Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 26, 2021

Tư liệu của nhà văn Sơn Tùng về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với Thượng Chi Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 8:11 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 9 năm 2021.

TƯ  LIỆU CỦA NHÀ VĂN SƠN TÙNG

VỀ MỐI THÂN TÌNH GIỮA

NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH

VỚI THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH

thu-son-tung-revisedTrang đầu và trang cuối (có con dấu và chữ ký của tác giả) tập bản thảo của nhà văn Sơn Tùng.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Sơn Tùng có nhã ý “ký thác” toàn bộ những sưu tầm của ông trong nhiều năm “Về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với Thượng Chi – Phạm Quỳnh” mà ông trân trọng gọi là “bậc danh nhân văn hóa” cho “nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình kính quí”. Tập tư liệu chép tay quý giá này tròn 20 trang, viết xong ngày 8/12/2008, tức 12/11 Mậu Tý, tại Hà Nội – Chiếu Văn.

Nay, nhà văn đã đồng ý với đề nghị của nhạc sĩ Phạm Tuyên, cho công bố những trang viết của ông trên blog của chúng tôi.

Năm nay, chúng tôi xin trích đăng tập tư liệu với tiêu đề từng phần và lời dẫn, lời bình của chúng tôi.

Xin chân thành cảm ơn thâm tình của nhà văn và xin mời bạn đọc theo dõi phần 4 trong tập tư liệu có một không hai này.

—o0o—

Ghi theo lời cụ Đào Nhật Vinh

CỤ ĐÀO NHẬT VINH – 13 phố Nguyễn An Ninh, quận 1 Sài Gòn – nay là quận 1 Tp. Hồ Chí Minh.

Cụ Đào Nhật Vinh quê Trực Ninh, Nam Định. Năm 1913, Đào Nhật Vinh cùng làm việc trên tàu Viễn Dương với Văn Ba – Nguyễn Tất Thành từ Le Havre, hải cảng ở Bắc Pháp quốc. Hành trình từ Tây qua Âu-Á-Phi-Mỹ, tận Argentine tới Terre de Feu. Đào Nhật Vinh có vốn chữ nho, chưa biết chữ quốc ngữ; “Anh Văn Ba dạy chữ quốc ngữ cho Đào Nhật Vinh và mấy anh em thủy thủ…

Năm 1919, ông Đào Nhật Vinh không làm việc trên tàu viễn dương nữa, đến thành phố Bordeaux lập gia đình, mở hàng ăn và vẫn thân giao với Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Paris cho đến năm 1923 khi Nguyễn Ái Quốc bí mật qua nước Nga – Xô Viết.

Mùa hè 1946, Hồ Chủ tịch Thượng khách thăm nước Pháp, ở lại Paris gần 4 tháng để “cứu vãn hòa bình”

– Cụ Đào Nhật Vinh ngày ấy là “Việt kiều yêu nước” với tình cố cựu cụ được gần gũi Bác trong thời gian này. Cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, cụ bị trục xuất về Sài Gòn.

cu-dao-nhat-vinh3Năm 1975, 30 tháng tư Sài Gòn và miền Nam hoàn toàn giải phóng. Tôi vào Cố đô Huế, Phan Thiết, Sài Gòn, Sa Đéc, Cao Lãnh…để sưu tầm tư liệu Bác Hồ ngay từ tháng 5-1975. Nhờ nhà văn Lê Hương (một cơ sở Cách mạng ở Sài Gòn) đưa tôi tới 53C Cao Thắng, quận 3 gặp giáo sư Hồ Tường Vân, con gái nhà chí sĩ Hồ Tá Bang sáng lập viên Công ty Liên Thành và trường Dục Thanh, Phan Thiết do Duy Tân hội chủ xướng. Nhờ đây, tôi gặp được cụ Đào Nhật Vinh ở 13 phố Nguyễn An Ninh, gần chợ Bến Thành. Cụ đang ở tuổi 80 mà rất minh mẫn, có bộ nhớ nhiều tầng, có hệ thống và mạch lạc… sau những ngày làm việc với cụ, cụ tặng lại tôi những kỷ vật về Bác Hồ với cụ ngày còn làm việc ở nước ngoài. Đầu năm 1976 cụ về Hà Nội thăm cố hương, vào lăng viếng Bác Hồ

PHẦN 4: NGUYỄN ÁI QUỐC ĐÍCH THÂN TỔ CHỨC “BỮA CƠM BẮC, THẾT KHÁCH BẮC”

Lời dẫn của Phạm Tôn: Năm 1922, Phạm Quỳnh đi Pháp dự hội Đấu xảo thuộc địa tổ chức tại Marseille, có mang theo một cuốn nhật ký tùy thân nhỏ bằng bốn ngón tay. Trong đó có ghi: Nhat ky tai PhapJuillet, 13, Jeudi: ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins).” Còn trên tạp chí Nam Phong, khi đăng Pháp Du Hành Trình Nhật Ký, ông viết công khai: “Thứ năm 13 tháng 7 năm 1922: (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta thật là vui vẻ thỏa thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỷ niệm dân quốc (tức ngày quốc khánh Pháp 14/7-PT chú)…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội của Paris thế nào”

—o0o—

Cụ Đào Nhật Vinh bồi hồi kể: – Năm 1919 tôi rời đại dương, lên cạn sinh sống ở Bordeaux, nhưng tháng nào tôi cũng về Paris gặp anh Nguyễn Ái Quốc và thăm hai cụ “nghè ta” (Phan Châu Trinh) cụ “nghè Tây” (Phan Văn Trường) và anh em thủy thủ đã lên cạn làm ăn. Từ sau ngày Nguyễn Ái Quốc đưa ra “Tám yêu sách của người An Nam” đến Hội nghị Hòa Bình Versailles, anh em thợ thuyền, lính thợ và các giới khác đến 6 Villa des Gobelins với niềm ngưỡng vọng “Ngũ Hổ” – Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền.

Giữa năm 1921 đến giữa năm 1923 “điểm hẹn” Nguyễn Ái Quốc ở số 3 Marché des Patriaches. Mỗi kỳ báo Le Paria in ra, tôi đến gặp anh Nguyễn nhận báo, đưa về Bordeaux phát hành. Bà con người Việt mình nhận Le Paria đưa tiền rất hời để ủng hộ báo. Sôi động nhất, tháng 3/1922 vua Khải Định đến Paris và phái bộ dự “Hội Chợ Thuộc Địa” ở Marseille. Nguyễn Ái Quốc viết nhiều bài chế giễu vua Khải Định đăng trên các báo Le Paria, Le Journal du Peuple, L’Humanité (Báo Nhân Đạo của Đảng Cộng Sản Pháp – PT chú) ,…Những bài gây xôn xao nhất: Les lamentations de Trưng Trắc (Lời than vãn của bà Trưng Trắc – PT chú), đăng trên tờ báo L’Humanité số 24/6/1922; Les civilisateurs (Những nhà khai hóa-PT chú)số 22/6/1922 và bài Hygiène mental (Vệ sinh tinh thần-PT chú); La haine des races (Hận thù chủng tộc – PT chú)…Nguyễn Ái Quốc còn sáng tác vở Con Rông Tre, chưa in trên báo, mới công diễn một lần ở Club du Faubourg (Câu lạc bộ ngoại ô-PT chú) mà tiếng vang rộng lớn trong Việt kiều. Đặc biệt, nhà chí sĩ Phan Châu Trinh nhục mạ vua Khải định bằng “Thư Thất Điều” chữ nho. Cụ Phan Văn Trường chuyển sang chữ Pháp, ông Nguyễn chuyển sang quốc ngữ.

Thời gian này, nhà đương cục Pháp theo dõi, kiểm soát gắt gao người Việt và bắt làm “thẻ cá nhân”. Cụ Phan Châu Trinh ông Nguyễn Ái Quốc “được”A. Sarraut mời đến Bộ Thuộc địa “nhắc nhở”…Họ theo dõi chặt chẽ cụ Phan Châu Trinh, ông Nguyễn Ái Quốc không chỉ ở Paris mà cả ở hải cảng Marseille. “Hội Chợ Thuộc Địa” mở cửa từ đầu tháng 4/1922. Công việc chuẩn bị cho hội chợ từ tháng giêng. Cụ Phan Châu Trinh đến Marseille, ở tại nhà ông thợ ảnh Tạ Văn Cần, vợ đầm. Ông Nguyễn Ái Quốc có hôm cùng ở với cụ Phan tại nhà ông Cần, có hôm ở nơi khác và về Paris lo liệu công việc báo Le Paria.

Một nhóm anh em thợ thuyền, thủy thủ chúng tôi được nhận vào phục dịch Hội Chợ như anh Phan Hiếu Kính, anh Nguyễn Minh Quang, anh Vũ Văn Long…cho nên chúng tôi được đến gần các vị trong phái bộ tháp tùng nhà vua như: quan tuần phủ Cao Bằng Vi Văn Định, ông Phạm Quỳnh – Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức, ông Nguyễn Văn Vĩnh, một bỉnh bút lừng danh Đồng Văn Nhật Báo, Đông Dương Tạp Chí, Notre Journal, Notre Revue…Ông đã từng dự cuộc Đấu xảo Marseille 1906, ông Quỳnh quen biết cụ Phan Châu Trinh từ trường Đông Kinh Nghĩa Thục 1907, cụ cử Can là hiệu trưởng. Cho nên ông Phạm Quỳnh, ông Nguyễn Văn Vĩnh mấy lần đến nhà ông Tạ Văn Cần đàm đạo với cụ Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc. Tôi được làm chân điếu đóm của các cụ. Có một cuộc đàm đạo, ông Bạch Thái Toàn cùng dự với bốn cụ. Bạch Thái Toàn là con trai cụ Bạch Thái Bưởi. Lúc khởi đầu trên sông nước của tôi là “bồi tàu” Trưng Trắc của Công ty Bạch Thái Bưởi. Chính vì vậy mà tôi được thân quen với ông Bạch Thái Toàn. Ông Toàn là thư ký “Hội Thân Ái” mà Nguyễn Ái Quốc là một trong những người lập hội. Nhờ ông Bạch Thái Toàn mà tôi biết được chút ít lai lịch của các cụ.

Đầu tháng 7/1922, tôi không còn nhớ chính xác là ngày nào, tôi trong hội chợ cùng với anh bạn đi ra phố thấy đằng phía trước ông Nguyễn Ái Quốc cùng ông Phạm Quỳnh đang sóng bước chốc chốc ghé đầu vào nhau có lẽ đang nói thầm…(Chúng tôi nhấn mạnh – PT) Tôi và anh bạn quay trở lại…chiều hôm ấy tôi về nhà ông Tạ Văn Cần, gặp cụ Phan và ông Nguyễn đang ở đây. Ông Nguyễn dặn nhỏ với tôi: thứ năm tuần tới, ngày 13/7, Vinh đến “cụ nghè Đông Ngạc” nhé. Đến sơm sớm, đó…Tức là tôi đến số 6 Villa des Gobelins, cụ nghè Đông Ngạc là tiến sĩ luật khoa Phan Văn Trường. Cách nói lóng này chỉ một số trong nhóm chúng tôi biết. Tôi đến sớm để làm “bữa cơm Bắc, thết khách Bắc”. Tôi vừa làm bếp vừa tự hỏi – Không biết vị khách quý nào đến mà cụ nghè Tây (Phan Văn Trường) và Nguyễn Ái Quốc thết đãi, cụ Phan Châu Trinh bị cảm mạo nên không về Paris được. Hơn 8 giờ thấy ông Phạm Quỳnh tới. Ông Nguyễn Ái Quốc đợi ở cửa (Chúng tôi nhấn mạnh –PT) và đưa dẫn ông Phạm Quỳnh vào phòng. Tôi đem khay trà lên phòng mời khách. Chỉ có ba vị trong phòng thôi. Và ba vị đàm đạo tới 11 giờ, tôi cũng vừa sửa soạn xong bữa, mất công nhiều là món lòng lợn, rau thơm gia vị tầm cho ra được các thứ ấy không dễ. Có thịt gà luộc, canh chua, cá rán, thiếu rau muống luộc, cà pháo, tương Bần. Tôi được dự đồng bàn, đồng bữa với ba vị và hầu chuyện. Trong bữa ăn các vị không nói chuyện thời cuộc mà nói nhiều về phong hóa của nước nhà, tục lệ từng miền – và giữa bữa ăn tôi được ông Phạm Quỳnh khen: bữa cơm Việt món nào cũng ngon, đượm vị hương quan. Nhất là món lòng lợn, đặc biệt là món dồi.

Cụ Phan Văn Trường, ông Nguyễn Ái Quốc gật gù tương đắc. Tôi chợt nhớ đến câu ca dao nói về món lòng lợn, buột miệng luôn:

Nhìn mặt mà đặt hình dong

Con lợn có béo, miếng lòng mới ngon

Đủ tim, gan, cổ hũ, ruột non…

Mà dồi lại dở chẳng ngon cỗ lòng

Cụ Phan vốn ít cười, đã phì cười. Ông Phạm nâng ly rượu lên nhìn tôi tươi cười và ông Nguyễn cùng nâng ly rượu, rồi cụ Phan cũng nâng ly chúc mừng. Ông Phạm Quỳnh nghiêm trang nói:

–  Anh Đào Nhật Vinh đã hàng chục năm xông pha khắp chân trời, đáy biển nào Á, Âu, Phi, Mỹ mà hồn quê, quốc túy không phai mờ! Chúc mừng anh.

Ông Nguyễn Ái Quốc tập Kiều:

Đồng bàn, đồng bát, đồng bang

Hồn quê theo áng mây ngàn cố hương.

Anh Đào Nhật Vinh một đầu bếp ngoại hạng mà lại mở quán ăn bình dân!…”

Sau bữa cơm đầm ấm, tôi bái biệt cụ Phan Văn Trường, ông Nguyễn Ái Quốc, ông Phạm Quỳnh rồi trở lại hải cảng Marseille.

Hà Nội – Chiếu Văn

8-12-2008

12/11 Mậu Tý

(Chữ ký và con dấu của nhà văn Sơn Tùng)

Lời bình của Phạm Tôn: Sáng 20/3/2009, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh cùng Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học Nghiên cứu, xác minh tư liệu và địa chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và hoạt động ở nước ngoài từ năm 1911-1941. Trong 43 tham luận của các nhà nghiên cứu, cán bộ bảo tàng gửi đến, có tham luận của Khu di tích Nguyễn Sinh Sắc, nhan đề Những năm tháng Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và hoạt động trên đất Pháp 1917-1923. Chúng tôi thiết nghĩ, những tư liệu của nhà văn Sơn Tùng như Nguyễn Ái Quốc đích thân tổ chức “bữa cơm Bắc, thết khách Bắc” (thuật chuyện năm 1922 tại Marseille và Paris) và Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì… (thuật chuyện năm 1946 tại Fontainebleau), cả hai đều diễn ra trên đất Pháp, sẽ là những tư liệu bổ sung quý giá và hiếm có.

Cụ  Đào Nhật Vinh vốn có giao tình lâu năm với cụ Lê Văn Nghiêm là nhạc phụ chúng tôi, nên ngày 2.9.1978 cụ đã dự lễ cưới chúng tôi và còn nói chuyên thân mật với mọi người có mặt hôm đó.

Một truyện ngắn ra đời – P10

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 7:52 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 9 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI:

MỘT TRUYỆN NGẮN RA ĐỜI (Phần 10)

Phạm Tôn

Ngày 2/5/1965, có lẽ vì bị lạnh do thời tiết thay đổi nhiều mệt không thực hiện theo kế hoạch đã định hôm trước, chỉ đọc Bất Tử của Bubennốp, không hay vì chẳng có gì mới so với các sách Liên Xô cùng loại.

Tình cờ, có anh Lê Hoàng, bạn cậu Khuê, lại là em ruột anh Lê Điền ở báo Nhân Dân từ Mộc Châu về. Anh rất thông cảm và quí mến gia đình mình. Anh biết nên đã và còn hứa sẽ giúp đỡ em Nhàn nhiều. Thật là may, nhờ uy tín đức độ của cậu Khuê mà anh em mình được nhờ nhiều.

Hôm sau, đi rà các hiệu sách cũ, tìm được một cuốn của G.Đơ Môpátxăng đã nát nhừ, nhưng rất hay, nhiều truyện chưa đọc hoặc nghe nói bao giờ. Mua và đọc Gia đình Artamônốp của Gorki. Cả hai cuốn đều bằng tiếng Pháp. Cứ nghĩ nếu không biết ngoại ngữ thì đọc gì bây giờ, sách in ít quá. Hôm nay, vẫn mệt nghỉ làm việc và học mà để gần hết buổi sáng đi bộ hơn mười mấy cây số, chuyển hộ anh Phạm Hồng Sơn một lá thư gửi vào Nam.

Phim Cù Chính Lan xem tối hôm trước làm mình thất vọng. Nhất là phần kết, lẽ ra phải là cái tinh túy nhất, nâng cao Gorki anh chan dunggiá trị tác phẩm thì lại đuối quá, không gây xúc động. Người anh hùng nhỏ hẳn đi vì cái kết tầm thường. Chỉ xem phim này, chẳng ai thấy Cù Chính Lan là anh hùng cả. Vì sao không dám đưa cảnh Cù Chính Lan hy sinh nhỉ? Trong khi mình cứ mong được xem một phim ít ra cũng bằng phim Đổng Tồn Thụy của Trung Quốc.

4/5, đọc xong Gia đình Artamônốp. Sẽ phải đọc lại thật cẩn thận tác phẩm này, Gorki viết khi đã ở độ chín của tài năng, biết nhìn rõ cuộc sống qua biến đổi của cả một gia tộc mấy đời, từ một nông nô trở nên đại gia, rồi suy đồi ra sao. Có lẽ đây là lần đầu đọc Gorki mà thấy như đọc L.Tônxtôi. Từ giọng văn đến cách diễn tả tâm lý, tài vận dụng các chi tiết đắt giá đều thật tuyệt diệu. Còn nhớ khi Tônxtôi mất, Gorki viết: Tôi chỉ biết chừng nào ông còn thì tôi chưa phải là đứa trẻ mồ côi.Tonxtoi va gorki

Hôm sau, lại đi mượn sách ở Thư viện Nhân dân Hà Nội gần đại sứ quán Pháp. Toàn đi bộ cho khỏe người. Bạn đọc đến mượn sách vẫn đông, sách có nhiều vẫn không đáp ứng nổi nhu cầu đọc trong thời bom đạn này. Đành mượn… tập 2 Những Linh Hồn Chết của Gôgôn và tập 3,4 Thanh niên cận vệ đội của Fađêép. Thời chiến, phải tích trữ sách – món ăn tinh thần, như tích trữ lương thực thực phẩm vậy.Không thể kén cá chọn canh như thời bình.

Đọc Gôgôn lần này, choáng ngợp, thật kỳ lạ là tác giả có thể bỡn cợt ở bất cứ hoàn cảnh nào, nhưng tính hiện thực cụ Gogonthể đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng khiến ta phải sợ, tin là thật. Nhớ hồi đọc Tarát Bunba ở Cảng cho thanh niên lái xe và bốc vác nghe, càng khâm phục tài năng đa dạng của bậc thầy này hơn. Hai tác phẩm khác hẳn nhau mà đều là kiệt tác. Hôm sau, đọc xong tập 2 Những Linh Hồn Chết, hình tượng Tsitsikốp thật ghê sợ. Con mắt sáng suốt, tinh tường và tài sử dụng chi tiết đã đưa đến sự sáng tạo một nhân vật điển hình sinh động. Thật xúc động khi biết Gôgôn đã mất tới năm năm để sáng tác phần 2 này, nhưng rồi chưa hài lòng, tự ông đốt hết những trang đã viết đi và định viết lại. Nhưng rồi vì sức yếu, ông không hoàn thành được việc này. Tác phẩm vĩnh viễn dở dang. Khi xuất bản, người ta phải ghi lại lời kể của những ai đã được nhà văn đọc hoặc kể cho nghe đoạn này đoạn nọ để người đọc dễ theo dõi câu chuyện.

Cũng ngày 6/5 này, em Nhàn từ Mộc Châu đột ngột về nghỉ phép. Thời chiến, mọi sự khó diễn ra theo dự định được. Tôi mừng vì có dịp được trực tiếp trò chuyện với em mong giúp em thêm chút nào hay chút ấy.

Đi dạy học tối, mệt mỏi, suốt đêm không ngủ chút nào. Hôm sau, mệt, nghỉ cả ngày. Tối đi họp dự chỉnh huấn của chi đoàn khu phố.

Sáng sớm ngày 8/5 đưa Nhàn, Tuyền đi đón Ánh Ngọc ở tận Vân Đình. Đường xa, nắng gắt, hơn bảy mươi cây số vừa Ton Nu Thi Thanh Nhanđi vừa về, lượt về lại đèo hai đứa nhỏ, trên chiếc xe trâu đen cao lênh khênh em Thân được phân phối, ghi đông doãng ra rất mỏi tay, thế mà may mắn mình vẫn trụ được. Xe lại phanh bằng cách đạp ngược lại chứ không có phanh ở tay như xe khác, rất khó đi. Xe này, em được trường phân cho như để bù lần trước chỉ được cái xe Thiếu nhi Liên Xô, em đi từ Đông Anh về cứ như gấu đi xe đạp trong rạp xiếc, thật tội. Nhưng, có hơn không mà. bao chuyện rắc rối trên đường đi là bấy nhiêu chuyện vui, tiếng cười rộn rã.

Ngọc về, rồi anh Đại chị Thủy cũng về. Mình vui vì thấy mọi người vui. Đến tối thì mệt quá, nhưng vẫn cố đi xem phim Viết Dưới Giá Treo Cổ. Phim tài liệu đen trắng, khá hay. Xem mà chỉ mong cuốn sách anh Sơn dịch sớm ra đời. Thật sung sướng biết bao được trở thành một con người Fucik!

Sáng hôm sau, cả nhà đi chụp ảnh, thiếu em Thân đã sang trường. Mấy anh em bàn nhiều về chuyện đi sơ tán của mẹ. Chẳng ai vui vẻ. Mẹ sao xa lạ quá.Anh Dai Chi Thuy tre

Hôm sau, vẫn mệt vì mất ngủ, người rã rời. Buổi sáng đưa em Nhàn và cô Tuyền cháu Ngọc đi chơi công viên Thống Nhất. Chiều ở nhà giặt giũ loanh quanh. Tối ngủ thiếp đi lúc nào không biết, màn không mắc, chăn không đắp. Giấc ngủ nặng nề, đầy những cơn mơ căng thẳng, khó chịu. Mơ thấy người ta ghi nhận xét vào một tờ giấy khám sức khỏe màu vàng úa: Bệnh lao đang tiến triển. Phải điều trị lại từ đầu. Tỉnh dậy, toàn thân lạnh ngắt. Đêm qua quên đóng cửa sổ, sương hắt vào tận giường. Phải làm sao không đổ trong mùa hè này. Không thể để phải bắt đầu lại tất cả.

Sáng sau đọc những bài về Txêkhốp nhà văn mình yêu mến vô hạn. Ông sinh năm 1860, mất năm 1904, cưới vợ ngày 25/5/1901. Trong một thư gửi bạn thân, ông viết: “Tôi sẽ cưới vợ vì bạn cho như thế là tốt. Nhưng với điều kiện là không có gì đổi thay, tức là cô ấy vẫn ở Mátxcơva và tôi ở nông thôn. Tôi không thể chịu đựng được một hạnh phúc khắp mọi lúc. Tôi thề sẽ là người chống mẫu mực, nhưng hãy cho tôi một người vợ, như mặt trăng kia, không chiếu sáng bầu trời của tôi mọi ngày.”

Có lẽ đến một lúc nào đó, chính mình rồi cũng phải viết một lá thư như vậy. Với cái lối sống độc đáo chẳng giống ai, lại cái sức khỏe thảm hại này, cộng với những nhiệm vụ nặng nề mình tự nguyện gánh vác, thì khó cho phép mình hoàn thành nhiệm vụ của một người đàn ông, chứ đừng nói gì đến nhiệm vụ của một người cha… Tất nhiên chẳng bao giờ mình lại ngu xuẩn đến mức từ địa vị một người đem lại hạnh phúc cho mọi người chuyển sang địa vị người làm cho ai đó phải đau khổ, rồi thành người để người ta thương hại.

Cả ngày hôm nay, gượng lắm mới đọc được một chút và viết hai lá thư cho bạn. Chỉ ăn đúng một bát cơm. Tối báo nghỉ họp, ngủ li bì, mê man từ rất sớm. Hôm sau, tiếp tục đọc các bài về Txêkhốp, mặc dù vẫn mệt mỏi kỳ lạ…

19:00, gần lúc gia đình ăn cơm tối thì Đỗ Các Tôn đến rất vội, thúc giục mình tiến hành nhanh các thủ tục để xin trở lại nhà in.Do Cac Ton

Tôn hồ hởi nói: Nếu tao có quyền thì tao lấy mày về từ lâu rồi, nhưng tao thì quyết định được cái gì… Chưa gặp mày mà tao đã làm tất cả những gì cần làm rồi. Anh em cũ rất thích, ai cũng mong mày về lại với chúng tao. Nhà chữ cũng thế… Công việc đang rất cần người như mày. Ngày 19/5 này báo Quân đội Nhân dân cũng ra hằng ngày… Mà mày thì ngay đến cái đơn xin việc cũng chưa viết … Mai phải làm ngay. Và tìm xem có ai bên tòa soạn tin cẩn không. Cần thúc cả hai bên. Tao thì bận, mà sao mày lại không chịu đến tao? Cái chính tao lo là sức khỏe của mày…

Ôi, những người bạn công nhân thân yêu của tôi, mong là các bạn sẽ đưa tôi trở lại với đời. phải chăng giờ vượt ngục của tôi đã điểm, và tôi sẽ lại được nhập vào đội quân xung kích?…

Hôm sau, lại tiếp tục đọc về Txêkhốp. Nghị lực lớn lao đã chi phối tất cả cuộc đời ông: Hướng tất cả trí tuệ, tài năng, Txekhopsức lực vào chỗ nâng bản thân lên chỗ hoàn thiện, hoàn mỹ. Và từ đỉnh cao đó nhìn rõ cuộc đời của những người khác, phê phán nhẹ nhàng cuộc sống ấy một cách tỉ mỉ, đến chân tơ kẽ tóc, thật chí tình, hòa nhã, mong sao cuộc sống đó tươi đẹp hơn, xứng đáng với con người hơn. Tất cả các đức tính và tài năng ấy đều do chính ông khổ công rèn luyện chủ tâm xây dựng nên. Chẳng có gì là ngẫu nhiên, may mắn cả. Đức tính khiêm tốn kỳ lạ của Txêkhốp là biểu hiện của sự đòi hỏi rất cao rất khe khắt đối với bản thân của những con người đi tìm chân lý, đang thấy mình ngày càng gần chân lý. Ảnh hưởng lớn của ông với gia đình cũng rất đáng chú ý. Đào tạo nên dược một con người, có lẽ cũng vẻ vang không kém gì sáng tác được một tác phẩm bất hủ, có một phát minh khoa học lớn.

Sáng 14/5 đi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự. Điều duy nhất tin được ở kết quả khám lần này là cao 1 mét 76 nhưng chỉ nặng có 52 ký rưỡi và huyết áp là 130/70, còn các bộ phận khác đều khám qua loa đại khái cho xong thủ tục. Mình mắt kém, đeo kính cận hai độ từ thời sinh viên mà ghi là 10/10, loại A1. Một thanh niên cố uống nhiều bia đến đỏ nhừ cả mặt cho huyết áp tăng, làm mình ghê tởm. Còn anh bạn nhà láng giềng chạc tuổi mình thì lo sợ quá mức đến buồn cười. Không biết cậu ta còn muốn ở nhà làm việc vặt đến bao giờ…

Nhìn những thân hình chắc nịch, nở nang, những bộ ngực vuông vắn, bắp đùi to hẳn, nước da rám nắng, lại mịn màng của nhiều bạn trẻ đi khám mà thèm lạ lùng. Nhưng lại nghĩ mình đã làm gì để được khỏe đẹp như các bạn?pham tuyen choi dan

Đang vui vì đợt khám sức khỏe này, tiện chân mình đến tòa soạn báo Nhân Dân, nhớ lời Tôn dặn tìm người tin cậy được, mình tìm đến anh Thanh Đạm phụ trách báo Nhân Dân nông thôn (thường quen gọi là báo con vì chỉ bằng nửa tờ báo thường). Anh Đạm mến mình từ năm mình về làm nhân viên tạm tuyển ở tổ này. Anh nhận lời ngay sẽ nói giúp với nhà in về việc của minh. Vẻ thông cảm và chân thành của anh khiến mình hy vọng.

Buổi chiều, đọc sách một lúc chờ đỡ nắng thì đi chơi, lên đường Thanh Niên, vào cửa hàng bách hóa tổng hợp chẳng mua gì cả, chỉ lơ đãng xem người ta mua hàng. Cuộc đời rồi sẽ tươi đẹp, phải chủ động từng bước tiến đến đấy chứ. Không được để lãng phí một chút sức khỏe nào, đó là tài sản quí nhất của mình bây giờ.

Sáng 16/5, cậu Tuyên ghé nhà. Báo cậu biết việc xin làm ở nhà in cũ, cậu mừng lắm. Cậu nói: Được như thế lúc này là tốt hết sức. Trong hoàn cảnh chiến đấu mà được ở một cơ quan báo chí thật là tuyệt. Lại sống giữa tập thể công nhân tiên tiến yêu quí mình…

Có thể hai cậu cháu sẽ khống cùng nhà, cùng ăn ngủ, trò chuyện với nhau hằng ngày. Một cuộc sống cực kỳ giản dị, nhưng đẹp đẽ và phong phú. Mỗi người là nguồn thúc đẩy người kia tiến lên. Sẽ sung sướng biết bao. Như hồi năm 1945 cậu mới ở Huế ra, hai cậu cháu ở chung căn buồng nhỏ ông Hạt nhường cho ở chân cầu thang nhà số 5 Hàng Da. Lòng tràn đầy hy vọng, chờ ngày… giải phóng.

Sáng sớm 17/5, vừa dậy là đi bộ ngay lên vườn bách thảo, rồi vòng qua bệnh viện A, rẽ vào đường lên chợ Bưởi, rồi lại Pham Khue mot minh o bac lieutheo đường về Cầu Giấy, lúc thấm mệt mới lên tàu điện về nhà. Không hiểu nếu đeo thêm cái ba lô bảy ký theo tiêu chuẩn thì sẽ thế nào… Người Hà Nội dạo này hay mặc áo màu xanh lá già hoặc cỏ úa. Rất ít may áo mới, đa số chỉ là nhuộm lại áo cũ. Mặc màu ấy, trông người nào cũng giản dị hơn, lại thống nhất một màu, hòa mình với mọi người, hình như cũng đẹp hơn một chút do nét giản dị của áo đã tôn vẻ đẹp khuôn mặt lên. Cũng có thể vì ăn mặc hợp thời, người ta vui và tươi tỉnh hơn. Bà con vẫn kiên nhẫn xếp hàng trước các hàng phở mậu dịch chỉ bán buổi sáng. Mọi hoạt động bình thường vẫn diễn ra theo nếp cũ. Bà con vẫn ngâm vỏ gió với vôi nấu lên để xeo giấy , chợ Bưởi vẫn đông vui ồn ào. Chỉ thấy trong những câu trao đổi lẻ với nhau mình nghe được là có in dấu thời chiến. Hai cán bộ quân đội đạp xe nhanh nói: Hình như Giônxơn nó nó tuyên bố ngừng bắn thì phải… Mấy bà đi chợ hỏi nhau tình hình gia đình sơ tán thế nào. Người Hà Nội vẫn có phong thái ung dung độc đáo, vẫn mua hoa, mua cả chim cảnh.

Buổi chiều, cậu Khuê đến chơi, cậu lại sắp đi lào. Dạo này cậu làm việc nhiều, thức đêm không ít, nhưng lại béo ra, da căng má hồng tia máu. Cậu bảo cậu sẽ kiểm tra lại sức khỏe toàn diện cho mình. Sau đó sẽ có ý kiến về việc nên làm sau. Cậu dặn: Phổi vẫn phải giữ gìn, áp huyết cũng còn cao. Đừng chủ quan.

Ngày hôm sau, vẫn mệt. Chiều không ăn nổi cơm, đi họp về hơn 11:00 mới ăn mấy bát cháo. Chi đoàn tiếp tục chỉnh huấn.

Sự im lặng của Đỗ Các Tôn và các bạn ở nhà in khiến mình lo ngại. Rất có thể cả việc này nữa cũng gặp trở ngại như tất cả mọi việc xảy ra với mình. Nhưng có khó khăn nào mà mình không vượt qua được đâu nhỉ? Cần tìm cho ra khó khăn đang ở đâu. Rồi tìm cách vượt qua nó như mọi khi.

Trưa 20/5, Hà Nội báo động thật. Trước đó độ mười phút, đã có tiếng súng… Nhìn chung dân Hà Nội bình tĩnh lắm. Mọi hoạt động vẫn diễn ra bình thường ngay sau lúc có còi báo an. Chỉ khác là tối đến Ton That thanh chup cung bac Tan (anh tach rieng)thấy rất nhiều hầm hố được bà con tự động sửa sang lại… Các hầm công cộng được xây cao hơn, nghe nói sẽ lắp nắp bê tông. Hình ảnh một Thủ đô chiến đấu vẫn chưa rõ nét. Chiều, chuẩn bị mọi thứ rồi đưa em Nhàn ra bến xe Kim Liên đi Mộc Châu… Trước lúc chia tay, em đưa mắt nhìn mình, mỉm cười dễ thương đầy ý nghĩa… Chắc em nhớ lại lần tiễn đưa năm ngoái, nặng nề, buồn bã. Sau khi về đến Mộc Châu, em viết thư báo tin, nhưng không quên viết: Lần ấy, em buồn vì khi chia tay, anh chẳng buồn nhìn mặt em! Một năm đã qua, em đã có quyền tự hào về những gì mình đã đóng góp cho lợi ích chung và cả sự trưởng thành của bản thân, có quyền được hưởng sự yêu mến của cả gia đình bạn bè. Anh tin em, anh cũng đòi hỏi em cố gắng nhiều hơn nữa, mong em đừng bao giờ quên bài học đầu đời đã trả giá đắt. Học phí có cao, nhưng đáng. Buổi tiễn đưa hôm nay mình sẽ hoàn toàn vui vẻ, thảnh thơi, nếu như không nảy ra ý nghĩ cứ dày vò mình mãi: Mọi người đã đi, đang đi và sẽ còn ra đi, còn lên đường, còn mình, bao giờ mới được hưởng niềm vui lên đường, nhập vào đoàn quân lao động, chiến đấu cho quê hương yêu dấu??!

Suốt ngày, mệt rã rời, chỗ nào cũng đau nhức, lại còn sốt nữa. Nhưng sau ba tiết dạy học, tối đến chẳng ăn uống gì cả mà vẫn ngồi làm giúp mẹ những xấp hàng mẹ mang về nhà. Mình không muốn nghe một ai than phiền là việc làm quá nặng nhọc, hoặc chán nản vì phải lao động. Mình thèm làm việc quá, bất cứ việc gì cũng tốt.

Buổi chỉnh huấn ở chi đoàn tối 21/5/1965 khiến mình xúc động. Mọi người nói với nhau những lời thành thật, thẳng thắn, thật sự sống trong tình thương yêu đùm bọc nhau, bặt hẳn những lời ong tiếng ve, những lời nói xấu sau lưng, ném đá giấu tay thường thấy trước đây. Thật bất ngờ là sau lời phát biểu rất ngắn của mình, các đồng chí đã thông cảm đến như vậy. Mọi hiểu lầm tiêu tan. Nhiều người tỏ ra căm phẫn với những kẻ đặt điều nói xấu mình trước đây. Nhiều đồng chí, kể cả bí thư Nguyễn Văn Sỹ, hình như quên đây là họp  để kiểm điểm mình, mà cứ tập trung phê phán gay gắt những kẻ vu không, ghen tự nói xấu mình. Kẻ ấy biết bị phản đối chẳng biết làm gì khác là im lặng, cúi mặt. Mặc dù từ hôm chỉnh huấn đến nay, hắn là người lên án, kết tội các đồng chí khác với giọng nghiêm khắc, thậm chí tàn bạo. Còn kẻ a dua phụ họa thì ra sức bào chữa, làm giảm nhẹ những sai lầm hắn phạm phải vì sợ cháy thành vạ lây đến bản thân. Cuộc sống thời chiến hình như đã tạo nên những chuyển biến này, ở ngay nơi nhỏ hẹp là khu phố mình đang sinh sống.

Mấy hôm nay, đều đọc Thanh niên cận vệ đội vì mệt mỏi quá, lại mất ngủ, chán ăn. Đang cố hết sức tránh bị đổ như năm ngoái. Vẫn hy vọng nhiều ở cơ hội nghìn năm có một, vẫn chú ý ăn ngủ, hết sức bảo vệ từng chút sức lực còn lại, sẵn sàng để cướp thời cơ.

Nhưng sốt ruột quá 19/5 qua đi lặng lẽ không thấy động tĩnh gì, đoán là mọi việc hỏng cả. Nhưng vẫn hy vọng. Lý do chỉ là: Đó là con đường thoát duy nhất lúc này mình có thể nghĩ ra. Chỉ lo khó khăn chủ yếu vẫn nằm ngoài sự cố gắng của mình. Sợ lại nóng vội, muốn tìm con đường ngắn chỉ có dẫn đến thất bại, chân lý bao giờ cũng đơn giản, nhưng không phải khi nào cũng để nhận ra ngay. Phần lớn là do con người thiếu bản lĩnh, không dám nhận rõ những sự thật tàn nhẫn mình lâm vào.

Tối 24/5, tôi đến Đỗ Các Tôn, lòng không vương chút hy vọng nào. Tôn không rào đón gì cả, nói ngay khi gặp mặt: Ông Tổng (biên tập) lắc rồi… Tôi cũng nói ngay: Tao cũng đoán thế.. Tôi nói với vẻ thản nhiên, nhưng trong lòng thật ra đang có một cái gì vừa tan vỡ. Vì đây là mộng đẹp nhất mà lâu nay mình ôm ấp, khao khát.

Thế rồi hai chúng mình nói chuyện vui với mấy anh em khác có mặt về lũ chuột đang lộng hành ở nhà chữ, có con leo ô vuông thông sang tổ sửa bài lao vào đại náo luôn. Rồi nói vớ vẩn về các giống thú săn, rồi các bạn cũ, về cả người yêu của mấy bạn và tất cả những gì lúc ấy mình chẳng quan tâm gì nhưng cũng hào hứng góp chuyện. Rồi cùng đi uống bia, ăn bánh, nói chuyện đến hơn mười giờ tối. Sự thông cảm, thân thiết chân tình của anh em khiến mình xúc động, một mối xúc động dịu dàng, trong sáng.

Tự nhiên mình nói với các bạn mấy lời: Có những con người dù cuộc sống phải trải qua bao nhiêu gian khổ, phải chịu đựng bao nhiêu đắng cay, cũng vẫn vui tươi, hăng hái, tin tưởng yêu đời. Những con người ấy không sống vì bản thân. Thân thể anh ta và cả cuộc sống của anh chỉ là phương tiện để thực hiện lý tưởng phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân loại, lý tưởng đã soi sáng cả những ngóc ngách nhỏ nhất của cuộc đời anh.

Xuất thần xổ ra một tràng lý thuyết xa vời như thế mà không ai cho là lạ, xem ra các bạn có vẻ hiểu mình. Lúc nói, mình chỉ nghĩ đến anh Phạm Hồng Sơn, anh của mình, thủ trưởng, người chỉ huy đời minh.

Cuộc vượt ngục thế là thất bại. Mình bắt tay ngay vào chuẩn bị cuộc vượt ngục mới.

Lòng vẫn tràn đầy hy vọng.

Vì không hy vọng thì làm sao sống nổi đây???

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 4/8/2021, mùa Covid-19,

 đợt bùng phát thứ 4 đang lúc gay gắt nhất, lại cách ly

giãn cách theo chỉ thị 16, gia đình với gia đình,

phường với phường tiếp tục hai tuần nữa.

P.T.

Tạo một blog miễn phí với WordPress.com.