Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 31, 2021

Kép Tư Bền với Hải Triều, Hoài Thanh và Nguyễn Công Hoan

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:01 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 11 năm 2021.

KÉP TƯ BỀN

VỚI HẢI TRIỀU, HOÀI THANH VÀ NGUYỄN CÔNG HOAN

Nguyễn Trung

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Kép Tư Bền tập tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan đã làm sôi nổi hẳn cuộc tranh luận nổi tiếng một thời giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh ở nước ta nửa sau những năm 1930. Hôm nay, chúng tôi đưa lên blog tư liệu sưu tầm của Nguyễn Trung trích  từ bài Cuộc tranh luận về quan điểm nghệ thuật thời kỳ 1935-1939 của Giáo sư Nguyễn Đình Chú, Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội, đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học của Viện Văn học – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam số 4/2011 và sách Đời viết văn của tôi của Nguyễn Công Hoan, Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, năm 1971.

*

*          *

I. Trích bài Cuộc tranh luận về quan điểm nghệ thuật thời kỳ 1935-1939

của Nguyễn Đình Chú (từ trang 44 đến trang 48)

 (…) Nhân dịp tập truyện ngắn mang tên Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan được xuất bản (1935), trên Tiểu thuyết thứ bảy số 62 ra ngày 2/8/1935, Hải Triều viết bài Kép Tư Bền – một tác phẩm thuộc về trào lưu “Nghệ thuật vị nhân sinh” ở nước ta, trong đó, ông tỏ rõ khoái chí đã có Kép Tư Bền để chứng minh cho sự thành công của quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh. Hải Triều viết: “Ở xứ này muốn chủ trương một vấn đề gì mà đến khi tìm vài cái chứng giải thiết thực về xã hội, thật nhiều khi không biết vớ vào đâu. Tôi nhận thấy ở nước ta, trong văn học giới đã bắt đầu có cái triều lưu “nghệ thuật vị nhân sinh”; “tôi đã thừa nhiều cơ hội để đề khởi đến nó và đã có phen bút chiến với ông Thiếu Sơn về vấn đề ấy (Báo Đời mới số 1,3,4). Nhưng đến khi ai hỏi tôi cái tư triều văn nghệ vị dân sinh nước ta đâu nào? Thật tôi cũng thấy lúng túng không biết kiếm đâu cho ra một cái chứng cứ đích xác. Nhưng đến ngày nay, tôi đã có thể tự đắc nói rằng: “Có rồi, có rồi, ông cứ xem quyển Kép Tư Bền đi. Cái chủ trương “nghệ thuật vị nhân sinh” của tôi ngày nay đã biểu hiện bằng những bức tranh rất linh hoạt dưới ngòi bút tài tình của nhà văn sĩ Nguyễn Công Hoan mà người ta đã tặng cho cái tên hay là “nhà văn của hạng người khốn nạn”. “Cái mục đích của thuyết nghệ thuật vị nhân sinh đến đây có thể gọi là có chút thành quả vậy”; “Kép Tư Bền có thể nói rằng đã mở một kỷ nguyên mới cho cái tư triều văn nghệ tả thiệt và xã hội ở nước ta”…Và lần này thì không phải Hải Triều mà chính Hoài Thanh đã chủ động tấn công. Trên báo Tràng An số ra ngày 15/8/1935, Hoài Thanh cho in bài Văn chương là văn chương (đáp lại bài Phê bình văn nghệ của ông Hải Triều ở TTTB số 62). Trong đó, ông viết: “Ông Hải Triều có lẽ là một người đối với thời cuộc có tấm lòng nhiệt thành đáng trọng, một nhà xã hội học, một nhà triết học hay gì… học đi nữa tôi không biết. Nhưng rõ ràng ông không phải là một người hiểu văn chương. Người ta vẫn có thể đứng về phương diện xã hội phê bình một văn phẩm cũng như người ta phê bình về phương diện triết lý, tôn giáo, đạo đức… Nhưng có một điều không nên quên là bao nhiêu phương diện ấy đều là phương diện phụ. Văn chương muốn gì thì trước hết cũng phải là văn chương đã”; “Ông Hải Triều chán những tác phẩm ấy không phải vì nghệ thuật thấp kém mà ông thích quyển Kép Tư Bền cũng không phải vì nghệ thuật quyển này có cao hơn. Nghệ thuật là cái gì đó mà ông không biết đến. Ta hãy nghe ông nói: “Thời các ngài đọc các truyện như Người ngựa và ngựa người, Thằng ăn cắp, Kép Tư Bền… các ngài sẽ thấy trong xã hội một số đông người phải bán thân nuôi miệng, hoặc các ngài sẽ thấy những đứa bé cùng khốn quá, quyết ăn lường để chịu đấm, hoặc các ngài thấy một giai cấp đủ ăn, đủ mặc, chực mua cái cười vui bên cái sầu cái khổ của kẻ nghèo”. Nếu phải nhờ đến Kép Tư Bền ra đời mới biết trong xã hội này phải có người bán thân nuôi miệng, có người ăn lường chịu đấm… thì xin lỗi độc giả – công chúng nước Nam này rặt là người ngu. Có ngu mới không thấy những điều tầm thường như vậy, một đứa trẻ lên mười cũng thừa hiểu. Dẫu sao tôi cũng tin ở trí thông minh của công chúng hơn. Công chúng thích tập truyện ngắn Kép Tư Bền không phải thích xem những chuyện họ vốn thừa biết từ bao giờ mà thích những câu văn ngộ nghĩnh, có ý tứ mà Nguyễn Công Hoan đã khéo léo lắp vào trong những cốt truyện không có gì. Người ta xem một cuốn truyện chứ có phải xem một thiên phóng sự đâu?”.

(…) Sau bài viết của Hoài Thanh hai tuần lễ, Hải Triều đã có bài Nghệ thuật và sự sinh hoạt xã hội (Đáp lại bài Văn chương là văn chương của ông Hoài Thanh ở báo Tràng An số 11/8/1935). Đến lượt mình, Hải Triều cũng lại cho Hoài Thanh là người không hiểu nghệ thuật và “vô ý đã mài gươm tự sát”. Hải Triều viết: “Ông Hoài Thanh bảo: “Khi thưởng thức một tác phẩm về nghệ thuật, lẽ cố nhiên phải để nghệ thuật lên trên, lẽ cố nhiên phải chú ý tới cái đẹp, trước khi chú ý tới những tính cách phụ, những hình thức tạm thời của nó”. Căn cứ vào cái quan niệm ấy, ông bảo chúng ta rằng cái giá trị quyển Kép Tư Bền không phải ở chỗ Nguyễn Công Hoan tả những nỗi đau thương của hạng người nghèo khó hay những cái xấu xa hèn mạt của một chế độ xã hội hủ bại, mấy cái ấy đối với ông Hoài Thanh, ông đều liệt vào “cái tính cách phụ” hay những “hình thức tạm thời”. Chính giá trị quyển Kép Tư Bền theo ý ông là những câu văn ngộ nghĩnh, có ý cứ mà Nguyễn Công Hoan đã khéo lắp vào những cốt truyện không có gì”… Tôi thiết tưởng muốn đáp lại bài của ông Hoài Thanh, tôi chỉ khuyên ông ấy chịu khó đọc lại những bài mà tôi đã viết về vấn đề ấy. Nó sẽ là những tiếng đáp lại rất vững vàng chắc chắn cho ông rồi. Ông Hoài Thanh cho tôi nói câu này: Ông bàn về nghệ thuật mà thực ông chưa hiểu về nghệ thuật là cái gì. Nói đến cái đẹp trong nghệ thuật – nói gồm lại là trong văn nghệ – mà ông chỉ chú ý có một phương diện về hình thức câu văn cho ngộ nghĩnh, cho du dương, thì đã có gì là đẹp đâu, đã có gì là nghệ thuật đâu? Không, ông ạ, khi nói đến nghệ thuật, ông phải chú ý đến cả hai phần: hình thức (forme) và nội dung (fond). Hai cái phân tích ấy nó đắp nổi, nó bồi bổ cho nhau, không cái nào là thực thụ, cái nào là tạm thời, cái nào là chính thức, cái nào là phụ thuộc. Bên này ông Hoài Thanh không thế. Trong khi ông thưởng thức văn nghệ, ông chỉ chú trọng câu văn hay, chẳng khác nào con người ta có hai chân, ông cưa bớt đi một chân rồi bảo thế là đẹp, thì chẳng biết đẹp ở cái gì nhỉ?”…

(…) Hoài Thanh đã có bài viết tiếp cũng lấy nhan đề là Văn chương là văn chương(Đáp lại ông Hải Triều và ông Phan Văn Hùm trên Tin Văn) đăng ở báo Tràng An số 62 ngày 1/10/1935. Ở đây (…) Hoài Thanh cãi lại: “Tôi đọc bài của hai ông, đọc đi đọc lại rồi ngẫm nghĩ, tôi chỉ thấy hai ông trách tôi ở chỗ này: không cho nhà văn làm công việc xã hội. Sao các ông không thấy trong bài trước tôi đã có câu: “Nhà văn là một người sống giữa xã hội cố nhiên phải tùy sức mình, làm hết phận sự đối với xã hội. Tôi muốn nói nhà văn có lúc phải biết bênh vực kẻ yếu, chống lại sức mạnh của tiền tài, của súng đạn, nhưng trong lúc đó nhà văn không làm văn nữa mà chỉ làm cái phận sự của một người cầm bút mà thôi. Ta nên nhớ rằng càm bút chưa phải là viết văn. Văn chương là một vật quý có đâu được nhiều thế. Cũng trong bài trước, tôi nhận rằng một quyển sách có tính cách văn chương vẫn có thể đèo thêm nhiều tính cách khác nữa như chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, v.v… Tôi chỉ muốn người ta phân biệt các tính cách ấy ra và trong lúc xét quyển sách về phương diện nghệ thuật, phải để ý đến tính cách khác… tôi lại muốn người ta nhận rằng một quyển sách chuyển tải nỗi khổ của kẻ lao động chưa phải là sách hay, hay là ở chỗ biết cách tả. (Hoài Thanh – Bình luận văn chương. NXB Giáo Dục, 1992, tr.28-39) cũng cần nói thêm là trong quãng thời gian giữa hai bài viết cùng một nhan đề Văn chương là văn chương (Từ 15/8/1935 đến 1/10/1935), ngày 14/9/1935, trên Tiểu thuyết thứ bảy số 68, trong bài Phê bình văn, với tinh thần phê phán tình trạng viết văn phê bình nhàm chán đương thời, Hoài Thanh cũng lại có ý kiến về Kép Tư Bền và Hải Triều. Ông viết: “Còn như lặp đi lặp lại những điều trơ trơ ra trước mắt, thì viết làm gì mất công. Như gần đây trong bao nhiêu bài phê bình quyển Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan, tôi chỉ thấy có bài của ông Hải Triều là còn có một hai chỗ đặc sắc, tuy ông Hải Triều không đứng về phương diện văn chương. Ngoài ra, người nào cũng khen Nguyễn Công Hoan có lối văn trào phúng và hay tả những cảnh khốn nạn. Thì hai cái đặc tính ấy của văn Nguyễn Công Hoan người ta đã nói đến những bao giờ. Nói lại làm gì nữa, nếu không có thể nói lại một cách hay hơn”. Cũng cần nói thêm rằng: trong khi Hoài Thanh và Hải Triều bút chiến với nhau chung quanh tác phẩm Kép Tư Bền thì tác giả Nguyễn Công Hoan có thể nói vẫn là người của cả hai bên, thậm chí là còn của Hoài Thanh nhiều hơn (Chúng tôi nhấn mạnh – N.T). Cụ thể: nhân dịp Kép Tư Bền ra mắt bạn đọc, Nguyễn Công Hoan vào Huế chơi, ở ngay trong nhà Hoài Thanh. Còn Hải Triều chủ nhiệm nhà sách Hương Giang thì chỉ mời ông đến cho độc giả chữ ký. Sau này, trong Đời viết văn của tôi, (nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1971), Nguyễn Công Hoan đã kẻ lại: “Khi tôi ở Huế, nhà sách Hương Giang tổ chức một buổi mời tôi đến ký tên vào những tác phẩm của tôi do độc giả đưa lại… Nhà Hương Giang còn mở một cuộc trưng cầu ý kiến các bạn hàng xem những cuốn nào được hoan nghênh. Kết quả là Kép Tư Bền được xếp lên hàng đầu. Cuốn Kép Tư Bền là đề tài cho một cuộc bút chiến giữa hai chủ trương về nghệ thuật. Phái nghệ thuật vị nhân sinh của Hải Triều đã viết nhiều bài đanh thép để công kích phái nghệ thuật vị nghệ thuật của Hoài Thanh. Tất cả những sự việc trên đã làm cho cuốn Kép Tư Bền của tôi được công chúng độc giả rộng rãi hơn trước chú ý đến. Riêng tôi việc cuốn Kép Tư Bền được hoan nghênh làm cho tôi càng tin rằng tôi viết nổi tiểu thuyết và tôi có thể theo đuổi được nghề viết văn. Còn như là tiểu thuyết xã hội, hay nhà văn tả chân, hay nhà văn trào phúng và hài hước hay nhà văn của dân nghèo, v.v… như các nhà phê bình đã nhận định về tôi, tôi cho là tùy người ta, muốn gọi gì thì gọi”.

II. Trích sách Đời viết văn của tôi của Nguyễn Công Hoan (trang 160-161)

       Trong Đời viết văn của tôi, do nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, xuất bản năm 1971, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã chân tình, ưu ái viết về Phạm Quỳnh như sau:

      “Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Namtự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Namtriều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền,tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.”

(Trích ở Đời viết văn của tôi NXB Văn học Hà Nội 1971)

N.T.

Nguyễn Tuân dùng phở với con, cháu Phạm Quỳnh giữa Sài Gòn giải phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:54 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 11 năm 2021.

NGUYỄN TUÂN DÙNG PHỞ VỚI CON, CHÁU PHẠM QUỲNH GIỮA SÀI GÒN GIẢI PHÓNG

Tôn Thất Thành

Nhà báo

Nói đến nhà văn Nguyễn Tuân thì ít ai không biết vài giai thoại độc đáo về chuyện ăn uống của ông. Ông vốn là người rất kỹ tính trong việc này. Ông kén từ cái ăn, đồ dùng để ăn đến cách ăn, chỗ ăn. Nhưng, kén nhất là kén người ăn cùng với ông. Thường khi được mời, ông ít khi hỏi mời ăn gì, uống gì, mà hay hỏi nhất một câu không dễ trả lời: “Xin cho biết, ông/bà định cho tôi ăn với ai…” Nhiều lời mời không thành vì chuyện này. Có khi ông đến rồi, thấy người cùng ăn không đúng như lời mời, thường là đông hơn nhiều, thì bỏ về ngay. Tôi và mẹ tôi, bà Phạm Thị Giá, trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh vốn yêu nhà văn, cũng biết những giai thoại đó. Cho nên, không khỏi ngạc nhiên khi nhà văn Nguyễn Nguyên báo cho tôi biết tối hôm ấy mời mẹ con tôi đến nhà ăn phở với nhà văn Nguyễn Tuân. Một vinh dự chúng tôi không bao giờ ngờ đến.

Năm ấy, Sài Gòn mới giải phóng; tôi vào công tác lâu dài, có đón mẹ tôi vào chơi. Tôi cũng mới quen biết anh Nguyễn Nguyên, tức Nguyễn Ngọc Lương, từng làm chủ bút tờ Tin Văn, tạp chí công khai duy nhất của ta ở Sài Gòn tạm chiếm, mong được anh chỉ bảo cho những điều chưa biết ở nơi đất lạ. Gặp nhiều, lại chịu học, nên chẳng bao lâu được anh coi như em. Biết tin mẹ tôi vào, anh và vợ là chị Phạm Ngọc Quyến rất vui, mong có dịp gặp.

Tối hôm ấy, y lời hẹn, tôi đi xe đạp, chở mẹ tôi đến số nhà 125-E đường Nguyễn Đình Chiểu (mà anh Lương còn cẩn thận nhắc tên cũ là đường Phan Đình Phùng, sợ đi xe xích lô nói tên mới có người không biết). Đến nơi thì ra nhà số 125 ấy là một cái hẻm nhỏ, rộng độ 2 mét, các nhà kế bên nhau bên tay phải đánh số từ 125-A đến 123-I. Nhà anh Lương ở gần giữa.

Trời tối, mẹ con tôi tìm đến nhà 125-E thì có tiếng một người đàn ông lớn tuổi đằng hắng, rồi lễ phép nói nhỏ mà rõ: “Tôi xin chào bà…” Tôi vội kéo tay mẹ tôi, nhắc nhỏ: “Ông Nguyễn Tuân chờ mẹ ở cửa đấy.” Mẹ tôi lễ độ chào lại, và vào nhà sau khi ông khoát tay phải ra hiệu “Xin mời vào.” Vợ chồng anh Lương ra đón, anh giới thiệu mẹ tôi thì nhà văn bảo là biết rồi, đành quay sang giới thiệu tôi, ông cũng bảo biết rồi.

Bàn ăn dọn cho năm người, nhưng chỉ có bốn người ngồi, vì chị Quyến, vợ anh Lương nhất định giữ chân như chị nói là servir (Phục vụ – tiếng Pháp). Chủ nhà đưa nhà văn chai rượu vang chính hiệu Bordeaux Pháp. Ông nghiêng mình duyên dáng xem kỹ nhãn rồi đưa cho tôi: “Để thanh niên mạnh tay mở cho…” Tôi thật thà thưa rằng xưa nay chưa mở rượu bao giờ, không dám nhận. Ông cười: “Thanh niên như chú là tốt, chứ chú mà mở rượu thành thạo thì tôi buồn đấy”. Rồi ông tự mở và rót ra năm chiếc li. Vừa rót vừa giảng giải cho tôi: “Nhưng làm nhà báo bây giờ thì không biết là phải học đấy! Rót rượu nhẹ nhàng, không sớt ra ngoài một giọt, rót gần đầy li thì xoay nhẹ một vòng cho giọt rượu cuối khỏi rơi ra ngoài. Thế nhé.”

Chủ khách đang nhâm nhi rượu ngon và bàn phiếm ba câu chuyện về các loại rượu, thì vừa lúc mùi phở Hà Nội đặc trưng tỏa ra ngào ngạt: Chị Quyến bưng một mâm bốn tô khói thơm phưng phức. Chị chủ nhà mời mọi người cầm đũa, thìa và không quên nhấn mạnh là “Nước dùng này tôi ninh xương bò, lợn cả nửa ngày với các thứ củ chứ tuyệt không dùng chút bột ngọt (Chị sợ dân Bắc chưa quen, còn nói thêm “tức là mì chính ấy ạ”). Các bác xơi xem có đúng vị phở Hà Nội không”. Nhà văn Nguyễn Tuân chưa ăn ngay, mà xin cái bát nhỏ, cái thìa sứ và ít lát ớt. Sau đó, ông từ tốn như một nghi lễ đã quen: sớt một ít bánh phở và nước ra bát nhỏ, gắp vài miếng thịt bò chín, rồi lấy cái thìa sứ gắp vài sợt bánh phở vào, thêm một lát thịt và một lát ớt rồi giầm cả xuống nước phở nóng, sau đó lấy đũa và dần vào miệng từng chút một. Cứ vài thìa, lại nhâm nhi chút rượu, im lặng thưởng thức món quà của một phụ nữ Hà Nội gốc, như anh Lương đã giới thiệu về vợ. Thỉnh thoảng chủ khách nói vài câu chuyện về quà Hà Nội, hai nhà văn đều tỏ ra rất sành. Mẹ tôi cũng nói vài câu, rồi chợt hỏi nhà văn Nguyễn Tuân là ông làm nghề viết đã lâu năm, chắc có lúc gặp trở ngại, phiền lòng vì bị yêu cầu sửa chữ này, thêm bớt câu nọ. Nhà văn cười: “Chuyện đó thì nhiều… Tôi chỉ xin kể một chuyện thời chống Mỹ thôi… Tôi viết về một ông du kích già người dân tộc thiểu số. Bài gửi đã lâu mà không thấy dùng. Hỏi thì anh phóng viên đặt bài tôi nói là cấp trên bảo xin bác sửa cho thì mới dùng được. Hóa ra câu tôi viết lão du kích có hàm râu Phidel Castro, ông cấp trên của anh ta sợ phạm thượng không dám dùng. Thương anh bạn nhỏ đi đặt bài, tôi bèn sửa câu đó thành lão du kích có hàm râu kiểu các du kích của Phidel Castro rồi hỏi đã được chưa, anh ta vui vẻ nói chắc là được rồi, và hôm sau thì thấy phát cái hàm râu kiểu các du kích của Phidel Castro ấy… Khổ thế đấy bà ạ. Có nghề rồi thì sửa dễ thôi. Nhưng không ai dám sửa, khó thế…”

Thấy khách mải nói chuyện văn chương, chẳng ai nhận xét gì về phở cả, bà chủ phải lên tiếng: “Các bác xơi phở em làm thấy có được không?” Nguyễn Tuân đã ăn xong hai chén nhỏ, vui vẻ nói với nét mặt rạng rỡ: “Ngon lắm, đúng vị phở Hà Nội. Cảm ơn chị nhiều lắm…” Anh chồng liếc xéo vợ: “Mình làm, lại đi hỏi có ngon không, ai người ta nỡ chê”… Thì nhà văn nói ngay: “Tôi nói thật lòng đấy…”

Chị Quyến lại vào nhà trong lấy ra một khay bánh bao nóng hổi, nhưng ai cũng kêu no, vì phở ngon quá nên ăn nhiều, đành xin thôi.

Sau vài tuần trà, nhà văn Nguyễn Tuân nói đã muộn, xin phép về. Ông chắp hai tay lại, tỏ dấu chào mẹ tôi, rồi ra cửa, anh Lương theo sau. Chị Quyến giữ mẹ con tôi lại, bắt mang bánh bao về nhà “cho anh em cơ quan cùng ăn”.

Một lát sau, anh Lương vào, vui vẻ kể là sau khi anh gọi xe xích lô nói địa chỉ nhà văn rồi mời ông lên thì cứ thấy ông và anh xích lô dùng dằng gì đó mãi mà chưa đi, bèn ra hỏi nhỏ thì anh ta nói là “ông già trả giá gắt quá, tôi không chịu, mà ổng cũng không chịu”. Anh Lương bèn nói rằng đó là nhà văn Nguyễn Tuân đấy, thì anh xích lô vui vẻ nói ngay là có đọc Vang bóng một thời và nhiều bút ký của ông hồi học văn khoa Sài Gòn, rồi nói: “Thế thì vinh dự cho em quá, em xin chở miễn phí”. Rồi quay qua mời Nguyễn Tuân lên xe, chở đi luôn.

Mẹ tôi cảm ơn anh chị Lương và hỏi anh “làm thế nào mà ông ấy chịu cùng ăn với mẹ con tôi.” Anh Lương nói là có lần nói với nhà văn chuyện mẹ tôi đang có mặt ở Sài Gòn, ông ngỏ ý muốn gặp. Hôm mời ăn phở Hà Nội, ông hỏi cho ông ăn với ai. Anh nói là với con gái trưởng và cháu ngoại Phạm Quỳnh. Ông bằng lòng ngay và còn đến nhà sớm nữa. Mẹ tôi nói cả ông tôi và nhà văn Nguyễn Tuân đều yêu tiếng ta, yêu nước ta tha thiết.

Thế là giữa đất Sài Gòn mới giải phóng, nhà văn Nguyễn Tuân đã vì quí mến Phạm Quỳnh mà để cả một buổi tối dùng phở, trò chuyện chân tình với mẹ con tôi, là con và cháu Người.

Thành phố Hồ Chí Minh, 7/7/2010.

T.T.T.

Một truyện ngắn ra đời (phần 14)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:53 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 11 năm 2021

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI:

MỘT TRUYỆN NGẮN RA ĐỜI (Phần 14)

Phạm Tôn

Mấy hôm giữa tháng 7 này, đọc Hai Chị Em của A.Tônxtôi, tiếp tục đọc Et l’acier fut trempé (Thép đã tôi) để luyện thêm tiếng Pháp và chép Nhà Ảo Thuật. Nản nhất là chép, vì chẳng hy vọng gì được chấp nhận, nhưng vẫn cứ làm vì mình bao giờ cũng cố gắng hết sức, còn chưa thành công là do chưa đủ điều kiện để thành công thôi. Mình sống tuy vất vả, gặp nhiều khó khăn, nhưng lòng bao giờ cũng thanh thản, không hối hận gì mà vẫn tin tưởng ở tương lai.

Suốt tuần qua ốm, không thuốc men, cũng chẳng có gì bồi dưỡng, sáng thường nhịn, khiến mình thấy rõ là: Mình phải nghỉ là để chờ khỏi bệnh. Nhưng cứ thế này thì bệnh không thể khỏi mà còn có thể tăng, thế là sẽ hỏng cả. Vì vậy, tìm một công việc làm không cần nhiều sức khỏe để kiếm được một số tiền chắc chắn hằng tháng dành riêng để chữa bệnh là việc cấp thiết. Nhất là trong những ngày tới, thế nào cũng chỉ còn một mình mình ở lại Hà Nội. Càng cần cẩn thận hết sức. Một bước chuyển lớn trong đời mình đây!

Từ 19/7, bắt đàu dịch La Neige Voltigeait (Tuyết bay lả tả) truyện Trung Quốc viết tiếng Pháp nên dễ dịch. Hôm nay, dịch được 20 trang. Cứ làm, chí ít cũng còn có cái để mà hy vọng.

Chị Thủy về, có vẻ khỏe ra. Ánh Ngọc cũng khỏe. Nhưng dạo này bắt đầu làm nũng mẹ ghê lắm… Bữa sáng, cùng ăn với cả nhà, chị thấy chỉ có rau muống luộc với cà pháo, cũng ăn rất vui vẻ. Bữa chiều, chị sang ăn với mẹ đẻ ở buồng bên cạnh, nhưng lại mua một bát thịt kho cho nhà mình. Tội nghiệp, chị thương mà chẳng biết làm gì hơn. Riêng với mình, chị đặc biệt ái ngại. Tất nhiên, theo tính cách của chị, chưa làm được gì thì không nói ra. Nhưng mình hiểu, chị chẳng những thương mình mà còn tin và hy vọng không ít vào tương lai mình.

… Tối, mình trèo lên mái bằng trên cao, một mình nằm ngắm trời. Bầu trời đầy sao sáng long lanh. Gió mát rượi. Mình đã xem ở nhà chiếu hình vũ trụ tại trường Nguyễn Trãi, được hướng dẫn cách nhận biết các vì sao, chòm sao. Nhưng ngắm vòm trời mênh mông đêm nay thì có gắng mãi, đến mức tuyệt vọng, cũng chỉ nhận ra được các chòm Thần Nông, Bắc Đẩu, Bắc Cực… còn chòm Chim Ưng, Sư Tử, rồi Ngưu Lang – Chức Nữ thì không thấy đâu cả! Ngẫm ra, từ cái vòm trời nhỏ và rõ ràng trong sách vở, hoặc trong cuộc sống nhỏ bé của bản thân, bước vào cuộc sống thực, rộng lớn đấu tranh sôi sục của đông đảo quần chúng, chắc mình cũng sẽ ngỡ ngàng, ngơ ngác như vậy thôi. Cần có hai điều thiết yếu là: Khiêm tốn và dũng cảm dốc hết sức mình mà học hỏi, cho đến khi nắm được trong tay cả bầu trời mênh mông kia.

Hôm sau, 20/7 – ngày mà lẽ ra năm 1955 đã có Tổng tuyển cử thống nhất đất nước, mà mười năm sau, Bác Hồ đã phải tổ chức Hội Nghị Chính Trị Đặc Biệt tại Thủ đô, quyết mở một Hội nghị Diên Hồng mới để dõng dạc tuyên bố với quốc dân đồng bào và cả thế giới là: Chúng ta kiên quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Dù năm năm, mười năm, hai mươi năm hay lâu hơn nữa, cũng quyết đánh đến cùng.

Hôm 20 và 21, Hà Nội nóng bức kỳ lạ. 36 độ. Không một ngọn gió. Nghe nói có bão gần… Mệt quá, nghỉ dịch, chỉ đọc Buổi sáng ảm đạm, tập cuối bộ sách ba tập của A.Tônxtôi (1883-1945).

Khoảng 4 giờ chiều thì Bạch Kim đến, mặc toàn đồ đen, trông như tên thổ phỉ Mắcnô trong Hai Chị Em. Có lẽ bạn nghĩ đến những cô gái Sài Gòn mặc bộ bà ba đen đi tải đạn, bộ đồ đã khiến chị Phan Thị Quyên vợ anh Trỗi được tặng đã sung sướng, vinh dự vì được nhập thân vào Cách mạng. Kim mong gặp cậu Tuyên, nhưng cậu lại chưa về. Ở đoàn văn công Nghĩa Lộ, người ta dự định cho Kim về Đài, vì sức yếu và theo họ thì giọng nữ trầm của Kim không hợp với miền núi (?). Cô Tuyết đến chơi thì Kim đi rồi. Theo cô Kim không hợp với học thanh nhạc, tốt nhất là đi học đại học, tìm lấy một cái nghề. Nhưng mình không tin là Kim sẽ nghe lời cô, mặc dù cũng chẳng tin là bạn có tài và đủ quyết tâm với nghề.

Hôm sau, đọc xong tác phẩm của A.Tônxtôi. Cái vốn hiểu biết đa dạng của ông thật đồ sộ. Điều kỳ lạ nhất là tác phẩm này  hoàn thành ngay khi nội chiến kết thúc. Hoàn toàn không có khoảng cách thời gian như hầu hết tác phẩm lịch sử khác. Lạ hơn nữa là hầu hết  sự kiện được miêu tả đều diễn ra trong thời gian tác giả còn ở nước ngoài. Sức sáng tạo của tác giả phải dựa vào một công trình nghiên cứu đồ sộ, toàn diện và sâu sắc biết bao tư liệu phức tạp để rút ra cái bản chất nhất nhất, cần thiết nhất để xây dựng tác phẩm. Thật là một công trình lao động gian khổ, đầy tinh thần trách nhiệm.

… Ta đã hạ được chiếc máy bay giặc Mỹ thứ 397.

Hôm sau, tiếp tục dịch với năng suất như cũ: 20 trang một ngày. Trời cực kỳ oi bức. Tối, lại lên mái bằng nằm một mình ngắm sao. Đêm nay, sao chỉ tỏ một lúc rồi mờ dần và lặn mất. Không có mây. Có lẽ do sương dày đặc. Đêm không mưa, vẫn oi bức, không sao ngủ được. Khuya lắm, khi cả nhà đã ngủ, chị Thủy mới về.

Tối, mẹ sang chơi nhà số 22 tức cửa hiệu giải khác điểm tâm Sapa nay thôi kinh doanh, được thương nghiệp chọn làm cửa hàng gia công các loại bánh bột mì của mậu dịch quốc doanh. Ông chủ đầu hói, người cong như cái thìa lom khom đi đi lại lại, ghi ghi chép chép, có vẻ hả hê. Xe chở bánh về, cả gian nhà thơm lừng hẳn lên mùi bánh mì mới ra lò, và ngòn ngọt mùi các loại bánh xốp, bánh qui. Bà vợ bị ung thư như khỏe hẳn ra, tươi tỉnh ngồi dán bao đựng bánh.Cô con lớn dỡ bánh. Cô nhỏ xếp vào bao. Không khí nhộn nhịp, khẩn trương tràn đầy phấn khởi. Ông lão không mó tay vào việc gì cả, nhưng như tập trung được tất cả cái phấn khởi, vui vẻ của cả nhà, đi đi lại lại, dương dương tự đắc như muốn khoe với thiên hạ: Đấy! Vì ta cả mà có cảnh tưng bừng hôm nay! Tôi không ra tay thì thôi, chứ đã ra tay thì các người thấy đấy!

Thật ra đây chỉ là một cửa hàng gia công bánh nhỏ của mậu dịch quốc doanh như hàng chục cửa hàng khác đang mọc lên nhan nhản ở Hà Nội để nhân dân có bánh mà quen dần ăn bột mì viện trợ đi.

Mẹ tôi có tài kể chuyện sinh động như thật. Tôi hỏi hai anh em Quí, Lộc lâu nay chỉ ở nhà nay đâu rồi, mẹ bảo hình như đi theo xe lấy bánh. Trước nay tôi vẫn thắc mắc hai anh chàng lười như thế, sau này sống thế nào, hóa ra sau này là bây giờ đây, cả hai tham gia bán bánh, chờ sau mấy năm nữa, kế nghiệp bố đứng đầu cửa hàng này.

Cứ chú ý đi sâu vào cuộc sống, sẽ thấy được đường đi cho mình. Dù con đường họ đi ta thấy có là con đường đen tối, ngoắt ngoéo, nhầy nhụa cũng giúp ta biết mà tránh trước khi vào ngõ cụt, không bước lầm đường.

Hôm sau, đã dịch xong Tuyết bay lả tả… với tốc độ như cũ.

Mấy hôm nay, thời tiết rất thất thường, khó chịu. Nhưng hôm nay thì cả ngày mưa như trút nước, gió gào thét, đúng là do ảnh hưởng của bão. Về khuya, mưa giảm dần, nhưng lại trở lạnh. Mình nằm khắp người đau nhức, nghe mưa, gió mà nhớ lại trận bão lớn cách đây tròn mười năm. 15 tuổi, tham gia lớp của thành đoàn huấn luyện cốt cán cho phong trào thanh niên, cả trong lúc mưa to gió lớn bão nổi ầm ầm cây đổ, cành cây gãy răng rắc bay đi từng khúc lớn, lồng lộn trên không trung, các biển hiệu bằng tôn bị xé rách, lao từng mảnh sắc lẹm xuống đường ven bờ hồ, các cây sấu chi chít quả chín đổ gẫy, mình và các bạn cùng khóa học vẫn đi giữa đường, đưa gạo cứu trợ đồng bào.

Chúng mình phấn khởi, sung sướng thấy mình có ích, được tin cậy…

Đang lúc mưa to, em trai về đến nhà. Và đúng lúc mưa tầm tã, giữa nửa đêm, chị Thủy ra tàu đi Vĩnh Yên.. Có gì ngăn nổi con người về nhà, đến với người mình yêu. Còn mình, thì những đêm mưa gió thế này, chỉ nghĩ đến bà và cô ở Yên Bái mà lòng xót thương vô hạn nhưng bất lực.

Hôm sau, đài phát tin Mộc Châu hạ máy bay thứ 399 và Phú Thọ , thứ 400.

Cả ngày, mưa rả rích. Gần tối thì tạnh. Mình đưa bác già và cháu Lường đi xem phim múa rối Trung Quốc Nàng công chúa chim công, hai bác cháu vui lắm. Sau đó, một mình đến nhà Đoàn Di, ngồi uống trà trò chuyện đến chín giờ tối mới về. Di không được đi Thanh Niên Xung Phong mà được phân công về khu đoàn, nhưng phải ôm thêm một khối lượng công việc khá lớn, phụ trách khối thanh niên công nhân và xã viên hợp tác xã trong khu. Hằng ngày coi như phải làm việc suốt từ 5:30 đến tận 21:30 mới được nghỉ. Di bảo: “Dù cho Hà Nội chỉ còn là một đống gạch vụn, tro tàn, mà tao còn sống thì còn ở lại Hà Nội”. Tuy bận, không có thì giờ đọc sách, cứ bó lại từng bó một chất đầy nóc tủ, nhưng vẫn rất phấn khởi, thích thú với nhiệm vụ mới. “Như thế là được tiếp xúc với đủ loại người mày ạ”. Nhưng chỉ tiếp xúc thôi thì có đủ không nhỉ ông bạn…

Cậu Tuyên đi Lào Cai chưa về, cũng chảng có tin tức gì. Quê Chỉ vừa bị oanh tạc, đường đi Yên Bái lại nghẽn, lâu nay không có thư, không biết Chỉ có về quê và lên Yên Bái như dự định không.

Sáng hôm sau, ra thư viện tra một số từ, tiện thể đọc báo, biết đã hạ 404 máy bay. Tối đi làm công tác đoàn về lại nghe đài báo tin Phú Thọ bắn rơi hai chiếc nữa, vị chi là 406 rồi. Nhân dân ta thật anh hùng, kiên cường.

Chiều, hoàn thành bản dịch, đọc cho cháu Lường nghe, cháu rất chăm chú, vẻ thích thú, lại còn góp cho một số ý kiến. Mình thật hạnh phúc.

Sáng hôm sau, cô bạn tâm giao Bạch Kim đến báo tin cậu Tuyên đã về. Kim là đội viên trong đại đội do cậu làm đại đội trưởng Thiếu sinh quân thời ấy nên quen gọi cậu là anh, chỉ khi trò chuyện với mình Kim mới gọi là cậu như tôi.

Đến trưa 27/7 ấy thì cậu lại chơi. Cậu gầy tọp hẳn đi. Vừa từ Lào Cai về. Sáu đêm liền không được ngủ, đi 120 cây số trên tà vẹt đường sắt. Đến Phú Thọ mới có tàu. Sợ hết lương ăn, dọc đường cả đoàn chỉ ăn mỗi ngày một bữa. Các vùng đi qua đều đang diễn ra chiến tranh ác liệt. Ga Yên Bái quen thuộc của mình qua hàng chục lần lặn lội lên thăm bà và cô chỉ còn có cái nền mà vẫn bị bắn phá dội bom thêm chín lần nữa. Giặc Mỹ hồi này hình như chỉ bắn phá những vùng chúng tin là sẽ không bị đánh trả chứ không phải là những căn cứ quân sự hay cơ sở công nghiệp quan trọng gì! Chúng cũng chú ý an toàn là trên hết cho bản thân lũ giặc! Và giết được nhiều người nhất, không cần biết người đó có cầm vũ khí hay không, đàn bà, trẻ con cũng không chừa. Một nhà ga xép ẩn trong rừng sâu với mươi nếp nhà tranh, một xóm nhỏ thưa thớt dân cư, nghèo nàn cũng không tha. Chúng quá tin vào hiệu quả chiến tranh tâm lý, chủ tâm gây nỗi sợ hãi kinh hoàng trong dân ta.

Mừng là cậu đã tranh thủ ghé nhà thăm được bà và cô. Lại gặp cả chú Trần Đình Phùng, cán bộ lâm trường thường lui tới giúp đỡ gia đình, lo giấy tờ để bà được công nhận là mẹ chiến sĩ, cô Bình được huân chương kháng chiến. Mừng nhất là cô đã phục hồi sức khỏe, đi dạy học và làm việc lấy công điểm ở hợp tác xã Minh Bảo được rồi. Gia đình có thể tự túc, không còn đi vay quỹ hợp tác xã mới có cái ăn. Nhà cửa gọn gàng, vườn tược xanh tươi có thu hoạch rau quả. Mới gặp lần đầu, cậu đã nhận xét là bà còn minh mẫn, cô Bình thì rất can đảm, khí khái lắm. Không một lời phàn nàn than vãn.

Về khuya, nghe loa báo tin Việt Trì hạ ba máy bay. Phía bắc Sơn Tây giáp Việt Trì lập công đầu, bắn rơi ba máy bay, bắt ba giặc lái. Đây là vùng Vũ Văn Chỉ ở… Chúng bắn phá gì nhỉ?… Ở đây, chỉ có một cái trại lợn nhỏ và một nghĩa trang to! Chỉ của mình làm gì trong trận chiến đấu này nhỉ. Chưa biết, nhưng tin chắc là không có hành vi nào hèn nhát hoặc bàng quan. Chỉ của mình cơ mà

Hôm nay vẫn mệt lắm, nhưng làm việc rất có kết quả. Chép xong hoàn toàn Nhà Ảo Thuật và sửa lại xong Tuyết Bay Lả Tả…

Cuối tháng 7, mẹ được hợp tác xã cử đi học lớp tập huấn chính trị tập trung toàn thành phố Hà Nội. Sáng 28/7, mình dậy sớm đi bộ đến nhà bác Hoàng Minh Viễn người miền Nam, cán bộ mặt trận ở đường Quán Sứ gần Đài tiếng nói Việt Nam, một bạn thân của mẹ, cốt mượn xe đạp chở mẹ đi học. Xong việc, đem xe trả bác, lại đi tàu điện xuống cậu Tuyên mượn xe đưa mẹ đi học những ngày tiếp theo. Mẹ đi học, mình mừng lắm. Vui khi thấy mẹ hớn hở biết tin này. Mẹ ham hiểu biết, lại có khoa nói chuyện duyên dáng, ai cũng thích nghe dù nói bất cứ chuyện gì. Sáng đưa đi, chiều đón về, đường xa lại thường phải chờ đợi nhiều, vừa mệt, vừa mất khá nhiều thời giờ, nhưng lòng rộn vui. Với cương vị trong ban chấp hành phụ nữ ở hợp tác xã, trong giai đoạn mới này, qua phong trào phụ nữ ba đảm đang, tin là mẹ sẽ tiến bộ nhiều, cống hiến nhiều cho tập thể, cũng là phục vụ nhân dân, phục vụ chiến đấu. Tôi biết, nơi mẹ vần tồn tại hai con người. Con người cũ vẫn còn ẩn nấp đâu đó trong thói quen, nếp sống nếp nghĩ, nhất là tình cảm gia đình, quan hệ bạn bè xưa. Còn con người mới công khai lớn lên nhanh chóng qua công tác xã hội, trong lao động sản xuất hằng ngày cùng tập thể xã viên thân thiết, gắn bó với nhau không chỉ trong công việc, mà còn chia vui sẻ buồn, giúp đỡ nhau từ cách nấu các món ăn ngon bổ rẻ, dạy con biết việc nhà, biết làm việc, biết làm người. Mẹ chẳng những biết kể chuyện, còn dám đứng lên hát cả trong các buổi họp, đám cưới, được xã viên hâm mộ. Mẹ vui vì cuộc sống mới làm tôi sung sướng. Mai đây, sơ tán về nông thôn, sống trong hoàn cảnh hoàn toàn khác xa với hoàn cảnh từng sống trong quá khứ xa xưa, tính tình mẹ lại vốn cởi mở, rộng rãi, yêu mến tập thể, ham làm, ham hiểu biết, tin là con người mới trong mẹ sẽ chiến thắng con người cũ, rồi mình sẽ có một bà mẹ để mình có thể thật lòng yêu thương, kính trọng không phải như bây giờ, vừa thương, vừa giận. Xa nhau, tin là mẹ sẽ càng hiểu, càng tin mình hơn, cũng sẽ tiến bộ hơn. Hiện giờ, mẹ chưa có điều kiện hiểu mình.

Hôm nay, 28/7, đi khắp nơi không sao mua được một ống mực vì vừa hết nhẵn do viết nhiều quá. Nhưng ở đâu, cũng thấy các cửa hàng ăn uống mọc ra thật nhiều. Tất cả đều là của mậu dịch quốc doanh. Hà Nội bước vào thời chiến, nhưng vẫn bình tĩnh từng bước tiến những bước cao hơn lên chủ nghĩa xã hội.

Tối nay, khai mạc lớp huấn luyện sơ cứu phòng không thiếu niên từ 11 đến 15 tuổi. Hai cô sinh viên y được xuống phố chỉ bảo tận tình, chu đáo. Các em gái học chăm chỉ, say sưa, rất ngoan. Còn các tướng cướp nhỏ thì ngay cả tôi, đầy mình uy tín, cũng chịu không trị nổi!

Loa khu phố vừa báo tin: Hà Tây hạ 5 máy bay Mỹ chứ không phải 3 như thông báo trước.

Các báo ngày 29/7/1965 đều đăng tin: Theo báo cáo đầy đủ của các quân khu về những trận chiến đấu gần đây thì số máy bay Mỹ bị quân dân miền Bắc hạ từ 5/8/1964 đến 27/7/1965 là 419 chiếc.

Cả sáng và tối nay đều ra thư viện trung ương đọc sách báo. Cuốn Điện Biên Phủ: Một danh từ Việt Nam của Thép Mới gồm toàn những bài anh mới viết trong những năm 1964-1965. Tuy vẫn đề là tùy bút như những sách trước, nhưng lối viết lạ lắm. Giàu chất tạp văn, tiểu phẩm hơn là ký. Anh thường trích dẫn rất dài, lại rất nhiều. Mà bài thường lại ngắn. Mỗi bài đi vào một khía cạnh thú vị nào đó thôi, chứ không mô tả hẳn một giai đoạn lịch sử, một chiến công nào. Mỗi bài phân ra nhiều đoạn nhỏ, có tiêu đề rất dài gợi trí tò mò ở người đọc, rõ ra kiểu Bớcsét (Burchett) và Riffô (Riffaud) những nhà báo tầm cỡ hiện đại. Người đọc bị lôi cuốn, cảm thấy thú vị, đỡ mệt. Câu chữ giản dị, mộc mạc, cô đọng, ngắn gọn, chính xác. Sự việc nêu lên thật điển hình. Hình như, những bài này là anh thử viết theo phong cách mới, rồi sẽ sử dụng trong đợt đi B (vào miền Nam) sắp tới.

Cũng đọc được ở đây Vụ Mùa Chưa Gặt của Nguyễn Kiên, hình như là anh họ Kim, cũng khá hay. Trong sách, nổi bật lên những con người cụ thể với quá trình diễn biến tâm lý phức tạp… Anh đi sâu vào cá tính nhân vật qua hàng loạt chi tiết, sự việc tưởng như bình thường nhỏ nhặt, đó là ưu điểm trong nhiều truyện ngắn của anh: Vụ Mùa Chưa Gặt, Đất Bạc Màu, Những Người Đàn Bà Ở Làng. Còn trong Tiếng Sóng Đêm, chủ đề tư tưởng chưa thật rõ, các nhân vật còn thiếu sức sống, nhất là nhân vật bà vợ, rất mờ nhạt, cứ mờ mờ ảo ảo. Người đọc không tin nổi tình yêu của hai ông bà đến đầu bạc răng long chính là kết quả tất nhiên của cuộc đời họ. Kỷ Niệm Ruộng Đất của anh càng tệ hơn. Cả bố cục lẫn mô tả nhân vật đều mờ nhạt, lộn xộn. Tựa như chỉ mới là một phác họa, ghi chép. Anh tỏ ra lúng túng, chìm ngập trong mớ tài liệu mình ưa thích, cuối cùng phải đứng ra thuyết lý một tràng cho người đọc hiểu được câu chuyện anh kể định nói lên điều gì. Anh còn lạm dụng tiếng địa phương, có những từ chỉ người vùng đó, thời đó mới hiểu.

30/7, Yên Bái lại hạ một máy bay giặc Mỹ. Thế là đến hôm nay, 424 chiếc tất cả.

Suốt ngày mình cố chép mà chưa nổi 10 trang, kém cả năng suất chép của anh Phạm Hồng Sơn đang bệnh nặng. Sao mà sợ chép đến thế. Viết, dịch nó còn có hứng thú, đằng này chỉ chép để rồi lại xếp xó.

Chiều, đi cắt tóc, được bác Tích, thợ cắt tóc quen vừa đi Lào Cai về kể cho nghe chuyện gia đình. Bác đem bốn con đi lên đó sơ tán, gặp mấy trận giặc Mỹ bắn phá, lại phải dắt díu nhau về. Một cháu lên ba, phải cõng, một đứa lên bốn đi rất chậm, cứ kéo tay bố lại. Nhưng cả chuyến về cũng chỉ mất một tuần. May quá. Đường tàu bị phá nhiều, nhưng công nhân ta sửa rất nhanh. Có khi trưa bom nổ chậm phá, thì chiều đường đã có tàu chạy rồi. Tàu suốt thì chưa có, nhưng tàu vẫn chạy trên rất nhiều đoạn còn nguyên hoặc mới sửa lại. Suốt từ Lào Cai về đến Hà Nội, bố con bác chỉ phải đi bộ có năm sáu chục cây số thôi. Đi bộ thì bảy giờ tối mới được đi cho đến bảy giờ sáng. Suốt ngày vào rừng ẩn nấp. Máy bay thường bỏ bom nổ chậm. Phải cấm đường, cho bom nổ xong mới để đồng bào đi. Ăn uống dọc đường thì chỉ trông vào gạo mình đem theo và quả mua dọc đường.

Dọc đường đi bác gặp nhiều công nhân Trung Quốc sang giúp ta

Làm thì bằng năm công nhân ta, mà ăn uống cũng chẳng có gì. Từ cái rổ, cái rá cũng đem từ Trung Quốc sang. Bà con ta thương có đem cho gì họ cũng không nhận. Họ nói sang đây làm nghĩa vụ với anh em Việt Nam. Khi nào Mao chủ tịch cho nhận mới dám nhận. Mong bà con vui lòng.

Khi đường sắt tê liệt thì đã có đường bộ.

Những ý nghĩ mộc mạc giản dị lạc quan của bác thợ cạo làm tôi xúc động. Kể xong chuyện, bác nói: Tôi thì bây giờ cứ cho các cháu về nhà nghỉ ít hôm cho lại sức, rồi lại tìm nơi khác sơ tán. Không một lời than vãn, không chút hoang mang, oán trách ai. Bác Tích đông con, nhà lại nghèo, bác là thợ kém nên ít khách, chỉ loại dễ dãi như tôi mới chọn bác. Tôi mê nghe bác kể chuyện nhà, còn cắt tóc thì sao cũng được, cốt cắt cho nhẹ đầu.

Cuối tháng, em trai về, mới lĩnh lương, em mua cho tôi bản dịch tiếng Anh Tuyết bay lả tả… để tham khảo Tôi hăm hở tìm ngay chỗ có những chữ mình bí chưa biết dịch có đúng không. Thì bản tiếng Anh, họ lờ đi, bỏ không dịch. Họ dịch phóng túng lắm, thay đổi cả cách hành văn, đổi một số từ có khi cả một câu. Tuy vậy, đọc xong cũng thấy cần sửa một số từ cho sát hơn, thế là phải chép lại từ đầu. Chán quá.

Tôi dừng công việc, cùng em đi mua một số đồ lặt vặt chuẩn bị cho mẹ đi sơ tán. Tranh thủ mua được một tuyển tập tranh tượng của Anđrêép sáng tác về V.I.Lênin. Tuyệt vời, anh Đại về sẽ thích phải biết.

Tối thì bác bạn già của mẹ Hoàng Minh Viễn đến chơi, chủ yếu là tạm biệt mẹ đi sơ tán chẳng biết khi nào mới lại gặp. Ông có ơn với tôi từ năm tôi mới 15 tuổi. Hồi ấy, tôi suốt ngày tham gia công tác đoàn thể, chủ nhật nào cũng đi họp ở ngõ Vọng Đức trụ sở thành đoàn. Rồi còn tham quan cải cách ruộng đất ở xã Đại Kim nửa tháng, đóng gạo và 15 đồng. Cùng ăn cùng ở cùng làm cùng dự đấu tố địa chủ với nông dân, tối nào cũng họp nghe bà con tố khổ đến khuya. Về đến nhà là đọc sách, vì thấy nhiều điều mình chưa biết quá.Sáng nào cũng chủ động dậy từ 4 giờ, có cái đồng hồ Jaz chuông reo rất to. Nhưng phải để xa giường nằm vì để gần, tiện tay nghe xong lại tắt luôn. Cứ thế, chuyên đi bằng đầu. Sau sinh mất ngủ, mộng du. Năm 15 tuổi ấy, tôi ít khi ngủ thẳng giấc. Thường nửa đêm tỉnh dậy. Một đêm, chợt tỉnh dậy như thế,thấy trăng sáng đẹp quá soi vào giường mình đặt ngay cửa sổ.Tôi nhỏm dậy, nắm lấy song sắt cửa. Có lẽ động tác dậy đột ngột quá khiến mẹ tôi chú ý. Mẹ hỏi:Con làm gì thế? Tôi đáp: Mẹ thấy không, đêm nay trăng sáng đẹp quá. Con ngắm trăng thôi… Mẹ bảo: Dạo này mẹ thấy con khác lạ lắm, đêm hôm qua, nghe tiếng con nói rõ ràng, mẹ tưởng con nói gì với mẹ, muốn nhờ mẹ làm gì. Nhưng nghe kỹ thì con đang đọc một bài thơ, hình như của Vichto Huygô (Victor Hugo). Toàn tiếng Pháp. Hóa ra mẹ lo ngại về tôi từ lâu mà tôi không biết…Gia đình phải đưa đi khám ở bệnh viện Bạch Mai. Chú Đặng Vũ Hỷ giới thiệu bác sĩ Phạm Quang Ánh, anh họ bác cả gái mới ở Pháp về, là chuyên gia về thần kinh tâm thần. Khám kỹ bằng cách hỏi những câu kỳ lạ như có mộng tinh không, tôi không hiểu, ông phải giải thích thì tôi đáp là không, rồi đọc những sách gì, điều này thì tôi trả lời ngay khiến ông gật gù như hiểu ra điều gì, rồi viết vào tờ giấy chú Hỷ đề nghị khám. Tôi nhớ rõ: Céphalée rebelle (Tiếng Pháp: chứng nhức đầu rối loạn) và câu chữ ta: Tôi sẽ báo cáo anh bằng lời nói. Ông lịch sự nhã nhặn tiễn tôi khỏi khoa tâm thần kinh. Tôi đưa chú Hỷ tờ giấy, rồi cũng chẳng bao giờ hỏi ông Ánh nói riêng gì với chú. Chỉ biết sau đó cậu Khuê kê đơn cho tôi mua thuốc Bellaspon, mỗi ngày uống ba viên chia ba lần sáng, chiều tối. Sống ở nơi thoáng đãng, yên tĩnh. Thuốc mua dễ thôi, ra cửa hàng biệt dược đường Phủ Doãn là có ngay, cũng không đắt. Nhưng còn yêu cầu của cậu thì chưa biết làm sao. Ở nhà thì rõ ràng không được. Mẹ đành đi hỏi ông bạn già ở phố Quán Sứ ngay gần nhà. Ông có hai con trai cùng ra Bắc tập kết,  hiện đều học ở trường học sinh miền Nam. Vừa may, ông đang dự lớp học cán bộ cao cấp ở trường Đảng Nguyễn Ái Quốc là nơi xa thành phố, lại mát mẻ, thoáng đãng đúng lúc tôi nghỉ hè thì trường cũng nghỉ, các phòng trống nhiều chỗ, chỉ còn mấy cán bộ miền Nam như bác Viễn và vài cụ miền núi. Thế là ông cho tôi vào ở cùng buồng, ăn cùng bàn. Thời ấy mà ở tập thể như các ông là quá sang trọng. Hằng ngày, cứ tối đến là có nhân viên nhà ăn đến ghi món học viên yêu cầu. Tôi thấy bác ghi gà rán rau trộn mà không tin vào mắt mình! Thời ấy mà được ăn như  thế ư? Thế là tôi ở cùng ông, sáng dậy sớm tập thể dục, rồi xuống căng tin ăn phở, mì, bánh mì ba tê. Trưa lại đến đấy ăn món đã báo chiều hôm trước. Ăn xong ông đưa tôi ra ngoài cổng đi dạo, thăm công trường xây dựng trường mới là trường Đảng Nguyễn Ái Quốc to đẹp ngày nay. Trường mà tôi từng sống toàn nhà một tầng, quét vôi hồng. Về là ông lại đưa cho một viên thuốc cậu Khuê kê đơn. Cứ thế, một lát là tôi cảm thấy buồn ngủ, về buồng ngủ luôn. Thành ra tôi là thằng mọt sách, thư viện lại rất nhiều sách, mà ở đây suốt nửa tháng, tôi không đọc được một cuốn nào. Dù đã lên thư viện tìm mượn được tiểu thuyết đang nổi đương thời Xung Đột của Nguyễn Khải là nhà văn thần tượng của tôi hồi đó. Cách điều trị của chuyện gia Phạm Quang Ánh, chú Đặng Vũ Hỷ và cậu Phạm Khuê tôi thật độc đáo. Gần đây, con trai út Đoàn Di còn nhắc chuyện tôi chấm dầu hỏa mà ăn ngon lành. Tôi nhớ hôm ấy mẹ đi chợ mua được món lòng ngon về bảo bác già lấy nước mắm, nhớ vắt chanh và ớt giã vào cho tôi ăn. Có lẽ mẹ thấy tôi chỉ còn da bọc xương nên cho ăn được cái gì tốt cái ấy. Tôi ngồi ăn một lát thì mẹ rảnh tay hỏi có ngon không, mẹ ăn một miếng. Khi đưa lên miệng, mẹ kêu lên con ăn lòng chấm dầu hỏa à! Thì ra bác già tốt bụng đã lẩm cẩm nhầm chai nước mắm với chai dầu hỏa để sẵn trong bếp phòng khi mất điện. Chuyện từ năm 1955 mà đến nay 2021 con trai bạn còn nhớ, chứng tỏ tôi là người được bạn quan tâm. Công lớn nhất phải ghi là công bác Viễn, vì ông ép tôi thực hiện đúng y lệnh kỳ lạ của ba vị chuyên gia. Cho nên hôm nay, bác đến để tiễn mẹ, cũng không quên có lời khuyên chân thành với người bác đã góp phần cứu khỏi bị kiệt quệ, nếu không muốn nói là bên bờ điên loạn. Bác ôn tồn bình tĩnh nói như đã suy nghĩ từ lâu, những lời tâm huyết không thể không nói vì không muốn sau này phải ân hận. Tôi ngã ngửa khi nghe ý kiến chủ yếu của bác là: Chú nên rời bỏ văn học, suốt đời chú sẽ chẳng làm được gì trong lĩnh vực này đâu. Ví như chú có làm được một cái gì đó, thì đến một lúc nào đó, họ cũng sẽ khuyên chú bỏ nghề thôi. Và suốt cuộc đời chú sẽ khổ. Chỉ phạm một sai lầm là sẽ sụp đổ tất cả. Chú sẽ bị truy tận gốc.

Rồi bác khuyên tôi đi lao động.

Tôi đau lòng nhưng im lặng cảm thấy ý kiến của bác thật chân thành và cố tình cảnh báo cho tôi một sự thật tàn nhẫn hiển nhiên, tôi biết mà vẫn cố hy vọng giành cho mình một ngoại lệ. Vì tôi quyết không rời bỏ văn học, cái đã sống trong máu tôi rồi. Thành cái nghiệp tôi phải mang như Đức Chúa phải vác Thánh Giá! Nó là định mệnh rồi. Tôi đánh đổi tất cả để được viết cho nhân dân cho những người thân yêu của mình!

Sau này, vào Sài Gòn công tác, tôi biết bác vẫn công tác bên Khối Mặt trận Tổ quốc. Sau đó tôi đem quyển Những hạt ngọc Nhật Bản mới xuất bản trong đó có một số truyện ngắn tôi dịch từ chữ Nhật đến tận nhà bác ở 105 Hòa Hưng. Nhà có mặt tiền rộng, bác sống với vợ, và con trai trạc tuổi tôi, vốn thân thiết từ hồi ở Hà Nội, cùng con gái con rể. Ngoài cổng ghi biển nhỏ Room For Rent (Tiếng Anh: Có phòng cho thuê). Con trai lớn học Liên Xô về, có vợ con nay đã mất vì bệnh. Hồi vợ chồng anh sinh con đầu lòng, mẹ tôi đã đến nhà mấy lần hướng dẫn vợ anh tắm cho bé sơ sinh thay bà nội còn ở miền Nam. Con trai thứ nằm phòng riêng, đang xem phim Paven Coócsaghin do Trung Quốc thực hiện thành phim truyền hình nhiều tập. Phòng hai cha con mỗi phòng có một bình oxy cao áp to bằng thép.

Khi tôi tặng sách, tay bác run run nhận mặc dù vẫn nằm xẹp trên ra giường trắng. Bác nói: Sắp sinh nhật 90 tuổi rồi, các con bảo sẽ cố làm thật to! Rồi cười buồn. Bác nằm bệnh viện từ giữa tháng 5/1999 đến 10/1/2000 mới về nhà, còn mệt lắm. Bà vợ tóc trắng cao gầy vẫn nhanh nhẹn chăm sóc cả hai bố con sau bao năm kẻ Bắc – người Nam đợi chờ. Không chỉ ông bố mà cả anh con Nguyễn Trương Thanh cũng cho biết: Chỉ sống thật sự giữa hai đợt cấp cứu!

Me tôi 86 tuổi Tây, 87 tuổi ta bị ngã gãy chân. Con tôi, đích tôn 17 tuổi đã xuống thăm bà tận giường ở Bạc Liêu. Ngày 1/1/2000 tôi viết thư báo tin. Bác dù mệt, vẫn nằm viết cho tôi thư trả lời. Bác viết: Có được thơ cháu chúc Tết và báo tin mẹ bị té – Thương quá nhưng còn biết làm sao? Cuối thư, bác tâm sự: Bác viết mấy chữ cho cháu lúc đang thở hồi hộp không ra hơi. Cháu thông cảm. Ngày 18/1/2000. (Ký tên). M.Viễn

Sáng 1/8, đang định đem xe trả cậu Tuyên thì em Nguyễn Mạnh Hùng ở Tam Đảo đến nhà. Hiện em đang học chính trị chuẩn bị đi nước ngoài học. Tiện còn giữ xe cậu Tuyên, tôi đưa em đi thăm phố phường Hà Nội rồi thết một bữa trưa ra trò đến no kềnh. 17 tuổi, chàng trai Tam Đảo khỏe mạnh, đẹp trai, da trắng hồng, mắt sáng, ham học lại thông minh, là dân miền núi quen lao động chân tay từ nhỏ, mình thật lòng yêu mến và hy vọng nhiều ở em. Em cũng yêu mến tin cậy mình từ lâu. Có một đứa em như vậy không sung sướng sao được.

Khi về, lại ghé hiệu sách ngoại văn Tràng Tiền, đánh liều mua quyển sách quá đẹp, trông là mê: Mắcxim Gorki bàn về văn học nghệ thuật bằng tiếng Anh. Tối, lại đến cậu Tuyên, rủ cậu về… nhà mình, nói với cậu toàn bộ tình hình bi đát của mình hiện nay, cả về mẹ. Cậu chăm chú lắng nghe. Có lẽ cũng chưa nghĩ ngay ra cách giải quyết cụ thể gì, nên chỉ khuyên: Cần chú ý kết hợp giải quyết khéo cái trước mắt và cái lâu dài, cụ thể chú ý trước hết đến sức khỏe cái đã. Còn một khi đã đặt mục tiêu đeo đuổi suốt đời như Thành thì cậu thấy làm nghề gì cũng có ích cả.

Ý này cậu nói rất đúng. Còn việc cậu bảo nếu bắt buộc phải đi sơ tán thì cứ về chỗ mẹ và giúp đỡ hợp tác xã, thì hiện nay mình không thể chấp nhận, vì: 1/ Mình không muốn và hoàn cảnh gia đình cũng không cho phép ăn bám nữa 2/ Mình cũng không muốn gần mẹ trong lúc này, để mẹ phải thấy con lam lũ thiếu thốn sờ sờ trước mắt, có thể sẽ làm mẹ thấy tủi nhục, chua xót cản trở tiến bộ của mẹ.

Một mình, mình sẽ chịu đựng mọi thiếu thốn, bất công hơn là trước mắt mẹ. Có thể sẽ tìm ra cách đơn giản nhất là: lại đi bán báo. Ồ, sao lại quên các anh ở sở phát hành báo chí Hà Nội trước kia vẫn yêu mến mình!

Thế là tối hôm sau, ăn xong là vội vã đến bạn đồng đội cũ Phạm Đình Thanh nay vẫn làm ở sở bưu điện ngay phòng phát hành. Rồi gặp anh Cấp da trắng mắt sâu như Tây. Muốn tận mắt xem cái tia sáng vừa le lói ra ấy nó như thế nào. Nhưng, có lẽ xuất hành nhằm giờ không vong, chẳng gặp ai cả, toàn người lạ. Thất bại, mới thấy là rất mệt mỏi. Về là đi ngủ sớm. Hôm sau sẽ lại đi tìm anh Cấp. Tìm việc làm là vấn đề quan trọng nhất hiện nay.

Sáng sớm 3/8, đến ngay Phòng phát hành ở phố Tràng Tiền, gặp cả anh Cấp và anh Nhĩ trước kia phụ trách Đội Thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân  về mặt phát hành báo. Nay lại là trưởng, phó phòng này. Nhanh thật, bảy năm trôi qua, mọi người đều thăng tiến. Chỉ có mình, đi một vòng rồi quay về nơi xuất phát, mà yếu kém hơn trước, thụt lùi rồi còn gì.

Anh Cấp nói thật hiện cơ quan đang tinh giản biên chế, bộ phận nào thiếu thì lấy người ở bộ phận khác sang, không lấy người ngoài vào biên chế. Bên sở đang cần một tay phụ trách văn hóa quần chúng, phòng đang định đưa Thanh sang đấy. Anh Cấp bảo mình cứ viết đơn xin, nhớ mô tả quá trình xưa, rồi anh sẽ tự tay đưa và nói giúp.  Nếu Thanh đi lớp đạo diễn điện ảnh thì sẽ xin cho mình chân ấy. Anh nói một cách tẻ nhạt, vẻ thiếu tin tưởng, có lẽ nói chỉ vì chẳng biết làm thế nào trong tình cảnh này. Mình im lặng nhưng hiểu là cái tia hy vọng le lói đã tắt ngấm rồi. Khi tiễn mình ra về tận cửa, anh buồn bã nói: Ngay bán báo chuyên nghiệp bây giờ cũng không sống nổi, ít người mua báo dài hạn lắm. Thế là cả con đường cuối cùng mới nghĩ ra cũng tắc rồi!

Trưa, đến thăm bạn Thế Long, đưa bạn xem bản Tuyết bay lả tả…mới dịch. Long đưa bánh quy mặn ra tiếp. Đó là thứ bánh rất thường thấy thời này. Nó làm bằng bột mì chỉ nhào với nước, chút muối rồi nướng lên, không có bột nở, nên khô như ngói. Giá 0đ72 /1 ký, nhấm nháp với nước vối khéo ủ ngòn ngọt. Hai đứa trò chuyện về việc cả hai hiện nay đều lo lắng: những ngày tới sẽ sống như thế nào đây khi Hà Nội có lệnh triệt để sơ tán, chỉ để lại những người trực tiếp có khả năng chiến đấu, một điều kiện hiển nhiên mà cả hai tôi đều không có. Long thì tàn tật, còn mình tay chân đủ cả, nhưng thật ra có hơn gì bạn đâu… Long buồn bã nói: Nếu người ta cứ cho ở Hà Nội thì chẳng có gì đáng ngại. Chỉ 20 đồng hoặc 15 đồng một tháng cũng sống được rồi. Mình biết bạn tránh nói xa Hà Nội thì biết kiếm cái gì mà ăn đây. Mình nói rõ tình trạng hiện đang bế tắc và hỏi dự định của bạn. Long định sẽ đi Hà Tây, ở với em trai ruột là Đắc đang dạy học ở đấy. Bạn nói mà khuôn mặt đen đúa bị kinh giật méo mó xệch xạc hẳn đi, trông thật tội nghiệp. Bạn nói: Việc đó thật là khổ tâm… Thật là khổ tâm, khi phải sống nhờ người khác, dù là anh em… Cậu về nông thôn còn có thể có ích, còn mình, về đấy chẳng làm được gì… Thật là khổ tâm, nhưng chưa tìm ra cách nào khác… Tới đây, Hà Nội làm gì còn người mua báo mà bán…

Những lời nói đó, tuy đau xót, đáng buồn, nhưng hoàn toàn là sự thật. Lường trước được, dù sao cũng vẫn cứ tốt hơn là thả nổi, đến đâu lo đó. Trong hoàn cảnh nhất định sẽ bi đát, vẫn có thể tìm ra những con đường ít bi đát, tổn thất nhất. Mình còn sung sướng hơn Long, còn có cơ hội tìm tòi hy vọng. Thương bạn nhưng biết làm sao.

Đêm, trời trong, đen thẳm. Trăng lưỡi liềm duyên dáng, có một vành sáng bao quanh, báo hiệu một ngày mai nóng nực, oi bức… Xa xa có tiếng máy bay ầm ỳ… Ngày mai, sẽ chép lại bản dịch.

Chép suốt ngày, được 16 trang.

Hình như ta đã hạ 432 máy bay giặc.

Đêm quá nóng. Gần về sáng, trời nổi gió như muốn bão. Nhưng chỉ một lát sau đã trở lại bình thường, bắt đầu một ngày nóng bức.

Kỷ niệm mười năm chiến thắng 5/8, ta đã hạ 440 máy bay giặc. Mình cũng chép hơn hôm trước ba trang, thành 19 trang. Buổi tối, đang chép thì có một thanh niên tên là Hòa từ Mộc Châu về. Cứ nói huyên thuyên mãi đến gần 11 giờ tối mới chịu về. Mình quên cả mời nước. Con người xem ra cũng đáng mến, nhưng nói nhiều quá, chẳng đâu vào đâu, có vẻ là một người hâm mộ em Nhàn, đến nhà để về có cái kể với em thôi.

Ngày 6/3, ghi: 442 máy bay. Chép xong hoàn toàn.

Tối khuya, anh Đại chị Thủy về, kể bé Ánh Ngọc khỏe mạnh, lại còn được bình là ngoan nhất nhà trẻ, được thưởng một gói bánh với thành tích: ăn ngoan, không đái dầm, ỉa đùn, không đánh nhau, cãi nhau với bạn. Khi bị bạn chửi thì đi báo cáo chứ không chửi lại. Nhớ cháu quá, chú sẽ gửi quà cho cháu.

Hôm sau, đọc lại bản dịch rồi đưa đến Long. Về nhà lại tiếp tục đọc Gorki bàn về văn học. Chiều đi hiệu sách cũ, mua được Trois contes (Ba truyện ngắn) của G.Flôbe và Mont-Orial của Guy đơ Môpátxăng.. Thầy  Flôbe chê trò Guy  viết nhiều quá, không trau chuốt, không kỹ. Nhưng thầy viết được một thì trò được hai mươi mà thiên hạ đổ xô mua ào ào. Cũng cảnh như nhà Straoxơ , bố chê con viết ào ào, vớ vẩn, không sâu, nhưng rồi cả thành Viên nhộn nhịp các điệu van của con còn thánh đường giao hưởng của cha thì vắng vẻ. Mỗi thời cần người tài riêng.

Đến hiệu sách còn để bán một số sách. Tiếc đứt ruột. Mỗi cuốn sách là một kỷ niệm, một người bạn, người thầy trong từng giai đoạn đời mình.

Tối, cùng bàn bạc với anh Đại và em Thân cố tìm lối thoát cho mình: nếu lâm thế bí không thể tìm được việc làm lại bị buộc phải rời thành phố đi sơ tán, sẽ sang Đông Anh với Thân. Nhưng chỉ là tạm thời vì ở đấy không có hướng đi tới nào hết. Có lúc còn nghĩ đến việc lên ở với Chỉ. Cần sang trường tìm thầy Bá dạy triết học hỏi việc làm, hỏi Phạm Bình Thanh đồng đội cũ, tìm việc bên bưu điện

Đài báo hạ 449 máy bay giặc.

Hôm sau, số máy bay giặc bị hạ đã lên đến 452 rồi.

Đọc Flôbe và Gorki. Nhưng mất rất nhiều thời giờ vì những việc linh tinh trong khi toàn thân rất khó chịu, rõ ràng là bị cảm, cúm gì đó rồi.

Chị Thủy cũng mệt, gần như không ăn uống gì. Cứ suốt ngày nằm trên sàn gạch hoa vì quá nóng, không nói năng gì. Tối, cả nhà đã ngủ, chị vẫn còn thức… Mình nói chuyện với chị về em Nhàn và bạn Bạch Kim, rồi các bạn khác của mình, cốt làm chị khỏi suy nghĩ tiêu cực lại buồn nữa… Chị vui hẳn lên, cũng nói rất nhiều. Thấy vậy, mình mạnh dạn nói một chuyện xưa nay chưa biết nói thế nào, chị vốn là con người giản dị vẫn gần gũi mọi người chứ không như người sống theo kiểu khổ hạnh, ai cũng ngại gần. Cứ nói thế, tin là chị sẽ hiểu. Mong ngày gần đây, chị sẽ sống bớt khắc khổ, trở lại con người hồn nhiên, say sưa làm việc, thành tâm yêu mến, gần gũi mọi người xung quanh, nhất là những người trong gia đình và gia đình chồng. Trở lại con người thật của chị ngày xưa ai cũng yêu mến chứ không e ngại tránh xa vì thấy xa lạ quá.

Sáng 9/1, 456 máy bay giặc rụng. Mình bắt đầu sốt. Sáng nằm nghỉ một lát, rồi cùng anh Đại soạn một ít sách đem bán, vì nhà hết sạch tiền ăn. Đây là chuyện cả hai anh em đều đau lòng, không muốn mà vẫn phải làm.

Nhận thư Vũ Văn Chỉ, việc nhà em khó mà Chỉ giải quyết cương quyết và khá tốt mặc dù chưa quen làm công tác tư tưởng, nhất là với người nhà, lại là mẹ, nên còn có chỗ khiên cưỡng. Rõ ràng là chú đã trưởng thành hơn. Hôm 27/7, giặc Mỹ bắn phá trại, người trong trại lại vắng nhiều, không có ai thay Chỉ phải làm đủ mọi việc. Nhưng tràn đầy lòng hăng hái, quyết tâm. Chỉ viết: “Tất cả những cái đó đòi hỏi mình phải cố gắng hình như quá sức. Phải cố để trại tiến lên… Tình hình đất nước đòi hỏi mỗi người phải cố gắng rất nhiều. Tôi vẫn tự nhủ như vậy”.

Tuy nhiên còn một chuyện mình chưa thú lắm là lại nói đến việc lấy vợ và nếu yêu thì có thể sớm hơn.

Tối đến, mẹ phát hiện ra một tia hy vọng sáng chói, khiến mình chỉ suy nghĩ một phút là tán thành ngay! Hợp tác xã sơ tán, thiếu người làm thống kê. Chị Nguyên người cùng phố thân thiết với gia đình mình từ hàng chục năm nay lại ở trong ban quản trị gợi ý mẹ xin cho mình. Có thể bước ngoặt mình mong chờ chính là lúc này đây. Về với hợp tác xã này, hầu như mọi người đều đã biết mình, hiểu rõ hoàn cảnh gia đình mình, lại làm việc giấy tờ, hợp sức khỏe. Đây là điều cực kỳ quí giá, hiếm có. Còn một điều mình ưa thích nữa là được về ở hẳn nông thôn, sống giữa nông thôn với xã viên nông dân, sẽ làm người khỏe ra, lại có điều kiện đi sâu vào cuộc sống lao động, tạo điều kiện tập viết về xã viên hợp tác tiểu thủ công nghiệp và nông thôn. Mộng đẹp và rồi thực tiễn thực hiện mộng ấy sẽ còn đẹp hơn. Không hề nghĩ rằng lần này lại cũng vỡ mộng như những lần trước.

Ngày 10/8, 459 máy bay Mỹ rơi. Nhận thư cô bạn Bạch Kim. Về tới Nghĩa Lộ rồi. Vẫn bình an vô sự.

Mình mệt. Ho nhiều. Tối không muốn ăn uống gì cả.

Mẹ đã gặp anh chủ nhiệm hợp tác xã, anh cho biết nay đã bãi bỏ chân thống kê rồi, chỉ còn kế toán kiêm luôn thống kê, nhưng làm kế toán phức tạp lắm, phải học nghiệp vụ sáu tháng, lại là do khu cử xuống, không tự tuyển được. Mình nói mẹ cứ nhận, con đảm bảo là sẽ làm được. Con sẽ ra thư viện mượn sách học, rồi đến làm cùng cô kế toán cũ mươi ngày cho quen công việc là sẽ nắm được kỹ thuật ngay. Sẽ mệt, lại mất thời giờ. Nhưng cố không để vuột mất cơ hội may mắn này.

Hôm sau, nằm suốt ngày, ho rất nhiều, không muốn ăn uống gì cả…  Lại đọc Gorki, rồi định ra kế hoạch cho những ngày còn ở Hà Nội trước khi theo hợp tác xã sơ tán. Quyết không để cờ đến tay mà không phất được!

Anh Đại mang sách đi bán, về rất muộn. Người bán sách đông quá, phải chờ. Dù giá rất hạ, cũng phải bán. Tiếc đứt ruột. Hai anh em đều mê sách, thường cùng nhau đi mua sách. Mỗi cuốn là một kỷ niệm.

Tối, mưa khá to, nhưng lại mau tạnh. Sau đó lặng gió, mãi đến gần sáng mới lất phất mấy hạt mưa. Không bão như mình tưởng. Như vậy là người mình đã suy yếu đi nhiều chứ không phải mệt là do thay đổi thời tiết. Cần cảnh giác, nếu không sẽ đổ vỡ hết.

Trời tiếp tục oi bức, cực kỳ khó chịu.

Hôm sau, soạn sách để đem đi theo hợp tác xã sơ tán mới thấy là mình chẳng muốn rời một quyển sách nào. Sách vở là người mẹ hiền sáng suốt, là người thầy, ngời bạn thân thiết khi nào mình cần cũng tận tình giúp đỡ chỉ bảo những điều hay lẽ phải… Thiếu sách vở, làm sao sống nổi? Nếu đi, mình sẽ mang sách đi tới mức tối đa.

Tối, lại đi dạy vật lý ở trường bổ túc văn hóa.

Hôm sau, ra thư viện học kế toán. Không tìm được sách mình cần, nhưng miễn là sách về kế toán là đều cố nhai, gọi là cho có chút kiến thức nghiệp vụ lận lưng. Sẽ phải mất thời giờ, vì nói chung những điều người ta bảo phải học trong sáu tháng, thì cho dù có cố gắng cũng không thể học xong trong một ngày.

Chiều, Vũ Văn Chỉ về Hà Đông họp, ghé nhà mình ăn cơm tối: Em khỏe, tươi tỉnh, rất dễ thương. Mình đặc biệt mời lên phòng khách chỉ tiếp khách quí. Có thể vừa trò chuyện vừa ngắm sao giữa trời thoáng đãng mát mẻ. Cụ thể là hướng dẫn Chỉ cùng trèo tường, đi khẽ trên mái tôn xi măng, lên mái bằng nóc nhà. Hai anh em nằm bên nhau ngắm sao nói chuyện thật lâu. Chỉ kể lại chuyến lên Yên Bái thuyết phục mẹ đi vào con đường sản xuất. Mình sung sướng nhận thấy em tin tưởng những điều mình góp ý dạo nào. Cả trong tình yêu, em cũng nghe mình, mặc dù em đã nhiều lần đến thăm một cô trung cấp thực hành 20 tuổi phụ trách trại lợn của một hợp tác xã ở Trung Hà. Vẻ chân thành mộc mạc của em khi nói chuyện ấy khiến mình cảm động: Một mối tình trong trắng, không gợn chút địa vị, danh lợi. Nhưng mình vẫn khuyên em chưa cưới vội, vì em chưa thật chín chắn, chưa phải con người phát triển đầy đủ. Mình quí từng chút khả năng, từng giây phút sống đời em. Không thể để phí. Em mới 23 tuổi, còn trẻ quá.

Thật là một buổi tối tuyệt diệu, sung sướng, nếu không xảy ra vụ …máu me bê bết! Khi mình xuống thì một tiếng rầm vang lên, tấm tôn xi măng bị nắng nung giòn vỡ, khiến mình ngã từ mái xuống. Khắp tay, chân phải và phần ngực phải máu đầm đìa. Như bị nạo vào các răng tôn sắc lẹm. Nhưng chỉ ngoài da. Mình cao, tay dài, nên đỡ được thân mình. Chỉ bị vỡ mất một tấm tôn xi măng! Và làm đổ một nồi xúp đang sôi trên bếp than tổ ong!! Hai anh em đành ra ban công ngủ.

Sáng sau, Chỉ mượn một lô sách rồi về Sơn Tây. Đây là lần đầu mình không tiễn Chỉ ra tận bến xe.

Ở nhà, mình nằm suốt ngày, tay chân sườn bắt đầu ê ẩm. Hôm sau cũng nằm cả ngày. Hôm 16/8, vẫn phải nằm, nhưng đọc sách kế toán. Hôm sau nữa, cũng vẫn đọc sách kế toán. Tranh thủ đọc thêm Un Coeur Simple  của Flôbe (Một tấm lòng giản dị), câu chuyện giản dị, chân thực kể bằng giọng văn bình tĩnh, mộc mạc đến mức tưởng như không phải văn chương nữa, mà chính là cuộc đời thật hiện lên trang sách. Không thấy tác giả đâu, cũng không một lời bình luận. Đúng là bậc thầy.

…. Nóng lòng chờ mong ngày bắt đầu cuộc thử thách lớn.

Hợp tác xã vẫn im lặng.

Hôm sau, 476 máy bay giặc Mỹ rụng. Lại đọc Flôbe thêm một truyện nữa.

20/8, các vết thương đã lên da non, người đỡ mệt hẳn, bèn đi gửi cho cô bạn Kim cái ba lô và dạo chơi một lát… Hà Nội tiếp tục mở thêm nhiều hàng ăn nhỏ. Hầm phòng không thì cắt ra thành từng đoạn 5 mét một. Nói chung, Hà Nội đang phân tán, chia nhỏ ra, để chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Đoàn viên chi đoàn mình chỉ còn chín đồng chí, đấy là kể cả Quí và Châu, cả Cư nữa, toàn những tay đại lãn, đi họp cũng ngại.

… Hợp tác xã vẫn chưa trả lời, nhưng mình vẫn còn hy vọng.

Trưa hôm sau, đang nắng chang chang, mẹ con mình ăn vội mấy miếng cơm rồi mình đèo mẹ xuống nhà cô kế toán cũ của hợp tác xã ở mãi tận đường Ngô Thời Nhiệm quận Hai Bà Trưng cuối thành phố, nhờ cô chỉ bảo cho. Cô ta miễn cưỡng tiếp, cũng chẳng chỉ bảo điều gì, chỉ luôn miệng nhắc đi nhắc lại dễ lắm. Chuyên môn chẳng có gì đâu… Mình phải nén mình, tỏ ra hết sức mềm dẻo tế nhị mới được cô nhận lời chỉ bảo giúp. Mình cố không để lỡ thời cơ quí báu này. Vì ngoài con đường này, hiện chưa có lối thoát nào cả.

Hôm sau, hợp tác xã vẫn im lặng. Thái độ thiếu nhiệt tình của cô kế toán cũ đã nói lên là ban quản trị còn do dự, ngại nhận mình vì sợ trách nhiệm. Cô ta đang cần người thay thế, nhưng biết chắc là người đó sẽ không phải là mình rồi, nên chẳng việc gì phải mất công. Tia hy vọng mới lóe trước mắt hai mẹ con thế là đã tắt mất rồi.

Đang lúc ấy thì nghe tiếng Đoàn Di gọi to tên mình từ dưới sân. Rồi Di nhảy ba bậc cầu thang một lên đến đầu cầu thang thì vừa gọi to vào buồng mình ở nhà trong vừa hổn hển nói: Hay lắm mày ạ! Hay lắm…

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21/8/2021,

đang giãn cách thêm một tháng nữa, quyết thắng đại dịch.

P.T.

Blog tại WordPress.com.