Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 11, 2021

CÔ Tuyết tôi

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 10:16 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 11 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC:

CÔ TUYẾT TÔI*

Phạm Tôn

Chưa bao giờ đến nhà cậu Tuyên mà tôi được đón chào nồng nhiệt như thế. Cô Ánh Tuyết vợ cậu reo vui trong nụ cười tươi rói: Thành đến, thật là may quá, đang không biết làm sao, hỏi ai… Nói rồi cô đưa ra một chén nước chấm có đủ chanh tỏi ớt và nói với tôi là hai vợ chồng làm ốc ăn. Ốc mít mới mua sáng nay, béo lắm,


nhưng khi ăn cả hai đều nói là ăn ốc rõ ràng mà vẫn không ra là ăn ốc, hình như còn thiếu một vị gì… Cô mở cái nắp ấm nhôm đun nước ra, một mùi ốc luộc lá sả thơm ngào ngạt bốc lên, lại dùng cái môi múc canh múc ốc ra bát cho tôi, bảo tôi ăn thử một con. Ốc béo ngậy, nhưng chấm vào chén nướcchấm cô pha thì đúng như cô nói rõ ràng ăn ốc mà thấy như không phải ăn ốc. Tôi nhớ lại những bữa ăn ốc của cả nhà tôi, hầu như mọi người đều thích ăn ốc. Và phát hiện ra ngay: Nước chấm thiếu gừng. Tôi hỏi cô nhà có gừng không, cô lấy ra ngay một củ, rửa kỹ rồi giã mấy lát gừng to. Ăn thử, cả ba đều vui vẻ. Có thế mà nghĩ mãi không ra. Rồi cùng ăn ốc, húp cả nước ốc vì cô bảo đảm làm rất sạch. Cậu Tuyên khen ngon quá…

Sau tiệc ốc, cậu mới hỏi tôi có việc gì mà đến sớm thế, sức khỏe thế nào, gia đình đi sơ tán những đâu… Tôi kể sơ qua, rồi nói lý do đến cậu. Trước hết báo tin mừng là Đoàn Di bạn Chu Văn An mà cậu đã gặp kiếm được việc làm cho tôi rồi. Bắt đầu đi làm từ tháng 9/1965. Tôi không xin được việc vì không sao có được giấy khám sức khỏe đủ sức làm việc. Bạn Di nghĩ ra cách đi theo con đường không qua phòng lao động quận mà do khu đoàn Hai Bà Trưng nơi Di đang công tác giới thiệu về nhận công tác bổ túc văn hóa và văn hóa quần chúng tại xí nghiệp Cảng Sông Hồng. Cô cậu đều mừng cho tôi vì cả gia đình đi sơ tán hết, chỉ còn mình tôi ở Hà Nội, nay đi làm có lương ăn lại ở đơn vị có nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu phải bám trụ Hà Nội, cũng như cậu làm ở Đài Tiếng nói Việt Nam phải bám trụ ở Hà Nội. Khi tôi nói ra lý do khiến phải đến sớm vì nhất định phải gặp cậu cho kỳ được, may gặp cả cô nữa, thì cả hai đều ngỡ ngàng. Tôi được đi làm mà chỉ có một áo đã sờn một quần lành lặn lại là vải chéo xanh đã cũ, phiếu mua vải cũng không còn vì năm nào nhà cũng phải thay đình cho một cái màn nào đó và bao giờ mẹ cũng lấy phiếu của tôi để mua. Vì mẹ thấy tôi chẳng yêu cầu gì về quần áo, do ốm, chỉ ở nhà. Việc quan trọng thứ hai là làm ở đây thì phải ăn ở nhà ăn tập thể của xí nghiệp, mỗi tháng 15 đồng kèm tem phiếu. Nhưng tôi là nhân viên tạm tuyển lương lĩnh cuối tháng sau khi làm. Cậu bảo chuyện đó thì dễ, cậu cho, nhưng chuyện cấp bách bây giờ là mua ngay quần áo, mà không mua loại vải chéo mau hỏng, cứ mua ca ki loại tốt cho bền. Áo thì mua pô pơ lin vừa dẹp vừa bền. Cậu thu dọn tiệc ốc để cô cháu tôi đi sớm cho được việc, bấy giờ hàng hóa khan hiếm, thứ bền tốt càng mau hết cô cháu tôi phải đi ngay. Tôi đạp xe đèo cô mang theo đủ cả phiếu vải và tiền như cậu dặn.

Năm 1957, cậu tổ chức cưới cô tại Khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc). Tôi gửi quà mừng đám cưới cậu là lá thư báo tin tôi đã được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Lao động ngày 1/3/1956, cậu viết thư báo cho biết cả hai vợ chồng đều sung sướng nhận quà của tôi. Sau đám cưới, cậu đưa cô về Hà Nội giới thiệu với gia đình và cùng nhau đi hưởng tuần trăng mật ở Tam Đảo. Có lẽ em Phạm Thanh Tuyền tôi có trong lòng mẹ từ dịp ấy nhưng em lại chào đời ở Nam Ninh (Trung Quốc) ngày 11/5/1958 nơi khu học xá đứng chân. Về sau em khai lý lịch, nhiều nơi tự ý sửa thành Nam Ninh (Nam Định) họ ngỡ em khai sai. Khi hai vợ chồng đều về nước, cậu bắt đầu làm việc tại Đài Tiếng nói Việt Nam, còn cô chờ phân công công tác, hai mẹ con tạm ở nhà mẹ tôi 16 Hàng Da. Sau cô nhận công tác ở Trường học sinh Miền Nam Hải Phòng mới đưa em đi theo. Em còn quá nhỏ, phải nhờ U Viết là người trông nom cô Hoàn chị cậu hồi nhỏ. Từ đấy cô mới đỡ khổ về vật chất, thì lại khổ về tinh thần. Cô có người giúp việc mà người ta cho là người hầu, chứng tỏ cậu là con quan, còn giữ nếp bóc lột nhân dân lao động, do đó việc xét kết nạp Đảng của cô bị chậm lại để xem xét sau. Cứ thế cô chịu đựng tất cả nuôi em Tuyền lớn dần.

Ngày 4/1/1965, trời mưa nhỏ hạt nhưng vẫn lạnh lắm. Cậu Tuyên đưa bé Tuyền lên gửi mẹ tôi trông hộ và dặn tôi chăm sóc dạy dỗ em. Trước đó khá lâu, cô Tuyết cùng cậu đến bàn bạc với tôi về chuyện này. Cô vẫn ở Hải Phòng, cậu lại hay đi công tác đột xuất nên gửi em ở nhà tôi. Con bé khỏe mạnh, thông minh và gan dạ. Anh em đi đâu cũng có nhau, kể cả hôm 10/3 đi tàu điện vào tận Hà Đông thăm anh Phạm Hồng Sơn từ 1 giờ trưa. Em nhỏ mà rất ý tứ, để yên cho chúng tôi trò chuyện, chỉ mở to đôi mắt đen nhìn, không hỏi gì.

Rồi tôi mặc quần áo cô Tuyết mua cho đến xí nghiệp Cảng sông Hồng ở đầu dốc Vĩnh Tuy bắt đầu cuộc vô sản hóa gần chục năm trời cho đến 1973 mới về lại báo Nhân Dân nơi tôi đã đến từ ngày vào đời. Mọi biến chuyển thăng trầm của cuộc đời tôi vợ chồng cậu đều theo dõi và khi nào tôi cần đều giúp đỡ tận tình. Lần nào cô vào công tác Sài Gòn cũng ghé nhà tôi, cho quà và chủ yếu là trò chuyện chân thành như hai người bạn tri kỷ, nói thật nói thẳng hết với nhau mọi chuyện đời. Một lần đi công tác, cô ghé nhà tôi, thấy treo chữ NHẪN to trên nền đỏ ở chỗ dễ thấy nhất, hằng ngày đi qua đi lại nhiều nhất, cô cười nói: Nhà mình, ai cũng phải nhớ chữ Nhẫn, không bao giờ được quên… Có năm cô vào công tác Thành phố Hồ Chí Minh nhưng bị tai biến bệnh tiểu đường mà cô bị trước tôi nhiều năm. Hồi ấy, Trần Hà mới là người yêu của Tuyền đến báo tôi biết và đưa đến thăm cô ở bệnh viện Thống Nhất. Cô bé nhỏ, yếu ớt nằm phẳng lì trên giường bệnh thở thoi thóp. Nhưng vẫn mở cặp mắt đen tươi nhìn tôi, nhận ra tôi. Tôi với Hà bàn kế hoạch tiếp tế hằng ngày: vợ chồng chúng tôi nấu cháo, mua sữa đậu nành để sau giờ làm việc Hà lấy xe đạp của tôi đem vào viện bón cho cô.

Năm 1997, tôi bị biến chứng tiểu đường gây hôn mê vì máu nhiễm xê tôn phải cấp cứu ở bệnh viện Nguyễn Trãi. Không hiểu sao năm ấy mưa to kéo dài thế. Tôi nằm phòng cấp cứu suốt ngày mở máy lạnh, đèn tuýp sáng chẳng biết chuyện gì, chỉ thấy người tới thăm hoặc vợ tôi đi mua thuốc ngoài viện về đều lướt thướt áo mưa, tóc dính vào mặt. Tôi nằm trên giường, mình mắc đầy ống truyền dịch cốt giữ mạng sống, chẳng còn thiết gì bên ngoài, mặc kệ tất cả bác sĩ y tá muốn làm gì thì làm. Sau này vợ tôi kể khi thấy cô Tuyết đến bên giường thì mắt tôi sáng lên, tươi tỉnh hẳn. Cô đi công tác ghé qua nhà, được chỉ cho đến chỗ tôi.

Sau trận cận kề cái chết năm ấy, tôi nghĩ không lẽ bao năm cất công tìm hiểu về ông ngoại mà lại cứ thế ôm cả mớ đi xuống mồ chỉ vì cứ nghĩ tài liệu thu được còn ít ỏi quá, và nhất là tài năng của mình còn kém lắm nên không dám viết. Thế là ra viện tôi bắt đầu viết ngay về ông ngoại, cố gắng mỗi năm mỗi bài.


Chí ít cũng kể lại cho người nhà biết những gì mình biết. Viết không nghĩ đến chuyện in, xuất bản gì cả. Năm 1998: Người nặng lòng với tiếng ta, bài dễ viết nhất và cũng dễ được chấp nhận nhất. 1999: Người nặng lòng với nhà, bài mang nhiều kỷ niệm thời thơ ấu của tôi. Và 2001, đi mổ mắt, chỉ nhìn được bằng một mắt cũng cố viết ngay bài cuối, bài tâm huyết nhất, khó khăn nhất và cũng khó được chấp nhận nhất vì hoàn toàn đi ngược lại những gì hầu như mọi người đã bị nghe và đọc suốt 60 năm nay: Người nặng lòng với nước. Viết được bài nào tôi gửi ngay cho cậu tôi bài ấy. Không ngờ cô đọc tất cả những bài ấy và nhập tâm để rồi sau này trong bản thảo Chúng tôi đã sống như thế của mình, cô đã đưa tất cả vào các phần đầu cuốn sách: Người cha và bi kịch lịch sử, Thời thơ ấu ở Hoa Đường, Gia biến. Là nhà khoa học, quen với nền nếp nghiên cứu, trong ngoặc đơn cô ghi rõ: “Phần viết này dựa vào các bài Người nặng lòng với tiếng ta, Người nặng lòng với nước, Người nặng lòng với nhà của Phạm Tôn (con trai của bà Phạm Thị Giá và Giáo sư Tôn Thất Bình) đã đăng ở tạp chí Xưa và Nay số 267 tháng 9/2006, tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3/2006 và theo lời của những người thân trong gia đình cùng những người quen của gia đình kể lại”.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa, trong Mấy lời mở sách đã viết: “Hay nhất trong cuốn sách này vẫn là những mảng bà viết về học giả Phạm Quỳnh và nhạc sĩ Phạm Tuyên (…) Qua cuốn sách của Nguyễn Ánh Tuyết, ta cũng hiểu thêm cụ (Phạm Quỳnh – PT chú). Đặc biệt là những chuyện trong gia đình. Có thể xem đây


là một mảng tư liệu khá mới mẻ.”

Còn với người đọc bình thường như anh bạn Đoàn Di của tôi thì gửi con gái đem từ Hà Nội vào cho tôi quà bột sắn và một lá thư viết bút bi đỏ những dòng sau đây: “8/4/2015, Di gửi Thành, Đã nhận được cuốn sách cậu gửi ra. Đang đọc – đọc đến trang 26 thì không đọc được nữa – Nước mắt mình làm nhòa cả kính – Chẳng phải vì thương ai – Mình mừng cho cậu đã gần tới đích minh oan và phục hồi danh dự cho ông ngoại – Mình nghĩ lúc này nếu bà mẹ còn sống sẽ vô cùng hạnh phúc về cuộc đấu tranh của cậu – Chúc mừng Thành.”

Hồi ký này cô Tuyết tôi viết từ mùa xuân 2007, cứ nhẩn nha mỗi ngày viết một ít trên máy vi tính. Cậu Tuyên tưởng cô vẫn làm việc như mọi khi, không ngờ cô viết hồi ký chung cho cả hai vợ chồng. Cô viết xong năm 2008 thì mệt mỏi, nằm nghỉ, một việc rất ít khi cô làm. Rồi mệt nặng hơn, cứ nằm mà không mở mắt nữa. Chồng con đưa đi bệnh viện Việt – Xô. Nhận tin này, tôi vội đọc lại bản thảo Chúng tôi đã sống như thế cô gửi cho, cố tìm một phần thích hợp để trích ra làm thành bài Bước khởi đầu của nhạc sĩ Phạm Tuyên rồi gửi ngay cho cậu. Nhận được, cậu gọi vào nói là ngày nào vào bệnh viện cậu cũng mang theo, chỉ chờ khi cô tỉnh dậy thì đọc ngay cho nghe, khi nào mở mắt thì đưa cho xem cả bài với các ảnh minh họa rất thú vị. Nhưng cô vào viện mà vẫn nhắm mắt như ở nhà và không khi nào mở ra nữa. Rồi trút hơi thở cuối cùng đúng năm giờ năm phút sáng ngày 11/5/2009.

Cũng như thế, con gái đầu của cô, em Tuyền tôi, sau khi hoàn thành nhiệm vụ được giao ở viện Dầu khí Việt Nam là việc nước, em lo việc nhà là giám sát thi công công trình Bia tưởng niệm học giả Phạm Quỳnh ở Hải Dương và tôn tạo khu lăng mộ ông nội Phạm Quỳnh ở Huế đều do anh Tôn Thất Đại tôi là cháu ngoại thiết kế, có dựng cả tượng chân dung Phạm Quỳnh lần đầu tiên trong nước.

Dù đã được nhắc nhiều về sức khỏe có vấn đề, đến lúc xong việc lớn này em mới có thời giờ đi khám ở Viện Lão khoa trung ương do anh họ em Giáo sư Phạm Thắng làm giám đốc. Cháu tôi thạc sĩ Tôn Hương Giang theo dõi sức khỏe em lâu nay, từng nhắc nhở em đến khám nhiều lần, cho biết rất tiếc là em Tuyền tôi đã suy tim ở giai đoạn cuối. Em mất lúc mười một giờ hai mươi ngày 31/5/2017, sau mẹ em tám năm. Vừa đủ thời gian để mai táng mẹ, rồi lại cải táng để đưa về Khu tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh. Mộ mẹ em nằm cạnh một kim tĩnh nữa cũng bằng đá đen chờ ngày bố em về gặp mẹ, nằm bên mẹ.

Hai mẹ con cô Tuyết tôi giống như hai thiên sứ xuống sống với đời, cùng chia vui sẻ buồn, cùng chịu các đắng cay, đau đớn với những người thân yêu, rồi một khi nhiệm vụ hoàn tất, cả hai lại nhẹ nhàng ra đi…

Blog PhamTon tôi đã dùng ngay lời dẫn báo tin em ra đi mãi mãi ngay đầu bài Phạm Thị Thanh Tuyền, cháu nội học giả Phạm Quỳnh là Viện phó kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Viện Dầu khí Việt Nam. Khiến cho nhạc sĩ Phạm Tuyên ngỡ ngàng khi nhận được lời chia buồn rất sớm từ những miền rất xa xôi tận phương trời Âu, Mỹ.

Thành phố, Hồ Chí Minh ngày 19/3/2021, giữa mùa Covid-19 trong trạng thái mới

P.T.

———————————

* Lẽ ra tôi phải gọi PGS TS Nguyễn Ánh Tuyết là mợ vì là vợ cậu Tuyên tôi, như gọi mợ An vì là vợ cậu Khuê tôi. Nhưng đã thành nếp, chúng tôi vẫn cứ gọi bà là và chính bà cũng thoải mái xưng với chúng tôi là , tự nhiên như khi nói: Cô Tuyết có chuyện này muốn kể Thành nghe: .

P.T.

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d người thích bài này: