Pham Ton’s Blog

Tháng Chín 25, 2021

Bạn hỏi chúng tôi trả lời

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:43 chiều

Blog PhamTon  năm  thứ mười ba, kỳ 1 tháng 10 năm 2021.

BẠN HỎI CHÚNG TÔI TRẢ LỜI

07:45 ngày 21/4/2021 Bạn Nguyễn Tường Tâm thư điện tử tuongtamfriends@gmail.com có gửi email hỏi chúng tôi:

“tôi muốn xin danh sách các giáo sư Trường Thăng Long vi tôi muốn biết nhà văn Nhất Linh Nguyễn tường Tam có từng dậy ở đây ko Xin liên lạc với tôi ở tuongtamfriends@gmail.com

Chúng tôi đã trả lời như sau:

“Kính gửi bạn Nguyễn Tường Tam,

Tôi chỉ có trong tay hai tư liệu về trường Thăng Long:

1) Lịch sử truyền thống trường Thăng Long do ông Phạm Ngọc Tâm (học sinh khóa 1940-1944) sưu tầm biên soạn, được Ban liên lạc cựu học sinh trường Thăng Long trước Cách mạng tháng Tám công nhận là tài liệu chính thức về lịch sử trường.

2) Tập sách giới thiệu trường bằng tiếng Pháp École  Thang Long Enseignement secondaire Primaire superieur Primaire et Elementaire Hanoi Rue Bourret Hanoi. Trong cả hai tư liệu này đều không thấy tên nhà văn Nguyễn Tường Tam trong danh sách giáo sư hoặc quản lý nhà trường.

Xin hồi đáp câu hỏi của bạn và cảm ơn bạn đã quan tâm đến blog PhamTon chúng tôi.

Phạm Tôn – Tôn Thất Thành

TpHCM ngày 25/4/2021”

—o0o—

12:46 ngày 14/9/2021bạn Nguyễn Thanh Gia Huy thư điện tử thanhgiahuy2002@gmail.com đã gửi thư điện tử cho chúng tôi  với nội dung:

“Chào anh Phạm Tôn.

Cảm ơn anh đã cho mọi người biết năm 1972 đã có đường Phạm Quỳnh tại Sài Gòn.

Nhân tiện cho tôi hỏi: Không biết anh có giữ đầy đủ toàn bộ Nghị định ngày 10/1/1972 của Đô trưởng Sài Gòn về việc đặt tên đường hay không? Bởi lẽ tôi nhớ rằng trong năm ấy, họ cũng đặt tên đường Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng và Thạch Lam nữa. Nếu có, tôi có thể xin anh được không?

Xin cảm ơn anh.

Huy Nguyen”

 

15/9/2021 chúng tôi đã tìm và vui mừng email cung cấp được tư liệu bạn cần

“Chào bạn Huy Nguyen,

Chúng tôi upload tư liệu gốc lên để bạn tiện theo dõi 

https://www.mediafire.com/file/9u5zz07ydfthqxx/Ten+duong+pho.pdf/file

Mong thông sẽ tin hữu ích với bạn.

Blog PhamTon”

Và cùng ngày chúng tôi được bạn Huy hồi đáp
“Chào anh Phạm Tôn,

Tôi xin cảm ơn anh vì tư liệu quý này. Nhờ vậy, tôi mới biết được những bằng hữu của cụ Phạm Quỳnh như Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim,… cũng đã từng có tên đường.

Chúc anh và gia đình luôn bình an trong đại dịch.

Huy”

Tôi thiết kế khu tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:57 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 10 năm 2021.

TÔI THIẾT KẾ KHU TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

PGS TS KTS Tôn Thất Đại, cháu ngoại học giả Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ông Tôn Thất Đại sinh năm 1937 tại Hà Nội là trưởng nam của trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Giá và Giáo sư Tôn Thất Bình, phó đốc giáo (tương đương với hiệu phó) trường Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng trước Cách Mạng Tháng Tám.

—-o0—-

Tại làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, gia đình họ Phạm có một miếng đất nhỏ ở ngoài đồng, tại đây có mộ cụ Phạm Hữu Điển, thân sinh của Phạm Quỳnh. Ngôi mộ này có một nhà bia, sau bia là mộ Cụ.

Tháng 5/2010, khi sửa chữa nâng cấp khu mộ cụ Đ

Bia tuong niem nha van hoa Pham Quynh
iển, tôi đã thiết kế sửa chữa lại nhà bia, ngôi mộ lát gạch men đen và xám và lát lại toàn bộ diện tích sân bằng gạch vuông đỏ Bát Tràng. Mái đắp giả ngói màu xanh lá cây, xây thêm và đắp lại cụm chim phượng trên hai cột trụ cổng vào khu lăng mộ.

Tháng 9/2014 nhạc sĩ Phạm Tuyên giao cho tôi nhiệm vụ thiết kế khu tưởng niệm học giả Phạm Quỳnh trên phần đất cạnh lăng mộ cụ Phạm Hữu Điển. Mảnh đất này rộng chừng 150m2. Cụ Phạm Quỳnh được an táng ở Huế cạnh cổng chùa Vạn Phước, nên ở đây chỉ xây dựng một khu tưởng niệm ở nơi quê nhà để con cháu có điều kiện thăm viếng và trên mảnh đất này sẽ có thêm một số ngôi mộ của gia đình nữa.

Tôi đã thiết kế một mặt bằng tổng thể trên miếng đất cạnh khu nhà bia và lăng mộ cụ Phạm Hữu Điển. Mặt bằng này gồm một nhà bia trong có bia tưởng niệm Phạm Quỳnh, sau khu nhà bia là một tường dạng cuốn thư đớn giản trên có ghi một câu của Phạm Quỳnh. Cạnh đấy là hai dãy mộ nhỏ cho người trong gia đình họ Phạm.

Những suy nghĩ của tôi khi thiết kế là khu vực này phải thấp hơn khu lăng mộ cụ Điển vì là hàng con cháu. Nhà bia là công trình quan trọng nhất. Tuy là một kiến trúc rất nhỏ nhưng phải đẹp và trang trọng. Tất cả các lăng mộ trong khu vực này đều làm rất đồ sộ, hình thức dân tộc có mái cong, nhiều hoa văn trang trí, phù điêu đắp nổi rồng phượng và nhiều màu sắc rực rỡ. Tôi nghĩ nhà bia này phải hiện đại nhưng lại phải mang tính dân tộc – qua nhiều phác thảo tôi quyết định không làm mái cong mà làm mái bằng hiện đại nhưng có bốn đầu đao trên bốn cột có những con sơn đua ra dạng kết cấu truyền thống – tất cả lát đá đen, hai cột trước với hai hàng chữ Nôm và chữ quốc ngữ hai câu nói nổi tiếng của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn”, “Tiếng ta còn nước ta còn” và chân dung Phạm Quỳnh cùng hàng chữ là do họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn con rể nhạc sĩ Phạm Tuyên chỉ đạo thực hiện.

Phía sau nhà bia, trước đây tôi dự định làm một bức tường dạng cuốn thư nhưng tinh giản đi để viết một câu của Phạm Quỳnh, nhưng đo đạc lại thì diện tích quá hẹp nên cuối cùng quyết định chỉ làm một bức tường nhỏ với kích thước rộng 190cm, cao 200cm, cách bậc cuối cùng của nhà bia có 160cm thôi.

Bia da den o Lang Quynh

Trên bức tường này có câu: “Tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia” . Câu này do Tôn Thất Thành em ruột tôi đề xuất lấy trong bài văn cuối đời của Phạm Quỳnh Cô Kiều với tôi, viết đúng sáng 23/8/1945 định mệnh.

Ngày 22/11/2014 trên đường về Hải Dương tôi đưa bản phác thảo bức tường có câu của Phạm Quỳnh cho

Pham Tuyen - Pham Dung
mấy anh chị em cùng đi trong ô tô xem thì anh Phạm Dũng cháu nội Phạm Quỳnh nói là nếu câu đó là chữ viết của Phạm Quỳnh thì hay biết mấy. Thật là một ý kiến hay. Tôi liền điện thoại cho Tôn Thất Thành và ngay lập tức cháu Thành Trung, con trai em Thành tôi đã gửi từ thành phố Hồ Chí Minh ra bản photo thủ bút của Phạm Quỳnh kèm theo chữ ký của ông được in phóng to. Họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn đã phác thảo bố cục dòng chữ đó lên bức tường dự kiến . Họa sĩ Tuấn đã làm hai phương án: câu này viết thành hai dòng hay viết thành ba dòng? Tuấn và tôi đã thảo luận và quyết định viết thành 3 dòng như vậy có mạch văn khúc chiết, mạnh mẽ nổi rõ tính chất lập luận đanh thép. Hơn nữa với ba dòng chữ thì bố cục trên bức tường sẽ đầy đặn hơn, chỗ ngắt câu sẽ tạo một đường chéo đẹp. Việc tìm những tảng đá có diện tích lớn và làm được dòng chữ này cùng chữ ký của Phạm Quỳnh là công lao vất vả của họa sĩ Tuấn.

Gia dinh Pham Tuyen tai Lang Quynh

Tiếp đó là phần mộ của nhà giáo Nguyễn Ánh Tuyết, vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên và cả ngôi mộ dự kiến của nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng được xây dựng – những ngôi mộ này cũng thiết kế đơn giản với đường nét có góc nhọn tam giác, hình ảnh mái nhà giống bia Phạm Quỳnh để tạo nên sự nhất quán về phong cách kiến trúc.
Lang Quynh_Pham Tuyen Vu Van Nang
Bia và ảnh chân dung của bà Tuyết được một mái che, mái này che được cả bát hương. Ngôi mộ cũng được lát đá đen. Hai ngôi mộ của vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên đặt sát cạnh nhau theo dạng song táng. Vị trí các ngôi mộ khác cũng đã được ấn định trong mặt bằng tổng thể. Việc trồng cây và xây dựng ghế đá tạo nên một công viên nghĩa trang nhỏ sẽ tiếp tục được làm sau này. Cây hương nhỏ thờ thổ địa cũng được tạo hình vuông vắn đơn giản đặt xế cạnh trước nhà bia.

Tuy là một công trình kiến trúc nhỏ, nhưng tất cả con cháu chắt cụ Phạm Quỳnh đều quan tâm đóng góp trí tuệ và công sức một cách trân trọng và tích cực. Việc liên hệ công việc thiết kế, xây dựng, mua sắm vật liệu chủ yếu do Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền con gái cả nhạc sĩ Phạm Tuyên đảm nhiệm với sự giúp đỡ tích cực của đồng chí Vũ Đình Năng (Nguyên nhiều năm làm bí thư Đảng ủy, kiêm chủ tịch xã Thúc Kháng huyện Bình Giang). Ông đóng góp rất nhiều công sức trong việc xây dựng khu bia tưởng niệm này mà người dân ở đây quen gọi là “Lăng Quỳnh”.

Lang Quynh_Nguyen Van Khoan Vu The Khoi Ton Dai Pham Thi Thanh Tuyen

PGS TS TKS Tôn Thất Đại

Cháu ngoại Phạm Quỳnh

VIẾT TIẾP CHUYỆN BIA TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:50 sáng

VIẾT TIẾP CHUYỆN BIA TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Nhà giáo Vũ Thế Khôi

Ngày 08 – 02 – 2015, nhằm 20 tháng Chạp năm Giáp Ngọ, chúng tôi lại theo gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên về nguyên quán của ông là thôn Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nơi mới đây với sự tạo điều kiện của nhân dân và chính quyền địa phương họ đã dựng Bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh. Lần này là họ về thắp hương viếng mộ liệt tổ họ Phạm, theo truyền thống văn hóa cổ truyền thỉnh chư vị về các tư gia vui hưởng Tết cùng con cháu.

Tại khu Lăng mộ cụ tú Phạm Hữu Điển và Bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh, mới hơn hai tháng trôi qua, đã thấy xuất hiện phía sau nhà bia một kiến trúc mới – một đoạn hậu tường ốp đá đen, khắc mấy hàng thủ bút, với chữ ký của chính cụ Thượng Chi:Lang Quynh_Nguyen Van Khoan Vu The Khoi Ton Dai Pham Thi Thanh Tuyen

Tiếng là nước,

                        Có tiếng mới có nước,

                        Có quốc văn mới có quốc gia.

Thâm thúy biết bao!

Buồi chiều cùng ngày, nhạc sĩ Phạm Tuyên, Nhà giáo nhân dân Tôn Thất Thân, cháu ngoại cụ Phạm Quỳnh, cũng các vị lãnh đạo ban ngành huyện Bình Giang tham dự Lễ khánh thành trường Phổ thông cơ sở Thúc Kháng, do công ty cổ phần Him Lam đầu tư 25 tỷ hoàn thành việc xây cất trong thời gian kỷ lục – 4 tháng! Một khuôn viên giáo dục rộng rãi khang trang, chẳng những đầy đủ lớp lang,văn phòng mà còn có cả hồ bơi và sân vận động!

Truong Binh Giang _ Vu The Khoi chup

Ảnh: VTK

Việc trường Phổ Thông Cơ Sở Thúc Khàng tọa lạc tại Làng Văn hóa Lương Ngọc tiếp nối và phát huy truyền thống giáo dục mà Thượng thư Học bộ Phạm Quỳnh đã xây nền móng bằng việc hơn tám chục năm trước đây, đầu những năm 30 của thế kỷ trước, cụ đã cho đặt trường Tổng sư của tổng Ngọc Cục ở chính làng quê này.

Vieng mo Pham Quynh o Hai Duong 18V.T.K.

Một truyện ngắn ra đời (Phần 12)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 10 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI:

MỘT TRUYỆN NGẮN RA ĐỜI (Phần 12)

Phạm Tôn

Tối 10/6/1965, đi dạy học, gặp Đoàn Di. Di cho biết: giáo viên trong Thanh niên xung phong cũng lao động như anh em, chỉ có được một số thời gian để soạn bài giảng thôi. Còn nói: “Đã đi thanh niên xung phong mà còn đòi hỏi chế độ, điều kiện này nọ là không được”. Thế ra mình là người đòi hỏi này nọ mà không biết. Đáng tiếc thật.

Chính Di cũng muốn đi Thanh niên xung phong, coi đó là điều kiện tốt để thực hiện ước mơ mà bạn thường gọi là “âm mưu”. Mình cũng thấy như thế, nên muốn nhắc bạn là nghề nào cũng có chuyên môn, kỹ thuật của nó, cần phải học mới làm nổi. Lại thuộc loại nghề khó nhất trong các nghề, đến mức được gọi là nghề kỹ sư tâm hồn. Xem ra vốn hiểu biết của bạn về văn học nghệ thuật thì mình còn thấy đáng ngờ lắm.

Xẩm tối hôm sau, phân đoàn trưởng Quí báo đi họp chi đoàn, nói hộ cậu ta có việc phải vắng mặt. Cuộc họp kiểm điểm việc vận đông thanh niên tham gia thanh niên xung phong, có bác Hưng ở chi bộ Đảng dự. Phó bí thư chi đoàn Vịnh cũng nghỉ không lý do. Cuộc họp thể hiện tính Đoàn kết rất cao. Hai đồng chí vắng mặt phạm sai lầm vẫn bị phê bình thích đáng. Hầu hết có mặt đều xung phong đi, chỉ có hai đồng chí hoàn cảnh quá khó khăn mới ở nhà. Chi Đoàn 12, cả 14 đoàn viên đều xung phong, còn vận động được 35 thanh niên. Bí thư chi đoàn ấy là nữ, vừa được đề đạt thay đồng chí nam đi nghĩa vụ quân sự.

Suốt buổi họp mưa tầm tã, cứ chốc chốc lại phải đổi chỗ ngồi để tránh ướt.

Trưa 12, Vũ Văn Chỉ về, ngủ trưa một giấc rồi sang trường Đại học Nông nghiệp có việc. Thời gian quá ít, chẳng nói với nhau được gì mấy, nhưng đủ để thấy rõ là bạn đã vững vàng hơn nhiều, biết kiên nhẫn, khiêm tốn, không còn nôn nóng như trước.

Trước lúc sang trường, Chỉ mở túi xách lấy ra hai gói kẹo, một nải chuối đưa mình. Tôi đùa: Tao có phải trẻ con đâu mà cho kẹo nhiều thế. Đem sang trường cho chúng nó còn hơn, bên ấy đông lắm… Chỉ nói ngay: Đông thì cứ kệ chúng nó… Cứ để đây.

Câu nói thật tự nhiên mà dễ thương. Lại lục trong túi ra một cuộn vải ca ki, nói: May ở trên ấy sợ không vừa, tôi mang về đây để ông đưa may… Tôi không hiểu ý câu nói nên bảo: Được, ở đây có một tay may quen, may rất nhanh, chỉ mai là lấy được thôi. Nhưng phải có quần làm mẫu. Chỉ nói: Không, đây là để may cho ông đấy!

Tôi ấn ngay cuộn vải vào tay Chỉ, nói: Không, không thể như thế được. Mày biết tính tao rồi. Tao không mặc thứ ấy. Quần áo nay tao đủ rồi. Có đi đâu mà quần với áo.

Chỉ đặt cuộn vải lên cái giá để áo, cười: Sao mày lại thế, kệ mày. Cứ để đấy. Tôi nói: Không được đâu… Chỉ bảo: Được rồi, tao sẽ có cách trừng trị mày.

Tiễn Chỉ sang trường rồi, mình cảm thấy trong lòng khoan khoái, dễ chịu. Dù sẽ không nhận món quà to ấy đâu, nhưng mình vẫn sung sướng hạnh phúc cảm nhận được lòng tin yêu thắm thiết chân thành, mộc mạc của bạn.

Sáng hôm sau, Chỉ lại ghé nhà rồi vội đi lo công việc. Bác già và mình đã chuẩn bị một bữa cơm hết sức là ngon để đãi bạn. Nhưng mưa tầm tã suốt buổi sáng. Hai bác cháu ăn cơm xong mưa vẫn còn rả rích… Mãi 5 giờ chiều Chỉ mơi xong việc, ghé nhà rồi lại vội đi ngay, không kịp ăn cơm.

Như mọi khi, hai đưa lại đi bộ ra bến xe. Hết vé. Phải đi chuyến sau, mãi bảy rưỡi tối xe mới chạy. Hai đứa lại có dịp trò chuyện. Chỉ nói: Thành ạ, mình đã suy nghĩ về chuyện Thành viết trong thư hôm mồng năm Tết…

Tôi biết Chỉ muốn nhắc chuyện kết nghĩa anh em, bèn nói ngay: Thôi, không nói chuyện ấy nữa.. Chỉ bảo: Thì thôi vậy… Tôi nói: Mình cũng lắm lúc vớ vẩn lắm… Vì tôi nghĩ chuyện đó không cần nói rõ ra nữa. Thì Chỉ cười hóm hỉnh, nói một câu tôi không sao hiểu nổi: Được rồi sẽ có cách trừng trị mày. Mình cũng cười… Vì đã tin là bạn rất tin yêu mình. Thế là đủ rồi. Mình sẽ làm tất cả những gì tự thấy có trách nhiệm phải làm với bạn.  Tình cảm của hai con người đâu cần có những cam kết, giao kèo mới giữ vững được. Nó bền chặt sâu sắc đến đâu là do mối quan hệ trong thực tiễn cuộc sống gắn bó họ sâu sắc, bền chặt đến mức nào mà thôi. Rồi chuyển sang bàn việc riêng của nhà Chỉ lúc nào không biết, cùng nhau bàn bạc việc nhà thẳng thắn, thân thiết. Phút chia tay, hai đứa bịn rịn cố nói nốt những điều chưa nói được. Người soát vé xe giục giã đến phát gắt lên, Chỉ mới chịu lên xe. Một tình cảm lạ mới nảy sinh. Lần đầu tiên cùng nhau bàn bạc việc nhà với sự đồng lòng, cảm thông cao. Không còn là bạn nữa, mà đã là hai anh em hẳn hoi.

Hôm sau, toàn thân nhức mỏi, đặc biệt cái chân phải lại đau mà suốt buổi chiều đi mua thuốc không đâu có bán thứ đang cần.

Tối, đi xem phim, Bảy người dũng cảm, cuốn phim đầu tay của Ghêraximốp làm từ năm 1936. Xem cho biết thôi, đơn giản, sơ lược hết sức.

*

*    *

Em trai về nhà được mấy hôm rồi, nhưng như một người khách trọ không vui tính và thiếu tế nhị. Việc này hình như chẳng liên quan gì đối với mình. Chiều hôm sau, gặp bạn Long bán báo. Lại những lời tâm sự chân thành, những câu hỏi chung chung về tâm lý rất khó trả lời. Thương bạn cảm thông với nỗi cô đơn, lẻ loi bạn đang phải chịu đựng, chỉ biết nghe bạn nói mà chẳng biết nói gì.

Tối đi họp chi đoàn, họp xong lại xuống khối 86 nói chuyện với mấy bà mẹ, vận động cho con, cháu đi thanh niên xung phong. Vì thanh niên đi thường ít bàn bạc thuyết phục gia đình, một kiểu tả khuynh khá phổ biến hồi ấy kiểu như trong lời một bài ca thịnh hành thời đó có câu “con đi nhé, mẹ lại nhà… nếu thương con thì đừng nhớ con để con yên tâm lên đường”

Ngày 18/6/1965, kỷ niệm ngày vào ngục nhàn quá đỗi vừa ba năm, tức ba mươi sáu tháng, hơn một nghìn ngày. Đúng hôm nay, bị một cơn đau dữ dội, bỏ cơm tối, bỏ cả buổi đi nghe nói chuyện về bộ ba tự thuật của Mắcxim Gorki, chỉ ngồi ở sân mà ho, mà thở, hai bên ngực đau nhức dữ dội.

Khoảng tám giờ tối, một cơn mưa lớn bất ngờ trút xuống, kéo dài đến hết sáng hôm sau. Cơn đau chỉ vì trở trời. Nhưng cũng cảnh báo, nhắc nhở mình cần khách quan hơn, kiên nhẫn hơn. Bốc lên một chốc… chẳng có gì là anh hùng cả. Cần nhớ là: Chính trong hoàn cảnh cụ thể hiện tại của mình với muôn ngàn khó khăn chồng chất, biết tìm ra con đường đúng đắn nhất, mang lại kết quả cụ thể, phục vụ được nhân dân. Tóm lại là: Vượt  ngục mà không bị thương vong.

Chiều hôm sau, mệt mỏi, không làm gì cả, ngồi dậy nói chuyện với em trai. Em nói thật là rất thắc mắc với mình, coi sự góp ý của mình kỳ trước là nghiệt ngã, đánh giá con người em quá thấp. Chính vì vậy mà suốt mấy hôm nay em cứ đi biền biệt suốt ngày, hoàn toàn bỏ mặc việc nhà, tránh mặt mình. Rồi chính những ngày ấy, em đã suy nghĩ nhiều mặt thật kỹ càng và bây giờ nhận ra những lời góp ý ấy là đúng. Em đã chuyển biến, có quyết tâm vươn lên rõ ràng. Thật mừng mình đã tìm lại được em trai.

Đã lâu chưa vào thăm anh Phạm Hồng Sơn. Hôm thì bận, hôm lại mệt. Cứ có chờ một hôm nào vừa rảnh rỗi, vừa dễ chịu trong người mới vào anh hẳn một buổi, chuyện trò cho thỏa. Nhưng chờ mãi vẫn chưa khi nào vừa rảnh vừa khỏe. Thế là hôm nay, 20/6, tôi dậy từ năm giờ sáng, ra ngay tàu điện đi Hà Đông. Đến Hàng Bông, thì tàu vừa chạy. Thế là chạy đuổi theo tàu, rồi cũng nhảy được lên tàu. Không kịp ăn gì, người lại mỏi mệt, nhưng vẫn cứ đi, vì mấy hôm nay trở trời, bản thân mình cũng đau nhức ghê gớm, người sút hẳn đi, trong những cơn đau, mình nghĩ đến Anh nhiều.Chắc chắn là trong những ngày này Anh cũng phải chịu những cơn đau, những đợt tiến công điên cuồng của bệnh tật, nhất là bệnh mới quái ác viêm thận mới phát hiện. Một ý nghĩ đột nhiên hiện ra trong óc, rất rõ ràng, mạnh mẽ khiến mình đau khổ cực độ: Nếu như trong những ngày Anh có làm sao thì… Mình không dám nghĩ tiếp nữa. Để xua đuổi ý nghĩ đen tối ấy, mình chọn mấy cuốn sách mang vào cho anh, coi như Anh vẫn thực hiện kế hoạch mà Anh có đã hội ý với mình kỳ trước, một cách bình thường.

Xuống tàu là lao ngay đến Quân y viện 103. Bấy giờ mới nhớ ra là chưa hề nhìn thấy một chữ thập đỏ nào báo hiệu có bệnh viện cả, lại đâm lo: Hay là bệnh viện sơ tán đi nơi khác rồi? Cổng quân y viện không một bóng người! Nhưng may là bệnh viện vẫn còn đây. Chỉ có giờ thăm người bệnh là thay đổi. Sáng chủ nhật vẫn làm việc như thường, người nhà bệnh nhân không được vào. Buồn quá, chưa biết tính sao.  Lại mệt, không thể về Hà Nội rồi  chiều lại vào. Mà nếu không gặp Anh, không biết tình hình Anh hiện nay thì không sao yên lòng được. Đang băn khoăn thì ông lão thường trực má hóp đen đúa, con người rất nguyên tắc đến mức khắt khe, đi ra. Mình vội nói: Thưa bác, cháu ở xa không biết là bệnh viện đổi giờ, sáng nay không được vào thăm người thân, mà chiều thì lại không thể vào được. Vậy cháu nhờ bác chuyển giúp mấy cuốn sách này cho…

Ông già cau có quắc mắt hỏi: Anh đưa cho ai? Tôi thưa: Anh Phạm Hồng Sơn ạ. Cụ đưa mắt nhìn quanh cổng, rồi quay đầu lại, hất đầu, nghiến răng nói nhanh: Vào đi, nhưng nhớ phải ra ngay đấy.

Bất ngờ quá, tôi sung sướng chạy ngay vào quên cả đưa chứng minh thư, quên cả cảm ơn, ngay cả câu hứa hão: Vâng, cháu ra ngay “định nói” nồi cũng chẳng kịp nói còn  vội chạy vì mừng.

Chỉ có một mình mình vào được bệnh viện. Đi thật nhanh, đến phòng Anh đúng lúc Anh đang ngồi trên xe ngay cửa ra vào. Anh ngỡ ngàng nhìn mình một lúc rồi như tin chắc ở mắt mình, mới cười: Sáng hôm nay mà vào được là tài đấy

Anh tươi cười lắc xe vào buồng cùng mình. Mình thuật chuyện vào cửa, còn nhắc cả lời ông thường trực già khó tính dặn kỹ là phải ra ngay, cũng chỉ định hỏi thăm Anh dăm ba câu rồi đưa sách và về ngay cho đúng hẹn, nhưng Anh cười nói ngay một câu làm mình thay đổi hẳn ý định: Cốt là ở chỗ vào thôi. Vào được là ổn rồi, không đi đâu mà vội!

Anh lại cười. Vẻ ung dung, bình thản của Anh khiến mình thấy rõ là Anh muốn mình ở lại với Anh như mọi khi, chắc Anh có nhiều điều suy nghĩ muốn nói với mình chăng.

  • Dạo này thế nào hở Anh?
  • Tôi đọc xong cuốn Phương pháp sáng tác trong văn học nghệ thuật rồi… Bây giờ đang làm tóm tắt. Dạo này mình mệt, tiếp thu kém lắm. Không ghi lại thì không thu hoạch được gì. Mà ghi thì rất chậm, mệt quá. Song cũng phải cố gắng để nắm lấy những xu hướng chủ yếu, biết được những tác giả nào thuộc dòng nào để còn biết mà đọc…

Anh nhờ mình cất hộ cái giá gỗ để ghi chép đang đặt trên đùi Anh rồi nói tiếp: Bây giờ, cái gay chủ yếu của tôi là néphrite (tiếng Pháp: viêm thận). Mình thì cứ mặc kệ. Việc mình mình làm. Việc họ họ lo. Nhưng lần này xem ra cánh chuyên môn có vẻ hết hy vọng rồi. Quanh đi quẩn lại, chỉ là tiếp xêrom cho hạ tỷ lệ u rê trong máu. Mà chữa như thế thì chỉ là chữa đằng ngọn. Chẳng ăn thua gì đâu…

Chợt thấy lọ thuốc Nam để trên bàn có đề tên Anh, tôi hỏi: Lại cả thuốc Đông y nữa hở anh?

Anh nheo mắt cười, đưa tay vuốt mớ tóc chưa chải, cứ bồng lên từng đám một, anh nói: Hôm nọ, dáng chừng bí, cánh Tây y ở đây quyết định giới thiệu đi Đông y. Các cụ lang cũng khám rất cẩn thận, rồi cho thuốc. Nhưng xem ra họ cũng chẳng tin tưởng gì đâu… Tôi có một anh bạn cũng bị néphrite. Đến khi bệnh kịch phát, Tây y chịu bó tay, cũng có chuyển sang cho Đông y chữa trị. Uống thuốc ta được vài hôm thì bệnh tình thuyên giảm hẳn, người bệnh cảm thấy dễ chịu… Nhưng chỉ được mấy hôm rồi anh ta lên một cơn bệnh thật nặng và chết rất mau chóng.

Vì thế, chai thuốc Nam để trên bàn và những lời anh Sơn nói về việc chữa thuốc Nam ít hiệu quả, gây cho tôi ấn tượng rất nặng nề. Tôi muốn nói sang chuyện khác để phá tan bầu không khí u ám này đi. Tôi nói: Mùa hè, thời tiết thay đổi luôn, tự nhiên ảnh hưởng đến sức khỏe… Cho nên cũng nên giảm bớt thời giờ làm việc đi mới được anh nhỉ… Mấy hôm vừa qua, chắc anh khó chịu lắm phải không anh? Anh nói: Nhất là cái hôm thứ sáu ấy, mưa to sấm sét ùng ùng đến là khổ. Dạo này tôi làm việc ít lắm… Đọc thì không vào mấy, cần phải ghi chép. Nhưng ghi chép lại mệt, thành ra dễ nản… Cũng có lúc viết một ít. Nhưng khó quáChẳng chắc có ra được cái gì không mà phải suy nghĩ nhiều, rất mệt. Cũng chán nốt…Thành ra gần đây công việc dịch lại có vẻ hấp dẫn hơn. Có lẽ rồi lại liên lạc với các anh ấy để tiếp tục dịch thôi… Con đường kia thì dài… Mà mình thì ít thời gian quá. Chưa chắc làm được cái gì …Còn dịch thì đằng nào cũng vẫn phục vụ được…

Tôi đau xót nghe Anh nói những lời này. Anh biết cái chết đang đến gần. Và Anh tranh thủ từng giây từng phút còn lại để cống hiến cho Nhân Dân, cho Tổ Quốc. Nhưng, rõ ràng Anh vẫn tha thiết muốn viết lắm. Thật ra, không phải là đã hoàn toàn hết hy vọng thực hiện mong ước đấy. Anh, với tư cách một chiến sĩ cách mạng, một người từng trải qua cuộc sống vẻ vang, lại đang mang trong thân mình ngọn lửa đấu tranh rừng rực bốc cháy tỏa sáng chói lọi… Bản thân Anh đã là một huyền thoại, một tấm gương sáng cho hàng triệu thanh niên và nhân dân noi theo. Những lời chân thành, nhiệt tình của Anh kể về  những con người và cuộc sống Anh hằng tha thiết quí mến và khâm phục nhất… lẽ nào lại có thể là những lời vô ích như Anh thường khiêm nhường nhìn nhận như vậy. Tôi bộc bạch với Anh tất cả những ý nghĩ ấy và một lần nữa, xin Anh cứ mạnh dạn cầm bút, không cần quan tâm đến thể loại, không nệ gì hình thức, chỉ càn viết ra những lời Anh thấy cần nói nhất, muốn nói nhất, khiến người đọc soi vào mà tự hiểu bản thân hơn, muốn nâng mình lên, quyết không thể sống như trước nữa.

Anh có vẻ chăm chú lắng nghe như suy nghĩ lung lắm. Rồi, không đề cập gì những điều mình vừa đề xuất, tự dưng lại nói sang một chuyện khác hẳn: Tôi tính, hay là ta cứ dùng Rimifon biết đâu lại khỏi đấy. Tôi quen mấy tay bị viêm hận nhưng là lao thận. Các tay ấy dùng Rimifon và kháng sinh rồi đều khỏi hẳn.

Thì ra Anh còn đi xa hơn, đã nghĩ đến chuyện trước mắt là phải chữa cho khỏi cái bệnh mới quái ác đang ngáng đường Anh trong dự định thực hiện “kế hoạch mới”.

Tôi ân hận đã khiến Anh đau khổ khi cố nài Anh đừng bỏ con đường dài, buộc Anh nghĩ đến căn bệnh quái ác, không có cách chữa, đang hành hạ Anh. Chính lòng khao khát viết về Nam Bộ đã khiến Anh nảy ra mong ước cực kỳ phi lý là dùng Rimifon thuốc chữa lao để trị khỏi bệnh viêm thận cho Anh do thần kinh thực vật rối loạn gây nên.

Biết Anh không sợ sự thật, không bao giờ né tránh thử thách, tôi nói thẳng là việc đó là không thể thực hiện được vì Anh không bị lao như các bạn kia…Nhưng rồi, chính tôi lại  nói dối một câu: Nhưng Đông y có khi lại hay Anh ạ. Dạo trước, cậu  bạn em cũng bị như Anh. Tây y bó tay, cho chuyển sang Đông y lại thấy đỡ hẳn…

Anh nghe là nói ngay: Nhưng tôi, tôi chẳng tin là nó chữa được tận gốc đâu.

Nói rõ ràng như vậy rồi Anh im lặng.

Câu nói đó khiến lòng tôi thắt lại.

Nhân lúc có một người bạn cùng nằm viện sang thăm Anh, tôi vội đứng dậy, xin phép về. Tôi để lại Anh xem dần hai cuốn sách viết về Gorki, một cuốn về Maia và cuốn Gia đình Artamônốp bằng tiếng Pháp Anh hỏi mượn từ kỳ trước. Cuốn này cũng của Gorki, nhưng khi đã ở độ chín của tài năng viết về mấy thế hệ một gia đình đại gia Nga có cụ cố xuất thân nông nô. Bàn tay Anh nóng ẩm xiết chặt tay tôi như chưa muốn rời. Anh mỉm cười duyên dáng, nheo nheo đôi mắt luôn mở to, chân thật, rồi hơi cúi đầu tiễn tôi.

Ngoài sân viện, nắng tháng sáu vàng rực rỡ, chói chang. Một ngọn gió mát rượi hiếm hoi, lùa qua cửa sổ, làm rung rinh đôi bông hồng ai tặng, Anh cắm trong cốc thủy tinh trong suốt. Ánh sáng rọi khuôn mặt Anh rất yêu đời. Làn gió đùa mớ tóc bồng bềnh của Anh. Tôi ngắm kỹ mái tóc mềm mại, lơ thơ, chưa có một sợi bạc. Tôi tự cười thầm: đã có lần tôi viết thư, kể cho bạn là đầu anh đã điểm đôi sợi tóc bạc… Thật ra, Anh bao giờ cũng trẻ trung hơn, giàu sức sống hơn, tươi vui, yêu đời hơn những gì người ta đã viết hoặc nói về Anh. Ở con người như khắc khổ, cứng rắn ấy luôn có một vẻ gì hồn nhiền, chất phác, giản dị, đáng mến lạ, không sao tả nổi.

Thành phố Hồ Chí Minh, đang thời giãn cách,

 cách ly nghiêm ngặt nhất quyết thắng

 đại dịch theo tinh thần chỉ thị 16.

P.T.

Blog tại WordPress.com.