt mới về. Gần 20 giờ thì ăn xong cơm. Cơm do bà chị dâu khoảng 80 tuổi nấu nướng. Bà này tai thính, nói năng gẫy gọn, có lý có lẽ, tỏ ra người từng trải. Nói chuyện với bà hiểu được nhiều điều chưa từng biết. Bà mẹ Xy thì cục mịch, hơi gù có lẽ do mang vác nhiều, nói năng chắc chắn, giản dị. Rõ ra là người lam lũ từ nhỏ. Gần 60 tuổi mà vẫn khỏe, bà thường nói: làm nhiều nó quen đi anh ạ. Bà chỉ nói những gì không thể không nói. Có lẽ đã quen nếp nghĩ có ai cần nghe ý kiến mình đâu mà nói. Thường bà nói rất nhỏ. Bà ở ngõ Hội Vũ này hơn 40 năm rồi. Sau giải phóng, bà chị dâu mới lên sống cùng, đỡ đần việc cơm nước, hai mẹ con chỉ việc đi làm, về đã có ăn, chỉ cần rửa bát là xong. Bà chị có tiền riêng, mẹ con làm mẹ con ăn và trả tiền nhà thôi. Có điều lạ là nhà này chật chội mà có kê một tủ buýt phê sang trọng. Nước véc ni cũ màu cánh gián còn bóng loáng. Trái hẳn với vẻ nghèo nàn, áo quần rách rưới, giày dép bám đầy bụi than của các vị chủ nhà. Bà chị tuy già nhưng đôi mắt vẫn sắc lắm, nói giọng hách dịch kẻ cả. Mình chưa từng thấy vẻ ấy ở những người lao động bình thường.

Về nhà, lại đọc sách rồi đưa cụ Hạt đi xem phim tài liệu. Cứ được đi là cụ thích rồi. Không cần biết là xem phim gì.

18/3, sửa xong hoàn toàn Nhà ảo thuật. Suốt ngày vẫn học tập, làm việc rất khẩn trương, trong khi mệt mỏi đến phát sợ. Đầu đau râm ran, ngực nhức nhối, hễ nằm xuống là tưởng như không sao dậy nổi. Ăn không thấy ngon, ngủ thì mấy hôm nay rồi cứ khoảng ba bốn giờ sáng là đã thức dậy. Hôm nào cũng cứ tưởng là sẽ đổ, phải nằm nghỉ cả ngày. Nhưng rồi lại vùng dậy, lên chương trình, rồi phấn đấu vượt chương trình, và mọi việc lại tiến hành như bình thường. Cho đến tối mệt, vào giường nằm là cảm thấy cả người đau nhức đến mức không dám cựa. Trò gì đây nhi?… Hay chỉ là báo hiệu trở trời, mùa hè sắp tới. Phải cảnh giác hết sức kẻo đổ bể hết mọi kế hoạch, mơ ước… Không bỏ buổi tập thể dục nào, ăn không ngon miệng cũng cố lùa cho đủ ba bát có khi chẳng biết là ăn gì nữa. Phải ăn để sống chứ. Cả nhà ai cũng kêu mình phờ phạc. Có lẽ đúng thế thật. Mình đang đi bằng đầu, biết là sai, nhưng chẳng còn cách nào khác.

Để thư giãn, mà cũng là luyện tay nghề, buổi tối lại đến bạn Xy. Anh chàng chất phác tích cực nhưng đúng là có hơi hấp thật. 22 tuổi rồi mà cứ như trẻ con, ngây thơ quá. Và đến nhà lần này, trò chuyện với cả ba người, mới thấy là hôm qua, mình đã nhận xét đúng. Bà bác dâu là địa chủ, có tới hơn 40 mẫu ruộng, còn cho vay nặng lãi, ra Hà Nội ở là để trốn thành phần, hiện bà sống nhờ tiền con gái ở Pháp gửi về. Còn mẹ Xy là vợ thứ mấy của một ông ký nhà máy xe lửa đã mất. Xưa nay vẫn sống nghèo khổ.

Xem ra tay nghề của mình đã được nâng lên một bậc rồi.

Về đến nhà, anh Phong ở nhà dưới rủ đi xem phim Trung Quốc đang ăn khách Khách từ núi băng tới. Nhớ mãi mấy câu hát da diết:

Hoa ơi, sao hoa đỏ dường này, đỏ như mặt trời mọc!… Ta đã đem tất cả máu của tuổi thanh xuân dể tưới tắm cho hoa

Chiều hôm sau, mệt lử, không gượng dậy được. Định nghỉ cả ngày. Thì may quá, Phạm Quang Tấn đến. Mình và Tấn cùng đi mua dụng cụ cho trường…. Tôi mình lại đến chỗ Tấn, đưa cho bạn bài nói của LêPham Quang Tan luc tre Duẩn mà năm đi bán báo, đội mình đã lấy làm tài liệu học tập và tự kiểm điểm. Nhớ mãi khái niệm mới mẻ: Người Cách mạng phải có cái đầu lạnh và trái tim nóng. Cùng nhau trao đổi nhiều về bệnh trí thức xa rời quần chúng và tránh để mất thời giờ vì những chuyện vớ vẩn, cũng đừng quên chú ý giải quyết cho đúng vấn đề lý lịch, đừng để bị tổ chức hiểu lầm, phiền phức lắm. Mến và tin bạn, một tình bạn thầm lặng, bền chắc. Còn nhớ hồi ở Quảng Bá an dưỡng, lá thư duy nhất mình gửi là cho Tấn, kèm mấy nhánh lá cỏ ngọt bảo bạn thử nhai xem sao. Còn bịa ra cái tên khoa học là Thanatana Amikeĉo (tiếng Esperanto nghĩa là tình bạn Tấn – Thành). Tấn viết trả lời nói làm gì có tên Latinh như thế.

Đêm ấy, chẳng nghĩ ngợi gì cả mà hoàn toàn không ngủ. Sáng không sao dậy nổi. Đau nhức khắp thân thể, mỏi mệt, cả ngày chỉ nằm xem Người bạn nhỏ, tạp chí nhi đồng Trung Quốc cháu Lường cho mượn. Chiều, cố viết thư cho em Nhàn, gửi kèm lá thư cuối cùng Sơn bạn em nhờ gửi. Định đến nhà chị Thanh Vân nhờ chị xem lại bản dịch Nhà ảo thuật nhưng mệt quá, lại thôi. Tối lại tiếp tục đọc tạp chí ấy. Rồi, Phạm Quang Tấn đến ngủ lại nhà mình. Nghĩ mà thương Nguyễn Hữu Lý quá. Bạn sống không theo đuổi mơ ước lớn lao nào, chỉ sống chan hòa, lương thiện, chân thật, nhưng cứ  mắc vào những chuyện vụn vặt mà rắc rối. Lý là bạn tốt hết lòng vì mình, yêu thương như ruột thịt. Cũng bàn về lá thư kỳ lạ mình mới nhận, nhưng Tấn biết mình còn tin người viết thư nên chẳng nói gì.

Chủ nhật 21/3, anh Đại từ Vĩnh Yên về lại cùng chị Thủy đi ngay Từ Sơn thăm con. Đưa anh ra bến xe, mình gợi ý anh chị cho cháu lên chơi Mộc Châu, ở nhà em Nhàn ít lâu.

Viết thư cho Lý, nhân giặc Mỹ vừa bắn phá bỏ bom Thanh Chương quê bạn. Lý sống thế nào trong những ngày này. Chỉ mong bạn không vì buồn chuyện riêng mà lãng quên việc nước.

Buổi trưa, cậu Tuyên cô Tuyết đến nhà ăn cơm. Mình rủ cả Tấn, Phúc, nhưng họ đi Hà Đông rồi.

Mình tin câu nói: Người chỉ suy nghĩ bằng cái đầu của mình thì mãi mãi là người ngu. Cho nên tranh thủ ngay hỏi ý kiến cô, cậu về chuyện em Nhàn. Cậu nói: Việc gì cứ phải buộc mình vào con người khi mình gặp khó khăn thì chẳng thấy đâu. Cậu còn lưu ý nhắc em đừng quên chuyện cũ. Đã phải trả giá đắt thì được bài học nhớ đời.

Lại cùng cậu, mợ, em Tuyền và cháu Lường đi xem phim về hai nhà báo Burchett và Madeleine Riffaud ở rạp Kim Đồng. Xem xong, lại cùng đi xem phim Tudor, một phim lịch sử Rumani đang ăn khách. Gần 24:00 mới về đến nhà.

Hôm qua, vui quá, nhưng mệt, thành ra phải nghỉ cả buổi sáng nay. Chiều, cô Tuyết lại ghé, lại nói chuyện cởi mở. Mình gợi chuyện chị Thủy, cô nói ngay: Chị thật là một người quá tốt, nhưng lối sống khổ hạnh ấy xa lạ với người cách mạng thật sự. Thật tội nghiệp chị.

Buổi chiều, viết thư cho Nguyễn Hoành Sơn. Chủ yếu nói rõ: Chỉ yêu thôi thì không đủ. Cái chủ yếu là phải biết làm tròn nhiệm vụ một người yêu.

Tối đi dạy bổ túc văn hóa đã đưa thư này vào nhà Sơn.

Trong lúc giới thiệu với cô Tuyết quyển Kiếm Sống của Gorki, tự nhiên lại nhớ chuyện kiếm sống hiện nay của mình. Nhớ lời anh Trương Trọng Xuân nói với mình ở Tam Đảo ngày nào. Anh rủ mình lên làm công nhân ở Vườn Dược liệu. Tại sao từ chối một nơi lý tưởng như thế. Vừa thuận lợi cho việc phục hồi sức khỏe lại có điều kiện học tập, đi sâu vào cuộc sống. Chính Gorki đi Ý để trị lao mà đã có Những mẩu chuyện nước Ý… Lý do chính là anh cán bộ trạm khí tượng Tam Đảo tuy chân tình, nhưng không thể là người đảm bảo cho mình về mặt chính trị lỡ khi có chuyện gì xảy ra; mà Tam Đảo, nhất là nơi đặt trạm khí tượng, lại là khu bảo vệ đặc biệt nghiêm ngặt… Mình khổ hơn Gorki chính là ở chỗ ấy. Ông muốn đi đâu, làm gì đều tự do. Khi được người có cặp mắt xanh là Lênin để ý, gợi ý viết nên bộ ba tác phẩm dựa vào đời thật của mình, rồi khi bệnh thì được đưa đi an dưỡng.

Đành kiên trì chờ Đoàn Di vậy. Di thật lòng quan tâm giúp mình.

Tối hôm sau, đi dạo các hiệu sách lớn trên đường Tràng Tiền, cả ngoại văn và quốc văn. Đây là cách giải trí mình yêu thích nhất. Mua được Un Homme Véritable (Một người chân chính) của B.Pôlêvôi… Về nhà, nghỉ một lát, vừa kịp nghe bài phóng sự của M.Riffaud viết về cuộc chiến đấu trong lòng Sài Gòn. Ngắn, gọn, giản dị mà gây xúc động mạnh mẽ. Mỗi câu, mỗi đoạn văn ngắn đều phản ánh một thực tế lớn lao chói sáng, đầy sức thuyết phục. Đấy là đặc điểm văn phóng sự của bà, tăng trọng lượng của mỗi chữ, mỗi câu văn. Cái đẹp đúng là ở trong cái giản dị.

Đọc Épilogue (Lời bình) của Un Homme Véritable đến khuya mới ngủ.

Văn tức là người. Mình là con người như thế nào nhỉ?… Cần tu dưỡng nhiều hơn.

Thứ tư ngày 24/3, xem lại lần cuối bản dịch Nhà ảo thuật, rồi đi làm răng. Mất tám đồng, đắt quá, nhưng không làm thì cũng phiền. Ai mới gặp, cũng để ý ngay cái lỗ hổng do răng gãy năm tám tuổi ở Vạn Lộc rồi cười vu vơ.

Một giờ chiều, lại lên tầu điện vào anh Phạm Hồng Sơn nạp thêm năng lượng để sống và hy vọng tiếp.

Anh bị đau nhiều trong những ngày qua, nhưng không đến nỗi như lần trước. Thật ra, không phải anh lại người, béo ra như mình và bản thân anh đã tưởng. Anh bị phù. Đã có đái ra máu. Chiếu điện lại không phát hiện sỏi thận. Nhưng rõ ràng là thận có vấn đề.

Anh có một cái soong con mới, cán màu xanh lá mạ. Dưới chân giường, ở đằng đầu có mấy cái chai cao thấp khác nhau, chắc là nước mắm, dấm, dầu ăn. Trong bàn đêm sơn trắng, ở ngăn thứ hai có cái đĩa mây dựng một quả bầu nhỏ cắt dở và mấy quả cà chua đỏ tròn căng. Ở góc tường còn một rổ con đựng một mớ rau bí đã nhặt… Dạo này anh thiên về tự nấu ăn muốn bắt mình làm lấy những việc này để buộc trí óc phải nghỉ nhiều hơn và ăn rau cho nó đỡ xót ruột đồng chí ạ. Ở đây cứ hết sáu bảy tháng bắp cải lại năm sáu tháng rau muống. Mà rau muống anh nuôi luộc thì có khi nào được gắp rau xanh non, nước rau trong.

Anh vừa luộc rau vừa nói chuyện. Tôi chủ động gọi lại chuyện anh nên ra viện. Anh nói: Chính tôi trước đây cũng nghĩ thế này: Mình sẽ đến ở gần quân y viện 108, có ốm đau gì đã có họ giúp ngay. Thuốc men, băng bông, paraphin (để uống sau khi ăn cho nhuận tràng!) thì họ cung cấp, coi như mình là bệnh nhân ngoại trú. Nhưng anh em người ta bảo phiền lắm. Ở ngoài rất rắc rối. Khi khỏe thì không sao, lúc đau ốm nhiều không phải ai cũng hết lòng giúp mình đâu.

  • Chính thế nên em mới nói với anh là phải sống với người thật hiểu mình, không thì khổ đấy anh ạ.

Tôi còn dẫn chứng là không nên lo ngại bệnh tật. Chính N.Axtơrốpxki cũng ở nhà. Chỉ khi có chuyện gì đặc biệt lắm mới vào bệnh viện. Còn kể cả chuyện các bác về hưu sinh hoạt Đảng ở khu phố cũng ốm yếu bệnh tật. Lại nhắc chuyện N.Atxtơrốpxki lúc đã thành nhà văn được tạo điều kiện như thế nào và tỏ ý rất không hài lòng khi anh đã phải bỏ ra đến cả ba tháng hè nóng nực chỉ để chép đi chép lại đến ba lần tập Ngày và đêm… Anh chăm chú nghe rồi nói: Thật ra, có thế mới làm việc hết sức mình được… mới cống hiến được nhiều nhất với chất lượng tốt nhất.

Tôi nói ngay: Anh ra được thì em sẽ đến sống với anh!Pham Hong Son trang 24

Anh cười.

Anh nghĩ gì, nghe có lạ tai lắm không anh? Nhưng đó là những lời từ tấm lòng em với anh. Em không muốn anh phải học hàm thụ cuộc đời. Nhiều khi nghe anh kể chuyện Nam Bộ, nơi anh từng sống và chiến đấu, chính anh từng nói với em: Mình hiểu con người Nam Bộ lắm. Con người ở đây rất kỳ lạ, nhân dân anh dũng, trung thành với cách mạng, nhưng độc đáo theo kiểu riêng của họ. Rất độc đáo. Không giống người miền Bắc mình. Mà có phần giống những nhân vật của Sôlôkhốp trong Sông Đông êm đềm hơn… Tất cả những truyện viết về Nam Bộ chiến đấu xuất bản đến nay, tôi thấy còn quá ít, lại chưa đạt. Mình cứ nghĩ là phải có một tay nào đó, thật dũng cảm và cũng thật cao tay đứng lên gánh vác công việc tái hiện Nam Bộ kháng chiến mới được. Bấy giờ, sẽ có tác phẩm vĩ đại, xứng tầm, làm say mê hàng chục triệu con người Việt Nam và cả nước ngoài nữa.

Em nghe anh nói mà hiểu là: Anh rất mong muốn, nhưng còn e ngại, chưa dám bước chân vào con đường sáng tác văn học. Có lẽ anh ngại nếu làm không thành thì sẽ không phục vụ được nhân dân, mà cuộc đời anh thì hầu như bất cứ khi nào cũng có thể chấm dứt, anh sẽ mất hết thời giờ, chẳng còn cơ hội phục vụ ai. Em hiểu tấm lòng cao quí của anh, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến cống hiến. Nhưng cứ thử đi chứ anh. Chưa thử làm sao biết là không làm được? Có thể sẽ thất bại 1 lần, 2, 3 hoặc 30 lần. Nhưng em không bao giờ tin là cuối cùng anh không thành công. Anh có đầy đủ điều kiện bảo đảm vững chắc cho thắng lợi: Vốn sống quá phong phú, trình độ văn hóa và thưởng thức văn học cao, quan điểm dân tộc vững vàng, sẵn sàng nắm vững vũ khí sắc bén mới để phục vụ nhân dân phục vụ lý tưởng cách mạng cao cả.

Anh hãy quyết định đi! Hạ lệnh đi!

Trên con đường mới, em bao giờ cũng ở bên anh. Như một người liên lạc bên người chỉ huy kính yêu của mình. Em mong đem hết sức lực trí óc để Anh phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc được kết quả hơn

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 8/7/2021,

những ngày giãn cách nghiêm ngặt nhất

quyết thắng Covid-19.

P.T.

Làm báo ngược

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 7 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC:

LÀM BÁO NGƯỢC

Phạm Tôn

Cuối năm 2018, con trai đưa tôi đến Bệnh viện Nhân Dân Gia Định khám lại ung thư mổ từ 2010. Bác sĩ Chung Hoàng Phương hiền hậu từng nhiều lần khám và công bố kết quả xét nghiệm sau tám đợt hóa trị bao giờ cũng hài lòng vì tôi là bệnh nhân hợp tác tốt, tuân thủ nghiêm y lệnh lại không khi nào kêu ca phàn nàn gì dù nội soi có khó khăn, hóa trị có mệt mỏi… Lần cuối này, ông hỏi: Bác có theo tôn giáo nào không? Tôi đáp tôi chỉ thờ phụng tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Lại hỏi: Bác làm nghề gì khi khỏe? Tôi đáp: Tôi làm nhiều nghề, nhưng nhiều nhất là nghề báo, nhưng là làm báo ngược. Lại hỏi: Như thế là sao? Tôi đi bán báo rồi làm ở nhà in báo, cuối cùng mới viết báo. Bác sĩ cười…

Thật ra nói thế cũng chưa đủ. Ngược còn là ở chỗ: Tôi từng là Tổng biên tập nhiều báo, có điều là báo tường, báo liếp ở trường trung học, đại học, rồi xí nghiệp. Sau mới làm phóng viên viết báo, nhưng là báo lớn, có uy tín trong cả nước.

Các báo tường tôi từng phụ trách là Học Sinh Mới ở trường cấp hai Hà Huy Tập và cấp ba Kiến Thiết, Bình Minh ở trường trung học Chu Văn An, Paven khi đi bán báo, Thảo Nguyên ở Học viện Nông Lâm. Hồi ở Xí nghiệp cảng sông Hồng, tôi có Bản tin sau là Cảng Hà Nội mới ra báo Tiến Lên ở đội I, khi vào Quảng Bình công tác thì biến thành báo liếp (vì không có tường mà dán) cũng vẫn lấy tên Tiến Lên.

Trong bài phụ lục này, tôi chỉ xin giới thiệu hai báo do tôi làm tổng biên tập. Một là Bình Minh qua Tập san Bình Minh tuyển chọn một số bài trong thời gian Bình Minh ra mắt tại trường Chu Văn An. Hai  là báo liếp Tiến Liên ra ở Quảng Bình.

Xin mời các bạn xem để biết một thời chúng tôi đã sống vui vẻ đầy nhiệt huyết như thế.

*

*     *

Tôi về Hà Nội với mẹ từ vùng giải phóng Nam Định lỡ năm học nên phải xin học ở trường tư Dũng Lạc, hiệu trưởng là cha Mai, trường ở ngay mé trái nhà thờ lớn Hà Nội. Mùa hè, năm 1956, đọc báo biết tin trường công nổi tiếng nhất Hà Nội là Chu Văn An có tuyển 50 học sinh vào lớp 9. Tôi nộp đơn dự thi. Các bạn thân Trần Văn Cảnh, Đỗ Mộng Hoàn cùng học Dũng Lạc, sau lại cùng tôi học Hà Huy Tập rồi Kiến Thiết vẫn là trường tư có các thầy quen cũ thì thi vào trường công Nguyễn Trãi. Chỉ có tôi nhà ở phía trên là vào Chu Văn An. Thi chỉ hai môn: văn và toán. Văn, tôi trúng tủ: Đề bài là câu nói nổi tiếng của V.I.Lênin: Học, học nữa, học mãi, châm ngôn sống lâu nay của tôi. Đến toán thì lại là một định lý tôi chưa từng học, phải vẽ đồ thị một phương trình đại số và tìm quĩ tích của một điểm di động theo phương trình đó. Mùa thi là mùa hè, tôi hay bị bệnh. Tôi đọc kỹ đề bài, rồi nghỉ hẳn 20 phút xoa dầu cao Con Hổ, xong nghĩ ra cách làm chứng minh ra định lý chưa học rồi áp dụng vào bài làm. Thi xong, về nhà buồn ra mặt vì thiếu tự tin. Còn buồn vì mong mãi mới có cơ hội, lại để vuột mất. Không ngờ hôm xem danh sách trúng tuyển, tôi được chọn mà lại đạt điểm cao nhất. Văn: 10 mà toán cũng 10. Vì thời ấy có cách chấm là bài làm đúng là được 10 điểm không kể cách làm có rườm rà. Sau tôi đọc sách, biết là có cái định lý mà tôi phải tự tìm ra. Thầy dạy toán tôi bỏ sót.

Vào trường Chu Văn An gặp lại nhiều bạn cũng học Dũng Lạc học ở đây đã nhiều năm như Nguyễn Văn Thành người cùng tên kỳ thi nào cũng gặp vì cùng phòng. Hỏi ra mới biết các bạn được bố xin cho học từ lâu. Bấy giờ tôi mới thấy không có bố là thiệt thòi. Tôi học tư rồi cứ theo lên lớp trên mãi, khi trường nghỉ lại sang trường tư khác, không dám mơ đến trường công, nhất là những trường tiếng tăm như Chu Văn An, Nguyễn Trãi… Tôi học rồi được kết nạp Đoàn ở đây.

Năm 1957, cả miền Bắc sôi nổi chuẩn bị kỷ niệm lần thứ 40 Cách mạng tháng 10 Nga, tôi viết thư cho ban chấp hành chi đoàn 10 đề nghị ra báo tường lấy tên Bình Minh là tên chiến hạm nổ phát súng đầu của cách mạng (Sau này, thường dịch là chiến hạm Rạng Đông). Được chấp nhận và Đoàn Di, ủy viên phụ trách tuyên huấn gặp tôi bàn việc ra báo. Anh Đại tôi nhận vẽ bức tranh Cách Mạng Tháng Mười với Lênin và công nông binh theo tranh nhỏ xíu trên tập lịch Nga, ai cũng khen đẹp. Tòa báo đặt ngay nhà tôi. Báo ra mới thấy bạn bè tôi nhiều người tài hoa thật. Báo tôi ra sau, nhưng áp đảo các báo ra trước như Tư Duy, Tự Do về số lượng người đọc. Chúng tôi căng vải đỏ giữa hai cây lớn rồi dán các bài báo lên. Báo tôi vui, nhiều vẻ, đủ văn, thơ, tranh, nhưng chủ yếu thu hút người đọc là những bài đấu tranh sắc xảo, đanh thép chống các hiện tượng tiêu cực trong trường. Nhà trường luôn ủng hộ chúng tôi. Tết, báo còn có cả thiếp chúc tết của Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Trần Duy Hưng. Đó là do đồng chí Nhữ Quí Anh cùng vào đoàn với tôi một ngày cho biết bác sĩ Trần Duy Hưng là bà con chi dưới với mẹ anh nên năm nào sáng mồng một Tết cũng đến nhà chúc Tết. Thế là chúng tôi đến nhà mai phục từ sớm, gặp được vị chủ tịch thân dân và xin cho được tấm thiếp to có cành đào và chim én với lời chúc chi đoàn 10 trường Chu  Văn An và chữ ký sắc nét bay bướm của chủ tịch. Ở Bình Minh chúng tôi hay có những đặc sản như thế.

Bình Minh hoạt động sôi nổi gắn liền với mọi phong trào của chi đoàn đến nỗi, dịp thi tốt nghiệp đến gần, các bạn ở cả bảy lớp 10 vẫn muốn được đọc số cuối cùng trước khi ra trường, sau đó còn yêu cầu phải chọn những bài tiêu biểu để in thành tập làm quà lưu niệm có đầy đủ danh sách các bạn với địa chỉ liên lạc, kèm ảnh chụp chung toàn chi đoàn và riêng từng phân đoàn. Việc chụp ảnh do Phan Vũ Hoàng mê nhiếp ảnh khởi xướng và tổ chức thực hiện. Việc biên soạn và tổ chức in ấn Tập san Bình Minh thật công phu, nhiều khó khăn. Ban đầu, chúng tôi định nhờ bố một bạn làm giám đốc nhà in, nhưng ông bảo chỉ in hơn 100 bản thì tốn kém lắm, không thực hiện được. Thế là tìm thợ in lẻ. Lại nhờ anh Đại tôi kẻ cho chữ Tập san Bình Minh sắc nét, chững chạc thật đẹp. Còn trong đành in rônêô nhờ máy thành đoàn.

Tôi lo làm số báo cuối lại bàn chuyện làm tập san, tất nhiên vẫn phải thi tốt nghiệp như các bạn. Xong, thì mệt quá, xin trông cậy cả vào tập thể, về quê bạn cũ nghỉ ngơi. Không dính gì đến việc biên soạn chọn bài, cũng như trình bày, in ấn. Nhưng sau này, xem bản hoàn thành thì biết tòa soạn vẫn đặt ở nhà tôi và anh Đại tôi có tham gia. Bài Đôi bạn nhạc của anh, lời tôi viết, rõ ràng do anh chép cả nhạc và lời lên giấy sáp để in. Rồi phần Mục Lục cả một trang cũng chữ anh kẻ và viết, mặc dù trong nhóm trình bày không có tên anh vì… không phải người thuộc chi đoàn 10 chúng tôi!

Ngay trang lót ghi rõ: Tập san Bình Minh. Biên soạn: I/ Nguyễn Hùng Cường 2/ Đoàn Di 3/ Vũ Đình Hạnh 4/ Phạm Duy Phùng 5/ Lê Đăng Quang 6/ Tôn Thất Thành. Trình bày: Huyền Cương, Hoài Giang, Lương Thu, Vũ Hoàng . Ân loát: Nguyễn Linh, Nhữ Quí Anh, cùng nhiều đồng chí khác…

Bài Đồng Chí thay lời mở đầu tôi viết: “Tập san nhỏ này tên là Bình Minh tương lai và tuổi trẻ, song nội dung chính là đồng chí – tình cảm và nhiệm vụ vĩ đại của chúng ta.

“Tôi nhớ mãi một câu tục ngữ Nga rất hay, rất đúng Sự xa cách đối với tình yêu cũng như gió thổi vào lửa. Nó làm tắt ngấm những tình yêu nhỏ, nó làm bùng lên những tình yêu lớn. Tình yêu của chúng ta rất lớn, rất sâu sắc. Chắc chắn dù xa nhau, chúng ta sẽ nhớ nhau và yêu nhau mãi…

“… Chúng ta tự hào có tâm hồn rộng lớn là Hồ Tây mênh mông, có bộ óc kiên cường là nhà trường dân chủ vĩ đại. Chúng ta sung sướng vì đã làm được những việc ý nghĩa, đã xây dựng được những kỷ niệm khó quên.”

Bài thơ dài kín hai trang Năm học cuối của Trần Văn Nhân (lớp 10B) kết bằng những vần thơ: Cánh chim! Bấy nhiêu ngày luyện tập / Sẽ bay cao để lại tổ về xa… / Vì đôi cánh từ đây mạnh lớn/ Tôi sẽ bay cho thật cao,xa/ Sẽ từ đây không quản xông pha/ Để góp sức dựng ngày mai mong ước.   10/1957,

Rồi cả một trang thơ đăng bài Đồng chí hãy nhớ lời … của Chu Thừa Châm nhà thơ của 10C: Ngày mai dù đó đây / Đừng bao giờ mệt mỏi / Mắm môi nhớ bạn nhớ thầy / Hãy vẹn tròn chất lượng / Cười lên nhìn bàn tay / Vết vân hãy còn, đồng chí có hay: / “Chắc ở núi rừng công xưởng … / Lời hôm nay hãy còn trong chí hướng / Chúng nó lớn cùng lý tưởng đang bay.”

Rồi một bản nhạc đầy một trang: Đôi bạn của Đại và Thành là anh em tôi. Anh viết nhạc, em đặt lời. Giai điệu 6/8 dìu dặt tha thiết nâng lời ca thấm sâu: Giờ lạnh lùng ấm hơi bạn hiền, bên nhau nói bao lời tâm tình… / Tình yêu thương càng thấm sâu / Như mưa rơi trên đất màu / Ngày mai đây / Dù có xa / Trong tim óc ta tình bạn đang nở muôn hoa.

Còn nhớ mấy chục năm sau , nhóm học sinh Chu Văn An cũ tụ hội ở Nhà Văn hóa Lao động Thành phố Hồ Chí Minh quyết lập lại nhóm bạn bè xưa trong trận mưa tầm tã ở quán bia do vợ chồng Đặng Văn Hòa tiến sĩ dược mở ở đây. Hôm ấy đạo diễn Đặng Nguyên Sắc một cựu học sinh Chu Văn An có nhã ý quay cuộn băng ghi lại toàn bộ cảnh bạn bè tụ họp, anh phát hiện ra bài hát này, hỏi ai hát được thì lên. Hùng Cường và tôi lên ngay, tôi hát bè hai đệm cho giọng Cường trầm ấm.

Lại một trang thơ đăng nguyên vẹn bài thơ giàu suy tư của Đoàn Vũ (Vũ Đình Hạnh 10D) Phố Hoa Đào . Anh viết: Tôi đi giữa phố hoa đào / Nghe từng giọt nhỏ mồ hôi / Thấm xuống đất / Trước cả lúc mưa xuân rơi nhẹ / Vương trên cành ướt đẫm những buổi mai / Cho hôm nay hoa nở / Hà Nội của tôi lên màu áo mới./  Đứng giữa tuổi hai mươi / Sắp bước ra đời / Tôi muốn được như người nông dân/ Vun gốc đào tô thắm cho mùa xuân.

Về văn xuôi, có Lá thư cuối năm của thầy Nguyễn Khắc Anh, giáo viên phụ trách thanh niên và học sinh. Và Gửi đồng chí là thư của thầy Phan Vịnh con của nhà cách mạng Phan Thanh đang đi học xa gửi về cho Bình Minh và bài Ý nghĩ chân thành của C-Đ2 (10A). Đặc biệt có bài phỏng vấn Bí thư thành đoàn Thanh niên Lao động về hướng nghiệp của bản báo phóng viên,  nhan đề “Nói chuyện với đồng chí dài đến hai trang rưỡi có tính chỉ đạo:

Đoàn Di phụ trách tuyên huấn chi đoàn 10, luôn làm ra vẻ khô khan cứng nhắc lại tham gia Bình Minh số cuối khóa bằng một bài viết nhan đềTình cảm chúng ta nói về kinh nghiệm công tác đoàn, xử lý đoàn viên phạm khuyết điểm có lý có tình. Còn nhà lý luận của đoàn trường C.Đ2 mà ai cũng biết là Cao Đắc Điểm thì có Lá thư ngỏ nhưng lại gửi Paven thân mến. Đọc mở đầu như thế dễ đoán trong thư viết gì. Cũng như thế Thư gửi người yêu của T.Q (10E) cũng là về phong trào rèn luyện tư tưởng tác phong sôi nổi trong đoàn thời gian qua.

Độc đáo có một truyện ngắn ẩn dụ mang giọng cổ điển nhan đề Sắt Rỉ ý muốn nhại Thép đả tôi thế đấy để viết sắt để lâu thế đấy, phê phán các thanh niên không sẵn sàng, khi nào cũng cho là việc được giao không xứng với mình, nên từ chối và cứ chờ mãi… Mở đầu là : “Biển rì rầm kể lại cho những giòng sông. Sông chảy đi mọi nơi kể rõ cho bờ đá, chân cầu khóm lau nghe nỗi buồn của biển, một nỗi buồn vì bị làm nhục”. Và cái kết là: “Nhưng tiếng sóng đã át tiếng hắn gọi bố (người đã rèn ra thanh sắt tốt là hắn – PT chú) người hắn rã rời, mềm yếu, và hắn bỗng cảm thấy mình nhẹ lâng lâng. Hắn kinh ngạc và sợ hãi, người hắn kéo dài, to lớn lên. Trời, hắn không còn là một thanh sắt nữa!! Và trong dòng nước trong vắt luôn chảy mau của dòng sông, một đám rỉ sắt đang tan ra vẩn lên như bùn lỏng. Nước sông cuốn mạnh. Vẩn bùn tan ra làm đục nước sông đang cuốn mạnh.”

“Sông chảy khắp nơi kể với bạn bè của mình. Nhưng biển vẫn không nguôi rầu rĩ. Biển vẫn rì rầm ấm ức nhắc đi nhắc lại câu chuyện buồn, câu chuyện một thanh sắt rỉ đã làm bẩn nước trong”.

Bài này, tôi viết cuối năm 1957, 17 tuổi. Chỉ ký tên là một chữ T. Trước đó, tháng 10/1957 còn viết một bài gọi là thơ ký tên T.T.T. Cũng được các bạn chọn cho vào tập san này. Bài đó như sau: Mặt trời “Biển rộng bát ngát và xám như thép/ Gió khơi đưa sóng nhè nhẹ vỗ bờ / Mây trắng mỏng manh im lặng trên nền trời xám mờ / Nghìn vạn ngôi sao nhỏ bé đang lấp lánh.

“Chân mây ửng hồng rồi bừng sáng / Những tia nắng sớm vượt qua mây, xua tan bóng tối / Biển bừng lên rực rỡ như một tấm gương vĩ đại và bắt đầu chuyển mình mạnh mẽ/ Sóng vỗ rào rạt, / gió dũng mãnh đưa thuyền vun vút ra khơi, / hải âu từng đôi bay ngược gió.

“Mặt trời càng lên cao càng rực rỡ, càng chói lọi. / Tia nắng ấm đầy sinh khí giúp ta thêm mạnh khỏe / Ánh sáng bất diệt làm con người dám nhìn thẳng, dám đi lên/ Nắng ấy đã làm cho đồng lúa xanh tươi, cho rừng cây lớn mạnh, chim chóc tung trời hát ca.

“Đứng trên núi cao, núi càng cao thì càng thấy mặt trời thực sáng láng / Con người mình thực nhỏ bé và bóng đen sau lưng lại càng dài, càng quằn quại trên sườn núi.

“Chúng nó, lũ sâu bọ bẩn thỉu, / sinh ra trong đêm tối, và kinh sợ mặt trời,/ đang ẩn nấp trong bóng ta, đang sinh sôi nảy nở, / đang vui mừng vì thấy bóng tối như không bao giờ hết/ Con người nhìn bóng mình lưỡng lự / Xuống núi thì bóng đen sẽ bé đi / Nhưng không, không thể xuống được/ Dưới chân núi, trong những hang hốc ẩm ướt, bọn vi trùng ấy còn nhiều gấp bội / Chỉ có mặt trời mới tiêu diệt được chúng.

“Có ánh sáng mặt trời, ta mới thấy bóng đen còn thật dài / Nhưng đừng nhìn nó / Hãy nhìn về phía trước, nhìn thẳng vào mặt trời không chớp mắt / Hãy nhìn vào ánh sáng đang chan hòa trên thân thể ta / Càng lên cao, người ta càng bừng sáng/ Hãy tiến lên, cao hơn nữa, vút tận trời xanh vô biên/ Ta sẽ biến thành một tia sáng của mặt trời, /cần thiết cho đời sống của loài người, / cần thiết cho hoa nở trên đồng ruộng xanh tươi.

“Mặt trời sáng chói như chí khí của dân tộc / đỏ rực như máu các anh hùng/ như màu cờ của cách mạng”.

Ngoài ra còn có tranh vui bốn bức kín một trang: EM CHÃ ! Tranh 1 Thể dục Thể thao? Em chã… Tranh 2: Văn nghệ? Em chã! Tranh 3: Trau giồi tư tưởng? Em chã ! Tranh 4: Cho em vào đại học mấy! Chúng tôi… chã!

Cũng có cả tiểu phẩm như: Một người có “lập trường”, như sau: “Anh ta nói năng đến là hay thận trọng. Anh có một số ngôn ngữ bảo bối tuyệt hay:

“- Nói chung.Những nhận xét để nói chung vào thật là dễ nói. Hễ có ai bảo nhận xét đó không đúng thì anh ta có thể giải đáp một cách dễ dàng nói chung thì như thế, còn cứ đi sâu vào chi tiết từng nơi một thì tất nhiên là không sát rồi. Chỉ đáng tiếc là những nhận xét có tính chất chung ấy chẳng đúng với một nơi nào cả.

“-Tương đối. Vì ở đời cái gì cũng là tương đối cả, nên câu này là vạn năng, áp dụng đâu mà chẳng đúng.

“Với những câu nói đó, anh ta không làm mất lòng riêng một ai, nhưng tất cả mọi người đều ghét anh ta. Anh tự trách mình nói chưa được khéo, và sau một đêm suy nghĩ mung lung, anh sung sướng vì đã nghĩ ra một câu nói áp dụng dễ dàng trong mọi trường hợp mà bao giờ cũng không sai. Đó là: Vấn đề, (hoặc người, bài, tác phẩm, việc…) ấy thật là tương đối rất tốt về cơ bản, nhưng tất nhiên không thể tránh được khuyết điểm ở mức nhất định.

Từ đấy, không ai chơi với anh ta nữa.

Cần nói rõ ở đây là một truyện ngắn nhan đề Quà Tết  tên tác giả là Đoàn Minh, nhưng lại ở lớp 10E trong khi anh Đoàn Minh ở lớp khác. Ban tuyển chọn – trong đó không có tôi – đưa truyện ấy vào Tập san Bình Minh và in rõ như thế. Không hiểu sao? Vì bài đó là do tôi viết cho số Tết. Việc anh bộ đội tặng bánh tét là do tôi nhờ ông anh họ người Huế ra Hà Nội tá túc ở nhà tôi học Đại học sư phạm là Nguyễn Khoa Tịnh đem cái bánh nhà nấu đến tặng Minh nhân hôm trước đến nhà thấy chưa chuẩn bị gì. Còn chuyện em bé mang bánh chưng là tôi bịa ra cho có Bắc có Nam. Cuối bài tôi ký tên Đ.M. chứ không rõ là Đoàn Minh như trong bản in tập san. Một kỷ niệm thời trẻ mơ mộng và mong thực hiện những điều tốt đẹp.

*

*     *

Gần đây, khoảng đầu năm 2021, tôi 81 tuổi và Nguyễn Văn Long 86 tuổi đã lắp 8 cái stent nong mạch máu – cùng lớp 10E lại cùng vào Đoàn một ngày 1/3/1957 thường trò chuyện nhìn mặt nhau qua màn hình điện thoại cho tin chắc bạn còn sống và đang trò chuyện. Một hôm, nhân nói về thanh niên ngày nay nghĩ gì khi vào đời, Long có nhận xét: So với chúng mình, chúng nó ngày nay hiểu biết về xã hội, cuộc đời ít quá. Chỉ hơn về khoa học kỹ thuật.

Nay xem lại Bình Minh , tôi cũng thấy là thời ấy chúng tôi già trước tuổi, thường suy nghĩ sâu xa, bay bổng nhưng ít phần thiết thực, càng ít thực dụng, nên ra đời thường khổ, khó thích nghi với cuộc sống vốn luôn biến chuyển, đa dạng, nhiều đường đi, ngả rẽ, không dễ tìm ngay được con đường đúng riêng cho mình.

Thành phố Hồ Chí Minh  ngày 14/7/2021,

Mùa cách ly giãn cách nghiêm ngặt nhất Covid-19

P.T.

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.