Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 23, 2021

Đội 5

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 10:08 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 12 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI-MỘT TRUYỆN NGẮN RA ĐỜI (PHẦN 16)

ĐỘI 5

Phạm Tôn

  1. Lập “Đội tuyển 5”

Cảng Sông Hồng, sau này thành Cảng Hà Nội nằm bên sông Hồng, kéo dài hơn một cây số. Đội I có cần cẩu cổng chuyên cẩu các kiện hàng bách hóa hàng đóng bao tải… Đội 2 chuyên chất vào kho hàng lớn. Đội 3 có đội băng chuyền chuyên chuyển than các loại từ xà lan lên bãi tạo thành những núi than phục vụ các nhà máy điện, cơ khí, luyện kim. Đội 4 ở cuối cảng, phía Thanh Trì chuyên bốc dỡ hàng đá, sỏi, cũng có băng chuyền và công nhân phục vụ như đội 3. Vậy tại sao lại lập thêm đội 5. Đội 5 ở đâu và gồm những ai?

Điều này chỉ có ban lãnh đạo cảng biết. Đó là chủ nhiệm xí nghiệp Nguyễn Trọng T., phó chủ nhiệm kiêm bí thư chi bộ Đảng Nguyễn Văn N. và đặc biệt là vai trò độc đáo của thư ký công đoàn Nguyễn Quang H.

Tôi về cảng tháng 9/1965 làm chuyên trách bổ túc văn hóa. Hiệu trưởng trường này theo qui định là chủ nhiệm xí nghiệp. Tối họp Đại hội công nhân viên chức đầu tiên được Ton That thanh chup cung bac Tan (anh tach rieng)dự, tôi phát biểu về việc học, đề nghị anh chị em công nhân làm các tối thứ hai thứ năm thì nên phát huy tình thương yêu giai cấp, vì sự học để tiến bộ của bạn mình mà đổi ca cho nhau để những ai đi học tối đó đều đi học được. Tôi vừa nói xong thì chủ nhiệm T. đứng ngay dậy nói to: từ nay cứ thứ hai thứ năm là toàn cảng nghỉ sản xuất từ bảy giờ tối đến mười giờ đêm. Hội trường vỗ tay. Còn tôi thì mở cờ trong bụng. Từ đó tôi cảm tình với chủ nhiệm và luôn gọi là anh T., không như vẫn gọi đồng chí thư ký công đoàn và bí thư chi bộ. Anh T. gầy yếu, người cong như cái thìa, má hóp, mắt đeo kính trắng dầy như đáy cốc, rõ ra là người trí thức, không hiểu sao lại làm ngành vận tải. Thư ký công đoàn thì tôi chứng kiến chuyện lạ đời ngay tối họp công nhân trước văn phòng cảng để xác minh một số vụ lùm xùm trong công nhân lâu nay. Thư ký công đoàn hói, thấp, gò má cao, mặc cái áo ba túi màu nước dưa cộc tay, vừa nói vừa vung tay Tôi nói thế này cho nó rõ: Bà Thảo và một số bà con có đơn khiếu nại tôi về việc tham ô tiền huy động để tổ chức tăng gia. Bây giờ tôi nói thế này cho nó rõ: Tôi xin bà con số tiền ấy. Tôi xin, thì bà con cho chứ, cho chứ có phải không… Bà con cười ồ vui vẻ, chuyện đã lâu, cũng chẳng đáng là bao, ừ thì cho. Chỉ có bí thư chi bộ N. thì tôi hầu như không biết gì. Ông ta kín đáo, ít nói, mặt xám dài, môi đen, người miền Trung. Kỹ sư Hiệu, con một đại tá người Đà Nẵng, một bạn mới quen nhưng rất thân với tôi cho biết là có lẽ do tình  miền Trung nên bí thư N. đã than phiền với Hiệu là chẳng may lại phải đứng ra nhận chức bí thư chi bộ đúng lúc tình hình nát bét như thế này, chẳng khác nào “chó ngáp phải con nhặng”.

Chưa có trụ sở cũng cứ lập ra Đội 5. Văn phòng làm việc tạm tại khu nhà chờ của bến ca nô to, trống. Gần cửa sổ có cái bàn, hằng ngày hay thấy một cán bộ thanh tra của bộ Giao thông vận tải đến viết lách ở bàn ấy, đôi lúc lại bàn chuyện gì đó với cụ đội trưởng đội 5 Nguyễn Văn Sán, có vẻ tâm đắc lắm.

Sau trận tấn công đến Khu đoàn Hai Bà Trưng thất bại, không có cớ để đuổi việc thì tôi bị điều ra làm thống kê ở Đội 3. Đội trưởng là anh Trần Cát, anh của Trần Lợi, bí thư đoàn cũng là bạn tôi từ ngày về đây, và em gái là Trần Thị Phúc, thành viên tích cực nhất trong nhóm ca nữ của cảng do tôi thường xuyên dạy hát. Không hiểu có phải vì thế không mà tôi làm việc ở đội 3 rất dễ chịu. Đội trưởng trông giống như những người Nhật tôi thấy năm lên năm ở Hà Nội. Thấp, đậm, mắt một mí, hay đội cái mũ lưỡi trai xanh bạc. Gần như cả ngày không nói gì, chỉ nhìn. Tôi lấy số liệu của các tổ, làm báo cáo, tính tăng giảm bao nhiêu phần trăm so với hôm trước, rồi bỏ vào ngăn kéo cái bàn to, đúng chỗ anh hay ngồi khi họp với các tổ trưởng. Anh khen tôi làm việc tốt. Đội 3 tôi lại có nhiều bạn tốt, số đông là công nhân băng chuyền cả nam lẫn nữ.

Một hôm đang đi giữa bãi than định gặp các tổ trưởng thì gặp cụ Nguyễn Văn Sán, cụ đi rất nhanh dáng người lao về trước nhưng cũng kịp nói một câu: Cậu chuẩn bị về làm chỗ tôi nhé. Tôi nghe thì biết vậy, chứ việc nào cũng thế, chỉ sợ không việc nằm dài ở nhà thôi.

Công nhân cảng ai cũng nể cụ Sán, nhiều người sợ. Cụ là người lâu năm nhất sống và làm việc ở bến cảng sông Hồng này. Dân Phà Đen thời chống Pháp là nơi cưu mang nhiều cán bộ cách mạng, nhất là những cán bộ công đoàn như ông Phó, ông Khánh, nay làm ở Tổng Công đoàn.

Ngày 18/12/1967, máy bay giặc Mỹ đánh cầu Long Biên thật điên cuồng, quyết liệt. Các tốp máy bay hung hãn cứ bay dọc theo con cầu mà dội bom liên tục. Cầu chịu trận nặng hơn những lần trước: Gãy mất một trụ và đứt mấy nhịp… Nhưng tối đến, Thanh niên xung phong đã làm xong một cầu phao mới, ô tô vận tải đi về được. Đường thông. Một nhóm văn nghệ xung kích ra đầu cầu phao biểu diễn trong gió lạnh mùa đông. Số người xem cũng bằng số nghệ sĩ đàn hát. Anh chị còn phải lo điều khiển việc thông cầu. Cả người biểu diễn và người xem đều trong bóng tối. Hôm sau, vẫn có những trận dội bom dữ dội. Bom bi nổ liên miên, toàn loại quả dứa quả ổi. Hai thanh niên xung phong bị thương nặng.

Trước tình hình khẩn trương này, ban chỉ huy đội 5 quyết định mở cuộc họp đặc biệt. Nhưng chỉ có tổ trưởng tổ 2, 3 và 4 về dự, còn tổ 1, tổ gồm những người mạnh khỏe nhất thì không về được vì nhận đơn hàng lớn làm ở nơi xa. Tuy vậy, đội trưởng Nguyễn Văn Sán và đội phó Nguyễn Khánh Chước vẫn kiên quyết chỉ đạo họp thật nghiêm. Chính lúc này, càng cần huy động sức mạnh tập thể, trí tuệ tập thể hơn bao giờ hết.

Mở đầu cuộc họp, bà Nguyễn Thị Thảo nói ngay: Họ điều lên đội 5 này toàn người già yếu, nhiều người từng ở các đội hắt than không quen bốc vác… Bà Nguyễn Thị Bảy nói ngay: Như tôi đây, chuyên hắt than, lúc đầu không vác nổi 30 ký, sau nhờ đội chỉ bảo mới biết sang vai ăn vai, nay tạm vác được bao đỗ tương 90 ký, cả bao đường 120 ký đi đường bằng.

Bà Thảo da ngăm ngăm đen, thân hình vững chắc, vai to, mặt vuông mày rậm thì bà Bảy lại dong dỏng cao, da trắng, môi đỏ. Hai bà đều làm ở cảng từ những năm 1956, 1958 khi mới đổ cát vàng lập bãi cảng. Lấp cát làm tràn than có bà Thảo ở băng 3 bà Bảy ở băng 2. Bà Thảo làm từ khi chỉ mới có một cái băng chuyền, chưa có bãi. Hai bà xung phong xây nền cho cảng, một công được trả 1,2 đồng thì trả lại 6 hào, 1,5 đồng thì trả lại 7 hào góp xây dựng bãi cảng.

Tiếp lời hai bà, bác Trần Văn Khang một ông lão cao, gầy, da rám nắng, đầu hói như một nhà bác học, gãi đầu, hấp hay đôi mắt nheo nheo lại tâm sự: Phải nói là thành lập được cái cảng này là do những công nhân lão thành ở đội 5 này đổ nền đắp móng. Cụ hói đầu vì đội than nhiều quá mà thôi.

Bấy giờ cụ Sán mới hấp hay đôi mắt trũng sâu lên tiếng ôn tồn: Họ giao cho tôi đội này, với biết bao dự định xử lý sau này, như đưa lên tỉnh Hòa Bình, chuyển sang công ty đường sông, công ty cầu đường,và có cả chủ trương giải tán, giải quyết chế độ cho thôi việc.

Ngay trụ sở đội cũng không có, phải ở nhờ phòng chờ của bến ca nô. Hầm hố phòng không chưa làm, công nhân rất hoang mang, rồi lại điều động công việc bất hợp lý. Bao giờ đội 5 cũng nhận đơn hàng sau khi các đội khác từ chối không chịu làm. Toàn thứ xương xẩu khó nhằn. Điều công nhân cũng gây khó khăn, đổi từ ca 2 sang ca 3 rồi lại lên cần cẩu cổng, khổ công nhân già yếu, chỉ di chuyển cũng đủ mệt rồi.

Bà Thảo nghe ông bạn già hói đầu nói về những khai cảng công thần, lại nghe cụ đội trưởng tâm sự về sự bất công đối với đội 5, không thể ngồi yên bèn giơ tay cao, rồi chém xống thật mạnh, bắt đầu dốc bầu tâm sự ấm ức lâu nay… Tôi nhân danh là một ủy viên ban chấp hành công đoàn cơ sở của toàn cảng, mà trưởng phòng tổ chức cũng chỉ là một đoàn viên công đoàn thôi, mà dám ký lệnh điều động tôi từ đội khác về đội 5 này mà không thèm trao đổi trước với tôi một câu, đến lúc có giấy báo tôi mới biết, cứ như là đánh úp, đánh lén vậy. Kiểu như Già yếu rồi thì bỏ. Mới về đội 5, chưa quen làm việc nặng, đã bắt ngay vác đá hộc, gạo tạ, có bà đã phát khóc hỏi ưu tiên bà già con mọn là đây ư? Tôi vì đã làm công tác dân vận từ thời Pháp, cho nên cố khuyên giải chị em ráng chịu, tập dần sẽ quen, vì dù sao cũng phải sống chứ… Họ coi khinh ta quá, ép đủ mọi bề. Hàng khó, đơn giá thấp là đội 5 chịu. Chẳng ai quan tâm. Nữ công cũng mặc kệ bà con chị em chịu khổ. Bốc xi măng chỉ bảy tám hào một công thì lại giao cho đội 5.

Nghe đến đây, anh Nguyễn Khánh Chước đội phó đứng dậy nói thật rõ ràng. Giọng anh trọ trẹ, không biết có phải vì anh là người Quảng Nam hay cãi hay không, mà dù là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, anh cũng được tuyển về đội 5. Nói năng nghiêm chỉnh, công tác chấp hành tốt, đến trang phục khi nào cũng chỉnh tề, mà cũng chẳng được lãnh đạo tin tưởng. Anh phụ trách về lao động tiền lương của đội. Anh nói: Họ cho về đội này toàn người già yếu, bệnh kinh niên. Hoàn toàn lao động chân tay, không có chút máy móc xe cộ nào. Địa bàn làm lại không cố định, rất rộng, tản mát, công nhân từ nhiều đội tập trung về, như kiểu gom những ai hết thời gian sử dụng về một chỗ để chờ giải quyết chế độ cho về nhà.

Cụ Sán nhấn mạnh: Tổng kết hai tháng, cấp trên nhận định là lỗ 8.000 đồng! Nhiều khoản rất vô lý cũng đưa vào. Công nhân càng cố gắng càng thắc mắc. Không hiểu sao lại lỗ như thế. Trong khi công cụ làm việc thì cũng không có, ngay văn phòng đã đi ở nhờ còn tự túc hoàn toàn dụng cụ văn phòng. Anh Chước nói thêm: Xin cấp phát rất khó, từ quần áo bảo hộ đến dụng cụ làm việc. Cứ phải nhân nhượng các đội bạn khi làm việc chung. Phòng tổ chức chỉ nhăm nhe thấy ai làm được việc là lấy đi.

Cuộc họp đột xuất tự nhiên khiến mọi người xích lại gần nhau hơn, cùng bị dồn vào chỗ chết, ai cũng cố sống sót, mà muốn sống sót, không thể xa rời tập thể những người cùng cảnh với mình, phải đoàn kết lại, bảo vệ nhau cùng vươn lên, vì cuộc sống của riêng mình mà phấn đấu làm tốt nhiệm vụ của đội. Đó là chưa có tiếng nói của tổ I. Tổ trưởng là anh Mão bộ đội phục viên. Mặt đen mắt sáng quắc, người như đúc bằng thép. Việc gì cũng làm, chuyện gi cũng đùa, anh là cả một kho chuyện tiếu lâm rút ra từ cuộc đời bộ đội chống Pháp. Tôi tiếc là buổi họp này thiếu vắng anh, thiếu đi tiếng cười và những lời nói như đinh đóng cột của anh. Anh về đội 5 có lẽ vì bướng, hay cãi cấp trên.

Tôi không làm chuyên trách bổ túc văn hóa nữa nhưng vẫn dạy văn ở nhiều lớp 6, 7 và khi cần thì dạy bất cứ lớp nào  môn nào thiếu giáo viên. Một tối dạy học ở tổ lái xe, học viên bận công tác, đến lớp ít quá phải cho nghỉ. Tôi đem tạp văn Lỗ Tấn ra đọc. Một bạn lái xe hỏi đọc gì. Tôi trả lời, nhân tiện đọc một đoạn Lỗ Tấn dẫn lời Sô-pen-hao-ơ ví các nhà trí thức như những con nhím, không bao giờ sát lại gần nhau mà không bị lông nhọn đâm, bèn dãn ra đến mức chịu đựng được, khoảng cách đó họ gọi là “phép lịch sự”. Anh ta nghe thú quá, mấy anh khác cũng tụ lại nghe, cuối cùng là hai cụ Thiếp Râu, kế toán đội xe và bố Nguyễn Văn Hoành phụ trách đội bảo vệ cũng người Huế. Bài Hãy khoan fairplay đã và các bài Tùy cảm lục 35 49 được mọi người rất tán thưởng. Hai cụ đặc biệt chăm chú lắng nghe mắt long lanh, bỏ cả chén trà bốc khói nghi ngút… Ngoài trời gió lạnh, lùa cả qua khe liếp mà không ai để ý. Có những câu tâm đắc, bố Hoành bảo đọc đi đọc lại đến vài lần mà mọi người vẫn chăm chú lắng nghe, gật gù khen hay, văn như thế mới là văn. Tôi nói vài câu về tác giả, ai cũng yêu mến Lỗ Tấn, nhưng cũng muốn dừng đọc. Vì còn phải suy nghĩ sâu hơn về các bài đã nghe. Ai cũng mong những lần dạy sau thì nên nán lại đọc sách cho anh em nghe. Đảm bảo có trà thật ngon cho người đọc. Trời lạnh mà lòng ấm…

Mấy hôm sau, tôi về Đội 5 làm việc ở cái nhà chờ trống dưới quyền đội trưởng Nguyễn Văn Sán. Người cán bộ của Bộ Giao thông vận tải đặc trách việc điều tra ở Cảng Hà Nội vẫn thường đến đây viết lách tại cái bàn gần cửa sổ trông ra mé sông Hồng sau này tôi được biết tên ông là Hoàng Anh, người miền Nam, trán quả đào, người tầm thước, mặc bộ quần áo đại cán màu vàng mơ. Tôi chỉ nói đôi câu với ông khi đưa nước mời mỗi khi ông đến. Gặp cụ Sán, lần nào hai ông cũng trò chuyện thân mật, tin cậy, chỉ nói nhỏ đủ hai người nghe. Phụ giúp cho cụ Sán về lao động tiền lương là đội phó Nguyễn Khánh Chước, một cán bộ miền Nam tập kết, có vợ người Khuyến Lương ngoại thành Hà Nội, hằng ngày đạp xe qua cầu Long Biên. Đầu bao giờ cũng đội mũ cối, vai đeo xà cột miệng luôn ngậm một điếu thuốc giá rẻ. Khác với các đội kia có ít nhất cũng một thống kê và một hoặc hai kế toán về tiền lương, về tiêu hao vật tư, ở đội 5 chỉ một mình tôi kiêm cả thống kê lẫn kế toán các loại…

Còn công nhân cũng được tuyển chọn riêng cho đội 5. Đầu tiên là các cụ già yếu trước đây đã tụ tập trong một tổ lao động có cái tên rất tội nghiệp là Tổ Tự Cứu. Họ là những người bốc vác đã lâu năm ở bến sông này nay già yếu, không có nguồn sống nào khác. Cũng chẳng biết làm nghề gì, đành cùng nhau lập thành một nhóm, cử ra người đại diện lên phòng kế hoạch cảng xin những đơn hàng nhỏ lẻ, tự tổ chức thực hiện xong thì lên tài vụ cảng lãnh tiền, chia nhau. Tất nhiên có nộp cho cảng một lệ phí nhỏ. Tổ cũng thu nạp một số con em bà con chưa đến tuổi lao động, như em Nguyễn Mạnh An ở xóm Thanh Long, mới 15 tuổi đã phải ghé vai gánh vác một gia đình lao động nghèo, có em gái út bệnh hiểm. Một số khác đang là công nhân các đội, nhưng hoặc là đàn bà già yếu, đàn ông có vấn đề, chủ yếu là ngang bướng, hay cãi, có uy tín trong công nhân. Có chị khỏe mạnh, nhưng gia đình có người đi Nam. Đội 5 không có máy móc xe cộ gì, chỉ lao động tay chân. Xem ra tiêu chuẩn để tuyển về Đội 5 là những người các vị lãnh đạo cảng không ưa, như là ông Sán, bà Thảo những người đứng lên tố cáo tham nhũng ở cảng, còn thì là hoặc già yếu, hoặc phức tạp như từng đi lính cho Pháp hoặc ngụy quyền, hoặc là người Hoa, con tư sản, địa chủ v.v… Tất nhiên, trong đội tuyển này không thể thiếu tôi là cháu Phạm Quỳnh, đã bị ta xử tử năm 1945, hiện chưa có hành động phá hoại.

  1. Vua Bà

Anh em lái xe và hai cụ Hoành, Thiếp mê Lỗ Tấn. Thật ra là do họ đã bị tôi truyền cho cái máu mê Lỗ Tấn, nhất là từ khi tôi đọc được tạp văn Lỗ Tấn, đầu tiên là qua các bản dịch của Phan Khôi, rồi sau này qua bản dịch của Trương Chính dịch các bài chọn trong 18 tập tạp văn nổi tiếng của Lỗ Tấn mà ông yêu thích và hiểu được, in thành ba tập Tuyển tập tạp văn Lỗ Tấn dầy dặn.

Tuyen tap lo tan

Cuối năm 1966, tôi lấy thẻ Thư viện Trung ương và cả Thư viện Hà Nội nữa. Phải tận dụng thời giờ và điều kiện cho phép để học tập nhiều hơn nữa. Mẹ đi Tây Bắc dự đám cưới em Nhàn đã về, mấy hôm nữa mẹ sẽ đi về nơi hợp tác xã may sơ tán ở Hà Bắc, mình phải bắt đầu làm việc thật lực, thật sự, không phải chỉ có học. Chiều nay, mẹ đong nhầm gạo, ăn thiếu, đến đêm đói quá, mẹ lại dậy thổi cơm. Hai mẹ con ăn xong thì vừa 12 giờ đêm… Ở Hà Nội, dạo này từ mờ sáng đến tối mịt không có bán qua một thứ gì có chất bột để lót dạ, các sáng đều nhịn đói đi làm. Nếu muốn ăn thì chỉ có ổi và khá hơn là chuối tiêu. Không hiểu sao năm nay được mùa ổi thế… Các cửa hàng mậu dịch lớn đều đóng cửa. Cửa hàng ăn thì chỉ nhận bán cơm tháng và cơm bữa cho những người có giấy công tác và tem phiếu. Tiểu thương đều bị cấm. Hà Nội nhờ thế có vơi bớt người. Tạm thời mạng lưới phục vụ những người sống chết với Thủ Đô chưa hoàn thiện…

Cuối năm, đọc tạp văn Lỗ Tấn, có một câu khiến tôi bật cười. Thật gặp thầy gặp thuốc quá. Câu ấy thế này: “Ngồi khoanh tay lại thì muốn ngủ gật, mà cầm bút lên tay, đặt một tờ giấy viết nháp trước mặt, thì thường thường có thể viết ra được, mặc dù chưa biết thành cái gì. Tất nhiên muốn cho hay thì chưa chắc.” Thế là nảy ra ý viết tạp văn cho báo tường xí nghiệp. Không hiểu sẽ đem lại kết quả gì, có lợi có hại gì cho mình và cho người khác. Chưa biết. Nhưng cứ viết đã, ít nhất cũng chữa được cái bệnh lười viết chỉ ham đọc, biến đầu óc mình thành bãi chiến trường cho các tác giả tha hồ phi vó ngựa. Chính là vì tự ti, sợ tài hèn, sức mọn. Từ nay sẽ viết thật nhiều, thật thường xuyên nhưng sẽ đăng trên báo tường xí nghiệp rất ít, chỉ đăng những bài đã cân nhắc cẩn thận, tránh gây ra những phiền hà vô ích, mất thời giờ. Những bài đã viết đều cần đọc cho anh chị công nhân đặc biệt là thanh niên nghe để lấy ý kiến sửa chữa. Bạn đọc lý tưởng là người thanh niên mới lớn đang hăng hái bước vào đời với niềm tin tưởng mãnh liệt ở sức mình và tập thể của mình, nhưng còn thiếu kinh nghiệm thậm chí nhiều lúc ngây thơ…

Tối 24/12/1966, đêm Nô en, mà thư ký công đoàn Nguyễn Quang H. vẫn triệu tập toàn cảng họp khẩn cấp. Thật ra, ai cũng biết ông không tán thành đám cưới của cô Lộc phát thanh viên phòng truyền thanh của cảng, cái mồm của lãnh đạo cảng lại đi lấy anh chàng Phúc là dân sà lan bọ nước, định cưới mà không báo cáo ông, không chờ ông cho phép. Thư ký công đoàn Nguyễn Quang H. vừa lên diễn đàn kịp vung tay cao nhấn mạnh: tôi triệu tập cuộc họp bất thường này là cốt để nói cho rõ, thì hội trường xôn xao cả lên. Rồi tiếng vỗ tay sôi nổi rộn ràng, kéo dài. Thư ký chưa biết là quần chúng hoan nghênh hay phản đối, thì từ cửa lớn bước vào một cô đầm thật sự, váy hoa to xanh đỏ, hở cổ vai trần nước da trắng mịn, môi son đỏ, má hồng rực, tóc xoăn rủ xuống trán. Đó là cô Tuất băng chuyền, con gái ông Đệ kế toán củ mỉ cù mì đeo kính trễ, thường hay đẩy lên trán mỗi khi có ai hỏi. Áo cô mặc là áo công đoàn Cuba tặng Việt Nam từng thùng lớn, dân nước bạn ai có gì tặng nấy, về ta, bà con mua vì rẻ, vải lại tốt, nhưng cứ để nguyên như thế thì ít ai dám mặc, trông ghê chết nên tháo ra may lại cho trẻ con. Chỉ có cô Tuất là dám mặc, lại mặc đi dự cuộc họp khẩn do công đoàn triệu tập, tất nhiên còn để cô đi dự cưới cô Lộc truyền thanh, bạn cô.

Tôi cùng các bạn trẻ tất cả đều dự họp, rồi cứ mỗi lúc lại một hai người lủi ra đám cưới. Tôi là người dễ bị lộ nhất nên phải ngồi nghe phát biểu chán chê, mà trong bụng chỉ nhẩm tính xem sẽ hát bài gì trong đám cưới này thôi. Khi tôi và Ngô Tiến Thái băng chuyền đến thì đã thấy đủ mặt Phúc, Hiếu, Hải, Thất, Thu, Mai, Vân, Vi… Tất cả gặp nhau là cười vui, cô dâu chú rể cũng rạng rỡ, không ai nghĩ đến đi chơi Nô en cả. Chẳng qua thư ký công đoàn muốn xem phe mình còn thiêng không, lệnh ban ra có ai thi hành không. Vì tình hình hiện rất căng thẳng, phe ông ta đang bị cấp trên soi rất kỹ…

Chúng tôi có hẳn một nhóm chuyên giúp các đám cưới trang trí và giúp vui văn nghệ. Nòng cốt là nhóm ca nữ và các chàng trợ lý thân thiết của các cô. Tất nhiên có tôi là người dạy các cô hát… Một lần đi giúp một đám cưới tổ chức ở quê, cả nhóm tập hợp rất sớm, đạp xe đi một đoàn, mang theo phông xanh, giấy màu giấy trắng và hồ dán khuấy sẵn ở nhà. Phông có người khéo tay cắt cho đôi chim hòa bình trắng rồi còn chữ lồng tên cô dâu chú rể và câu khẩu hiệu thì giao cho chuyên gia là tôi phụ trách. Cô Trần Thị Phúc đầu têu và các cô khác hùa theo nói đám cưới nào cũng Vui duyên mới không quên nhiệm vụ chán chết. Các cô bắt tôi vắt óc suy nghĩ ra một câu mới. Tôi nghĩ  một lúc rồi nói là có rồi. Các cô bảo có thế chứ, chuyên gia mà. Tôi dõng dạc đọc một câu thuần văn Nôm dân dã Yêu nhau lấy nhau chống Mỹ cứu nước. Cả các cô lẫn đám trợ lý tháp tùng đều chê là ghê quá, thà lấy câu cũ còn hơn…

Hôm sau, chủ nhật 25/12 nhưng vẫn phải đi làm. Khi chỉ có hai bác cháu, cụ Sán nhắc mình phải có cái gậy để chống mà đi khi cần. Cụ có kinh nghiệm hoạt động bí mật lâu năm trong lòng địch thời Pháp tạm chiếm Hà Nội, nên lời nhắc nhở của cụ khiến mình rất chú ý. Cụ biết sắp có chuyện lớn xảy ra ở cảng, và mình là người dễ bị trúng tên bay đạn lạc.

11 giờ thì đến nhà Nguyễn Văn Tân, một công nhân bốc dỡ rất hiếu học. Ngoài học văn hóa cấp 3, Tân còn xin mình dạy cho Pháp văn, sau đó mình giới thiệu học lớp ban đêm của sở giáo dục mở. Hai cụ nhà Tân muốn mình đến ở cùng, chí ít cũng đến nhà ăn cùng cho tiện việc đi làm, đỡ phải đi xa. Cụ đặt nhiều kỳ vọng vào Tân, mong Tân học khá bù vào chỗ bị bệnh tim. Cũng vì bệnh tim mà một thanh niên cao lớn, vạm vỡ như Tân được tuyển về đội 5. Hôm sau, rủ Hiệu về nhà, rang ngô, uống nước trà, nói chuyện với nhau suốt tối rồi ôm nhau ngủ, Hiệu là kỹ sư, kém mình ba tuổi, gặp nhau là thấy mến nhau. Hôm nay là lần đầu nói chuyện lâu với nhau, cùng lấy làm lạ là không hiểu sao tư tưởng tình cảm giống nhau đến thế.

Cuối tháng 12, trời rét lạ. Sáng 27/12, nắm tay vào ghi đông xe đạp mà như phải bỏng. 5 giờ dậy là ra bờ sông ngay mới thấy cái rét thật thấm thía, đúng là rét như dùi nhọn chích cành cây trong một câu thơ xưa. Vậy mà bà con đội 5 vẫn làm việc ở ngay bờ sông trong gió rét. Trưa tôi vào ăn ở nhà hàng Bạch Đằng, tay cóng quá, làm rơi cái bát phải đền. Bắt đầu hôm nay, quán có món ăn mới: ngô bung. Đem trộn vào bát chè mì hoa mà ăn thì tuyệt. Đã no lại chỉ mất có hai hào.

Gặp Nguyễn Xuân An phụ trách truyền thanh ở cảng, một người thạo tin thì được biết là bài Vua Bà của mình đã làm xôn xao dư luận. Bài báo chưa dán lên bản tin mà các cô đã chuyền tay nhau đọc, bình luận, tranh cãi. Bọn con trai cũng rất hăng. Nói chung dư luận cho là bài đó nói lên một sự thật phổ biến hiện nay trong thanh niên cảng. Con trai thì đua nhau rượu chè, con gái thì lợi dụng nam giới cảm tình với mình để kiếm chác, nhờ vả. Nghe thế, mình hỏi thêm một số bạn nữa rồi đòi bài báo về để sửa chữa lại. Muốn làm cho ngắn gọn mà sắc xảo , dễ nhớ hơn nữa. Thú vị là bài chưa dán lên mà đã có tác dụng. Nhiều người đã sửa chữa tích cực để khỏi giống với đối tượng bài báo mô tả. Không ít người giật mình. Cuối bài có mấy câu thơ: Trai chè rượu, gái rạc rầy, Chống Mỹ cứu nước rồi đây thế nào… Các bạn nam nữ nghĩ sao… Rõ ràng bài báo nhằm vào thanh niên, chỉ nói chuyện thanh niên thôi, vậy mà làm cả mấy cụ giật mình, như đỉa phải vôi, phản ứng dữ đội.

Bai Vua Ba

Hàng chục người  bị quần chúng gán cho những danh hiệu vua bà, quan lớn, quan nhỏ, nô bộc trong triều của Vua Bà, có nhiệm vụ và quyền lợi khác nhau. Nhân đây, mình rút kinh nghiệm về cách viết, sửa chữa dựa vào sức mạnh trí tuệ của quần chúng đông đảo, cố viết theo phong cách văn học dân gian chính cống. Ngô Tiến Thái chữ đẹp chép lại bài báo, người đòi đọc càng nhiều. Các cấp cao và giới lớn tuổi đã chú ý tìm đọc.

Nhật ký ngày 31/12/1966 ghi: Mình kết thúc năm 1966 này bằng một sự kiện rất … không hay: Trời trở rét đột ngột mình lên cơn đau lạ, không ngồi được, phải đắp chăn nằm đọc Lỗ Tấn. Nhưng không ngờ là mệt quá, ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Sách và bút chì vẫn để bên mình. Em Thân về, không kéo chăn mình đắp để cùng nằm cũng không rút cái chăn đơn mình vô tình lấy gối đầu, mà nằm co ro đắp hai cái màn. Chắc đêm qua em lạnh lắm. Sáng nay mình hỏi lý do thì em không trả lời mà nói lảng sang chyện khác. Có lẽ em biết mình đau, không muốn làm mình mất ngủ.

Đầu năm 1967, cụ Sán lại nhắc mình mau làm cho xong cái gậy. Cụ nheo mắt nhìn mình, cười nói: Tớ muốn giúp cậu. Cậu phải làm gấp lên… Tớ được báo rồi. Vài tháng nữa thôi, tớ sẽ đi. Tớ muốn làm cho xong cái việc của cậu. Tất nhiên, đi là tớ sẽ lo cho cậu, cố co cậu đi cùng. Xét tư cách, đạo đức, năng lực cậu, tớ biết rồi… Ấy, nó thế đấy… Cụ thường kết thúc những lời nói quan trọng bằng cái câu quen thuộc như thế…

Mình nhớ lại, một tối, đang đọc Lỗ Tấn ở văn phòng đội 5 thì cụ Sán đã có hơi men, lững thững đi vào cửa, thấy mình là nói ngay: cậu tính xem, chúng nó đối xử với tôi thế này có khốn nạn, bất nhân không. Rồi cụ kể rành mạch: Sau lưng nhà cụ là nhà cô Phạm Thị T. công nhân hắt than, cô chỉ đáng tuổi con cụ. Nhưng nay bí thư chi bộ cảng gọi tôi lên, đưa đơn cô ta tố cáo tôi có hành động khiêu dâm và hiếp dâm cô ta. Đơn kể chiều qua, cô ta đi qua cửa nhà cụ thì thấy cụ nhấp nhổm trên ghế ngựa, như chờ đợi ai, có lẽ là bà Thảo, thân nhau từ thời chống Pháp cùng hoạt động bí mật. Có lẽ chờ lâu không thấy, lại ngà ngà hơi men, cụ liền ra cửa, kéo cô T. vào buồng và có hành động khiêu dâm và hiếp dâm cô. Cậu bảo như thế có ức không. Lão bí thư còn nói là vì để bảo vệ người tố cáo, chi bộ đã phải đưa cô T. đến văn phòng, cho ăn ở tạm, chờ ngày đối chứng kiểm điểm cụ. Bây giờ nó bắt tôi làm kiểm điểm, mai phải nộp để chi bộ tổ chức họp, có đối chứng với cô T. Cậu bảo thế có nhục cho tôi không. Chúng quyết hạ bệ tôi đây mà. Đánh luôn bà Thảo nữa, hai người đứng đơn tố cáo chúng với bộ giao thông vận tải, cục đường sông về các vụ tham nhũng từ trước đến nay. Thế thì hỏng cả mất. Tôi muốn hỏi cậu ta phải làm gì bây giờ. Tôi mà phải kiểm điểm ư, mà kiểm điểm việc gì. Việc hiếp dâm một con đĩ, cả cảng ai không biết. Lại đúng vào lúc này, tôi đang bận bao nhiêu là việc. Cậu bảo thế nào…

Tôi vừa nghe, vừa đun nước pha chè. Chừng chè ngấm, tôi rót ra hai chén, hai bác cháu nhấm nháp từng chút một. Xong chén thứ hai, tôi mới nói, còn cụ thì hấp háy đôi mắt sâu, mí sụp ánh nhìn vẫn sắc xảo tinh khôn. Tôi nói cụ là đảng viên, phải chấp hành quyết định của cấp trên. Họ chỉ mong cụ không chịu kiểm điểm, lại làm ầm lên để có cớ thi hành kỷ luật. Thế tôi cứ phải kiểm điểm ư, cụ sắp nổi nóng, vì ngay cả tôi mà còn muốn cụ kiểm điểm, làm cái việc xưa nay cụ có bắt người khác làm thì làm chứ chưa bao giờ phải làm. Tôi nói cụ phải viết, còn viết thế nào, hai bác cháu sẽ bàn. Thế là cụ lấy bút, viết chữ nắn nót trên tờ giấy trắng tôi đưa ra trước mặt. Đơn viết: Tôi tên là… tuổi… đảng viên từ năm … nay xin kiểm điểm về việc chi bộ yêu cầu kiểm điểm…Tôi xin khẳng định là việc này hoàn toàn không có thực. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm những lời này. Ngày…tháng… năm… Ký tên.

Cụ cười, kiểm điểm thế này thì được. Hai bác cháu lại uống nước. Tôi đọc lại bản kiểm điểm, chữ cụ Sán viết thật đẹp, rõ ràng. Cụ bảo, ngày xưa, ông Phó là người giác ngộ tôi, đưa tôi vào Đảng, ông bắt tôi tập viết rất kỳ công, ông bảo nét chữ, nết người, chữ xấu khó ai tin lời viết là thực. Nghe cụ nói, tôi chạnh lòng, chữ tôi xấu vì không tập viết bao giờ, cũng chưa từng học cấp một.

Chỉ có thế mà đòn phủ đầu của chi bộ bị bẻ gẫy một cách nhẹ nhàng.

Sáng hôm sau, làm xong việc là tôi đi tiêm thuốc tránh đau thần kinh hông to thành ra lỡ mất bữa cơm, định ngủ cho qua bữa trưa rồi chiều đi ăn sớm. Nhưng giường, có bạn tranh ngủ mất, lại có Tân ra chơi, tôi cùng cậu ta về nhà Tân. Không ngờ bà mẹ đang thổi xôi sắn để Tân về quê. Thế là được một bữa no, lại ngon quá. Bà cụ còn cho ăn cả cá kho. Chị dâu đang định rang cơm, mình phải từ chối ngay, vì không còn bụng đâu mà ăn nữa.

Tối đang làm việc thì chú Bảo thợ điện đến chơi, đạp xe hơn 10km trời rét. Chú hẹn sẽ làm cho một cái đèn đọc sách, đọc được cả những khi không có điện. Cụ Hữu Thông hẹn cho mượn đều họa báo Trung Quốc. Cụ Khang một tổ trưởng trách mình hay bỏ ngủ trưa, khi lao động thường gánh hộ phần mình. Y tá Thu khuyên mua mũ ấm, nhận đan hộ tất tay. Chị Lại rủ về nhà ăn cơm với chồng chị. Bác Tám cho phiếu củi. Bác Bảy bảo đừng ăn quế có hại. Chị Phượng mua hộ đậu phụ, chị Tửu rán rồi cho vào cặp lồng cho mình…

Sáng 16/1, Nguyễn Văn Tiến, trước làm bí thư thanh niên, nay làm phó thư ký công đoàn cảng đến chơi, góp ý về mấy bài tạp văn mình viết, đề nghị đưa ra cho thanh niên thảo luận, biến thành một sinh hoạt tư tưởng của Đoàn, rất tốt… Cụ Sán và anh Chước đều đọc các bài đó và tỏ ra rất thích thú. Rất lạ vì thường hai vị trái ý kiến nhau. Từ hình thức đến nội dung. Cụ Sán thì khi nào cũng như vừa uống rượu xong, dáng đi khật khưỡng, tay hay vung vẩy. Anh Nguyễn Khánh Chước thì thẳng như cột điện, mũ cối cài quai, quần áo chỉnh tề, vai đeo sắc cốt chân đi dép cài quai hậu, miệng ngậm thuốc lá. Sau đó, ngồi nói chuyện linh tinh, mình chăm chú nghe mới để ý là cụ Sán suy nghĩ rất sâu xa, khi nói thì diễn đạt ý kiến mình một cách thật dễ hiểu, lại hóm hỉnh, cụ thường cho những đòn sát sườn, bắt đầu bằng câu tôi nói thí dụ thế này nhé. Rất nhiều người sợ cái lối thí dụ của cụ. Cụ cũng rất mê Lô Tấn. Hết sức để ý lắng nghe đọc, hiểu ra thâm ý rất mau… Nếu lắng nghe, ghi chép lại các thí dụ của cụ, bổ sung thêm một vài ý sẽ viết được những bài tạp văn hay, độc đáo.

Ngày hôm sau được nghỉ bù đến ngay Đài Tiếng nói Việt Nam phố Quán Sứ gặp cậu Tuyên xin cậu cấp cho cây gậy cụ Sán yêu cầu. Cậu sẵn sàng làm ngay một văn bản đánh giá mình, có con dấu đỏ, tròn của đài để khi cần thì dùng.

Tối, rủ Đào Văn Thùy một lái cẩu trẻ học nghề ở Trung Quốc về nhà. Định mua nước sôi về tắm nhưng không có, đành tắm nước lạnh. Thế là mùa đông này toàn tắm nước lạnh. Khá lắm. Không ngờ, sau đó chị Thủy về. Rồi 23 giờ anh Đại cũng về. Thành ra đón Thùy về cho đỡ cô đơn thì bây giờ nhà lại có đến bốn anh chị em. Có chị Thủy là cả nhà lại có cái ăn, nước uống ngon lành.

Anh Dai Chi Thuy tre Cau Tuyen

Chủ nhật 8/1, mưa nhỏ, vẫn phải đi làm từ 5 giờ sáng. Càng về sau càng rét… Bữa ăn trưa ở nhà rất vui. Em Thân từ Đông Anh về, cả cậu Tuyên cũng về ăn. Mỗi con người nhà mình đều đáng yêu, đáng quí. Ai cũng có vẻ đẹp tinh thần riêng, một tâm hồn lớn, tầm tư tưởng cao và cuộc sống giản dị. Buổi tối, chỉ còn lại ba anh em mình Thân, Thùy, cùng nhau đi xem bảo tàng mỹ thuật. Cả một kho tàng văn hóa, những di vật lâu đời của hàng trăm địa phương tập hợp lại. Cứ nghĩ đến bom đạn Mỹ có thể sẽ nã vào đây mà thấy căm thù tràn ngập trong lòng…

Ngày mồng 9/1 có chuyện đáng chú ý là buổi chiều tình cờ gặp thư ký công đoàn Nguyễn Quang H. ở văn phòng xí nghiệp. Lão hất hàm đưa mắt hằn học nhìn mình, hỏi xẵng các cậu viết mấy bài bích báo phải không. Mình muốn biết lão định giở ngón gì nên đáp lơ lửng đồng chí bảo bài gì. Lão lại hất hàm, tiến lại nói bài Vua Bà với cái bài gì ấy. Cậu định viết làm gì, cho ai xem hử? Bộ điệu rất nôn nóng. Lúc ấy mình mới nói cái bài Vua Bà ấy là chúng em muốn phê phán một lối sống không hợp thời, có hại… và nói qua về số người tham gia xây dựng bài báo đó. Lão chỉ cốt hỏi cho ra bài báo có ý đả kích ai, những ai. Mình nêu bài báo nói chung chứ không nói riêng ai cả. Lão hỏi dò các cậu nói thằng Nhượng à? Nhượng là lái xe, người thẳng tính nóng nảy, lão rất ghét, lại là bạn mình, từ ngày về cảng, chúng mình về cùng ngày nên đã tìm chỗ ở ngay tại cảng, trong một căn bếp nhỏ. Nhượng kê giường gần cửa. Còn giường mình thì kê trên hai cái bếp lò chưa sử dụng. Anh Hoan trưởng phòng tổ chức hành chính hồi ấy một hôm ghé thăm “tổ ấm” của chúng mình đã phải thốt lên nhà đẹp thế này, thảo nào các cậu không muốn rời. Nhưng bếp thì phải trả để làm bếp thôi hai bạn trẻ ạ. Nhượng về khu trạm xá, hồi ấy dùng làm chỗ ở cho nhân viên. Tôi thì về nhà. Khi dạy học khuya thì ở lại nơi nào anh em mời. Mà tôi khá là đắt khách, hôm nào cũng có một nhóm bạn mời đến ngủ, hoặc bốc vác, hoặc lái xe.

Lão H. cứ gặng hỏi, tôi đành nói tên một số người mà anh chị em cho là đối tượng của bài báo, có ý muốn xí xóa vấn đề lão nêu ra, kèm lời hẹn sẽ trình bày cụ thể… Lão vẫn nôn nóng, nhưng rồi cũng nói ừ… cậu phải nói cho tớ rõ để tớ còn cho thanh niên học tập… Có người gọi, lão phải đi, nhưng vấn ngoái lại hẹn mình gặp lão vào dịp khác. Rõ là lão sợ bài báo, cho là ám chỉ lão với cô con gái nuôi thường nhõng nhẽo, có khi còn bắt lão đưa lên thăm anh lão trên thành ủy, chẳng cần gặp mặt ông ấy mà chỉ cần được thăm những thứ chỉ ở đấy mới có bán rồi đòi xin đi nhờ xe con măng ca đít tròn về cảng, bước chân từ xe xuống là khoe ngay với các cô bằng chuyền đội 3 là mua được những gì, nào là thuốc đánh răng Ngọc Lan, xà phòng thơm Hoa Cúc, lược nhựa, cặp tóc ngoại…chỉ ở văn phòng thành ủy mới có bán. Cô Phúc còn than phiền với mình là con nuôi ông ta hát giọng chua quá không nhập được với tốp ca nữ, nhưng bỏ nó ra thì ông ta không cho biểu diễn tiết mục đó.

Khi đi tiêm thuốc, y tá Đào Thị Thu bảo anh phải cẩn thận đấy. Hôm qua họ đem mấy bài báo của anh ra phân tích ghê lắm. Họ còn nói đến cả thành phần giai cấp. Anh chuẩn bị mà chịu hậu quả của hai bài báo đó. Tốt nhất là đừng viết gì nữa. Mình hỏi thêm, biết là lão H. nói rất nhiều, dọa đưa ra hội nghị Đoàn để phân tích phê phán. Tội nghiệp cô bạn tốt bụng, kể lại mà vẫn còn lo sợ. Tan giờ làm, mình gặp ngay Nguyễn Xuân An trông coi hệ thống truyền thanh của cảng. An là người thạo tin. Biết là ngoài ra còn có một buổi tụ họp nữa, thành phần lôm côm, lão H. tham gia thảo luận về bài báo đến một giờ sáng mới thôi. Lão đề ra ba vấn đề: – Có một tập đoàn chuyên bới lông tìm vết, mà trưởng ban là mình và hai phó ban là An và Thái – Bài báo đó đả kích tất cả, từ ban chủ nhiệm trở xuống – Không có hiện tượng nào như bài báo nêu ở cảng.

Mình nghe An nói mà thấy lão này thật ngu xuẩn, nhưng chính vì thế mà càng cần hết sức cảnh giác. Vì không ai biết một lão tính khí thất thường như vậy có thể làm gì. Sau đó gặp Tiến, phó thư ký công đoàn phấn khởi cho biết ban chấp hành Đoàn đã thảo luận cả tối qua và quyết định đưa ra cho đoàn viên tranh luận; tất nhiên có mời tất cả các tác giả đến dự. Trước khi tranh luận, yêu cầu các đồng chí có ý kiến về vấn đề này nên viết thêm. Mình muốn biết rõ hơn các ý kiến này, rất tiếc là lại có người muốn gặp Tiến, cắt ngang. Mình về, vừa may gặp Trần Lợi bí thư Đoàn. Hai đứa về nhà mình, nói với nhau về những vấn đề riêng của từng đứa, kể cả những chuyện thầm kín, bí mật nhất. Cởi mở, thẳng thắn, chân tình. Lợi tin và tôn trọng mình, muốn giúp mình về các mặt, nhất là về mặt chính trị. Đây mới thật là một người bạn trong lúc này… Đêm nay, vẫn rét và mệt lắm. Nhưng thấy phấn khởi, hăng hái lạ…

Ngày 12/1, trời đỡ rét. Làm việc căng thẳng nhưng không quên tạp văn… Sau tan tầm chiều, mình, Ngô Tiến Thái và Lâm Khang về nhà Thái ở Khu Thúy Ái, bàn bạc về vấn đề tranh luận, phân tích những luận điệu xuyên tạc bài báo. Chủ yếu là thống nhất tư tưởng, hành động. Lập trường là: – Vấn đề bài báo nêu ra là phổ biến điển hình có thật. – Động cơ là trong sáng. – Phương pháp nêu ra là đúng đắn. Nêu vấn đề mà không nhằm công kích một cá nhân nào.

Khang rất hứng thú, kiên quyết nhưng có vẻ nóng vội. Thái lúc đầu hơi chờn vì sợ lão H. giở trò bầy hầy, làm khó dễ. Nhưng sau đều thống nhất với bọn mình, tỏ ra kiên quyết. Cả hai đều hỏi mượn tạp văn Lỗ Tấn. Hình như hai bạn cho là nhờ đọc Lỗ Tấn mà mình có vẻ trưởng thành.

Bọn mình thống nhất gặp An vào tối hôm sau để nắm tình hình mới. Nhưng gặp thì thấy An không nhiệt tình như trước, lại biết là lão H. tối qua bỗng nhiên lại “đi chơi” với An và Trần Thị Cát. Khang tỏ ra kiên quyết, xứng đáng với vai trò tác giả của bài báo ký tên Lờ Khờ ai cũng hiểu là Lâm Khang. Tối Khang đi bộ cùng mình về nhà, bàn bạc thấy rõ thêm một số vấn đề: – Rất có thể bài báo sẽ bị ỉm đi vì nó động đến nhiều nhân vật tai to mặt lớn quá. – Xuyên tạc nội dung rất thô bạo, hằn học với tác giả, có ý đàn áp dư luận vì sợ Ba xây, ba chống.

Quả tình, bây giờ đoàn kiểm tra của công đoàn bộ giao thông vận tải đang tiếp tục đi sâu tìm hiểu mọi vấn đề của xí nghiệp. Công đoàn cảng họp liên miên, lão H. phát biểu rất nhiều, nêu lên vụ phát hiện ra bài Vua Bà, một bài báo xấu, có hại. Như ta thấy, nhờ theo dõi văn nghệ mà trên đã phát hiện ra âm mưu lật đổ của bọn Nhân văn – Giai phẩm năm 1956. Lão điên cuồng tấn công bài báo, đòi trừng phạt những kẻ viết ra, phát tán và lan truyền. Quả là lúc này lão phải đương đầu với quá nhiều đơn tố cáo cho nên phải đánh lạc hướng dư luận.

Cậu Tuyên đã cấp cho mình cái gậy mà cụ Sán yêu cầu rất kịp thời. Chiều 17/1, Lâm Khang cho biết anh phải cẩn thận, người ta nói là anh bất mãn ngầm, nên mỗi câu nói, mỗi bài anh viết đều phải xét kỹ, tìm cho ra ẩn ý. Mình biết lâu nay Khang hay trò chuyện với chị Cường, một đảng viên trẻ, xinh đẹp lại là trưởng ban nữ công tức có chân trong lãnh đạo của cảng, đại diện phụ nữ. Một lần trò chuyện thân mật với một số người, trong đó có Khang và mình, chị cười mà nói về đây ai học được cái gì thì chưa biết chứ tôi thì chỉ học được mỗi món võ mà thôi.

Cũng hôm nay, biết được thêm là mấy bài báo, kể cả một bài viết đã lâu cũng đều được sưu tầm để nghiên cứu. Hiện nay, mấy bài đó đang trong tay bí thư chi bộ Nguyễn Văn N. Anh Khánh Chước nói mấy bài báo của cậu làm sôi nổi dư luận lắm. Rồi anh nói đến bất đồng giữa anh và cụ Sán về một số vấn đề. Mình biết anh trúng kế bọn chúng rồi. Bọn H., N. đang là đối tượng của đoàn kiểm tra. Các cuộc họp của đoàn kiểm tra giao thông vận tải đang có tiếng vang trong quần chúng. Vì thế chúng đánh lạc hướng bằng cách nêu cao mấy bài báo tường vặt vãnh, mặt khác chĩa mũi nhọn vào cụ Sán, bà Thảo, chia rẽ phe đối lập.

Tan làm việc, tìm Bùi Trọng T. để hiểu tại sao một bài báo viết đã lâu, không đăng, chỉ đưa anh ta đọc sao lại vào tay lão N. Khang hỏi thì anh ta bảo hủy rồi. Khi biết là bài đó đang trong tay lão N, Trọng T. nói tại người này người nọ tò mò lấy xem. Trọng T. trốn mấy hôm rồi bỗng đột ngột đi bộ từ đội 4 đến thăm đội 5 cách hơn một cây số giữa trời lạnh. Nói vớ vẩn một lúc rồi xin vào bàn trong nói chuyện với cụ Sán. Nó hỏi cụ nghĩ gì về việc chi bộ đặt vấn đề với cụ. Nó coi đây là công việc cho nên đi thăm trong giờ hành chính. Hóa ra bọn họ bây giờ đã dùng đến cả những người hay quan hệ với mình làm tay sai hại mình. Trọng T. chơi ghi ta, biết đóng kịch, giúp mình nhiều hồi làm văn hóa quần chúng.

23/2, đi Tây Bắc thăm em Nhàn về, mình đi làm ngay rồi trưa đến nhà Lợi ở Thanh Trì. Mưa xuân lâm thâm… Hai đứa nói chuyện rất vui, thẳng thắn. Lợi cho biết bí thư N. đã gặp Lợi hỏi ý kiến về mấy bài báo. Lợi nói đó là vấn đề của thanh niên, chẳng có gì mà phải làm to chuyện… Thế là lão N. thôi không nói nữa. Thảo nào dạo này thấy êm. Thái độ của lão N. cũng rất phù hợp với lời lão từng than với Hiệu là làm bí thư lúc này như con chó ngáp phải con nhặng.  Còn lão H. thì cho đến nay vẫn ốm liên miên, không thấy xuất hiện ở cảng. Xem ra lão kỵ với đoàn kiểm tra giao thông vận tải.

Thế là hết chuyện Vua Bà.

Sau này Ngô Tiến Thái đi bộ đội có viết thư về kể cho tôi nghe là có lần hành quân qua một địa phương thấy đền thờ Vua Bà, nhớ đến những ngày vất vả bên nhau cùng một đội chiến đấu ở cảng, nên viết thư cho đỡ nhớ.

Hóa ra Vua Bà có thật.

(Còn nữa)

P.T.

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d người thích bài này: