Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 19, 2021

Ngay trước ngày quốc khánh đầu tiên, Hồ Chủ tịch đã tiếp hai con gái học giả Phạm Quỳnh

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:56 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 8 năm 2021.

KỶ NIỆM 75 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2/9:

NGAY TRƯỚC NGÀY QUỐC KHÁNH ĐẦU TIÊN,

HỒ CHỦ TỊCH ĐÃ TIẾP HAI CON GÁI HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

Dã Thảo

Trong  những ngày Cách Mạng Tháng Tám đang diễn ra sôi nổi khắp nước ta, mặc dù bận trăm công nghìn việc “quốc gia đại sự”, vậy mà ngay trước ngày Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hồ Chủ tịch vẫn dành thời gian vốn rất ít ỏi để tiếp hai bà con gái lớn của Phạm Quỳnh xin gặp Người sau khi biết tin cha bị bắt tại Huế.

Trong tư liệu VỀ MỐI THÂN TÌNH GIỮA NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH VỚI THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH (viết ngày 8/12/2008, tại Hà Nội) mà nhà văn Anh hùng Lao động Sơn Tùng đã có nhã ý ký thác cho nhạc sĩ Phạm Tuyên, có viết:

“Ngày 28/8/1945, Hồ Chủ tịch đến làm việc tại Bắc Bộ phủ, 12 phố Ngô ho-chi-minhQuyền. Một phái đoàn Trung ương – ông Nguyễn Lương Bằng, ông Trần Huy Liệu, ông Cù Huy Cận đã vào Huế dự lễ vua Bảo Đại thoái vị. Hôm phái đoàn lên đường rồi, Hồ Chủ tịch mới về Hà Nội, như chợt nhớ, Người nói với ông Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng – Tổng chỉ huy quân đội – Bộ trưởng Bộ Nội vụ; ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) – Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Lê Giản- Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam, Vũ Đình Huỳnh: “Chú Bằng (Nguyễn Lương Bằng), chú Liệu (Trần Huy Liệu), chú Cận (Cù Huy Cận) vô Huế rồi mình mới về thì đã trễ, giờ chú Nam (Hoàng Hữu Nam) hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế gặp Cụ Phạm Quỳnh, trao thư tôi mời Cụ…” (Chúng tôi nhấn mạnh – DT).

Hai hôm sau, ông Hoàng Hữu Nam đến báo cáo với Hồ Chủ tịch: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt (Chúng tôi nhấn mạnh – DT), Hoang Huu Nam Phan Boihai người con gái của ông ở Hà Nội, gặp tôi thổ lộ việc này”. Hồ Chủ tịch để điếu thuốc đang hút dở xuống gạt tàn, nói lửng: “Bất tất nhiên”! (Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội 1992) thì Bất tất nhiên có nghĩa là: “Không nhất định phải như thế, có thể ra cách khác được.) (Chúng tôi nhấn mạnh – DT). Người hỏi ông Hoàng Hữu Nam:

– Hai chị ấy tên là gì?

Ông Hoàng Hữu Nam trình bày:

– Dạ…Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức, thưa Bác.

– Chú mời hai chị em cô ấy gặp tôi, chú Tư (Vũ Đình Huỳnh) sẽ sắp xếp ngày giờ gặp…

Ông Hoàng Hữu Nam tươi cười kể lại với Bác là chị Giá, chị Thức bày tỏ xin được gặp Cụ Hồ, nhưng chưa dám hứa chắc vào lúc nào…

Sau buổi làm việc này, ông Vũ Đình Huỳnh trao đổi với ông Hoàng Hữu Nam, Hồ Chủ tịch sẽ tiếp “thân nhân Cụ Phạm” vào cuối buổi sáng ngày 31/8/1945 tại phòng khách Bắc Bộ phủ.

Ngày 31/8/1945, buổi sáng Hồ Chủ tịch rà xét lần cuối bản thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Ông Nguyễn Hữu Đang, Trưởng ban tổ chức ngày lễ Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 và bốn người nữa đến báo cáo với Hồ Chủ tịch về công việc chuẩn bị cho ngày lễ…

Đến 10 giờ 30 phút, ông Hoàng Hữu Nam báo với ông Vũ Đình Huỳnh: “Đã Vu Dinh Huynh va Ho Chi Minhmời thân nhân Cụ Phạm đến, đang ở phòng khách…”. Cụ Vũ Đình Huỳnh khi kể lại với tôi sự việc này, cụ nói trầm trầm như tâm sự: “Tôi nghe danh ông Phạm Quỳnh từ một bỉnh bút, chủ nhiệm, chủ bút báo Nam Phong và Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Có đôi lần nhìn thấy ông khăn xếp áo the, kính trắng đi từ trụ sở Nam Phong phố Hàng Da, qua Hàng Bông đến trụ sở Khai Trí Tiến Đức, phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm. Tôi có biết chị Phạm Thị Giá, vợ giáo sư Tôn Thất Bình dạy Pháp văn ở trường Thăng Long cùng với cụ Phó bảng Bùi Kỷ, dạy Hán văn; các giáo sư Hoàng Minh Giám dạy Pháp văn, giáo sư Đặng Thai Mai dạy Pháp văn, giáo sư Võ Nguyên Giáp dạy văn, sử, địa, giáo sư Vũ Đình Hòe dạy văn, giáo sư Nguyễn Xiển dạy toán, lý… Còn chị Phạm Thị Thức là vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, cùng quê Nam Định với tôi, lại còn thân thuộc nữa. Cho nên, cái phút giây tháp tùng Hồ Chủ tịch đến gặp chị Giá, chị Thức tôi bùi ngùi thấy hai chị rụt rè, sợ sệt, chỉ một thoáng, hai chị xúc động mạnh trước cử chỉ Hồ Chủ tịch cầm tay hai chị thân tình, an ủi và mời ngồi vào ghế đối diện với Người. Người nói:

– “Tôi ở chiến khu Việt Bắc mới về Hà Nội, nghe tin chẳng lành về Cụ nhà ở Huế…”. Hồ Chủ tịch ngừng giây lát, nói tiếp: “Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ khó tránh được sự lầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi đang trên đường về Hà Nội (ngày 22/8/1945, Hồ Chủ tịch rời Tân Trào, Tuyên Quang). Chị Phạm Thị Giá trình bày sự việc cha bị bắt trong lúc đang làm việc tại nhà…Chị Phạm Thị Thức hai tay nâng phong thư lên Bác, Người nhận và chuyển sang tay cho tôi, dặn: “Chú chuyển sang Bộ Nội vụ”. Bác thân mật hỏi han hai chị em về tình hình gia đình ở trong Huế, ở Hà Nội…. Và “Những việc hai cháu vừa đề đạt, hai cháu sẽ trực tiếp gặp ông Hoàng Hữu Nam, Bộ Nội vụ nhá…”.

Đồng chí Bảy (Luật sư Phan Mỹ) Đổng lý văn phòng vào thỉnh thị Chủ tịch… Người đưa tay cầm chặt bàn tay chị Giá, chị Thức: – “Hai chị em về nhá, tôi có việc khẩn…”

Việc hai người con gái đầu của Phạm Quỳnh xin và được Hồ Chủ tịch tiếp từ 11 giờ sáng ngày 31/8/1945 đã được chính người chị là cụ Phạm Thị Giá sau này thuật lại tỉ mỉ như sau trong bài của nhà báo Phạm Tôn Phạm Quỳnh, Người nặng lòng với nước, đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, cơ quan của Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, số 140, tháng 8/2006, từ trang 99 đến trang 116, và bài Người nặng lòng với nước, đăng trên tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, số 267, tháng 9/2006, từ trang 15 đến trang 20.

Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ Bac bo phutìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn)[1] Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 Pham Thi Gia viet thugiờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).[2] Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.”

Điều này chứng tỏ đã là sự thật thì trước sau gì cũng được xác nhận từ các góc nhìn của những nhân chứng rất khác nhau. Thời đầu Cách mạng thật trong sáng. Chính quyền và nhân dân thật gần gũi. Người đứng đầu chính quyền Cách mạng lúc ấy dẫu bận trăm công nghìn việc, vẫn sẵn sàng, chân tình tiếp và lắng nghe tiếng nói của người dân, dù họ “thuộc diện có vấn đề”, không hề né tránh, để những bức xúc của người dân rơi vào “sự im lặng đáng sợ” như sau này.

Bức thư mà hai bà đưa cho Hồ Chủ tịch là do Phạm Khuê, con trai Phạm Quỳnh, hồi ấy còn là sinh viên trường Y Hà Nội, chấp bút viết theo ý của cả ba chị em có sự góp ý của hai anh rể là giáo sư Tôn Thất Bình và bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, sau khi nghe tin cha bị bắt ở Huế. Sau này ông trở thành bác sĩ, đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, giảng viên trường đại học Y Hà Nội, rồi Viện trưởng Viện Lão Khoa Việt Nam, Hội trưởng đầu tiên của Hội Người Cao Tuổi Việt Nam, được phong Nhà giáo Nhân dân, là đại biểu Quốc hội khóa X ứng cử tại quê cha Hải Dương với số phiếu cao nhất. Bấy giờ, nhạc sĩ Phạm Tuyên mới 15 tuổi, sống với mẹ và gia đình ở Huế, sau mới ra Hà Nội ở với chị cả Phạm Thị Giá.

Ton That Binh Pham Thi Gia Pham Khue Dang Vu Hy Pham Thi Thuc

——————————-

[1] Những người trong gia đình Phạm Quỳnh từ Huế ra Hà Nội đến ở nhà số 5 phố Hàng Da hồi đó gồm có: vợ Phạm Quỳnh, con cả Phạm Giao và bà vợ hai cùng ba người con là Quý (5 tuổi), Kim (3 tuổi), Loan (2 tuổi), Phạm Bích, Phạm Khuê, Phạm Tuyên (15 tuổi), Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Giễm, Phạm Thị Lệ, Phạm Tuân (9 tuổi), Phạm Thị Viên (7 tuổi). Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, giao thông còn khó khăn, tình hình xã hội chưa ổn định mà đưa được một số người đông như thế (trong đó có năm trẻ em dưới mười tuổi) vượt nửa đất nước ra đến Hà Nội an toàn, mạnh khỏe, đồ đạc mang theo nguyên vẹn, chính là nhờ sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng non trẻ, do chính ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) đã thực hiện lời hứa “tư” vào trong ấy giải quyết.

[2] Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy,báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

D.T.

Vì sao Phạm Khuê viết được ngay bức thư gửi cụ Hồ?

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 2:19 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 8 năm 2021.

VÌ SAO PHẠM KHUÊ VIẾT ĐƯỢC NGAY BỨC THƯ GỬI CỤ HỒ?

Blog PhamTon

Sau khi chúng tôi đưa lên blog bài của Dã Thảo Ngay trước ngày Quốc khánh đầu tiên, Hồ Chủ tịch đã tiếp hai con gái học giả Phạm Quỳnh, trong đó có chi tiết: “Bức thư mà hai bà đưa cho Hồ Chủ tịch là do Phạm Khuê (…) chấp bút viết theo ý của ba chị em, sau khi nghe tin cha bị bắt ở Huế”, nhiều bạn đọc cả trong và ngoài nước đã hỏi vì sao Phạm Khuê 20 tuổi, sinh viên trường Y ở Hà Nội lại có thể biết rõ và viết được ngay bức thư gửi Hồ Chủ tịch nói về việc cha bị bắt ở Huế, để hai chị kịp đưa lên Hồ Chủ tịch nếu được Người nhận tiếp. Vì Phạm Quỳnh bị bắt trưa 23/8 mà ngày hai bà được gặp Cụ Hồ lại là ngày 31/8/1945, chỉ vẻn vẹn một tuần. Mà còn phải viết trước, vì chưa biết khi nào được tiếp. Thời gian gấp gáp như vậy, trong khi hồi đó, giao thông liên lạc trong nước ta còn rất lạc hậu, sao có thể nhanh như vậy được. Tóm lại, sự thật có phải như đã viết không?…

Chúng tôi cảm động trước sự quan tâm của bạn đọc đến mức chú ý cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong các bài viết trên blog. Chính vì thế, sau khi được hỏi, chúng tôi bắt tay ngay vào việc rà soát lại các tư liệu gốc (đặc biệt là tư liệu 10 trang viết tay của Thiếu tướng Phan Hàm viết ngày 8/11/1993 gửi Tuyên huấn Thừa Thiên Huế và bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà của Phạm Tôn đăng trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển của Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên –Huế số 3 (56). 2006), gặp gỡ trực tiếp hoặc qua điện thoại với những nhân chứng hoặc người biết rõ sự việc Phạm Quỳnh bị bắt trưa 23/8/1945. Đến nay, đã có thể trình bày vắn tắt với các bạn như sau.

Năm 1945, gia đình Phạm Quỳnh vẫn ở Huế như từ năm 1932 khi ông vào Huế làm quan. Riêng Phạm Khuê đang học đại học Y khoa Hà Nội cho nên ra sống ở Hà Nội tại nhà số 5 phố Hàng Da với gia đình bà chị cả Phạm Thị Giá cùng chồng là giáo sư Tôn Thất Bình, hiệu trưởng Trường Thăng Long. Nhưng khi Cách Mạng Tháng Tám bùng nổ thì Phạm Khuê lại ở Huế vì đang được nghỉ hè. Và đúng ngày 23/8 định mệnh ấy, anh có mặt tại Huế. Nhưng khi cha bị bắt thì …  lại không có mặt ở nhà! Vì từ sáng sớm hôm ấy, nghe có tin “cách mạng sẽ tổ chức cuộc mít tinh lớn tại sân vận động Huế, mời đông đảo đồng bào tham dự”, thì Phạm Quỳnh đã bảo các con trai lớn và người giúp việc trẻ trong nhà chuẩn bị tham gia, lại dặn mua sẵn cờ đỏ sao vàng nhỏ cầm khi đi mít tinh. Mấy hôm trước, biết tin Cách Mạng Tháng Tám thành công ở Hà Nội, Phạm Quỳnh đã bảo người nhà, vợ và các con gái lấy hết vải đỏ, vải vàng nhà hiện có, hạ cả các màn bàn thờ hai màu đó để may gấp cờ đỏ sao vàng treo khắp mặt tiền nhà. Ông bảo “Nước ta độc lập rồi, thế là việc đáng mừng nhất”. Và chiều hôm ấy, theo lời cha, Phạm Khuê, Phạm Tuyên và đám người nhà trai trẻ đều cầm cờ đỏ sao vàng đến sân vận động dự cuộc mít tinh do Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh tổ chức. Ở nhà, chỉ còn vợ chồng Phạm Quỳnh, vợ chồng cô Phạm Thị Ngoạn, cô Phạm Thị Hoàn và mấy em gái. Phạm Tuân, con trai út của Phạm Quỳnh và mấy đứa cháu nội, ngoại thì chơi tha thẩn ở sân nhà. Khi Phạm Quỳnh bị bắt, các con ông chứng kiến chỉ có hai cô Ngoạn, Hoàn và em trai Phạm Tuân chín tuổi. Khám xét nhà, ngoài một ít sách vở, còn mấy khẩu súng săn của Phạm Khuê, cũng bị tịch thu nốt.

Phạm Khuê vốn bản tính hiền lành, nhưng lại thích săn bắn và bắn khá giỏi. Lần bọn con, cháu trai và người nhà kéo nhau đi săn gần Huế, Phạm Khuê đã bắn được một con lợn lòi lớn, nặng đến nỗi khi khiêng lên để chở về thì đò suýt đắm, mọi người đều phải lên bờ đi bộ, chỉ Phạm Khuê và người lái được ngồi đò.

Chiều hôm ấy, Phạm Khuê dự mít tinh và đi tuần hành về đến nhà, tay vẫn còn cầm cờ đỏ sao vàng thì chị và các em cho biết cha và anh rể là chồng bà Ngoạn đã bị bắt. “Người tính hiền lành, thường hay cục”, Phạm Khuê chạy vội vào nhà, đến ngay tủ súng săn của mình, thấy tủ bị niêm phong, thì đấm vỡ kính, chảy cả máu tay. Nhưng tủ trống rỗng … Sau này, vào những năm 90 thế kỷ trước, em út Phạm Tuân từ Mỹ về thăm có nhắc lại chuyện này trước mặt cả gia đình Phạm Khuê. Ông mỉm cười, lắc đầu rồi nói: “Nếu lúc ấy còn súng thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra và cuộc đời anh sẽ ra sao…” Bây giờ, ông đã là giáo sư đầu ngành lão học, viên trưởng Viện Lão khoa, chủ tịch Hội người cao tuổi, đại biểu Quốc hội, Nhà giáo Nhân dân và là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam đã mấy mươi năm rồi.

Sau đó, Phạm Khuê lên ngay tàu hỏa ra Hà Nội, báo tin chẳng lành cho gia đình hai chị. Cả nhà cùng bàn để hai chị lớn là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức (là vợ Giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I) xin lên gặp Cụ Hồ, mang theo thư do Phạm Khuê chấp bút thảo, theo ý kiến của cả nhà.

Chị cả Phạm Thị Giá, tìm gặp ông Hoàng Hữu Nam tức Phan Bôi, em ruột ông Phan Thanh là người quen biết đã lâu, cùng làm việc ở Trường Thăng Long với chồng bà. Từ đó dẫn đến buổi hai bà được Hồ Chủ tịch tiếp từ 11 giờ trưa ngày 31/8/1945, ngay sau khi Người duyệt lại lần cuối bản thảo Tuyên Ngôn Độc Lập sẽ đọc ngày 2/9/1945, ngày Quốc khánh đầu tiên của nước ta. Người nói: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sau này sẽ được lịch sử đánh giá lại.”

Chính Phạm Khuê từ Huế ra sau khi đã biết rất rõ việc cha bị bắt như thế nào cho nên anh viết ngay được chính xác về sự việc này để hai chị kịp trình lên Cụ Hồ.

Sau thời gian thương thảo với phía Hoa Kỳ về hiệp định hòa bình Việt Nam ở Paris, có lần ông Lê Đức Thọ, trưởng đoàn đàm phán của ta hồi đó đã chọn Giáo sư Phạm Khuê đi cùng sang Paris. Chính ông Lê Đức Thọ đã nói Phạm Khuê có người nhà ở Paris thì nên đi thăm. Và đã tạo điều kiện cho Phạm Khuê gặp chị gái là Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, tác giả luận văn Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong trình Đại học Sorbonne và em gái Phạm Thị Hoàn, cùng chồng là nhạc sĩ tài hoa Lương Ngọc Châu.

Sự thật là như vậy. Giản dị và thật, đúng như… sự thật vậy.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 26/9/2010.

B.P.T.

.

Một truyện ngắn ra đời _ Phần 9

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 8 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI:

MỘT TRUYỆN NGẮN RA ĐỜI (Phần 9)

Phạm Tôn

Chiều 15/4, tuy mệt mỏi nhưng vì đã lỡ nhận lời bạn Long bán báo nên tôi đến ngõ HTon That thanh chup cung bac Tan (anh tach rieng)ội Vũ. Bạn gầy đi vì bận nhiều công việc và có chuyện lớn cần suy nghĩ. Long nói vậy rồi thổ lộ là có một cô bạn muốn kết nghĩa anh em và cho anh nhận một thằng con cô làm con nuôi. Long đã phóng to và treo ảnh nó ở buồng. Có vẻ hào hứng lắm, thích thú nhưng cũng lo ngại, nên đã nhắn tôi đến để góp ý: “Có thể tin được thứ tình cảm ấy không” Anh đưa tôi xem lá thư đặt vấn đề, thì thấy cô ta viết đại ý: em muốn anh coi em như một đứa em gái, anh có bằng lòng không? Lời lẽ trong thư rất trơn tru không chút ngập ngừng, xúc động.

Không muốn để bạn thất vọng, cũng không muốn để sau này bạn khổ vì vỡ mộng, tôi khuyên nên bình tĩnh xem xem động cơ thật của cô ta là thế nào chớ nhận lời vội, tạm thời cứ giúp đỡ nhau như hai người bạn…

Con người này thiếu tình cảm quá, mà cũng chẳng phải là không yếu đuối. Có thể bạn đã khổ và sẽ còn khổ về những chuyện vớ vẩn như vậy. Lý do chính là tình cảm yếu đuối, lại không tỉnh táo, chưa thấy thật rõ tình cảnh thật sự bi đát của bản thân mình, lại hay mơ mộng những điều xui xẻo sẽ qua, những điều tốt đẹp sẽ đến với mình. Bạn quá lương Sach nho ETthiện, nhân hậu.

Long cho mượn cuốn sách nhỏ thật hay nhan đề L’Écrivain et le livre ou la suite dans les idées (Tiếng Pháp: Nhà văn và cuốn sách hoặc sự nhất quán trong các ý nghĩ) của Elsa Triolet vợ nhà thơ Aragon, lại là bạn thân của nhà thơ xô viết Maiakốpxki. Sách viết về cái chết do tự tử của ông. Một bài học về lòng tin vào quần chúng của văn nghệ sĩ vĩ đại có tài nhưng không tránh khỏi những giây phút yếu đuối trước những phản ứng trái chiều không như mình mong muốn.

Trang lót có chữ tôi viết hộ bạn: Kỷ niệm ngày sinh nhật con nuôi tôi. 4.6.65. Thế Long

Hôm sau, đạp xe sang cầu Đuống thăm Lê Đăng Quang, Le Dang Quangbạn nối khố, làm giám đốc nhà máy cơ khí địa chất Yên Viên. Nhà máy sắp chuyển đi nơi an toàn hơn, cách xa con sông và cây cầu sắt là mục tiêu bắn phá của máy bay Mỹ. Lúc về, Quang đèo mình. Ở bên cầu xe xích và pháo phòng không xếp hàng dài. Nội thành đúng là còn chủ quan lắm.

Hôm nay, bắt đầu thay đổi sinh hoạt toàn thành phố. Giờ hành chính: 5 giờ đến 9:30 và 3:30 đến 19:00. Người Hà Nội bỡ ngỡ và tự nhiên lại thức khuya hơn thường lệ, mặc dù sáng sau phải đi làm sớm trước 5 giờ sáng! Quang tỏ ra vững vàng trong cuộc sống thời chiến. Bao Vu Tuan Hunggiờ cũng là bạn thân thiết của mình.

Về đến nhà, biết là Vũ Tuấn Hùng bạn Nông lâm đến không gặp có nhắn là muốn gặp. Mình viết thư cho Vũ Văn Chỉ rồi đến nhà Hùng ở phố Quang Trung và ngủ lại. Mình không muốn nói, nhưng phải nói nhiều vì không mất hết hy vọng ở bạn, nhưng thấy rõ là bạn còn rất chủ quan, chưa đánh giá đúng những sai lầm phạm phải ở bước đầu vào đời. Bao giờ cũng muốn nổi bật, muốn tiến nhanh. Cũng là một dạng thừa năng lượng đem phung phí bừa bãi vào cả những việc vô ích, có hại cho bản thân, xa rời tập thể. Thật tiếc. Một việc làm mình băn khoăn nhiều là thư Vũ Văn Chỉ nhờ đưa nhà xuất bản Nông Thôn cuốn sách về chăn nuôi bạn dịch của Trung Quốc mà không lấy nhuận bút, chỉ cốt in được sách. Việc thứ hai là nhờ mình góp ý choMaxim Gorki việc chọn người yêu và lập gia đình . Trong khi chính bản thân mình còn chưa có người yêu. Mình tin câu thơ của M.Gorki trẻ nói rẳng: Từ vú mẹ đến vú người yêu, thằng thanh niên phải làm được cái gì đó trước đã chứ! Đành viết thư tỏ ý kinh ngạc vì trong thời buổi này mà một chàng trai 23 tuổi lại thấy cần làm gấp một việc như vậy.

Hôm sau, mệt quá, ngủ cả ngày, ăn rất ít cơm mà không thấy đói. Tối rủ cháu Lường nhà dưới đi chơi, nghĩ nhiều đến những gì phải làm trong những ngày tới.

Em Thân, anh Đại rồi chị Thủy đều về nhà cả. Lại thứ bảy rồi, cuối tuần mà. Chị Thủy muốn kéo mình đi sơ tán với cơ quan chị. Mình không thể xa Hà Nội bỏ công tác khu phố, bỏ sách vở học tập để thành một người đi an dưỡng. Trong lúc cả nước chiến đấu thế này mình sao chịu nổi. Phải hỏi ý cậu Tuyên mới được.

May sao, hôm sau cậu ghé nhà mấy phút trước khi đến Đài Tiếng Nói Việt Nam ở phố Quán Sứ gần nhà. Tranh thủ hỏi Anh Dai Chi Thuy trengay thì cậu rất hiểu và đồng ý ngay với việc mình cứ ở lại Hà Nội, tiếp tục học và làm việc như cũ. Trong tình hình mới, sẽ tham gia thêm những công tác xã hội do thời chiến đẻ ra. Có khó khăn gì cậu sẽ giúp đỡ. Và có thể cậu sẽ đến ở cùng mình. Mình vui sướng và biết ơn cậu đã ủng hộ, vì tìm việc làm trong lúc này là rất cấp thiết. Mình sẽ nhận làm những việc không ai muốn làm hoặc không dám làm. Mẹ cũng muốn mình đi với mẹ, vì mình hiểu: Chúa chịu phần lo, ta hưởng phần vui. Mẹ rất sợ phải lo nghĩ. Nhưng rồi cả nhà bàn bạc mẹ cũng bằng lòng đi sơ tán cùng bác già theo hợp tác xã và mình ở lại Hà Nội một mình giữ nhà. Mình cảm thấy lối sống thời chiến khẩn trương có vẻ phù hợp với cái tạng của mình, khiến mình vui vẻ hoạt bát thoải mái hơn lối sống an nhàn. 19/4, lo thu xếp các việc linh tinh nhưng phức tạp chuẩn bị cho gia đình đi sơ tán, đặc biệt chú ý xem lại cái chuồng gà đóng tạm nuôi bốn con gà. Sau đó đến nhà in báo Nhân Dân trả lại tổ sửa bài tập Pháp Việt từ điển. Đa số gia  đình các bạn trong tổ đều đi sơ tán, chỉ còn đàn ông ở nhà. Tối, Thịnh bạn cùng tổ sửa bài và vợ là Thủy công nhân nhà chữ lại chơi. Giản dị và thân thiết như những ngày xưa tươi đẹp. Nhà in không đi đâu cả. Các bạn đều ở lại. Thịnh nói: ông Tố Hữu trưởng ban tuyên huấn nói: Các đồng chí cứ ở lại làm, nó có bắn phá hỏng hết máy móc cũng được. Sẽ có máy mới viện trợ. Như thế là mình vẫn sẽ được gần gũi những người bạn mình hằng yêu quý, từng sống với nhau trong đoạn đời hạnh phúc nhất cuộc đời mình. Trong những ngày chiến đấu gay go, nhà máy có thiếu người thì mình sẽ  đến làm với các bạn, sẽ được gắn bó với bộ phận chiến đấu mãnh liệt nhất của giai cấp công nhân, để hiểu mình hơn và phấn đấu trở thành người công nhân tiên tiến.

Chiều hôm sau, cố chép cuốn sách của Elsa Triolet có bài Maiakovski et Nous (Maiacốpxki và chúng ta) để còn trả Long – người cũng quí sách như mình. Lý do về cái chết của của Maia chẳng phải gì Maiakovskikhác là sự yếu đuối của văn nghệ sĩ. Nghệ sĩ càng lớn thì mức độ hình tượng hóa, mức độ cảm xúc càng mạnh mẽ. Có lúc lí trí bị lấn át đi, không điều khiển nổi cảm xúc.

Những lúc ấy, nếu thiếu sự gắn bó thường xuyên, máu thịt, cụ thể hằng ngày thật mật thiết với quần chúng công nông thì rất dễ đi vào con đường lầm lạc, dễ thấy cây mà chẳng thấy rừng, dễ vì một số cá nhân nào đó đê tiện, máy móc, thô thiển mà xa rời cách mạng.

Tối 22/4, không có xe đạp, phải đi bộ rất xa đến nơi dạy học. Trong những ngày khẩn trương này, những học viên còn cố gắng đi học và học say mê thật là đáng quí. Càng ngày học viên càng quí mến mình hơn. Có lẽ đối với họ thì cái mà mình thích thú nhất trên đời này chỉ là hai môn Lý và Hóa thôi! Mình tìm đọc Vật lý vui của Pêrenman và Hóa học vui của ai chẳng nhớ nữa, lẩy ra những mẩu chuyện kỳ thú làm giờ học hai môn trở nên sinh động, học viên đua nhau phát biểu và lắng nghe lời giải đáp của mình.

Hôm sau, anh Thành cùng tổ sửa bài cũ đến chơi. Trong khi nói chuyện với anh mình nảy ra ý: xin vào làm lại ở tổ cũ trong nhà in. Tổ đang thiếu người mà là thiếu những tay cứng thạo nghề. Anh em trongDoan Di tre tổ từng rất tiếc khi mình đi học, nay chắc chắn họ sẽ ủng hộ việc đón mình về. Bèn nhờ anh bàn với Đỗ Các Tôn một người có uy tín ở nhà máy. Như vậy mình sẽ có lý do chính đáng ở lại Hà Nội tham gia chiến đấu, ở chính một mũi nhọn của cuộc chiến đấu đó. Nhưng nhớ lại lời anh Nguyễn Việt Quốc một bạn cùng tổ ham mê triết học, thường suy nghĩ sâu, thiên về ý kiến cho là năm ấy không phải mình được đi học đại học mà là bị đi học để đi khỏi nhà máy, một cơ quan của Đảng. Rất có thể sẽ không thực hiện được cái mộng đẹp này. Đành lại chờ Đoàn Di, người lúc này quan tâm giúp mình cụ thể hơn ai hết.

Buổi chiều, anh bạn viết thư lạ hai tờ đến thăm, nghe nói mình ốm nên mang cho một gói đường. Nói chuyện cả buổi chiều và tối rất thẳng thắn về đủ mọi chuyện còn vướng mắc, kể cả chuyện tìm người yêu để kết hôn trong tình hình này. Một số chuyện khác, bạn nói sẽ suy nghĩ lại và trả lời sau. Mình nói thật lòng mà không tin là bạn hiểu mình nói gì. Biết làm sao đây.

24/4, lại đi thăm cháu Ánh Ngọc, một chuyến đạp xe bở hơi tai gần 70 cây số, trong đó 35 cây ngược gió dưới trời Nguyen Huu Ly chup riengnắng. Nhưng gặp được cháu là mọi mệt nhọc tan biến hết. Không bao giờ mình nghĩ cháu không phải con mình.

Theo lời hẹn, chờ bạn bằng cách đọc Truyện ngắn chọn lọc của Guy Đờ Môpátxăng, thì nhận được thư Nguyễn Hữu Lý. Những lá thư từ tiền tuyến gửi về bây giờ thật không gì quí báu hơn, nhất lại là thư Lý người gần gũi thương yêu mình hết lòng. Lý viết: “Ngày 19/3, chúng đã đến oanh tạc Thanh Chương. Hôm ấy, mình may mắn lại được tham gia trong cuộc chiến đấu. Bọn mình tham gia chữa cháy trong làn đạn, sau đấy đi băng bó và tải thương, sửa đường, thu dọn chiến trường”… “Vừa làm vừa soạn bài vừa học, kể ra cũng khá bận. Nhưng mình thấy vui khi Đảng đã tín nhiệm giao cho mình nhiều việc”.

Tất cả việc làm này nói lên sự chuyển biến vươn dậy mạnh mẽ của bạn. Tình hình mới diễn ra ở chính quê hương đã giúp Lý dễ dàng quên đi nỗi buồn chán trước đây tưởng là to lớn lắm, nay chỉ còn là những việc nhỏ nhặt vớ vẩn. Mừng hết sức.

Vừa viết thư cho Lý xong thì bạn mình chờ cũng đến. Khi bạn về, mình tiễn tận bến xe. Ngồi chờ khá lâu xe mới đến. Gần như chẳng bao giờ nói hết những chuyện thấy cần nói. Những phát hiện mới trong lần gặp gỡ này khiến mình lo ngại. Có những dấu hiệu chẳng lành. Mẹ khen bạn đẹp, ngây thơ, cái miệng rất tươi làm mình thấy dễ chịu, mặc dù chính mình không thấy như thế. Mình chỉ thấy lòng chân thành muốn vươn lên cái cốt, cái đẹp và những tiềm năng chưa được khai phá. Nhưng tính nóng vội, và lòng tự ái cao đã ngăn cản bạn nhiều.Pham Khue mot minh o bac lieu

Cả buổi chiều tham gia công tác bầu cử. Tối mệt quá, không kiểm phiếu với chi đoàn khu phố được. Đành chở mẹ đến nhà cậu Khuê. Bao giờ trong những tình hình gay go, mẹ cũng muốn tìm đến hai cậu. Rất may gặp cả cậu, mợ An và em Thắng. Cậu khỏe ra, rất vui vẻ. Có lẽ cũng như mình, cái không khí thời chiến những ngày này khiến cậu thấy sống thoải mái hơn những ngày thường nhàm chán, bon chen. Cậu vừa di Lào về. Dạo này sống ở Hà Nội rất tạm bợ, đơn giản. Nhà mốc tường, chiếu, không có cả nước uống. Nhưng cậu vẫn nghiên cứu, tra cứu Từ điển bách khoa y học.

Sau hai tuần gượng làm việc, hôm nay mình mệt rã rời, ho nhiều đến mức không nhịn được. Cậu lắng nghe mình trình bày kế hoạch có vẻ suy nghĩ và tỏ ý lo ngại.

Cơ hội nghìn năm có một không thể để lỡ, phải tìm mọi cách giữ vững sức khỏe trong những ngày này… Rất cảm động, bạn từ Sơn Tây về đem cho cả một ký đường trắng, chẳng biết kiếm ở đâu, bằng cách nào.

Sáng hôm sau, đã dậy rồi, chuẩn bị làm việc theo kế hoạch ghi từ hôm trước nhưng rồi nghĩ lại, lại đi nằm nghỉ, xa xỉ một chút vậy. Chẳng dè ngủ li bì, mê mệt đến 12 giờ trưa mới tỉnh. Chiều cũng không học đọc gì cả mà sơn đồ đạc để mẹ chuẩn bị đi sơ tán theo hợp tác xã may. Tối, mới tám giờ đã đi nằm và lại ngủ say như chết. Đúng là mình tàn nhẫn với cơ thể mình quá. Toàn đi bằng đầu, cái tật khó bỏ.pham tuyen choi dan

Cậu Tuyên đến. Cậu bảo cũng bị mất ngủ suốt đêm qua, sáng nay vẫn còn lên cơn hen căn bệnh cậu bị đã lâu. Cả nhà mình, đúng là những con người bằng mã lại mang những trái tim rực lửa… Không cẩn thận trái tim ấy sẽ thiêu cháy những con người mã ấy mất thôi. Đành dựa vào nhau mà sống như các chiến sĩ chia lửa trên chiến trường.

Hôm sau, tiếp tục làm các việc vặt ở nhà chuẩn bị tốt cho gia đình đi sơ tán và mình ở lại Hà Nội một mình. Tối đi chơi với em Tuyền. Mình muốn dành sức khỏe, tài sản quí báu nhất của mình để dùng vào việc cần thiết nhất, xứng đáng nhất, không dám phung phí. Cảm thấy như sắp đến lúc phải dốc sức vào bước chuyển biến lớn của cuộc đời rồi. Chỉ chờ cơ hội…

Tiếp tục đọc Guy Đơ Môpátxăng cốt ôn tiếng Pháp, sẽ có lúc dùng. Sức yếu càng phải có nhiều khả năng trí tuệ.

Hôm sau, đỡ mệt, bèn rút kinh nghiệm chấn chỉnh lại việc học. Từ nay, sẽ cố giữ gìn sức khỏe là chính, vừa để đón thời Em Tuyencơ, vừa đối phó với mùa hè tai ác, mùa mình luôn bị ốm vì không thích nghi được với thời tiết thay đổi đột ngột, nhất là không chịu được nóng quá. Mùa đông là mùa tích lũy làm việc được nhiều, mùa hè chỉ duy trì cuộc sống thôi. Nghỉ ngơi là chính. Em Thân cứ cười kể một bạn cùng lớp Anh văn tối với em bảo: tôi biết ông anh to khỏe của cậu học lớp Pháp 6 rồi. Chả là mùa đông, lại đi học lớp ban tối, tôi phải mặc cái áo bông cũ to xù mua của Trung Quốc viện trợ mới chịu nổi rét mùa đông Hà Nội. Nay quyết định mỗi ngày chỉ học Trung văn 2 giờ, Pháp văn 2 giờ, Anh văn 1 giờ và tốc ký 1 giờ, đọc sách báo khoảng 2 giờ. Cậu Tuyên cũng khuyên nên liên hệ với nhà in xin việc. Đó là con đường tốt nhất trong tình hình hiện nay, không nên để bị động. Cả cậu cũng quên không nghĩ đến chủ nghĩa lý lịch thời ấy. Không chín chắn bằng người ngoài là anh Việt Quốc, người công nhân mê triết học. Chủ nhật này, sẽ đến đặt vấn đề thật rõ ràng với Thịnh và các bạn công nhân cũ. Nếu cần, còn gặp cả anh Phương phó giám đốc chân tình. Hôm sau, thực hiện ngay kế hoạch học mới thấy kết quả rõ rệt. Đổi môn học nên đỡ chán. Nhân gửi một số giấy tờ cho Vũ Văn Chỉ, chép thêm mấy bài thơ Pêtôfi mình tâm đắc. Như Một ý nghĩ cứ dày vò tôi mãi, Hỡi số phận mở trước tôi trời rộng, Tự do và ái tình, Người phải thật là người. Hơn lúc nào hết, lúc này thơ Pêtôfi càng nói lên được tâm sự sâu kínPetophi nhất của mình. Sức mạnh những dòng thơ ấy thật vĩ đại, bất diệt. Lý do khiến những dòng thơ ấy có sức mạnh kỳ lạ đó là do người viết ra chẳng những là nhà thơ trẻ tài năng mà còn là nhà yêu nước vĩ đại một chiến sĩ một anh hùng dân tộc. Công việc cuối cùng người ấy làm không phải là làm thơ, cái cuối cùng để lại không phải là những bài thơ mà là máu của người chiến sĩ đổ xuống trên chiến trường. Chưa có nhà thơ nào mà cuộc đời và tác phẩm lại khiến mình mến yêu, khâm phục đến thế.

Tối, lại đi dạy học. Lòng ham học của học viên làm mình xúc động, cảm phục. Có học viên 18 tuổi đã là công nhân điện hai năm rồi, cứ tiếc mãi là đã phải bỏ một buổi học vì không đổi được ca cho bạn. Anh ta vui mừng biết vào tuổi anh bây giờ, chính mình cũng là một công nhân. Biết đâu sau này rồi lại không có một Êđixơn Việt Nam.

Cuối tháng tư, đang loay hoay thì nhận thư anh Phạm Hồng Sơn. Anh viết: “Mình vừa đi sơ tán một thời gian, nay đã về chỗ cũ. Hiện đang đánh nhau với một con bệnh mới. Có lẽ nó sẽ rút lui, nhưng mình cũng mệt đừ”… “sơ tán ở nhà dân cũng có cái vui, nhưng cũng có cái bất lợi. Gay go nhất là khó tạo điều kiện làm việc”

Lúc nào anh cũng chỉ nghĩ đến công việc. Không biết anh còn bị những bệnh mới nào hành hạ đây mà phải kêu mình cũng mệt đừ. Mai thể nào cũng sang thăm anh. Anh đang cần chuyển nếp sống cho phù hợp hoàn cảnh mới.

Lâu nay, không gặp được anh, mình rất nhớ. Nhiều lúc ngơ ngẩn như bị mất một thứ gì rất quí báu, thân thiết với mình.

Mai đã lại là ngày 1/5 rồi mà mình vẫn chưa đáng được gọi là một người lao động, vì chưa có sản phẩm cống hiến cho xã hội.

Đêm hơi lạnh. Gần sáng trời đổ mưa, mưa mỗi lúc một lớn hơn, không có vẻ gì là mưa rào mùa hạ cả… Mình mặc áo mưa ra ngay tàu điện ở trạm Phùng Hưng vào Hà Đông. Biết anh lại đang ốm, mình càng lo.

Bây giờ mới đầu mùa hè mà anh đã quị thì chịu sao nổi mấy tháng nóng bức sắp tới. Mùa hè năm nay sẽ gian khổ thiếu thốn hơn mọi năm.

Vào đến quân y viện 103 trời vẫn mưa tầm tã. Từ xa, mặc dù chỉ nhìn thấy hình dáng mà không rõ mặt, mình cũng nhận ra ngay anh đang ngồi trên xe lăn giữa hành lang trước cửa buồng anh số 10. Anh ngạc nhiên, vui mừng đón mình còn ướt nước mưa. Nhưng khác hẳn mọi khi, anh vẫn cau mày, miệng nở nụ cười không tự nhiên. Chắc anh đang đau đây. Rát ít khi anh để lộ cử chỉ này.

Anh vừa đi sơ tán được mươi lăm ngày đã phải về vì xuất hiện những cơn đau mới. Anh nói: Thế là mình bị viêm thận. Cái lần đau trước chính là món này. Khi đỡ, lại bị phù mà cứ tưởng là chóng lại người, béo ra. Hóa ra là phồn vinh giả tạo. Lúc đầu 60 rồi 80, 100 bây giờ là 200 rồi.

Tôi không hiểu anh nói gì. Anh bảo: Tôi bị Urémie (Tiếng Pháp: Chứng tăng u rê máu). Tôi hỏi lại vì tôi rất sợ, nhưng dẫu sao cũng vẫn muốn biết. Tôi có một bạn thân cùng học cấp 3, lượng u rê hơn 1000 miligam là hôn mê, vật vã rồi chết trong cơn đau đớn. Tôi cũng biết bệnh này không chữa được mà cái chết cũng rất thương tâm, đột ngột. Hai ngày trước khi bạn chết, bác sĩ còn bảo có những triệu chứng tốt và cam đoan là sẽ chữa khỏi. Tôi hy vọng anh Sơn không biết những điều ấy, tôi chỉ nói: Hồi 15 tuổi em cũng có một bạn bị bệnh này, chẳng hay gì, mệt lắm anh ạ. Anh nói: Mình cũng nghe nói là u rê lên cao thì hôn mê. Nhưng chưa thấy gì cả. Bác sĩ họ bảo là do của mình nó lên từ từ. Tôi hỏi cách chữa. Anh nói: Tiêm Xêrom. Mình thấy cũng dễ chịu. Nhưng rõ ràng không phải là chữa tận gốc, chỉ là tát bớt nước đi. Tôi hiểu anh muốn nói: Còn nước còn tát. Nhưng tôi không nhắc, vì nói câu đó ra chính tôi cũng đau lòng.

Nhưng rất may là anh đã chuyển sang kể chuyện đi sơ tán, ở nhà dân rất thú vị, vì được tiếp xúc với đồng bào, mà bà con ở đây tốt lắm. Hết lòng giúp đỡ, cho kê giường ngay trước bàn thờ. Pham Hong Son trang 24Anh cười: Bà con tốt mà mình thì lại ngượng… Dân ở dây làm nón, nên cả buổi cứ ngồi ở hè nhà ngay trước cửa mà làm. Mình lại nằm ngay trước bàn thờ, gần chỗ họ làm, mà ỉa, đái, thật bất tiện. Và nhất là không sao làm việc được. Mình về đây 15 hôm rồi mà chưa làm quen được với nền nếp mới. Bao giờ cũng ồn ào quá. Tiếng người cười nói, tiếng galen (một kiểu máy thu thanh thô sơ tự chế thời ấy) mở oang oang suốt ngày. Đêm ngủ cũng chẳng được. Mình lại nghĩ đến việc làm ăn lâu dài nên càng sốt ruột, thế nào cũng phải chuyển hướng. Anh định sẽ liên lạc với các nhà xuất bản nhận sách dịch trong thời gian tới. Phần lớn thời gian sẽ dọc, chủ yếu là mượn giáo trình đại học sư phạm khoa văn, rồi học hàm thụ.

Tôi phấn khởi thấy anh muốn đi sâu vào đọc để chuẩn bị cho việc sáng tác sau này. Nhưng nghĩ đến sức khỏe của anh và căn cứ vào kinh nghiệm bản thân, mình phải nói thực với anh là: Học theo giáo trình ấy thì rất mất thời giờ, không hợp thời và chỉ có thể đào tạo nên những giáo viên văn hoặc khá hơn là những người nghiên cứu phê bình văn học thôi chứ không thể đào tạo nên những nhà văn, những nghệ sĩ sáng tác văn học. Tôi đề nghị anh đi theo con đường mình cho là ngắn nhất, hợp thời nhất là: Đọc lịch sử văn học xô viết, đọc những tác phẩm cổ điển của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa song song với những bài phê bình những tác phẩm ấy và cả những bài viết về đời sống và sáng tác của các tác giả lớn ấy. Anh chăm chú lắng nghe rồi tán thành.

Nhưng rồi suy nghĩ một lát, có lẽ anh cũng thấy là kế hoạch nhỏ, con đường ngắn nhất mà tôi đưa ra cũng còn khá lớn, khá dài… Anh nói: Kể ra như thế cũng khá nặng đấy. Nhưng phải nghĩ  đến cái lâu dài thôi…

Anh cho biết vừa đọc lại N.Axtơrốpxki. Chắc N.Axtơrốpxki đã giúp anh nhiều trong quyết định dũng cảm bắt đầu chuẩn bị cho cái lâu dài…

Anh đang ốm đang lên những cơn đau dữ dội, cũng bắt đầu yếu hơn do một bệnh mới không thể chữa khỏi còn đe dọa một cái chết đau đớn, bất ngờ thì chính lúc ấy anh bắt đầu chuẩn bị cho cái lâu dài.

Da mặt anh trắng nhợt, bệch bạc, có cả những mảng đen mờ, làm nổi bật những nếp nhăn ở đuôi mắt, ở mép, ở trán… Hai hố mắt sâu, quầng tím. Cặp lông mày thường bất ngờ cau lại, rồi vội vàng giãn ra, như không để người khác kịp nhận thấy. Nhưng đôi mắt, đôi mắt không còn sáng nữa nhưng vẫn long lanh yêu đời. Anh đang nói về những buổi sáng ở nông thôn anh vừa được hưởng: chim hót rộn ràng, cây lá xanh tươi, đồng ruộng lúa non mơn mởn… Không khí trong mát, người người tấp nập chuẩn bị ra đồng, và: Thích nhất là được thấy mặt trời lên. Thật tuyệt diệu cứ từ từ, từ từ rồi đỏ ối, chói lòa. Đã lâu lắm rồi mới lại được thấy mặt trời mọc.

Nghe anh nói mà tim tôi thắt lại. Mình được sống dễ dàng, đi lại tự do, hưởng đủ mọi thứ tốt đẹp của cuộc đời… Mà mình đã làm được gì đây để cuộc đời ấy ngày càng huy hoàng tráng lệ đáng sống hơn. Để cuộc sống của những người quanh mình nhất là các bạn trẻ, những trẻ em mình yêu mến ngày một tươi đẹp.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/7/2021,

trong đợt cách ly giãn cách nghiêm ngặt nhất,

quyết thắng dịch Covid-19

P.T.

 

Chuyện Hai Tây – Ba Tàu

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 1:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 8 năm 2021

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC:

CHUYỆN HAI TÂY – BA TÀU

Ngày 1/8/2021, đang mùa Covid-19 bùng phát dữ dội, theo gót Sài Gòn, Hà Nội cũng cách ly giãn cách triệt để. Tôi mong làm cho người nhà có chút thư giãn nên đã nhắn tin kể chuyện cháu nội thứ hai của tôi là Cà Chua có bạn láng giềng thân nhau là Beo hơn sáu tháng tuổi. Do cách ly, hai bạn liên lạc viễn thông với nhau qua cửa sổ hai nhà đối diện.

Nhắn cho cháu gọi bằng bác Tôn Hương Giang, thì cháu nhắn lại ngay: Trông ảnh hai bạn, cháu lại nhớ đôi bạn Hai Tây và Ba Tàu. Tôi hỏi lại: Cháu còn nhớ thằng Chệt cụ Năm nhận nuôi chơi với Ty à? Thì cháu đáp ngay: Vâng ạ, Cà Chua giống Ty ngày bé, bạn kia giống bạn Ba Tàu. Có lẽ bà thạc sĩ y khoa cháu tôi không ngờ là cháu đã gợi lại cho tôi một ký ức cũ: Hồi ấy gia đình nhỏ của tôi đã một phen hoảng hồn, kinh hãi đến tận bây giờ bố con tôi còn nhớ.

Hồi ấy, bà Năm Phạm Thị Thu không làm ăn lương công nhật cho cơ quan tôi nữa nhưng vẫn ở buồng cũ như từ ngày cơ quan tôi nhận nhà 82 Yên Đổ này.

Bà sống bằng việc người quen biết nhờ rồi được cho quần áo cũ đem bán lại cho ai cần. Cũng có khi nhận trông trẻ cho người bận việc vài ngày. Nhưng lần ấy bà nhận chăm dài ngày một bé trai trạc tuổi con tôi. Thằng bé trắng trẻo, bụ bẫm, nghe nói là con bồ nhí một đại gia Ba Tàu Chợ Lớn. Lâu lâu mẹ nó mới đến đưa tiền, tiện thể thăm con luôn. Có hôm đưa đi chơi một lúc rồi về. Còn thì phó mặc cho bà. Tính bà cẩn thận, chu đáo, ưa sạch sẽ, thằng bé bao giờ cũng vui vẻ bên bà. Bà hay đưa thằng bé lên chơi với con trai tôi, gọi nó là thằng Chệt: ý bố nó người Tàu. Hai đứa chơi với nhau rất vui suốt buổi, không bao giờ cãi cọ tranh đồ chơi của nhau. Vợ chồng tôi cũng hài lòng vì con có bạn, nó lại sạch sẽ, ngoan ngoãn.

Nhưng trẻ con hiếu động. Một hôm, có mặt cả vợ chồng tôi và bà cụ, hai cháu nắm tay nhau chạy vòng vòng giữa buồng, bỗng rời tay, thằng Ba Tàu vập đầu vào mép tủ ngăn đựng quần áo, máu chảy nhiều, khóc thét lên, tay cứ chỉ vào con tôi, nói: Ty đẩy con. Bà Năm ôm nó, dỗ mãi nó còn nấc lên một lúc mới nguôi, tay vẫn chỉ con tôi. Ty sợ quá, nép bên mạ. Tôi bảo hai bà cháu yên tâm để tôi băng cho.

Dạo ấy tôi thân với anh Trương Thìn, lây cái tính ham thích nam dược. Ở sân nhỏ nhà nhiều nắng, tôi trồng nhiều cây thuốc. Vội lấy ngay nắm lá nhọ nồi, giã nát, đắp vào vết thương để cầm máu, nói với cu Chệt: cháu có thấy mát không. Thằng bé im lặng gật đầu. Rồi nhà sẵn bông băng, tôi dán băng keo cho cháu. Vợ tôi pha một cốc sữa bột thơm cho cháu uống. Uống xong hai bà cháu về nhà.

Rồi cứ thế mỗi sáng bà lại bế cháu lên để tôi làm thuốc. Vợ tôi hôm nào cũng có bánh kẹo cho cháu ăn và cầm về. Thấy vết thương lành dần, tôi giã lá sống đời, đắp lên cho mát, chóng lên da non. Hai bạn gặp nhau, tuy không được chạy nhảy như trước, nhưng vui vẻ cùng chơi lắp đồ gắn nhà tôi có sẵn, cùng ăn bánh kẹo, uống nước ngọt Tribêcô.

Chuyện tày trời như vậy mà bà Năm kín tiếng, chẳng cho ai biết cả, chỉ báo thằng bé đi chơi với mẹ vô ý ngã, phải nhờ cậu Thành chăm sóc cho mới được như thế này.

Vợ chồng tôi biết ơn bà về chuyện này. Chúng tôi vẫn là người thân thiết với bà cho đến cuối đời.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 1/8/2021.

P.T.

Blog tại WordPress.com.