Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 9, 2021

Một truyện ngắn ra đời (phần 8)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 7:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 8 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI:

MỘT TRUYỆN NGẮN RA ĐỜI (Phần 8)

Phạm Tôn

Ngày 26/3 lạ đi làm răng, đem theo từ điển Trung Văn và tập Trai làng Quyền của Nguyễn Dịch Dũng. Những thời giờ vụn vặt phải chờ đợi, tốt nhất là đọc từ điển, bổ ích, thú vị và ngừng lúc nào cũng được, không sợ mất hứng. Phải cố tập cách đọc thật nhanh, nếu không sẽ mất quá nhiều thời giờ vào việc đọc những thứ cần thiết, nhưng chỉ để biết, không phải để thưởng thức, học tập.

Buổi chiều, đang học thì nghe loa truyền thanh báo tin: Hà Tĩnh hạ 12 máy bay giặc Mỹ. Bao giờ mình được phục vụ chiến đấu nhỉ?… Tối họp chi đoàn bước đầu kiện toàn, có khí thế lắm. Mình không nhận làm phân đoàn trưởng mà đề cử một bạn khác, mục đích là có thêm một người làm việc bớt đi một người  hay thắc mắc mà chẳng làm gì.Ton That thanh chup cung bac Tan (anh tach rieng)

Hôm sau, vẫn mệt lạ lùng. Chiều thì đau bụng, không ăn cơm, đi nằm sớm. Em Thân về, nhận được một mảnh giấy, lại đi ngay đến khuya mới về. Nghe mẹ nói thì ướt đẫm cả áo mưa.

Đọc lại thơ Bác Hồ trong Nhật ký trong tù, học thuộc một số bài thấy hoàn cảnh trong tù của Bác giống hoàn cảnh mình sống mấy năm nay. Có điều không bị hành hạ về thể chất, nhưng cũng chưa được xông ra giữa trận tiền cho nên cháu vẫn cảm thấy như bị giam trong tù. Những câu thơ Bác thúc giục, khuyến khích rất nhiều:… Muốn nên sự nghiệp lớn/ Tinh thần càng phải cao!… Kiên trì và nhẫn nại/ Không chịu lùi một phân/ Vật chất tuy đau khổ/ Không nao núng tinh thần…Gian nan rèn luyện tinh thần thêm hăng. Và trong những ngày này, giặc Mỹ điên cuồng liều lĩnh xâm phạm miền Bắc ta, thanh niên khắp nơi sôi nổi thực hiện Ba sẵn sàng thì cháu lại càng thấm lời Bác: Chiến sĩ đau nhau ra mặt trận/ Hoàn cầu rực lửa tận thời xanh/ Mà ta trong ngục nhàn quá đỗi / CHÍ CAO MÀ CHẲNG ĐÁNG ĐỒNG CHINH. Bài này tôi mới xem qua, có lẽ ghi không đúng lắm. Nhưng đúng là tôi đang nghĩ, đang buồn như thế. Chỉ chờ có dịp là sẽ vượt ngục. Chuẩn bị đã kỹ rồi.

Thứ ba 28/3 cháu Ánh Ngọc về nhà. Vui, ngoan, hơi gầy nên có kém xinh một tí. Mai cháu lại đi sơ tán ở Vân Đình, Anh ngoc 3 tuoikhông ở Từ Sơn nữa.

Tối mệt, đi nằm sớm. Tự nhiên nhớ đến con gà hoa mơ mình chăm hồi ở Vạn Lộc năm tám tuổi. Sau khi bị thương nặng ở đầu, mình không chơi cùng bọn trẻ, cũng thôi tắm ao, chỉ chuyên chăm lo đàn gà của gia đình, ngày nào cũng cho ăn mấy bận. Trong đàn gà mới này có một con trụi, cứ như một cục thịt cắm trên hai chân. Hễ cho ăn là nó đến gần, không tranh ăn nhưng mổ rất mau, gọn. Hai cánh nhỏ lơ thơ mấy cọng lông. Có khi bị gà lớn mổ, cũng đứng yên, không chạy. Ăn tiếp. Tôi đặc biệt chăm cho nó vì ưa tính gan dạ đó. Chẳng bao lâu, lông che kín thân, thành con gà hoa mơ, lông đen và lốm đốm trắng. Hiền lành như gà mái, nhưng cao. Tôi chăm cho nó ăn, thấy từ ngày ăn ngô vàng, màu sắc lông biến đổi hẳn, đã bắt đầu xuất hiện màu vàng ánh, xanh biếc và dần dà ra dáng gà trống oai phong. Một chiều, mọi người ra sân đều ngạc nhiên thấy con gà hoa mơ nhỏ bé ngày nào đã vươn lên thành con gà trống dũng mãnh, oai phong, mào to đỏ thẫm điệu nghệ, ngả sang một bên, bộ lông xanh đen bóng, chùm lông cổ vàng thau ánh lên, đôi chân cứng cáp, cựa dài, sắc, nổi bật giữa đàn gà no đủ, màu vàng đất. Tôi ngắm gà mà nghĩ mong mình rồi cũng có ngày như thế, không ốm yếu, mờ nhạt như hiện nay. Nhìn gà, tôi thêm tin tưởng ở tương lai, vui sống trong cảnh đói rách, bị coi thường. Tôi càng chăm học, chăm làm và gan dạ hơn. Cùng với những chuyện cổ tích về những con người dũng cảm, giàu nghị lực, thông mình là chỗ dựa tinh thần cho tôi. Tôi luôn mơ mộng cho đến một hôm không thấy gà của tôi đâu. Tìm mãi rồi cũng thấy chú nằm ở một gốc cây ớt chỉ thiên, mắt lờ đờ buồn bã nhìn tôi. Tôi không lo tìm kẻ đã ác với tôi mà chỉ tìm cách chữa cho Hoa Mơ.

Tôi thân và bái phục bác bếp Nguyên một con người huyền bí. Chuyện gì không hiểu tôi đều hỏi bác. Bác cao lớn, gầy, luôn mặc bộ quần áo đen cũ. Bác xem con gà rồi nói: Con gà này bây giờ chỉ có cách dùng nước sôi, với gừng lá chanh thôi chứ chẳng còn cách chữa nào khác. Tôi tin thật, toan đi kiếm gừng và lá chanh để chữa cho gà. Bác thấy tôi thật lòng tin đó là cách chữa tốt nhất nên nói thật: Nó bị kẻ nào cho ăn nhiều muối, máu hút hết vào ruột rồi, không cứu được nữa. Tôi buồn quá, cứ ôm con gà cho đến khi nó nhắm mắt, chết hẳn.

Tối ấy, tôi không nói với ai trong nhà, lẻn ra đầu làng gần cây gạo to, tìm đến chỗ bộ đội đóng quân, nơi tôi thường lân la làm quen với hai bạn nhỏ làm liên lạc cho chỉ huy đơn vị. Hai bạn nhiệt tình đưa tôi đến gặp ban chỉ huy. Nghe tôi trình bày, các anh hỏi mấy tuổi, hiện ở nhà nào. Có hai bạn quen, tôi mạnh dạn nói rõ nguyện vọng muốn được như hai bạn, tôi chạy nhanh, đã biết đọc biết viết, lại thật tà, gan dạ, không bao giờ khóc. Các anh cười, bảo cứ về nhà, năm sau các anh lại qua sẽ đón. Nay đủ người rồi. Tôi bật khóc ngay trước mặt các anh và hai bạn liên lạc.

Từ đấy, tôi lầm lì, ít nói, không nghịch ngợm chơi đùa nữa, mà chỉ học, học thật nhiều.

Trở lại với cuộc sống hiện tại, hôm sau, tôi bắt đầu đọc cuốn sách Điển hình hóa trong văn học nghệ thuật của Anđrêmốp. Cuốn sách dịch trúc trắc lắm, nhưng quan điểm vững vàng, khiến mình tin cậy và say sưa đọc. Nhớ mãi câu nói của Páplenkô “Đằng sau mọi sự thành công là cả một cuộc đời 15, 20 năm, là cả một kho kinh nghiệm sống” Và những vần thơ của Bác lại đến với tôi: Đi đường mới biết gian lao/ Núi cao rồi lại núi cao trập trùng/ Núi cao lên đến tận cùng/ Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”

Trở lại với cuộc sống hiện tại, hôm nay, anh Phong Lê về Hà Tĩnh quê anh, cũng là thâm nhập thực tế tiền tuyến chống Mỹ theo sự phân công của Viện Văn học. Còn mình thì vẫn nhàn quá đỗi/ Chí cao mà chẳng đáng đồng chinh. Mà có thật là chí cao? Ai biết được… Nhớ Nguyễn Hữu Lý và mong thư bạn. Hy vọng bạn sống xứng đáng với quê hương xứ Nghệ trong những ngày máu lửa này.Maxim Gorki

30/3, đọc xong sách của Anđrêmốp. Phần nói về lao động nhà văn viết rất hay. Đó là công việc cực kỳ khó khăn, gian khổ, nhưng chẳng có gì đáng để ta say mê hơn. Tônxtôi nói: Chỉ có thể viết được khi nào cứ mỗi lần cầm bút lên anh để lại trong lọ mực một miếng thịt của mình. Các Mác nói: tính cách của con người do các hoàn cảnh tạo nên. Vậy phải chủ động tạo cho mình những hoàn cảnh khiến mình trở thành con người chân chính trước khi cầm bút viết.

Mình càng thích thú thấy điều mình băn khoăn suy nghĩ đã nhiều năm được chính M.Gorki giải đáp một cách rành mạch, gọn ghẽ như sau: “Tính cách phức tạp là kết quả kỳ quái đáng buồn của tình trạng tâm hồn bị chia vụn bởi cuộc đấu tranh liên tiếp, nhỏ nhen để giành lấy vị trí có lợi và an nhàn trong cuộc sống. Chính tính phức tạp là nguyên nhân giải thích tại sao trong số hàng triệu người chúng ta thấy có rất ít những người trội lên, có tính cách thật rõ rệt, ôm ấp nhiệt tình sôi nổi – tức là những con người vĩ đại”. Đọc thế, tôi đã hiểu vì sao lâu nay, những thói tiểu thị dân không phải chỉ làm mình khó chịu, mà còn ghê tởm, thù ghét…đến thế.

31/3, chiến công của Hà Tĩnh đã nâng số máy bay Mỹ bị hạ trên Miền Bắc lên tròn 100. Được như anh Phong Lê ở Hà Tĩnh lúc này thật hạnh phúc. Mong thư Lý từ Nghệ An quá.

Sáng 3/4 nghe tiếng máy bay phản lực ta. Chiều thì được tin Thanh Hóa bắn rơi 12 máy bay, có chiến công của không quân ta.

Chiều đọc Người mẹ của Gorki. Tối đến chị Thanh Vân ở trụ sở Viện Văn học nhờ chị đối chiếu hộ bản dịch Trung văn. Chị khuyên nên gửi nhà xuất bản Kim Đồng và báo Văn Nghệ. Gặp chị mình học hỏi được nhiều mà chị cũng vui khi anh Phong Lê đi công tác dài ngày. Gặp cô Hà em anh, một tâm hồn đẹp.

Chủ nhật 4/4, nhân anh Đại về tối hôm trước, mình cùng anh đi Vân Đình thăm cháu Ngọc. Lại một trận mệt hệt như Ton That Dai trechủ nhật trước. Vì chỉ có mình biết đường đến trại trẻ của cháu.

Suốt ngày đọc, Người Mẹ. Tối khuya nghe tin chiến thắng lớn ở Thanh Hóa, Vĩnh Linh, Cồn Cỏ. Máy bay hạ được đã lên đến 155 chiếc. Hôm nay, lần đầu Hà Nội báo động thật. Chẳng khác gì các lần thực tập cả. Dân Hà Nội bình tĩnh, nhưng cũng còn chủ quan lắm. Bực mình hết sức vì mồ hôi ra đầm đìa suốt ngày.

5/4, biết đích xác là 160 máy bay Mỹ bị bắn rơi. Viết đơn đăng ký Ba sẵn sàng. Đọc xong Người Mẹ, một cuốn sách tuyệt diệu về mọi phương diện.

Sáng, trưa và tối đều có những cơn đau, khó chịu khắp người. Mùa hè đến rồi, phải cảnh giác. Cũng đọc xong Trai làng Quyền. Có mấy chuyện khá hay như Người vợ, Mùa Xuân, Nhà chị Nhỡ. Truyện Một nhà dài hơn cả thì tác giả lại non tay, lúng túng, nhân vật không có sức sống. Có vẻ là một truyện ngắn… kéo dài! Kém xa Nguyễn Kiên.

Ngày 6/4, nhận thư em Nhàn. Mỗi lần nhận thư từ Mộc Châu gửi về mình đều hồi hộp theo dõi từng bước em đi trên con đường mới sau biến cố lớn đầu đời. Nhớ lại hồi mới rời trường Nông Lâm và ra khỏi khoa lao bệnh viện Bạch Mai, cứ mỗi lần nhớ lại chuyện cũ, mình lại mệt mỏi, đo đều thấy có sốt, tăng mấy độ. Thật không gì khó khăn hơn là không nghĩ đến những gì gây tổn thương mình nặng nề. Khó hơn những khó khăn về vật chát, cụ thể trước mắt. Đọc thư em, cảm thấy rõ lòng yêu mến gắn bó thật lòng với tập thể và tinh thần tha thiết mong được hy sinh cho đồng đội. Em và một bạn gái tự nguyện đến ở hẳn một gia đình cả hai vợ chồng đều phải đi bệnh viện điều trị dài ngày, nhận chăm sóc năm con của họ từ bảy tháng đến 10 tuổi. Mình định viết một bài đưa lên báo Tiền Phong, nhưng biết em có thể sẽ về nghỉ phép trong dịp này, nên chờ để hỏi kỹ hơn. Mình đang mong gặp em để bàn thêm một số việc nên làm. Mọi sự tiến bộ của em là phần thưởng lớn cho mình, cứ như em sống hộ mình, làm hộ mình vậy.pham tuyen choi dan

Cậu Phạm Tuyên vừa đi Hải Phòng về than là chỉ vì bộ đội hải quân không dám bảo đảm an toàn cho cậu nên không ra được đảo Bạch Long Vĩ trong khi cậu rất mong được đứng  nơi mũi nhọn của cuộc chiến đấu vì nếu không thì sẽ chẳng hiểu được cái gì cả, cảm xúc chỉ là giả tạo, thương vay khóc mướn. Ngay cả những người đang tuổi thanh niên cũng chưa chắc đã hiểu tâm hồn và nguyện vọng của thanh niên lúc này. Nhân dân ta anh dũng mà giản dị tuyệt vời. Có những tàu tuần tiễu nhỏ dám buộc thủy lôi vào mũi tàu, đuổi hàng không mẫu hạm Mỹ chạy dài. Những phi công cảm tử lao thẳng vào máy bay địch… Đó là biểu hiện mới của tinh thần yêu nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, một dũng khí mới của thời đại Đúng là ở ngay miền Bắc này cũng có nhiều Nguyễn Văn Trỗi. Ở đâu có đấu tranh quyết liệt, ở đó có những con người anh hùng làm nên những chiến công vĩ đại. Chủ nghĩa anh hùng đang thành đặc tính của thanh niên ta. Cậu khuyên mình đi khám lại sức khỏe toàn diện, chuẩn bị cho những việc cần làm sắp tới.

Tối 7/4, đèn hỏng. Mở đèn 25W, mắt kém không đọc nổi. Định đi xem phim Anba Rêgia ai cũng khen hay. Nhưng sớm quá, lại vào thư viện đọc sách đến 11 giờ đêm mới vè. Đọc được ở đây Những con đường đói khát của G.Amađô (Bradin) quá hay… Có đọc mới thấy phim O’Cangaceirô nổi danh thời trước giải phóng Hà Nội đã xuyên tạc tác phẩm đến dường nào. Chỉ chọn những cảnh giật gân, kỳ quái. Có lẽ đạo diễn không hiểu hay không dám, không thể làm theo tác phẩm gốc. Đúng là trong sách có nói đến các cảnh bạo tàn, dâm ô li kỳ nhất, nhưng tác giả đã viết bằng một ngòi bút trong sạch, muốn tiêu diệt nguyên nhân gây ra những thảm cảnh đó mà không sa vào mê đắm những khoái lạc thấp kém. Sách viết có chủ đề rõ ràng, không hề có chủ nghĩa tự nhiên, dung tục như trong bộ phim cao bồi nổi danh nọ.

Suốt ngày mong em Nhàn mà chưa gặp.

Hôm sau, nhận thư Lê Đức Đạt ông em thợ đúc ở nhà in Nhân Dân  có khuôn mặt hao hao giống mình bèn nhận luôn là em anh Thành khiến cả người tinh như anh Việt Quốc cũng tin sau nhiều tháng quan sát vì anh em sao tính nết khác nhau quá. Đạt đi bộ đội (hòm thư HT 7835.P5). Cuối thư Đạt viết: “Thôi nhỉ, nay đã bước vào cuộc sống mới rồi, không muộn chứ Thành. Chúng ta nên nối lại và mong Thanh giúp cho mình sống sao cho ra sống bây giờ… Mong Thành hãy vì cuộc sống mà giúp đỡ nhau. Được không, người anh kết nghĩa, hãy bỏ qua những sai sót của người em kết nghĩa bội bạc này”. Thật ra có gì đâu, chỉ vì có một thời gian chú không viết thư cho tôi, nên tôi mới không viết cho chú nữa. Vì tôi giống như Giả Bảo Ngọc của Hồng Lâu Mộng “chẳng làm gì cả mà suốt ngày bận rộn”. Đọc thư em, tôi xúc động lắm, viết thư trả lời ngay kẻo em mong.Duong Tat Tu

Hôm nay, sốt mệt kỳ lạ. Ai gặp cũng kêu hốc hác quá. Dạy học có hại thật. Nhưng không dạy học thì biết làm gì sống bây giờ…

Sáng 9/4, mệt quá, không chép bản dịch Nhà ảo thuật đã được chị Vân xem lại mà xoay ra tập tốc ký, rồi đọc Gorki. Đến trưa mệt lả,  nghĩ cả buổi chiều, nằm bết ở giường, có sốt nhẹ.

Tối đến anh Dương Tất Từ, bàn việc đi thăm anh Phạm Hồng Sơn vào tuần sau. Anh Từ gợi ý nên viết về việc anh Sơn dịch Fucik. Vì đây là một chiến sĩ cách mạng dịch sách của một chiến sĩ…Fucik đã giúp gì anh ấy…

Le Dang QuangXem ra, có lẽ sắp đến lúc mình chỉ còn lại một mình. Các bạn thân lần lượt ra mặt trận hết. Các đàn anh đàn chị thân thiết cũng chuẩn bị theo cơ quan đi sơ tán khỏi Hà Nội. Sẽ sống sao đây nếu thiếu họ…

Hôm sau, Lê Đăng Quang đến. Rất tiếc là Quang đã khai thật hết bệnh tật với ban tuyển quân nên không được đi bộ đội. Giá là mình, sẽ chẳng khai gì hết để đi bằng được. Cơ hội đâu có nhiều. Em Thân về; đến tối khuya anh Đại cũng về. Tốt thứ bảy rồi.

Gió mùa Đông – Bắc về, suốt đêm mưa rất to, lạnh. Cả thân mình đau nhức. Tối đi nằm, hiểu rất rõ điều này: Dù thế nào, những việc mình muốn làm phải làm, phải tự mình làm lấy cả, không thể nhờ ai, trông cậy vào ai giúp đỡ … Không ai có thể sống thay mình, làm việc của mình. Vì thế phải mau chóng củng cố phục hồi và tăng cường sức khỏe, mặt khác phải đẩy mạnh việc học tập có hệ thống hơn nữa, bằng những phương pháp tốt hơn nữa, đặc biệt là chú ý học tập ngay những con người mình may mắn được gặp, theo phương châm gạn đục khơi trong, học những gì đáng quí nhất trong mỗi con người.

Sáng hôm sau, lại nói chuyện với anh Đại về việc cho cháu Ánh Ngọc lên em Nhàn một thời gian. Anh không tán thành vì không tin làm như thế là tốt cho con bé, lại ngại phiền bận cho vợ chồng Nhàn. Cảm thấy buồn tiếc, mình không nói gì nữa. Mình mong đào tạo một thế hệ mới theo hướng quen lao động chân tay từ nhỏ. Kết hợp lao động trí óc với lao động chân tay, như con người ta đi bằng hai chân. Nghĩ lại, đây không phải là lần đầu mình bị từ chối. Đã có những bạn từ chối sự giúp đỡ quá nhiệt tình của mình, tiếp tục sống như họ muốn. Đến khi vấp váp khá nhiều mới quay lại, mong bắt đầu lại, nối lại, như kiểu em Lê Đức Đạt. Lỗi là tại mình quá nôn nóng, không biết tùy bệnh bốc thuốc, rồi theo dõi và gia giảm tùy theo diễn biến cụ thể.

Hôm sau, mệt mỏi, chỉ nằm cả ngày. Cậu Tuyên ghé, nói chuyện với cậu về những người trong gia đình. Cậu nghe rồi nói: Chỉ nguyên cái nhà này cũng đủ viết một cuốn tiểu thuyết rồi. Cậu hiểu mình, cậu biết là mình sẽ không đi con đường khác con đường đã chọn hơn mười năm nay.

Mấy hôm nay rồi không thể làm theo chương trình đã định. Sáng nào cũng dậy thật sớm, rồi ghi chương trình vào quyển sổ. Đầu mỗi việc là một cái gạch đầu dòng. Thế rồi những cơn đau đến, đảo lộn tất cả. Hôm nay 13/4, đỡ mệt, ra ngay thư viện để không thể nằm, mượn sách đọc và cả ngày đọc mải miết ở đó. Đọc xong Những con đường đói khát mới thấy thật rõ những con đường đói khát của người nông dân lao động Bradin. Tác giả đúng là một bậc thầy. Lại đọc Métsnikốp, bài viết về L.Tônxtôi quá hay, nói lên được cả tầm cao vòi vọi lẫn cái bóng đen kéo dài của con người vĩ đại nhưng đầy mâu thuẫn này. Ông viết: Có thể tin rằng khi đi tìm chân lý, nhân loại sẽ không đi theo vết chân của Tônxtôi.

Sáng hôm sau, đọc được một đoạn bình luận về cuốn Chiến Bại của A.Fađêép, sung sướng nhận ra những nhận xét của mình khi đọc cuốn sách này là đúng đắn. Một tiểu thuyết xứng đáng là tác phẩm lớn cả về nội dung lẫn hình thức của văn học xô viết.

Theo hẹn, chiều hôm nay là thứ tư, mình cùng anh Dương Tất Từ sang Quân y viên 103 thăm anh Phạm Hồng Sơn nhưng không gặp được. Anh đi sơ tán ở đâu cũng không được biết. Đành gửi lại thường trực chuyển cho anh cuốn Viết bút ký của B.Pôlêvôi và bài Thép Mới viết về nhà báo Úc W.Bớcsét. Đây là lần thứ  hai đưa anh Từ sang thăm anh Sơn. Lần trước đi cùng vợ mới cưới của anh, hoa hậu Nhà sách quốc văn tổng hợp được đông đảo thanh niên Hà Nội ham sách say mê.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/7/2021,

mùa Covid-19 đợt 4, cách ly giãn cách nghiêm ngặt, quyết thắng dịch.

P.T.

Tiến Lên

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 7:37 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 8 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC:

LÀM BÁO NGƯỢC

Phạm Tôn

Cuối năm 2018, con trai đưa tôi đến Bệnh viện Nhân Dân Gia Định khám lại ung thư mổ từ 2010. Bác sĩ Chung Hoàng Phương hiền hậu từng nhiều lần khám và công bố kết quả xét nghiệm sau tám đợt hóa trị bao giờ cũng hài lòng vì tôi là bệnh nhân hợp tác tốt, tuân thủ nghiêm y lệnh lại không khi nào kêu ca phàn nàn gì dù nội soi có khó khăn, hóa trị có mệt mỏi… Lần cuối này, ông hỏi: Bác có theo tôn giáo nào không? Tôi đáp tôi chỉ thờ phụng tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Lại hỏi: Bác làm nghề gì khi khỏe? Tôi đáp: Tôi làm nhiều nghề, nhưng nhiều nhất là nghề báo, nhưng là làm báo ngược. Lại hỏi: Như thế là sao? Tôi đi bán báo rồi làm ở nhà in báo, cuối cùng mới viết báo. Bác sĩ cười…

Thật ra nói thế cũng chưa đủ. Ngược còn là ở chỗ: Tôi từng là Tổng biên tập nhiều báo, có điều là báo tường, báo liếp ở trường trung học, đại học, rồi xí nghiệp. Sau mới làm phóng viên viết báo, nhưng là báo lớn, có uy tín trong cả nước.

Các báo tường tôi từng phụ trách là Học Sinh Mới ở trường cấp hai Hà Huy Tập và cấp ba Kiến Thiết, Bình Minh ở trường trung học Chu Văn An, Paven khi đi bán báo, Thảo Nguyên ở Học viện Nông Lâm. Hồi ở Xí nghiệp cảng sông Hồng, tôi có Bản tin sau là Cảng Hà Nội mới ra báo Tiến Lên ở đội I, khi vào Quảng Bình công tác thì biến thành báo liếp (vì không có tường mà dán) cũng vẫn lấy tên Tiến Lên.

Trong bài phụ lục này, tôi chỉ xin giới thiệu hai báo do tôi làm tổng biên tập. Một là Bình Minh qua Tập san Bình Minh tuyển chọn một số bài trong thời gian Bình Minh ra mắt tại trường Chu Văn An. Hai  là báo liếp Tiến Liên ra ở Quảng Bình.

Xin mời các bạn xem để biết một thời chúng tôi đã sống vui vẻ đầy nhiệt huyết như thế.

*

*      *

TIẾN LÊN

Năm 1968, đội I mới của Cảng Hà Nội thành lập nòng cốt là ban chỉ huy và văn phòng đội 5 cũ với lớp công nhân trẻ khỏe hầu hết mới tuyển từ Thường Tín và số công nhân đội I cũ mạnh khỏe giàu kinh nghiệm.Ton That thanh chup cung bac Tan (anh tach rieng) Tất nhiên đội trưởng là bác Nguyễn Văn Sán đội trưởng đội 5 và kế toán vẫn là tôi. Tôi còn được bầu làm bí thư chi đoàn Thanh niên Lao động. Do yêu cầu của ba bạn trẻ Thường Tín ham làm thơ gợi ý tôi ra báo tường Tiến Lên, lấy ý từ câu thơ cuối bài chúc Tết của Cụ Hồ Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta! mà tôi tâm đắc từ ngày ở đội 5 trong giai đoạn cuối cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Cảng mà ngòi nổ chính là cụ ông Nguyễn Văn Sán và cụ bà Nguyễn Thị Thảo bạn cùng sát cánh bên cụ Sán từ thời hoạt động bí mật kháng chiến chống thực dân Pháp trong lòng Hà Nội.

Báo Tiến Lên được công nhân đội I đọc và bảo vệ nhiệt tình. Công nhân và cán bộ nhân viên toàn cảng cũng nhiều người đến đọc.

Tôi nhớ mãi cảnh một sáng sớm tôi vừa đến phòng làm việc thì được một bà bảo chú đến ngay chỗ báo, có chuyện rồi. Tôi đến thì thấy anh Nguyễn Văn Tân tổ trưởng tổ I làm ca đêm, còn cởi trần dù trời khá lạnh, hai tay giang ra, đứng trước chỗ dán báo bảo tôi: Có kẻ đêm qua lén dán cái gì đó vào báo đội ta, tôi phải đứng đây giữ nguyên hiện trường, bảo người nhắn chú ra ngay giải quyết. Chú xem đi!Hoan ho doi 1

Tôi nhìn khung báo thì thấy có một tờ giấy lạ. Giấy khổ lớn, có dòng kẻ, tất nhiên nâu xám như đa số giấy thời ấy. Trên có hàng chữ viết Hoan hô Đội I. Chữ viết màu đỏ không ra đỏ có lẽ là dùng thuốc đỏ y tế. Hóa ra đó là bài thơ khen báo đội tôi. Cuối bài ghi 26/11/68. Còn ghi chú “(1) Báo tường của Đội I lấy tên là Tiến Lên. Tác giả là Tú Gầy.

Hỏi anh em làm ca đêm thì: đang làm nên không để ý  lắm, chỉ biết có anh kỹ sư mới về đem cái gì đó dán lên báo ta thôi. Bài thơ mở đầu như sau: “Sáng nay đi dạo cảng nhà / Rẽ thăm đội I đậm đà tình thương/ Tiến Lên (1) sáng chói góc tường / Thiên nhiên đượm vẻ, phong sương mặn tình / Khen rằng: Nét vẽ nên xinh / Càng trông càng đẵm, càng nhìn càng tươi/ Câu văn ai khéo lựa lời / Ngẫm trong lẽ phải có người có ta/ Mấy lời tâm phúc thực thà / Mấy lời nhân ái mặn mà nhắc nhau” Cuối lại có mấy câu “khen thay đội I có tài / Còn anh vận chuyển, đội 2 thế nào? / Đội 3, cơ giới nghĩ sao? / Văn phòng xưa vẫn đua tranh? Hỏi ai ai đã chuyển mình trước ai/ Lời quê phát biểu đôi lời / Cờ đầu đội I phất rồi! Các anh” . Đến đây thì lộ rõ là thơ của cán bộ lãnh đạo rồi

Một hôm báo tôi có bài phê bình cô y tá nọ, cô bực định xé bài đó, nhưng bị đội trưởng phê bình nên dán lại, thì Tú Gầy có ngay bài Vì sao báo rách? thế là thành cộng tác viên của Tiến Lên rồi. “Nhac ong dinh mucVì sao báo rách bạn lòng ơi / Có lẽ vì đây chạm nọc rồi” bài này viết ngày 27/11/68, ngay sau bài trước, xem ra tác giả cũng là độc giả trung thành của Tiến Lên. Cuối cùng cũng biết ông chính là đại tá chuyển ngành mới về nhận chức bí thư Đảng bộ Cảng Hà Nội. Cao, gầy đúng là Tú Gầy, ông sống luôn tại khu vực Cảng, mé cuối đội 4 Cát – Sỏi, ở tạm trong cái lô cốt Pháp xây dựng trước đây. Còn lô cốt ở giữa Cảng thì dùng làm trụ sở công đoàn cảng.

Hai bài thơ của Tú Gầy tức đại tá Đào Mạnh Bào tôi cho chép lại và trình bầy đẹp không kém những bài khác của báo. Từ đấy, ông biết tôi, chắc có điều tra về tôi, nhất định biết tôi là cháu ngoại Phạm Quỳnh đã bị ta xử bắn năm 1945. Nhưng những khi gặp vẫn chào hỏi thân mật.

Không phải dự dưng mà công nhân yêu mến bảo vệ báo tôi. Khi Cảng bắt đầu chủ trương làm việc phải có định mức, báo tôi có ngay bài Nhắn “ông định mức” nhẹ nhàng  “Mời … “ông định mức” Cảng ta / Thu giấy cất bút bước ra… hiện trường/ Tai nghe mắt thấy cho tường / Việc làm, lời nói của người công nhân / Ông ơi!… Đơn giá không cân: / Thô sơ như máy, ông cần sửa cho (+) / Đơn giá sang mạn tôi lo / Tấn ca không đạt ông dò mà xem / Ông ơi! Thương lấy anh em / Xem lại đơn giá nâng lên ít nhiều/ Để chúng tôi khỏi phải kêu / Nếu không … Ra thử một keo cho…chừa! / Đặt bút ông chớ viết bừa / Xem đi xét lại cho vừa lòng nhau! / Nếu không dù có bắc cầu / Tròng cổ năng suất… Cũng khó kéo đầu nó lên!” Cuối bài ghi thơ Đại Hải. Còn chú thích (+) ghi: đơn giá bốc xếp hàng bao 100kg qui định là: – Máy QL, KGI, Vạn năng 1 tấn là 0đ41 – Sang mạn thô sơ là 0đ41(?!) – Từ xe vào kho bãi 0đ364 (??!)

Về tật tắt mắt của công nhân bốc xếp có bài nói rõ Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ, cửu vạn vác gì vồ nấy, lại có thơ Cá khô bay của tác giả Củu Vạn “Đội ta có chuyện thật hay: / Cá Khô mà lại biết bay thần tình! / Rõ ràng con cá xinh xinh, / Cái đầu to tướng cái mình tẽ đôi / Thế mà nó vẫn … bay thôi / Nó bay mỏi cánh, nó rơi bếp lò / Con vừa con nhỏ con to / Con bay mái ngói con bò vệ sông / Các bạn ơi, có lạ không: / Có bay rồi lại chui…ngay túi mình/ Dù cố ý, dù vô tình/ Cá khô trong túi, bọn mình… xách ngay! Hỏi rằng: có phải cá bay/ Hay là… kẻ cắp ra tay làm càn”

Về việc ăn uống ở nhà tập thể có bài Dạ dày  biểu tình!!! của Pênixilin, tranh vẽ minh họa một lũ dạ dày đang đi hô khẩu hiệu. Bài kể chuyện tự thuật: “Tôi về đến nhà thì nằm lăn ra vì bụng đau không chịu nổi. Mỗi lúc cơn đau lại càng dội lên đau hơn. Tôi lịm đi thì nghe có tiếng hò hét. Càng đau dữ. Nghe kỹ mới thấy là tiếng dạ dày hỏi tôi: Tại sao anh lại đối xử với tôi khốn nạn tồi tệ như thế hử? Tôi cự lại: Sao cậu trách tôi? – Tại sao hả… Hôm nay anh bắt tôi ăn cơm ngô sống, lại có cả con ruồi chết trong cơm nữa. Tôi vội thanh minh: Tại các bà nhà ăn đấy chứ, tại tôi đâu… Nó gắt lên: Tại anh! tại anh cả! sao anh biết là bẩn mà vẫn cứ ăn làm khổ tôi! Tôi cãi: Chỉ có thế, không ăn thì đói chứ sao! Dạ dày tôi tỏ vẻ thông cảm, chẳng nói nữa. Nhưng hôm sau, tôi bị Tào Tháo đuổi suốt một ngày, xuýt thì đi tong. Hôm nay mới đỡ và kể lại chuyện này mong các bà các chị nhà ăn và cả cô y tá nữa lưu ý cho bữa ăn công nhân chúng tôi”.

Tiến Lên còn có một bài thơ tôi nhớ suốt đời vì vừa kịp thời, nóng hổi, vừa chấn động toàn đội và cả toàn cảng nữa nhất là lãnh đạo cao, rồi xưởng, phòng kỹ thuật, ban an toàn lao động, tất nhiên là cả đảng ủy công đoàn. Sáng sớm ấy, Bùi Lê Nghiên dân Thường Tín đập cửa buồng tôi sống với Đỗ Xuân Bảo lái cẩu vạn năng, báo một tin động trời: Ca 3 tổ em đang bốc gạo trong bao tải lên cần cẩu cổng do chị Phu lái. Lên đến độ cao 30 mét, chuẩn bị đưa vào bến đổ hàng lên xe tải chờ sẵn thì như một trận bom dữ dội, toàn bộ các bao gạo rơi thẳng xuống xà lan đội em đang giải phóng. Mấy cái móc sắt móc vào tấm kê hàng doãng ra.

Tổ trưởng Nguyễn Văn Tân bảo anh em tránh ra xong, lệnh cho Nghiên lên bờ, làm ngay một bài về sự kiện này, ăn lương như anh em làm cùng ca, rồi đưa ngay anh Thành sáng mai cho lên báo. Nghiên là cây bút chủ chốt của Tiến Lên, không hiểu sao thường dùng bút danh Bao Tải. Thế là Nghiên chép lại sạch sẽ, tôi trình bày minh họa sinh động, kịp hết ca là tổ 1 được xem còn thuyết minh thêm cho người xem rõ sự kiện đêm qua. Tổng biên tập là tôi thấm thía tình cảm của công nhân với báo mình cũng là tiếng nói của họ.

Dù là hiếm, nhưng Tiến Lên! cũng có thơ tình, mà thật sự là tình yêu trai gái. Tất nhiên vẫn theo phong cách rất công nhân, đơn giản và mạnh khỏe. Đó là bài Gặp em của Thanh Hoa, người rất ít khi làm thơ. “Gặp em lần nào/ anh cũng nhìn vào / ngực em nở nang./ Ngỡ anh sỗ sàng / em giận, ngoảnh đi…/ Rồi em nghĩ/ và má em bừng đỏ:/ Có chi đó trong cặp mắt anh/ chân thành/ giản dị… / Hôm nay, anh đã thấy:/ Huy hiệu Đoàn sáng dậy/ trên ngực em/ ở chỗ trái tim em. / Mắt anh tươi/ Miệng em cười/ Hai mươi sáu tháng ba/ Đoàn ta/ THÊM MỘT NGƯỜI CỘNG SẢN

Ngay thanh lap doan (bao tuong quang binh)

Đó là chuyện tháng 11 về trước.

Giữa tháng 12/1968 mới là một chuyện động trời. Dạo ấy rét lắm, tôi không về nhà 16 Hàng Da mà ở lại luôn với Đỗ Xuân Bảo, hai anh em nấu ăn với nhau. Một tối, vừa hết ca hai thì có lệnh tất cả tập trung về hội trường nghe lệnh khẩn thời chiến, cả những ai làm ca ba cũng về họp luôn trước khi vào ca. Ban giám đốc công bố lệnh khẩn từ bộ Giao thông, cục đường sông tuyển ngay 50 người tình nguyện đi công tác đột xuất ở Quảng Bình, trước hết là đảng viên và đoàn viên. Lác đác có người giơ tay, rồi dần dà đến gần 22:30 thì gần đủ. Số thanh niên Thường Tín ở khu tập thể gần nhà thờ Thông Chí cũng tham gia dù không thuộc ca làm hôm nay. Rồi thắc mắc thời hạn, quyền lợi này nọ, cuối cùng vẫn còn không ít băn khoăn. Đoàn viên thanh niên chi đoàn I tham gia đông nhất, nhưng số lớn vẫn do dự, đi là theo phong trào, theo đồng hương thôi. Gần 24:00 vẫn không ngã ngũ, chưa lên được danh sách.

Tôi xưa nay xung phong chuyện gì cũng bị gạt, lý do công khai là vì nhu cầu công tác phải giữ lại. Đến xin vào tự vệ cũng bị lờ đi, không từ chối thẳng thừng, nhưng không gọi. Đúng lúc gay gắt nhất Phạm Văn Cường một công nhân nhỏ thó nhưng gan dạ vác khỏe lại là nhà thơ của Tiến Lên hay ký tên Cửu Vạn nêu yêu cầu: phải cho anh Thành bí thư của chúng tôi đi cùng thì chúng tôi mới đi, không thì sáng mai ngủ dậy là chúng tôi té ngay về Thường Tín. Giám đốc nói không có quyền giải quyết, vì vậy, chuyển yêu cầu gặp bí thư đảng ủy. Bí thư đến tươi tỉnh dù bị đánh thức giữa đêm đông. Ông chắp hai tay chào anh chị em. Nghe lại lời của Phạm Văn Cường, ông cười, rồi nói ngay: Tôi tưởng chuyện gì chứ chỉ có chuyện ấy thì tôi chấp thuận ngay! Mọi người vỗ tay vui vẻ. Danh sách lập xong ngay có đầy đủ chữ ký. Bác Nguyễn Văn Hoành đảng viên người Huế tập kết, sẵn sàng nhận nhiệm vụ vừa bí thư đảng, vừa đoàn trưởng.

Tôi  bất ngờ được đi, lại nhớ cái nghiệp báo mình vẫn đeo đẳng, sẵn các cây bút nòng cốt trung kiên đều cùng đi, thế là về ngay buồng lái cẩu  Bảo thu dọn hành lý. Tối ấy, Bảo không có nhà. Tôi vơ vét hết kem đánh răng, xà phòng giặt 72% rồi tìm đồ nghề: toàn bộ màu bút vẽ trình bày báo, lại kiếm được một cuộn giấy nhiều tờ nhỏ màu vàng nham nhám, nhưng dùng được, còn hơn là không có gì. Tất nhiên lấy áo ấm, áo lót, quần áo mặc thường ngày vẫn để ở đây. Xong phải viết thư để lại cho Bảo nói rõ nhà không bị trộm, mất gì là do anh lấy đi Quảng Bình thôi. Tôi không được về nhà nên không có chăn và còn thiếu nhiều thứ. Nhưng bác Hoành đã dặn: Thiếu gì để sau lo chứ mày về là chúng nó bỏ về quê hết đó. Đành chịu. Tôi thấy mình giống như anh thợ may nọ trong truyện cổ Một đòn chết bảy, kể chuyện trước chuyến phiêu lưu anh đã nhặt nhạnh mọi thứ trong nhà phòng có khi phải dùng đến. Xong mọi việc mới thấy bàng hoàng: cái ước mơ ra tiền tuyến chiến đấu ôm ấp bấy lâu, không ngờ lại thành sự thật nhanh chóng và đơn giản đến không ngờ. Thật tình cứ mơ ước như thế thôi, chứ tôi cũng chẳng thể nghĩ ra đến tiền tuyến rồi thì một người ốm yếu như mình làm được gì. Xin nhắc lại là tôi về cảng qua con đường đoàn thanh niên do Đoàn Di đạo diễn không qua sở phòng lao động vì không thể có giấy khám sức khỏe đủ sức lao động. Cái án bệnh lao vẫn còn đó. Về cảng, trời lạnh lại hay làm đêm tôi thường xin cho tiêm Canxi, thuốc này rẻ, nên thường được cấp ngay. Y tá Thu tiêm ven rất thạo, tiêm vào là thấy khắp người ấm lên. Mẹ tôi từng chăm chị tôi bị lao nói canxi làm cứng phổi. Tôi tiêm vào thấy khỏe ra. Dù sao cũng thủ theo ống INH thuốc trị lao của Pháp cô Hoàn gửi về cho an Đại lâu nay tôi vẫn đem theo người phòng khi có chuyện. Hồi ấy, chưa biết là đợt tấn công mạnh hồi an dưỡng ở Quảng Bá, mỗi ngày tiêm 1 lọ 1 gam Streptô trong dầu mà tôi đã hoàn toàn hết vi trùng lao, coi như khỏi bệnh. Dù chưa biết đi Quảng Bình sẽ làm gì, nhưng cái nghiệp báo xui tôi chuẩn bị nhất định sẽ tiếp tục ra báo Tiến Lên ngay nơi tuyến lửa. Vì thế dọc đường tôi luôn gợi ý các cây bút của báo viết đề tài này, nọ. Tự anh em cũng nghĩ ra nhiều đề tài khác. Thành ra khi đặt chân đén xã Thanh Trạch huyện Bố Trạch rồi thì chúng tôi ra ngay được báo với những bài nóng hổi tính thời sự. Thơ vẫn nhiều, văn xuôi ít hơn nên tôi thường phải tự viết. Có những bài thật ra là lẩy từ các buổi họp chi đoàn phân đoàn mà viết ra, ý kiến của đông đảo anh chị em trong đoàn.

Số I Tiến Lên ra tại đất lửa Quảng Bình đã có ngay các bài Phà Ghép tức cảnh của Bao Tải viết ngày 19/12/1968: “Đoàn quân ta đi qua Phà Ghép/ Mọi người xuống xe đi bộ hết/ Xe chạy người đi nối tiếp nhau/ Trông như đoàn quân trong Suối Thép” (Chú thích: Đoàn quân trong Suối Thép là đoàn quân trong bộ phim Suối Thép lúc ra đi rất vô kỷ luật, nhưng sau qua đấu tranh cách mạng đã trở thành một đoàn quân thép, đánh đâu thắng đấy”. Rồi Chiều Cảng Gianh của L.N và P.C (tức Bùi Lê Nghiên và Phạm Văn Cường): “Hoàng hôn khuất núi xa xa/ Sông Gianh nước biếc, chuyến phà đang sang/ Tàu to cờ đỏ sao vàng/ Buồm căng lộng gió, thuyền nan xuôi dòng/ Cảng Sông anh chị xung phong/ Nhanh tay bốc dỡ chuyển hàng quân nhu/ Vác hàng chiếu, kiện lên bờ/ Đoàn xe vận tải đang chờ hàng lên/ Bên này một tốp thanh niên/ Bên kia tốp nữ cất lên giọng hò/ Đoàn thuyền nan cập bến bờ/ Dập dờn sóng vỗ đang chờ hàng sang… Chiều 21/12/1968”. Văn xuôi có bài tản văn Hoa Khu Bến của Thanh Hoa. “Trên dường vào khu Bốn, mặc dù đã cuối đông, vẫn thấy nở nhiều thứ hoa, hình như cây cối thiên nhiên đã cố gắng chào mừng đoàn ta tiến ra tiền tuyến bằng những bông hoa đồng nội. Có hoa to đỏ rực Có hoa nhỏ vàng tươi. Màu đỏ, màu vàng rực rỡ ngời sáng trên nền lá xanh đen như màu cờ Tổ quốc… Càng gần đất lửa Quảng Bình càng nhiều bông lau, cờ lau của Đinh Bộ Lĩnh vẫy gọi ta… Ngắm hoa khu 4 mà lòng nghĩ ngợi nhiều. Nếu không là hoa kia đỏ thắm, vàng rực. Nếu không là bông lau kia phấp phới như cờ, thì chỉ có thể là … hoa cứt lợn, nhợt nhạt, nhỏ li ti trên cây thấp lè tè! Dất lửa là nơi thử lửa. Nếu không dũng cảm, không muốn hy sinh, thì chỉ còn là hoa cứt lợn”

Bắt tay vào việc bốc dỡ hàng quân nhu từ tàu thì Tiến Lên có ngay bài thơ Ý kiến B tôi sáng tác của tập thể Tổ I: “B ta bàn chuyện giải phóng tàu / Trước đây giải phóng rất là lâu / Ba, năm sáu giờ hay hơn nữa/ Uể oải mới xong được một tàu/ Thấy B Tuyên Quang giải phóng nhanh/ Cứ hai ba tiếng xong một tàu/ Vì sao B bạn làm nhanh thế? B ta tranh luận chậm vì đâu/ Họp bàn thảo luận thật là hăng/ Cuối cùng đi đến kết luận rằng: / Bởi tác phong và ý thức/ Của mỗi chúng ta phải đổi thay/ Kết quả giải phóng thật là hay/ Hai tiếng đã xong hẳn một tàu/ Khi tàu thứ hai vừa cập bến/ Chưa đầy tiếng rưỡi đã làm xong/ Tác phong B ta tiến hằng ngày/ Vẫn duy trì tốt thật là hay/ Ý thức khi làm đầu chú trọng/ Quyết tâm giữ vững chẳng hề lay.”

y kien b toi

Nhưng chính tập thể đó đã có bài Bệnh trọng B ta, chỉ ra  việc chỉ đạo phân công hằng ngày còn chưa khoa học, kiên quyết khiến anh em cứ phải chờ đợi mất thời giờ

Benh trong B ta

Xa nhà, xa quê, là có Thư về hậu phương của Đại Hải: “Tôi viết thư này về hậu phương/ Gửi bạn thân mến của tôi/ Hằng ngày sống ở miền Đất Thánh/ Tôi kể bạn nghe sức mạnh của đoàn quân/ Vô khu bốn tiếp sức cho tiền tuyến/ Khi đoàn xe mới đến bến sông Gianh/ Tất cả vì chiến dịch VT5/ Tất cả để giải phóng nhanh bến bãi/ Bao đồng chí vui mãi với giọng hò/ Bên anh hát đối với bên o/ Rất say sưa át gió mùa đông bắc/ Chuyển hàng nhanh về tới đích/ Của những người xung kích lái xe/ Bạn hãy lắng nghe: / Bước chân của chúng tôi đang nhịp nhàng, thoăn thoắt hăng say/ Cho tàu ta thêm chuyến, cho xe ta thêm vòng quay, cho Quảng Bình quê ta hằng ngày đổi mới/ Cho các em nhỏ vui tới trường làng/ Góp phần mau giải phóng miền Nam/ Cả hai miền hân hoan vui đón Bác Hồ”.

Về sống với dân Quảng Bình một thời gian, ngày 16/1/1969 tôi đã viết cho Tiến Lên tâm sự một người con Hà Nội gốc đến bốn đời bài Đâu là đất thánh? ký tên Đoàn Viên. Bài mở đầu như sau: “Người Hà Nội ta thường tự hào gọi đùa Thủ đô là ĐẤT THÁNH. Người các tỉnh cũng thường gọi Thủ đô là ĐẤT THÁNH. Ý muốn nói Thủ đô là nơi thiêng liêng đáng kính, đáng trọng, ai ai cũng mơ ước được đến, được sống ở Thủ đô, trái tim của cả nước.

“Tôi cũng nghĩ thế… Song từ khi vào khu 4, từ khi sống với đồng bào Quảng Bình, tôi lại nghĩ hơi khác. Tôi thấy Quảng Bình này mới thật là ĐẤT THÁNH, vì ở đây có những con người, có nhân dân THẦN THÁNH. Tôi đã thấy…Đồng bào ăn vỏ lót củ sắn (khoai mì) luộc trộn làm nộm, nấu canh, còn phơi khô để khi thiếu đem xào tép, ghế cơm hoặc ăn thân cây đu đủ muối kho, ăn rau huyến một thứ cây như cây ở Hà Nội ta trồng làm cảnh trong vườn hoa. Cơm thì bữa nào cũng độn sắn, độn khoai, một công lao động chỉ được một hào chỉ…Vậy mà không một lời kêu ca, oán trách đồng bào đã cho vay lương thực, mỗi gia đình nhường hẳn hai tháng ăn cho bộ đội. Mặc dù mình đang thiếu ăn… Quà là THÁNH thật!

“Tôi cũng đã thấy… đồng bào ở trong những căn hầm ẩm và bí hơi (…) Quả là THÁNH thật!

“Tôi đã thấy …đồng bào cho con em đi học dù nhà rất nghèo (…) các cháu vê đất sét làm phấn, lấy nhọ nồi, muội đèn và lá khoai lang trét cho tấm ván thành bảng đen (…) Quả là THÁNH thật!

“Và tôi còn thấy đồng bào lao động, cày cấy trên những thửa ruộng đất cát xấu, chi chít hố bom; trời rét mà các cháu trai vẫn dậy từ mờ sáng giũi tôm, tép, cá nhỏ! Các bé gái ngâm mình dưới sông với bèo cho lợn” Và kết luận: “Quảng Bình, đất của nhân dân thần thánh, mới thật xứng đáng với tên gọi ĐẤT THÁNH”.

Ngày 15/1/1969, bạn V.C. viết Bạn Nhỏ Quảng Bình kể chuyện một em trai trong gia đình cho chúng tôi ở nhờ: “Bạn nhỏ Quảng Bình tôi sống gần/ Có tên thật đẹp Phan Văn Ân/ Sáng học, giũi tôm từ buổi sớm/ Tuổi tuy còn nhỏ rất chuyên cần/ Còn tôi chỉ có làm ca sáng/ Tung chăn trở dậy cũng ngại ngần/ Tuổi đời, hành động đều trái ngược/ Tôi học bạn tôi ở nhiều phần.” Ghi chú: “Em Phan Văn Ân là con trai bác Phan Văn Huân, 15 tuổi, rất chăm học, chăm làm. Những ngày rét vẫn dậy từ 2, 3 giờ sáng đi giũi tôm tép rồi mới đi học”. Đọc đến đây thì tôi nhớ ra là Phạm Văn Cường sống cùng tôi ở nhà này, đã rất mết phục em và làm bài thơ này như giãi bày tâm sự riêng.

Xa quê, nhớ nhà, trời lại lạnh nên các bạn trẻ hút thuốc rất nhiều. Hết thuốc, dù trời mưa nhỏ, lại lạnh, các chú nhất quyết vào núi tìm mua thuốc lào. Tôi đi theo, khuyên các bạn bớt hút thuốc, có hại cho sức khỏe đó. Các chủ bảo anh bỏ ăn ớt thì tụi em bỏ thuốc, anh thấy sao? Tôi đáp ngay: Thế thì các chú cứ mua thuốc đi, để anh đi mua ớt. Không có ớt, tôi khó nuốt nổi cơm ở đây. Tiến Lên có ngay bài Nỗi lòng anh nghiện của tác giả… Chàng Nghiện. Bài thơ được truyền khẩu khắp đội lan sang cả bốn đội tỉnh bạn.

Noi long anh nghien

Nhớ khi Hà Nội hôm nào/ Điện Biên Tam Đảo Đơ nao (Tên thuốc lá bán ở Hà Nội – PT) thiếu gì/ Vô đây đành tạm biệt ly/ Sang Lào nhả khói qua cơn nhớ buồn/ Trông qua có vẻ đáng thương/ Tay cầm ống điểu cổ vươn thật dài/ Thuốc lào ta đánh một bài/ Phùng má trợn mắt, làn dài khói tuôn/ Thương cho ống điếu luôn luôn/ chuyền ta trai trẻ, khói tuôn mịt mù/ Những khi vắng… điếu, mặc dù/ Ống bầu, cọng đủ khói mù tỏa ra/ Dù cho thiếu thốn chúng ta/ Chẳng vì chuyện nhỏ đòi ra Hà Thành. / Hiên ngang sống chốn cảng Gianh / Xa Trường Tam Điện đã có anh thuốc lào”

Da la quan tu - Ban cuĐúng là bài thơ một chàng nghiện dốc bầu tâm sự. Chính vì thế, khi nhận được thuốc lá từ Cảng Hà Nội gửi vào cho anh em, nhà thơ lại có ngay bài ký tên Thuốc Lào nhan đề  Gặp Bạn Cũ chứa chan tình cảm: “Nay gặp lại bạn Trường, Tam, Điện/ Lòng rộn vui quí mến biết bao/ Nhớ ngày kết nghĩa Thuốc Lào/ Cọng bầu, ống đủ quên sao nghĩa tình/ Hôm nay mình gặp mình rồi nhỉ/ Vừa hôn nhau vừa kể sự tình/ Năm nay ăn Tết Quảng Bình/ Xuân này đã có bạn mình hòa vui.

Tiến Lên còn có các bài phê phán thói hư lười biếng, tiêu xài hoang phí của anh em khi được lĩnh lương. Nhà thơ Sắn Xơ kể chuyện Tâm sự nàng chiếu: “Em là… cái chiếu cá nhân/ Cũng như các bạn, kết thân với người/ Chẳng may vớ phải anh lười/ Ba tháng không giặt, cuộc đời khổ đau/ Về đây vẫn ở với nhau/ Thấy anh chẳng ốm chẳng đau, chỉ Mot ngay toi - Ly luan caovờ/ Nghỉ làm. .. đánh tú lơ khơ/ Hoặc nằm hát láo, ngâm thơ… đĩ tình/ Suốt ngày em nặng trên mình/ Phải mang một gã lười mình chẳng ưa/ Ước gì anh ấy chịu chừa/ Giả đau giả ốm hòng lừa cấp trên/ Nhạc vàng, lãng mạn không nên/ Thì em có nặng, cũng quên nhọc nhằn”.

Bạn Văn Chăn lại có một bài Một ngày toi! : “Hôm nay giá rét quá trời ơi! / Bỗng nghe ai gọi đến tên tôi/ Sáng đông, mưa lạnh, trời gió bấc/ Đi làm? /Hay nghỉ??/Nghỉ đi thôi!! Xem ra thì cũng vô kỷ luật,/ Song nghỉ một hôm, chửa phải… tồi/ Ta giả vờ… đau, chơi và ngủ/ MỘT NGÀY TIỀN TUYẾN THẾ LÀ …TOI!!! Bạn Tiểu Nhân có bài thơ chẳng tiểu nhân chút nào, nhan đề Đã là quân tử: “Đã là “quân tử” phải hơn người/ Đã là “quân tử” biết cách chơi/ Làm lười nhưng lại ham ăn uống/ Da la quan tu - Ban cuĂn năm bảy bát mới đủ chơi/ Hết tiền “quân tử” đi văn mượn/ Hôm sau quân tử lại đi xơi/ Mời ông đi qua bà đi lại/ Ghé xem quân tử lạ trên đời”.

Lại có một truyện ngắn nhan đề Hai chú lớn và một cháu gái bé Quảng Bình của bạn Công nhân kể chuyện hai công nhân trẻ bàn nhau hôm sau được nghỉ sẽ dậy sớm dọn dẹp nhà cửa giúp nhà chủ để “dân vận”. Nhưng rồi trời đông giá rét, hai anh mấy lần định dậy nhưng lại lăn đùng ra ngủ lại! Đến lúc hai anh dậy được, ra sân giải quyết việc nhỏ buổi sáng thì thấy cháu gái mới học vỡ lòng mời anh chú vào nhà, bưng nồi sắn luộc nóng hổi mời hai chú ăn và nói: Mự cháu nhủ rứa! (Mẹ cháu bảo thế).

Hai chu lon va mot chau gai be

Gần Tết Kỷ Dậu 1969, chúng tôi nhận được một tin quá mừng: Ban giám đốc Cảng Hà Nội sẽ vào Quảng Bình thăm anh em thanh niên xung phong công tác ở Cảng Gianh. Cũng chính khi ấy, chúng tôi đang tập trung làm công tác tư tưởng bằng biện pháp tổng hợp nhằm mục tiêu là không thanh niên nào có ý nghĩ sẽ về Hà Nội ăn Tết với gia đình. Chúng tôi chia ba phân đoàn thành ba nhóm đặc nhiệm. Một nhóm chuyên lo trò chơi. Một nhóm lo tập luyện chương trình ca hát. Và nhóm cuối do chị Trịnh Thị Thành phụ trách quà thưởng trò chơi và bữa ăn ngày Tết. Ai cũng bận, đi làm về là lo việc của nhóm mình, thi đua với các nhóm bạn, còn đâu thời giờ mà buồn, nhớ nhà. Chúng tôi còn chia nhau đi thăm, trò chuyện với các bạn gái, đương tuổi mới lớn, hay buồn vẩn vơ. Tôi và Phạm Văn Cường ở cùng nhà đi thăm nhà có bạn gái nhỏ mới bị bỏng khi nấu cơm, lỡ hắt xăng vào củi ướt để nhóm lửa. Đúng lúc em đang đăm đăm nhìn bếp lửa. Em bảo: Sao lửa bếp này giống lửa bếp nhà em quá. Tôi biết cô sắp khóc, mà con gái khóc thì hay lây, rồi cả nhóm sẽ ôm nhau khóc. Vội kể chuyện vui: đi binh trạm về, gặp mấy cô thanh niên xung phong ngồi nghỉ bên bờ biển, mắt đỏ hoe. Các cô đi lấy thịt về cho đơn vị ăn Tết, nghĩ đến Tết lại nhớ nhà. Tôi kể chúng tôi cũng có nhiều cô gái, mà đi từ Hà Nội. Tết này chúng tôi được phân phối mỗi đầu người được có một lạng thịt lợn, đâu có nhiều mà gánh mỏi vai, nặng đến phát khóc như các cô thế này. Mà con gái Hà Nội cả đấy. Các cô cười tôi mới đi. Tuy vậy, bận mấy cũng phải có số Tết Tiến Lên chớ, chào đón giám đốc cơ mà.

Cuối cùng Tiến Lên số Tết cũng ra đời với tranh to hai bên khung liếp dán báo.  Bên trái là: Năm Dậu đọc một bài thơ về con gà. Tranh vẽ trang sách mở ghi Hồ Chí Minh – Nhật ký trong tù và bên trang kia là bài thơ Tiếng gà gáy: “Mi tuy chỉ một giống gà thường/ Báo sáng ngày ngày tiếng gáy vang/ Một tiếng năm châu bừng tỉnh giấc/ Công mi đâu có phải là thường – Hồ Chí Minh”. Phía dưới là những hàng chữ to: “Mừng Xuân mới B ta phấn khởi đón đoàn đại biểu Cảng Hà Nội (viết chữ đỏ) thân yêu vào thăm, chúc ta năm mới giành càng nhiều thắng lợi”. Tranh to bên phải vẽ một chú gà trống to đang mổ… chú Sam và tay sai với lời ca “Cúc cu cúc cu… / Chú gà Kỷ Dậu / Mổ Mỹ vỡ đầu/ Mổ ngụy bể sọ/ Coi Mỹ như sâu/ Coi ngụy như bọ/ Cất tiếng gáy to/ Chúc mừng năm mới (chữ đỏ) / Chào mừng thắng lợi! / Nam – Bắc vui tươi/ nước nhà thống nhất (Chữ đỏ)/ vui thật là vui / cúc cu cúc cu…” Còn hai câu đối viết: Hà Nội (chữ đỏ) Bạn mừng xuân đạt thành tích lớn” và đối lại là: “Quảng Bình (chữ đỏ) Tôi vui Tết lập chiến công to”. Ngang đầu khung báo là khẩu hiệu: Kính chúc Bác Hồ sống lâu muôn tuổi. Ngay dưới là ảnh Hồ Chủ tịch ngồi và bài thơ chúc Tết của Người Xuân 1969: “Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/ Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên chiến sĩ đồng bào!/ Bắc – Nam sum họp xuân nào vui hơn”.

Ngay dưới là Thiếp chúc mừng năm mới của Tiến Lên kèm bài thơ

Năm nay ăn Tết Quảng Bình/ Sống trong một đại gia đình công nhân/ Dù xa cha mẹ người thân/ Chia vui đã có nhân dân vui cùng/ Ngọt bùi ta sẽ hưởng chung/ Vui xuân ở đất anh hùng Cảng Gianh/ Cố lên các chị các anh/ Quyết tâm mọi mặt lập thành tích chung/ Quyết tâm đánh Mỹ đến cùng/ Bắc – Nam sum họp ta cùng thưởng xuân. Bài này không ghi tên tác giả, có lẽ Bùi Lê Nghiên làm thay mặt báo thôi. Cũng còn một bài thơ nữa, không rõ ai viết, nhan đề Chú gà Kỷ Dậu: “Chào mừng Xuân Kỷ Dậu / Chiến thắng lớn mở đầu / Như tiếng gà gáy vang/ Bình minh chẳng còn lâu / Chú gà Kỷ Dậu ơi!/ Ta yêu chú nhất đời/ Vì chú sẽ đem tới/ Niềm vui khắp nơi nơi/ Chú gà Kỷ Dậu ơi! / Hãy tin ở chúng tôi: / Người công nhân bốc dỡ / Vai vác cả đất trời! / Lòng hân hoan phấn khởi/ Giành xuân mới vui tươi/ Người người đều quyết tâm/ Hướng tiền phương xốc tới…/ Chú gà Kỷ Dậu ơi!/ Hãy cất cao tiếng gáy/ Vui vỡ đất, nổ trời!/ Mừng thắng lợi/ hôm nay!

Chuc mung nam moi bao tuong Quang Binh

Tất nhiên, cái đinh của báo Tết luôn là báo cáo của Táo quân. Tiến Lên số Tết cũng có táo quân, nhưng lại có những hai táo: Táo Bắc và Táo Nam. Cả hai đều lên báo cáo Ngọc Hoàng. Mở đầu là “Hai táo: báo cáo, báo cáo/  Chúng thần là táo/ Lên báo Ngọc Hoàng/ Ở dưới trần gian/ Thi đua ghê quá/ Táo Bắc khen Nông nghiệp, công nghiệp đều tiền mạnh, rồi đến: “Công tác vận tải/ Lại tiến càng xa/ Chính năm vừa qua/ Lấy đầ tiến mạnh/ Dù cho Mỹ đánh/ Lại càng tiến nhanh/ Trên đất cảng Gianh/ Năm nay đại thắng/ Thắng đủ các mặt/ Xe đủ người nhiều/ Tầu về bao nhiêu/ Đều bốc xếp gọn/ Họ còn lựa chọn/ Một đoàn cảng sông (là đoàn ĐS5 gồm cảng sông 5 tỉnh Hà Nội, Hà Bắc, Tuyên Quang, Nam Định, Hải Dương – PT chú)/ Họ làm thật không/ đoàn nào theo kịp/ Thần báo cáo tiếp/ Tất cả nhân dân/ Đều đã góp phần/ Làm tròn kế hoạch.

Ngọc Hoàng: Miền Bắc rõ thật/ Anh dũng kiên cường/ Còn miền Nam đó/ Nói cho ta rõ/ Chống Mỹ thế nào/ Táo Nam : Đầu năm bước vào/ Đã nhiều thắng lớn/ Giặc Mỹ khốn đốn (…) Miền Nam nhất định/ Đánh cho Mỹ về/ Đã quyết tâm thế./ Đồng lòng giải phóng/ Nhân dân muốn chóng/ Thống nhất nước nhà/ Bắc – Nam đoàn tụ. Ngọc Hoàng: Nói thế là đủ/ Ta hiểu rõ rồi/ Cho các thần lui/ Về thăm dân chúng. Hai táo. Các thần xin lui/ Trở về hạ giới”

Tết Kỷ Dậu ấy chúng tôi thật vui. Để tránh cho các bạn khỏi chứng kiến cảnh xum họp gia đình và cỗ bàn của bà con, chúng tôi tổ chức thi ca hát, nam nữ đối đáp suốt tối 30. Sáng sớm mồng một lại kéo nhau ra bờ sông Gianh chơi kéo co, cướp cờ, còn có tiết mục đặc biệt đập vỡ đầu Mỹ bịt mắt cầm gậy đập vào cái đầu mắt xanh mũi lõ lưỡi lè dài làm bằng củ cuối to do tổ 1 kỳ công tạo nên. Thấy vui, thanh niên, chủ yếu là nữ, Quảng Bình cũng tham gia. Hết kẹo thưởng, chị Thành phụ trách việc này nói anh em nhường cho bạn, mình người nhà lĩnh thưởng sau (?!) ai cũng vui. Các cô gái Quảng Bình vừa  được chơi vừa được thưởng kẹo. Anh em ta thì tự hào là người Tràng An đúng là thanh lịch, biết nhường nhịn.

Sau Tết mấy hôm đoàn Hà Nội mới vào, dẫn đầu chỉ là trưởng phòng tổ chức Mai Văn Sính thay mặt đảng ủy, ban giám đốc, công đoàn. Quà cáp không ít, vừa của cảng, của đội I, đội 3 và gia đình. Đáng tiếc là bánh chưng tuy to, nghe nói là ngon vì rất nhiều thịt, mỗi người được hẳn một cái, nhưng vì trời nóng quá, đi đường xa, thiu hết, không ăn được. Dù sao quà và thư nhà cũng làm chúng tôi vui rồi. Tiến Lên lại được giải nhất năm tỉnh.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/7/2021,

đợt 4 giãn cách Covid-19 cách ly nghiêm ngặt nhất.

P.T.

Tư liệu nhà văn Sơn Tùng – “GIẾT MỘT HỌC GIẢ NHƯ VẬY THÌ NHÂN DÂN TA ĐƯỢC GÌ? CÁCH MẠNG ĐƯỢC LỢI ÍCH GÌ? (…) ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI XẤU!”

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 7:06 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 8 năm 2021.

TƯ  LIỆU CỦA NHÀ VĂN SƠN TÙNG

VỀ MỐI THÂN TÌNH GIỮA

NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH VỚI

THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Sơn Tùng có nhã ý “ký thác” toàn bộ những sưu tầm của ông trong nhiều năm “Về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với Thượng Chi – Phạm Quỳnh” mà ông trân trọng gọi là “bậc danh nhân văn hóa” cho “nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình kính quí”. Tập tư liệu chép tay quý giá này tròn 20 trang, viết xong ngày 8/12/2008, tức 12/11 Mậu Tý, tại Hà Nội – Chiếu Văn.

Nay, nhà văn đã đồng ý với đề nghị của nhạc sĩ Phạm Tuyên, cho công bố những trang viết của ông trên blog của chúng tôi.

Từ hôm nay, chúng tôi xin trích đăng tập tư liệu với tiêu đề từng phần và lời dẫn, lời bình của chúng tôi.

Xin chân thành cảm ơn thâm tình của nhà văn và xin mời bạn đọc bắt đầu theo dõi tập tư liệu có một không hai này.

—-o0o—-

PHẦN 2: “GIẾT MỘT HỌC GIẢ NHƯ VẬY THÌ NHÂN DÂN TA ĐƯỢC GÌ? CÁCH MẠNG ĐƯỢC LỢI ÍCH GÌ? (…) ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI XẤU!”

Lời dẫn của Phạm Tôn: Những lời nói ngay từ tháng 9/1945 khẳng định chắc chắn, dứt khoát ấy của Hồ Chủ tịch đã được thuật lại rõ ràng trong bài Phạm Quỳnh, Người nặng lòng với nước, đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, số 140, tháng 8/2006 và bài Người nặng lòng với nước, đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 267, tháng 9/2006.

—-o0o—-

Sau khi thoái vị, cựu hoàng Bảo Đại – Vĩnh Thụy nhận lời mời Hồ Chủ tịch ra Hà Nội, ngày 4/9/1945. Ngay hôm sau, ngày 5/9, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghênh tiếp cựu hoàng Bảo Đại – Vĩnh Thụy tại Bắc Bộ phủ từ 8-9 giờ. Và ngày 10/9 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 23/SL cử ông Vĩnh Thụy làm cố vấn Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Tiếp theo, các vị cựu Thượng thư Bộ Hình Bùi Bằng Đoàn, cựu Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, cựu Tổng đốc Vi Văn Định, cựu Tổng đốc Hồ Đắc Điềm ứng đáp lời mời Hồ Chủ tịch ra gánh vác việc nước. Trong thời khắc này ông Tôn Quang Phiệt, chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng Thừa Thiên – Huế, ông đến nhà số 8 Lê Thái Tổ bên Hồ Gươm gặp Bác Hồ (từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội, Bác ở nhà 48 Hàng Ngang của ông bà Trịnh Văn Bô – Hoàng Thị Minh Hồ một nhà tư sản yêu nước, danh nho. Bác viết Tuyên Ngôn Độc Lập tại đây. Sau ngày người đọc Tuyên Ngôn Độc Lập 2/9, Bác về ở nhà số 8 phố vua Lê Thái Tổ, hằng ngày đến Bắc Bộ phủ làm việc.)

Ông Vũ Đình Huỳnh kể:

– Ông chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế Tôn Quang Phiệt đến Bắc Bộ phủ, đồng chí thường trực văn phòng đưa khách vào phòng đợi rồi đến báo với tôi. Tôn Quang Phiệt, một danh sĩ tôi nghe tiếng từ lâu, nay mới gặp lần đầu. Hai chúng tôi tay bắt mặt mừng… Anh xin được gặp Ông Cụ, nhiều vấn đề phải thưa ngay với Cụ. Tôi hẹn anh Tôn Quang Phiệt, hiện giờ Ông Cụ đang bàn công việc khẩn, tướng Lư Hán đến Hà Nội rồi. Sáng mai Ông Cụ hội đàm với Lư Hán… Tôi vào phòng họp, báo với Bác: – Ông Tôn Quang Phiệt trong Huế ra đang ở phòng khách, xin Bác cho gặp chiều hôm nay, có được không. Lúc nói đến ông Tôn Quang Phiệt, Bác và anh Võ Nguyên Giáp đều biểu lộ sự vui mừng tái ngộ. Bác nói: – Ông Tôn Quang Phiệt là chỗ quen biết. Ngày còn nhỏ, tôi theo cha lên Võ Liệt, Nguyệt Bồng huyện Thanh Chương để học, Tôn Quang Phiệt bấy giờ độ 4,5 tuổi…Chú Tư hẹn với chú Phiệt đúng 16 giờ gặp nhau ở “Bát số” (số 8, phố vua Lê Thái Tổ – tiếng lóng, mật hiệu). Chiều hôm ấy, Hồ Chủ tịch làm việc với ông Tôn Quang Phiệt tại đây. Chính trong buổi làm việc này, ông Tôn Quang Phiệt báo với Hồ Chủ tịch: “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi!” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) Bác thu hai cánh tay vào sát ngực tựa lên mặt bàn, lặng ngắt một lúc…Người nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì?” Người duỗi hai tay ra mặt bàn: “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu!”

PHẦN 3: “LÚC NÀY CÒN CỤ PHẠM QUỲNH THÌ…”

Hồ Chủ tịch, Thượng khách thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp từ 31/5 đến 20/9/1946. Ông Vũ Đình Huỳnh tháp tùng Hồ Chủ tịch. Ông Vũ Đình Huỳnh vừa nói, vừa mở tập Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp –Đ.H viết là sở cứ: …“Pháp không chịu công nhận Việt Nam độc lập mở chiến tranh xâm lược ở Nam Bộ từ 23/9/1945 đang lan rộng ra Nam Trung Bộ mà lại mời Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thượng khách thăm chính thức nước Pháp, đó là điều chưa từng có trong lịch sử. Còn kỳ lạ hơn, sau lễ đón nghi thức nguyên thủ quốc gia tại phi trường Le Bourget ngày 22/6/1946, Hồ Chủ tịch về nhà khách chính phủ Royal Monceau. Tại đây, liên tiếp các chính khách, các nhà văn hóa danh tiếng, các tướng lĩnh, các văn nghệ sĩ, báo giới, các đảng lớn ở Pháp… đến chào Hồ Chủ tịch.

Người đến chào Hồ Chủ tịch đầu tiên là Đại tướng Juin, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp. Rồi Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại Moutet, Bộ trưởng Justin Godart, nhà kiến trúc sư danh tiếng Francis Jourdain, giáo sư nghị viện Privet CTS Paillet, tướng Petit, chủ tịch báo giới Cộng hòa Pháp Bayet, trạng sư Nordman, văn sĩ Bloch, bà Cotton lãnh tụ phụ nữ Dân chủ. Điều lạ là, Đảng Cộng hòa bình dân (MRP- đảng của thủ tướng Bidault) do ông Schuman chủ tịch đảng dẫn đầu đoàn, ông Francisque Gay – Bộ trưởng, ông Michelet – Bộ trưởng, ông Collin ủy viên trung ương, ông Gortais ủy viên trung ương, ông Debey- ủy viên trung ương, ông Ammury ủy viên trung ương, ông Terrenoir – ủy viên trung ương, ông Max André- trưởng đoàn đại biểu Pháp, Hội nghị Việt Pháp tại Fontainebleau. Kế đến là đoàn Đảng Xã hội Pháp đến chào Hồ Chủ tịch gồm có bà Morty Capgras, ông Moutet – Bộ trưởng, ông Philip-Bộ trưởng, ông Luyssy nghị viên, ông Rosenfeld- Viện sĩ, ông Boutbrien- bác sĩ và các ủy viên trung ương Roux, Stble, Dechezelles… Hồ Chủ tịch từng sinh hoạt trong đảng Xã hội… các vị vui chuyện với Người suốt 8 giờ tối đến 2 giờ sáng… Đoàn Đảng Cộng sản Pháp: Hai ông bà Cachin, Thorez Phó chủ tịch chính phủ, bà Braun Phó chủ tịch Quốc hội, bà Jeannette Vemersche nghị viên, bà Vaillant Couturier nghị viên, Duclos Phó chủ tịch Quốc hội, Marty ủy viên trung ương, Mauvais ủy viên trung ương, Billoux Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Tillon Bộ trưởng Bộ quân khí…

Một đoàn văn sĩ, thi sĩ lừng danh thế giới đến chào Hồ Chủ tịch: Triolet, Aragon, Richard Bloch, Boene, Moussinac, Masson, Séghers, Pierre Emmanuel. Ông bà Joliot Curie hai nhà bác học thế giới đến chào Hồ Chủ tịch rất thân tình, đàm đạo gần hai tiếng đồng hồ. Về sau, hai nhà bác học Joliot Curie còn gặp Hồ Chủ tịch mấy lần…Lại…không thể tưởng tượng nổi, nhà danh họa Picasso gặp Hồ Chủ tịch ôm choàng lấy nhau hồi lâu! Vừa hàn huyên Picasso vừa ký họa chân dung Hồ Chủ tịch. Bức chân dung lịch sử ấy người giao cho tôi cất giữ. Hơn hai mươi năm sau tôi gặp họa, bị khám nhà nên không còn nữa.

Đến như cựu Toàn quyền Đông Dương hai lần A.Saraut cùng với con rể là Thượng sứ Sainteny đến chào Chủ tịch Hồ Chí Minh và ôm chặt lấy Nguyễn Ái Quốc năm xưa trước quan khách trong bữa tiệc long trọng!

Trước ngày khai mạc hội nghị Việt – Pháp tại Fontainebleau, Hồ Chủ tịch gặp mặt tất cả phái đoàn: ông Phan Anh, ông Bửu Hội, ông Hoàng Minh Giám, ông Nguyễn Văn Huyên, ông Trịnh Văn Bính, ông Dương Bạch Mai, ông Nguyễn Mạnh Hà, ông Tạ Quang Bửu, ông Đặng Phúc Thông, ông Huỳnh Thiện Lộc, ông Chu Bá Phượng, ông Hoàng Văn Đức. Trưởng đoàn là ông Phạm Văn Đồng. Lúc các thành viên đoàn Việt Nam vào đủ trong phòng, Hồ Chủ tịch nói với ông Phạm Văn Đồng, có ông Đỗ Đình Thiện và tôi (Vũ Đình Huỳnh): “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì…” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Người im lặng. Ông Đồng đáp lời: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà!…” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Mà cũng chỉ có Bác Hồ! Sau khi ở Pháp về, ngày 4/12/1945, trong phiên họp Chính phủ Người đề nghị trợ cấp hằng tháng cho hai bà Thành Thái, Duy Tân mỗi bà 500 đồng Đông Dương

Lời bình của Phạm Tôn: Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu năm nay 89 tuổi, vừa nhận giải thưởng “Nghiên cứu – 2008” của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, công nhận thành tựu suốt đời của cụ. Trong một lần vui chuyện cụ đã kể cho chúng tôi: Năm nọ, thành phố Hồ Chí Minh có yêu cầu Giáo sư Trần Văn Giàu và cụ chủ biên một tập sách giới thiệu toàn diện về Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh. Khi cùng làm việc với nhau, bỗng một hôm Giáo sư Trần Văn Giàu thở dài: “Giá như bây giờ còn cụ Phạm Quỳnh, có phải là đỡ không…” Câu nói ấy vô tình gần giống hệt lời Hồ Chủ tịch nói năm 1946, trước ngày khai mạc Hội nghị Việt Pháp tại Fontainebleau trên đất Pháp.

Địa chỉ liên hệ blog chúng tôi là:

PHẠM TUYÊN: N2  P305 Ngõ 40 Vạn Bảo, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: (+84) – 4 – 3832.5283
Mobile: (+84) – 913.043.580
Email: phamtuyen1930@yahoo.com.vn
hoặc
TÔN THẤT THÀNH: 82 Lý Chính Thắng, Phường 8, Quận 3, Tp.HCM
Điện thoại: (+84) – 8 – 3848.0803
Email: thanh.phamton@gmail.com

Blog tại WordPress.com.