Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 26, 2021

Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương qua đời ở tuổi 86

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:41 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 1 năm 2022.

Chúng tôi vô cùng thương tiếc biết tin :

Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương qua đời ở tuổi 86

Theo tin từ gia đình, nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vừa trút hơi thở cuối cùng lúc 4h sáng nay (24-12) vì tuổi cao sức yếu, nhiều bệnh nền và sau hơn một tháng nằm viện do xuất huyết dạ dày.

Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương tên đầy đủ là Công Tằng Tôn Nữ Hỷ Khương, sinh năm 1935 tại Vỹ Dạ – Huế, là ái nữ của nhà thơ nổi tiếng Ưng Bình Thúc Giạ Thị.

Nối dòng thi thư, bà Tôn Nữ Hỷ Khương từ trước 1975 đã nổi tiếng trên văn đàn miền Nam với giọng thơ hoài cổ và tinh thần nhân ái phương Đông.

Cùng với những thăng trầm của thời cuộc và trải nghiệm bản thân, thơ Tôn Nữ Hỷ Khương mang màu sắc triết lý vừa thâm thúy tinh tế vừa như một sẻ chia và kết nối với khách tri âm.

Nhiều người yêu thích và thuộc lòng bài thơ Còn gặp nhau của bà, với những câu đi vào lòng người như một lời tâm niệm: Còn gặp nhau thì hãy cứ vui/ Chuyện đời như nước chảy hoa trôi/ Lợi danh như bóng mây chìm nổi/ Chỉ có tình thương để lại đời

Tâm huyết của bà dành hết cho thơ, cũng là nối chí gia phụ, tiếp tục mạch nguồn của dòng thơ Hương Bình thi xã khởi từ hai nhà thơ lão luyện xứ Thần kinh là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương, với nhiều thi phẩm để lại cho đời.

Năm 1960, khi cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị bước vào tuổi 84, cô Tôn Nữ Hỷ Khương thực hiện tập thơ Đời Thúc Giạ tập hợp các tác phẩm của người cha đáng kính. Tập thơ này được Nhà xuất bản Bốn Phương của thi sĩ Đông Hồ bấy giờ ấn hành năm 1961. Sau này, Tôn Nữ Hỷ Khương còn một quyển hồi ký về cha nữa là Hồi ức về cha tôi Ưng Bình Thúc Giạ Thị (NXB Trẻ, 1996).

Khi rời quê hương định cư ở Sài Gòn, Tôn Nữ Hỷ Khương tham gia Tao Đàn Bạch Nga, Thi đàn Quỳnh Dao và cộng tác với nhiều tờ báo danh tiếng thời bấy giờ, trong đó tạp chí Phổ Thông là nơi Tôn Nữ Hỷ Khương in thơ nhiều nhất.

Trong nhiều cuộc trò chuyện, khi hỏi đến quan niệm về thơ hay một số vấn đề có tính chất “lý luận”, bà Hỷ Khương đều cười xòa và dẫn lại câu thơ của cụ Ưng Bình như một quan niệm khiến bà tâm đắc: Rượu có mùi hương nên uống mãi/ Thi là thuốc bổ cứ ngâm chơi.

Bà vốn không ưa lý luận, thơ với bà như máu thịt như tâm hồn. Nay nhà thơ giã biệt thi đàn để về với cõi thơ vĩnh hằng, sẽ còn nhiều người nhớ bà và những “lời cho nhau” thật thấm thía.

Tác phẩm của Tôn Nữ Hỷ Khương có thể kể đến các tập thơ: Đợi mùa trăng (1964), Mộng thanh bình (1970), Còn gặp nhau (1999), Bâng khuâng tình khúc (2001), Hãy cho nhau (2004), Nước vẫn xanh dòng (2004).

Hiện linh cữu nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đang được quàn tại nhà (339/10 Lê Văn Sỹ, P.13, Q.3, TP.HCM), sáng nay 24-12 nhập quan, lễ viếng bắt đầu từ chiều 24-12; 8h sáng ngày chủ nhật 26-12 sẽ di quan đi hỏa táng tại Bình Hưng Hòa, TP.HCM.

Lẽ vô thường

Biến thiên là lẽ vô thường

Cuộc đời như giấc mộng trường đó thôi!

Quên buồn, đổi lấy niềm vui

Cho non sông ấm nụ cười tao nhân

Hãy cho nhau

Một cơn gió nhẹ thoảng qua

Dễ đưa ta đến lìa xa cõi đời

Để kết thúc một kiếp người,

Mong manh như hạt sương rơi đầu cành!

Thế mà cứ mãi quẩn quanh,

Ghét ghen, sân hận, tranh giành, hơn thua.

Đang là bạn, hóa ra thù,

Đang thân thiết, bỗng thờ ơ lạnh lùng.

Cùng trong cõi tạm sống chung

Chơi vơi bể khổ – mênh mông đất trời.

Hãy cho nhau những nụ cười.

Hãy cho nhau trọn tình người – niềm vui

Hãy cho nhau vị ngọt bùi,

Hãy cho nhau vạn ngàn lời yêu thương,

Tròn câu hiếu đạo, cương thường.

Tôn Nữ Hỷ Khương

Xin chân thành chia buồn cùng gia đình tại Thùy-Khuong trang vô cùng thân thiết với Đại gia đình TCPQ chúng tôi.BPTkinh gửi

Tháng Mười Hai 19, 2021

Trên quê hương yêu dấu kỳ 1 tháng 12

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 12 năm 2021.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/12/2021

Nâng tầm đối ngoại đa phương, tích cực hội nhập quốc tế

Ngày 14/12, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì và phát biểu ý kiến chỉ đạo hội nghị. Cùng chủ trì, điều hành hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc; Thủ tướng Phạm Minh Chính; Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng; Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh.

Dự hội nghị tại điểm cầu Trung ương và các điểm cầu trong toàn quốc có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, các Tỉnh ủy, Thành ủy, Ban cán sự đảng, Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc Trung ương; lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội của Trung ương và địa phương, các Đại sứ và Tổng Lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài.

Đây là hội nghị toàn quốc đầu tiên do Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp chỉ đạo tổ chức để bàn về công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và của cả hệ thống chính trị. Hội nghị góp phần chủ động quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nhất là chủ trương, đường lối, định hướng về đối ngoại với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.

Phát biểu ý kiến chỉ đạo hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lê-nin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, tư tưởng tiến bộ của thời đại, Việt Nam đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc, độc đáo của Thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách, khí phách của dân tộc Việt Nam.

Để góp phần xứng đáng cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ nặng nề nhưng cũng rất đỗi vẻ vang, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gợi mở, cần tiếp tục thường xuyên theo dõi, nghiên cứu, nắm chắc diễn biến tình hình để kịp thời đổi mới tư duy và có giải pháp thích hợp trong công tác đối ngoại. Tổng Bí thư yêu cầu, tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện đúng đắn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, vì lợi ích quốc gia-dân tộc.

Tổng Bí thư nêu rõ, cần phát huy tối đa mọi yếu tố thuận lợi của đất nước để chủ động, tích cực tham gia đóng góp, xây dựng, định hình các cơ chế đa phương, thực hiện Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030, coi đó là một định hướng chiến lược quan trọng, trong đó có việc xây dựng Chiến lược tổng thể về đối ngoại đa phương đến năm 2030.

Đề nghị mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả các hoạt động đối ngoại, nhất là hợp tác kinh tế, văn hóa và hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh-quốc phòng với các nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng lưu ý tiếp tục đưa các mối quan hệ với các đối tác mà ta đã có khuôn khổ quan hệ; ưu tiên duy trì ổn định và giữ đà quan hệ, tăng cường tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực, đồng thời xử lý các khác biệt và vấn đề nảy sinh trên tinh thần hợp tác, hữu nghị, kiểm soát bất đồng, dựa trên luật pháp quốc tế và thông lệ khu vực; tiếp tục triển khai có hiệu quả chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.

Nhắc lại bài học Đảng ta đã rút ra, đó là “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, trước đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ, cần tiếp tục coi trọng hơn nữa công tác đào tạo cán bộ ngoại giao, cán bộ đối ngoại cả về trình độ, năng lực lẫn bản lĩnh chính trị. Tổng Bí thư nhấn mạnh, thế giới đang chuyển biến mau lẹ. Đất nước ta dù còn khó khăn, nhưng triển vọng tương lai rất xán lạn. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đồng lòng, quyết tâm cao nhất thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Là người Việt Nam, dù ở trong nước hay nước ngoài, ai cũng mong muốn nước ta hùng cường, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu, như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tiếp thu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư đã có bài phát biểu chỉ đạo rất quan trọng, sâu sắc, toàn diện cả về đường lối, lý luận và thực tiễn, nêu rõ những hướng lớn, mục tiêu, nguyên tắc, phương châm, cùng các nhiệm vụ trọng tâm của công tác đối ngoại nhằm thực hiện đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả đường lối đối ngoại của Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Đồng chí Võ Văn Thưởng cho biết, ngay sau hội nghị, các cơ quan làm công tác đối ngoại, các cấp ủy, tổ chức đảng, ban, bộ, ngành, tổ chức ở trung ương và địa phương sẽ phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại của Đảng và các nội dung chỉ đạo của Tổng Bí thư để thống nhất nhận thức, xây dựng chương trình, kế hoạch hành động theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức; chú trọng việc phối hợp chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Trình bày báo cáo tình hình, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm đối ngoại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ nhấn mạnh, qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện, tích lũy và nâng tầm được cả thế và lực, uy tín ngày càng tăng trên trường quốc tế, tạo ra những tiền đề quan trọng và vị thế thuận lợi để phát triển. Đặc biệt, 5 năm qua, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến rất phức tạp, khó lường, Việt Nam vẫn tận dụng được thời cơ, hóa giải được thách thức, tiếp tục tạo những kết quả toàn diện, với nhiều dấu ấn nổi bật trên nhiều lĩnh vực.

Tại hội nghị, một số bộ, ngành, địa phương đã trình bày tham luận về các biện pháp để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đối ngoại trọng tâm trong những năm tới; vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác đối ngoại trong tổng thể chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 13/12/2021

Phát triển văn học, nghệ thuật phải ngang tầm với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội

Hôm qua 12.12, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã làm việc với lãnh đạo Liên hiệp Các hội văn học nghệ thuật Việt Nam về một số đề án, chương trình phát triển văn học nghệ thuật trong giai đoạn mới.

Kết luận buổi làm việc, Thủ tướng bày tỏ niềm tự hào với thành tựu nền văn học nghệ thuật nước nhà, đặc biệt là từ khi có Đảng; cho rằng văn học nghệ thuật đã thực hiện tốt sứ mệnh của mình, đồng hành cùng đất nước, nhân dân, góp phần và cùng dân tộc vươn lên. Thủ tướng cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập như gần đây, mặc dù có chất liệu phong phú, có không gian cho văn học nghệ thuật sáng tạo, phát triển, song chúng ta chưa có những tác phẩm văn học nghệ thuật “để đời”, đi sâu vào lòng người, xứng tầm với sự nỗ lực, cố gắng, thành quả đạt được của đất nước ta, nhân dân ta, sự vươn lên mạnh mẽ Việt Nam trên trường quốc tế, giúp bạn bè, đối tác quốc tế với tình cảm, sự tôn trọng và ngưỡng mộ dành cho Việt Nam ngày càng hiểu hơn về đất nước, con người, nền văn hóa của chúng ta.

Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh quan điểm của Đảng ta xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; văn học nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa. Phát triển văn hóa nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng phải ngang tầm với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Văn hóa, nghệ thuật phải lấy người dân làm trung tâm, là chủ thể, mục tiêu và động lực của sự phát triển. Văn học nghệ thuật góp phần hướng con người đến chân – thiện – mỹ và đây cũng là giá trị cốt lõi của dân tộc ta. Thủ tướng đề nghị văn học nghệ thuật cần phục vụ 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra; tiếp tục xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; tăng cường hội nhập; góp phần phát huy truyền thống lịch sử văn hóa của dân tộc; quảng bá hình ảnh; đấu tranh trước các luận điệu xuyên tạc, sai trái.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 12/12/2021

Tiếp tục hỗ trợ các tỉnh phía nam chống dịch

Trước việc số ca mắc Covid-19 nhất là những ca bệnh nặng gia tăng ở các tỉnh phía nam, Bộ Y tế tiếp tục điều động lực lượng từ các bệnh viện Trung ương tham gia hỗ trợ công tác điều trị cho TP Hồ Chí Minh và 10 tỉnh phía nam.

Trong giai đoạn cao điểm của đợt dịch Covid-19 vừa qua, ngoài nhân lực y tế từ các trường đại học, cao đẳng y dược, y tế các địa phương, Bộ Y tế đã trực tiếp huy động 8.967 cán bộ y tế của 39 đơn vị trực thuộc (gồm 34 bệnh viện, năm viện) vào hỗ trợ các tỉnh phía nam chống dịch. Các cán bộ vào tăng cường trực tiếp tham gia hỗ trợ việc cách ly, chăm sóc, điều trị bệnh nhân Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh, các tỉnh khu vực phía nam và phục vụ hoạt động của tám trung tâm hồi sức tích cực do Bộ Y tế thành lập đặt tại các tỉnh phía nam và tại các bệnh viện dã chiến, bệnh viện hồi sức tích cực người bệnh Covid-19 do các địa phương quản lý.

Tuy nhiên, sau khi giảm về mức hơn 3.000 ca mắc/ngày thì trong gần hai tháng qua, số ca mắc đã tăng trở lại, có ngày vượt mức 15 nghìn ca và đang tiệm cận gần số lượng ca mắc giai đoạn cao điểm nhất, hơn 17 nghìn ca. Mặc dù phần lớn các ca mắc Covid-19 đều ở thể nhẹ được chỉ định điều trị tại nhà nhưng do số lượng ca mắc mới cao nên số lượng ca nặng, phải nhập viện cũng tăng, gây áp lực, quá tải các bệnh viện, cơ sở điều trị cho người mắc Covid-19.

Nhằm hỗ trợ các địa phương kịp thời ứng phó dịch, Bộ Y tế quyết định phân công 14 bệnh viện tuyến trên trực tiếp hỗ trợ chuyên môn trong quản lý, điều trị Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và 10 tỉnh phía nam. Cụ thể, các bệnh viện: Chợ Rẫy, Trung ương Huế, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, Thống Nhất tiếp tục hỗ trợ chuyên môn về hồi sức tích cực cho các cơ sở y tế của TP Hồ Chí Minh; Bệnh viện đại học Y Hà Nội phụ trách hỗ trợ chuyên môn về hồi sức tích cực điều trị người bệnh Covid-19 cho các cơ sở y tế của tỉnh Bình Dương; các bệnh viện: Phổi Trung ương, Lão khoa Trung ương, đa khoa Trung ương Thái Nguyên, K, E, Bạch Mai… phụ trách hỗ trợ chuyên môn về hồi sức tích cực điều trị người bệnh Covid-19 cho các cơ sở y tế của các tỉnh Đồng Nai, Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Tây Ninh, An Giang…

Ngay sau khi có quyết định phân công, các bệnh viện đã cử các đoàn cán bộ y tế vào hỗ trợ. Đoàn chuyên gia công tác gồm 21 bác sĩ, điều dưỡng các chuyên khoa Bệnh viện Bạch Mai đã có mặt trực tiếp hỗ trợ tỉnh An Giang trong công tác cấp cứu, điều trị các bệnh nhân Covid-19 nặng từ ngày 8/12.

Trước đó, trong buổi làm việc với lãnh đạo Sở Y tế tỉnh An Giang, lãnh đạo Bệnh viện Bạch Mai cam kết sẽ hỗ trợ, hợp tác toàn diện trong đào tạo, chuyển giao kỹ thuật hiện đại tại chỗ (ECMO, lọc máu…), tư vấn cải tạo hệ thống oxy, khí nén, kết nối các trung tâm hồi sức tích cực người bệnh Covid-19 của tỉnh với hệ thống hội chẩn trực tuyến tại Bệnh viện Bạch Mai nhằm góp phần nhanh chóng đẩy lùi dịch Covid-19 tại địa phương.

Tương tự, đoàn công tác gồm 20 bác sĩ, điều dưỡng đến từ khoa: Cấp cứu, Hồi sức tích cực, tim mạch, Xạ trị, Bệnh Nhiệt đới của Bệnh viện E đã lên đường chi viện cho tỉnh Tây Ninh trong công tác phòng, chống dịch Covid-19. Bằng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm qua bốn đoàn công tác trước đó, những người thầy thuốc Bệnh viện E hoàn toàn tự tin có thể cứu sống được nhiều bệnh nhân mắc Covid-19, nhất là những bệnh nhân nặng, phải thở máy… Đoàn công tác gồm 30 y, bác sĩ và điều dưỡng của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cũng đã có mặt tại tỉnh Sóc Trăng để hỗ trợ công tác phòng, chống dịch Covid-19.

Đoàn công tác đã thống nhất phương án cụ thể với ngành y tế địa phương. Theo đó các cán bộ y tế của Bệnh viện Nội tiết Trung ương sẽ chịu trách nhiệm hỗ trợ tư vấn, đào tạo chuyên môn cùng nhân lực trực tiếp tham gia điều trị bệnh nhân Covid-19 nặng. Sau khi tiếp nhận công việc, các nhân viên y tế trong đoàn đã nhanh chóng bắt nhịp với công việc, không quản ngại khó khăn, nguy hiểm, làm việc với tinh thần quyết tâm cao, chia sẻ và đồng hành với nhân dân tại địa phương trong việc đẩy lùi dịch bệnh.

Tại cuộc họp với các địa phương đang có số mắc và chết do Covid-19 tăng cao mới đây, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long yêu cầu các bệnh viện trong danh sách phân công phải nhanh chóng đưa thêm nhân lực vào các tỉnh để bảo đảm phối hợp chặt chẽ với địa phương trong công tác phòng, chống dịch. Đặc biệt, các bệnh viện tuyến Trung ương phải cử chuyên gia hồi sức có kinh nghiệm đến các tỉnh để hỗ trợ điều trị, đồng thời chú trọng triển khai tập huấn, nâng cao năng lực điều trị cho y, bác sĩ tại chỗ.

Thường xuyên thực hiện các nhiệm vụ đánh giá, tổ chức thu dung điều trị, các điều kiện hiện có về giường bệnh, hệ thống oxy, trang thiết bị, thuốc, vật tư, nhân lực của các cơ sở y tế để xác định những khó khăn, bất cập và đề xuất với ban chỉ đạo phòng, chống dịch tỉnh, thành phố để chỉ đạo và hỗ trợ khắc phục. Tổ chức giao ban hằng ngày để rút kinh nghiệm điều trị giữa bệnh viện tuyến trên và bệnh viện tuyến quận, huyện, thành phố được phân công. Phối hợp với trung tâm cấp cứu 115 tỉnh, thành phố (nếu có) trong việc điều phối, chuyển tuyến kịp thời và phù hợp người bệnh Covid-19.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 11/12/2021

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Nguyễn Cơ Thạch

Ngày 10/12, Bộ Ngoại giao đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 100 năm sinh đồng chí Nguyễn Cơ Thạch.

Chiều nay, đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương và Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh đã dự Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Hơn 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đã có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và công cuộc Đổi mới đất nước. Đồng chí đã góp phần quan trọng vào đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng ta tại các Đại hội VI và VII, đặt nền móng định hình đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới. Với nhiều công lao đóng góp cho cách mạng, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 8/12/2021

Đoàn Kiểm tra số 134 của Bộ Chính trị làm việc với Ban cán sự đảng Chính phủ

Chiều 7/12, tại Trụ sở Chính phủ, Đoàn Kiểm tra số 134 của Bộ Chính trị có cuộc làm việc với Ban Cán sự đảng Chính phủ về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền, cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Tham dự cuộc làm việc có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phạm Minh Chính, Bí thư Ban Cán sự đảng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Trưởng Đoàn Kiểm tra số 134.

Tại buổi làm việc, đại diện Đoàn Kiểm tra số 134 của Bộ Chính trị đã công bố quyết định, kế hoạch, đề cương báo cáo và chương trình kiểm tra của Bộ Chính trị đối với Ban Cán sự đảng Chính phủ.

Phát biểu ý kiến tại cuộc làm việc, đồng chí Phan Đình Trạc cho biết, Đoàn Kiểm tra sẽ tập trung kiểm tra công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền, cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, trong đó bao gồm những kết quả bước đầu, song chưa kiểm tra về kết quả thực hiện Nghị quyết.

Đồng chí đề nghị Ban Cán sự đảng Chính phủ và Ban Cán sự đảng các bộ, ngành dự kiến được kiểm tra thống nhất lịch làm việc với Đoàn Kiểm tra; đồng thời chuẩn bị đầy đủ các tài liệu liên quan để việc kiểm tra được kỹ càng, rõ ràng, nhanh chóng, hiệu quả.

Phát biểu ý kiến tại cuộc làm việc, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng, công tác kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo của Đảng; Chính phủ nhận thấy đây là công việc rất cần thiết để việc thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ cũng như của các bộ, ngành, cơ quan đạt kết quả cao nhất.

Thủ tướng cho biết, ngay sau khi có Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Chính phủ đã xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện Nghị quyết số 50/NQ-CP nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong đó Chính phủ đã xác định sẽ tập trung vào thực hiện tốt 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược, 12 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Nghị quyết của Chính phủ đã được triển khai mạnh mẽ từ Ban Cán sự đảng Chính phủ tới Ban Cán sự đảng các bộ, ngành, cơ quan và các cấp ủy trực thuộc bằng các chương trình, kế hoạch cụ thể.

Trong thời gian qua, Chính phủ đã và đang tập trung hoàn thiện thể chế; thực hiện mạnh mẽ việc phân cấp, phân quyền, cụ thể hóa trách nhiệm, nhất là người đứng đầu, đi đôi với tăng cường giám sát, kiểm tra; tập trung cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Chính phủ và các bộ, ngành đã và đang tập trung mạnh cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 và phục hồi, phát triển kinh tế; vì phòng, chống dịch tốt để có điều kiện phát triển kinh tế-xã hội; và ngược lại, phát triển kinh tế-xã hội để có nguồn lực phòng, chống dịch.

Theo đó, sau 2 tháng thực hiện Nghị quyết 128/NQ-CP về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19 đã đạt kết quả rất khả quan cả trong phòng, chống dịch và phát triển kinh tế-xã hội. Bên cạnh đó, các nhiệm vụ khác theo chức năng, nhiệm vụ cũng đang được thực hiện nghiêm túc.

Đặc biệt, Chính phủ tổ chức triển khai các nhiệm vụ gắn với công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, nhất là đối với một số lĩnh vực dễ xảy ra sai sót, tiêu cực. Chính phủ đã thành lập các Tổ công tác đặc biệt để kiểm tra, đôn đốc, xử lý các vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai thực hiện như về phòng, chống dịch; đầu tư công; an ninh, trật tự… nhằm phấn đấu đạt kết quả cao nhất các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2021.

Thủ tướng yêu cầu các Ban Cán sự đảng của các bộ, ngành chủ động phối hợp, thực hiện các yêu cầu của Đoàn Kiểm tra để công tác kiểm tra đạt hiệu quả; mong muốn Đoàn Kiểm tra kịp thời chỉ ra những vấn đề cần uốn nắn, chấn chỉnh để việc lãnh đạo, chỉ đạo, nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền, cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đạt hiệu quả hơn.

Tin: THANH GIANG; Ảnh: TRẦN HẢI

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 8/12/2021

Trao Giải thưởng đặc biệt dũng cảm cho thuyền viên cứu nạn Việt Nam

Phó Trưởng phụ trách Văn phòng thường trực Ban Thư ký Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) Việt Nam Nguyễn Hà Hải cho biết, vào lúc 18 giờ 15 phút đến 19 giờ ngày 6/12, tại London (Vương quốc Anh), tức khoảng 1 giờ 15 phút đến 2 giờ sáng nay 7/12 (giờ Việt Nam), IMO đã tổ chức buổi lễ trao Giải thưởng đặc biệt dũng cảm trên biển năm 2021. 

Trong danh sách giải thưởng “Hành động đặc biệt dũng cảm trên biển” năm nay, thuyền viên Trần Văn Khôi, cán bộ Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải khu vực 2 (thuộc Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam-Vietnam MRCC) là thuyền viên đầu tiên của Việt Nam được tôn vinh và nhận giải thưởng cao quý này.

Bà Tô Minh Thu, đại biện Đại sứ quán Việt Nam tại London (Vương quốc Anh) cùng các thành viên Đại sứ quán đã tham dự lễ trao giải.

Giải thưởng “Hành động đặc biệt dũng cảm trên biển” là giải thưởng thường niên do IMO tổ chức nhằm mang lại sự công nhận quốc tế cho những người thể hiện sự quả cảm xuất sắc, có hành động dũng cảm đặc biệt nỗ lực cứu sống người gặp nạn trên biển hoặc có những nỗ lực đặc biệt để ngăn chặn thảm họa đối với môi trường đại dương trong tình huống bản thân có khả năng gặp rủi ro hy sinh hoặc thương tích.

Năm 2021, có tổng số 37 đề cử cho giải thưởng trên, được đề xuất từ 23 quốc gia thành viên và 4 tổ chức phi chính phủ trong tư cách tham vấn với IMO.

Hội đồng Giám khảo của IMO làm việc trong cuộc họp trực tuyến thuộc phiên họp thứ 125 từ ngày 28/6 đến 2/7/2021 đã thống nhất trao giải thưởng “Hành động dũng cảm đặc biệt trên biển” năm 2021 cho ông Khôi.

Ngoài giải thưởng “Hành động dũng cảm đặc biệt trên biển” năm 2021 trao cho ông Khôi, Hội đồng của IMO cũng trao 8 giấy khen và 6 thư khen cho các cá nhân, tổ chức có những thành tích, hành động dũng cảm trong cứu hộ, cứu nạn trên biển.

Trước đó, thuyền viên tàu SAR 412 Trần Văn Khôi được Hội đồng IMO bình chọn và công bố nhận giải thưởng trong phiên họp lần thứ 125 từ ngày 28/6 đến 2/7/2021, sau khi anh cứu sống 4 người từ một chiếc tàu gặp nạn trong điều kiện thời tiết cực xấu, sóng to gió lớn vào tháng 10/2020.

Vụ việc xảy ra ngày 8/10/2020, chiếc tàu chở hàng Vietship 01 đang neo đậu ở khu vực cảng Cửa Việt (Quảng Trị) thì bị nước lũ cuốn trôi ra biển và mắc cạn. Lúc này, trên tàu có 12 thuyền viên, công tác cứu nạn được triển khai nhưng gần như không khả thi do điều kiện thời tiết trên biển quá xấu.

Sáng sớm 9/10, khi đang làm nhiệm vụ tuần tra, anh Khôi chứng kiến cảnh 2 thuyền viên bị sóng cuốn trôi ra biển. Không một chút chần chừ, anh buộc một sợi dây vào người và bơi cắt ngang qua những con sóng cao tới 5m và dòng chảy xiết, giải cứu được cả 2 người.

Đến chiều 10/10, anh Khôi tiếp tục xung phong thử cách tiếp cận mới trên một tàu cá khác với ý định dùng súng bắn dây nối tàu bị chìm vào bờ. Điều kiện biển khắc nghiệt đã ngăn cản nỗ lực cứu hộ và 2 thuyền viên trên tàu đã nhảy xuống nước. Anh Khôi lại liều mình bơi ra giữa những con sóng dữ để dìu họ lên tàu cá bị chìm.

Chiều muộn cùng ngày, dù đã kiệt sức sau 2 ngày cứu nạn, song anh Khôi vẫn xung phong chèo lái chiếc thuyền nan chống chọi với biển động dữ dội. Con thuyền gần như bị lật sau khi động cơ ngừng hoạt động do ngập nước nghiêm trọng. Anh Khôi cùng các thuyền viên nhanh chóng khắc phục sự cố động cơ, tiếp tục cố gắng tiếp cận tàu Vietship 01 nhưng vô hiệu và nhận được lệnh quay trở lại bờ.

Hành động cuối cùng của chiến dịch giải cứu diễn ra ngày 11/10/2020, trực thăng cứu hộ được triển khai đến hiện trường và những người sống sót còn lại đã được đưa đến nơi an toàn.

Trước đó, vào năm 2020, thuyền trưởng tàu SAR 413 thuộc Vietnam MRCC Đinh Xuân Trường đã được Tổng Thư ký IMO gửi thư khen ghi nhận sự chuyên nghiệp, quyết tâm và nỗ lực trong vụ việc cứu nạn 11 thuyền viên và hành khách của tàu Đại Hải Phát 17 trong điều kiện thời tiết khó khăn ngày 20/11/2019.

Minh Trang

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 6/12/2021

Tôn vinh 10 tập thể, 10 cá nhân nhận Giải thưởng Tình nguyện quốc gia năm 2021

Sáng ngày 5.12 tại hà Nội, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức Ngày hội Tình nguyện Quốc gia và Lễ trao Giải thưởng Tình nguyện Quốc gia 2021.

Đây là hoạt động chào mừng Ngày Quốc tế Người Tình nguyện năm 2021 tại Việt Nam nhằm ghi nhận, biểu dương và tri ân những đóng góp của các tổ chức, tình nguyện viên trong nước và quốc tế, những người luôn tình nguyện mang đến những điều tốt đẹp cho cộng đồng và tham gia góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Dự chương trình có đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, đồng chí Phùng Khánh Tài, Phó Chủ tịch Ủy ban TƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đồng chí Nguyễn Ngọc Lương, Bí thư TƯ Đoàn, Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam, Ông  Patrick Haverman, Phó đại diện tường trú Cơ quan phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, đại diện Lãnh đạo các Bộ, ban, ngành Trung ương, đại diện Liên Hợp Quốc tại Việt Nam.

Đợt dịch thứ 4 của đại dịch Covid-19 bùng phát từ đầu năm 2021 đến nay đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế – xã hội của toàn cầu nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Nhiều tỉnh, thành phối phải thực hiện giãn cách xã hội, nhiều đối tượng trong xã hội bị tác động rõ rệt, đặc biệt là nhóm những người khó khăn và yếu thế, người lao động tự do bị mất thu nhập, công nhân bị mất việc làm hay người khuyết tật… Nhưng càng trong khó khăn, thách thức, truyền thống sẻ chia, đùm bọc của người Việt Nam, tinh thần đại đoàn kết dân tộc càng được phát huy mạnh mẽ.

Trong thời gian qua, hàng nghìn tỷ đồng kinh phí và hiện vật đã được nhân dân quyên góp từ khắp mọi miền; hàng triệu y bác sỹ, cán bộ y tế, lực lượng vũ trang, tình nguyện viên đã vào tâm dịch bất chấp hiểm nguy, làm việc ngày đêm quên mình vì nhiệm vụ, hăng hái xung phong tham gia các đội hình phòng chống dịch bệnh Covid-19 tại các địa bàn trọng điểm; hàng triệu chuyến xe san sẻ yêu thương chở lương thực, thực phẩm, nông sản được gom góp từ bà con khắp các bản làng, cùng tiến vào các tỉnh miền Nam ruột thịt; và biết bao tổ chức, cá nhân, không phân biệt già trẻ gái trai đã tự nguyện, xung phong cống hiến công sức, trí tuệ, vật chất để chung tay trong công tác phòng dịch Covid-19 và hỗ trợ những người dân khó khăn, yếu thế bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Phát huy tinh thần tuổi trẻ tình nguyện vì cộng đồng, với tinh thần “Tiên phong – thích ứng – tương trợ”, với sự quan tâm, đồng hành của các tổ chức, cá nhân, tổ chức Đoàn, Hội các cấp đã huy động gần 4 triệu thanh niên tình nguyện tham gia các đội hình tình nguyện, triển khai nhiều Chương trình Tuổi trẻ chung tay phòng chống dịch bệnh Covid-19 với tinh thần “Không để ai bị bỏ lại phía sau”, hàng ngàn tỷ đồng đã được quyên góp để chăm lo, hỗ trợ thanh thiếu nhi khó khăn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19. Nhiều sáng kiến, mô hình, Chương trình đã được khởi xướng và nhân rộng, hỗ trợ thiết thực và hiệu quả cho người dân và thanh thiếu nhi khó khăn như Chương trình Triệu túi an sinh, Triệu bữa cơm, chương trình Nối vòng tay thương, Cùng em học trực tuyến, hay các ATM Oxy, ATM việc làm; Chương trình Kết nối nông sản chung tay vượt qua đại dịch, Tiếp sức thanh niên công nhân,…Màu áo xanh thanh niên tình nguyện đã có mặt trên mọi mặt trận phòng chống dịch bệnh Covid-19.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên BCH TƯ Đảng, Bí thư thứ nhất TƯ Đoàn trân trọng bày tỏ lòng trân quý và gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các cán bộ, y bác sỹ, lực lượng vũ trang, các tổ chức, cá nhân, thủ lĩnh câu lạc bộ, đội, nhóm tình nguyện, tình nguyện viên đã không quản ngại khó khăn, hiểm nguy, sẵn sàng tiên phong, tình nguyện chung tay phòng chống dịch bệnh Covid-19 trong thời gian qua cũng như tham gia các nội dung tình nguyện phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương, giải quyết các vấn đề cấp bách của cộng đồng. Đồng chí Bí thư thứ nhất bày tỏ niềm tiếc thương và tri ân sâu sắc đến các cán bộ, chiến sỹ, y bác sỹ, cá nhân, tình nguyện viên đã hy sinh khi làm nhiệm vụ hỗ trợ cộng đồng và không may bị nhiễm Covid-19 không qua khỏi.

Với chủ đề “Tình nguyện ngay bây giờ cho tương lai chúng ta mai sau” (Volunteer now for common future), đồng chí Bí thư thứ nhất TƯ Đoàn mong rằng việc tình nguyện không chỉ là ngắn hạn, mang tính cấp thiết cho thời điểm bây giờ, mà các tổ chức, cá nhân, các thủ lĩnh tình nguyện, tình nguyện viên cần có nhiều giải pháp, cách làm sáng tạo, các mô hình, sáng kiến, tăng cường áp dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số để hoạt động tình nguyện ngày càng bền vững và hiệu quả, để hoạt động tình nguyện ngày càng thể hiện rõ vài trò nhân tố quan trọng trong tham gia phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và góp phần đạt được các mục tiêu phát triển bền vững giai đoạn 2022-2030.

Bên cạnh đó, đồng chí Nguyễn Anh Tuấn mong muốn Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ban, ngành hữu quan, các tổ chức trong nước và quốc tế, cơ quan Liên Hợp Quốc tại Việt Nam tiếp tục quan tâm, đồng hành cùng các tổ chức, cá nhân trong các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng, dành các cơ chế, chính sách quan tâm tốt nhất cho các tổ chức, cá nhân, tình nguyện viên, hỗ trợ kỹ thuật, nguồn lực, cơ chế để các tổ chức, cá nhân đảm nhận các công trình, phần việc tình nguyện.

Dịp này, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao Giải thưởng Tình nguyện Quốc gia năm 2021 cho 10 tập thể và 10 cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động tình nguyện vì cộng đồng năm 2021. Giải thưởng bao gồm Bằng khen của BCH Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Biểu trưng Giải thưởng và 5.000.000đ.

Để tôn vinh, ghi nhận các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động tình nguyện vì cộng đồng năm 2021, Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trao Bằng khen cho 50 tập thể và 50 cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động tình nguyện vì cộng đồng năm 2021, đặc biệt là các hoạt động tình nguyện phòng chống dịch bệnh Covid-19.

 Ngày 5 tháng 12 hàng năm được Liên Hợp Quốc chọn là Ngày Quốc tế Người Tình nguyện. Đây là dịp nâng cao vai trò của hoạt động tình nguyện đối với hòa bình và phát triển của thế giới nói chung và tại từng quốc gia nói riêng, đồng thời là dịp để tri ân, tôn vinh các tổ chức, tình nguyện viên trên khắp thế giới. Tại Việt Nam, từ năm 2011 đến nay, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khởi xướng và tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Quốc tế Người Tình nguyện, bao gồm Ngày hội Tình nguyện Quốc gia và Lễ trao Giải thưởng Tình nguyện Quốc gia hàng năm để tôn vinh các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong các hoạt động tình nguyện vì sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và cộng đồng, thông qua đó tiếp tục lan tỏa tinh thần nhân ái, sẻ chia, xung kích, tình nguyện của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Chủ đề của Ngày Quốc tế Người Tình nguyện năm 2021 là “Volunteer now for common future” – “Tình nguyện ngay bây giờ cho tương lai chúng ta mai sau”.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 4/12/2021

Chủ tịch Quốc hội chủ trì họp về cơ chế, chính sách đặc biệt, đặc thù trong phòng, chống dịch

Chiều 3/12, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chủ trì cuộc họp làm việc với Thường trực Ủy ban Xã hội và các cơ quan liên quan về việc Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ cho phép thực hiện một số cơ chế, chính sách đặc biệt, đặc cách, đặc thù trong phòng, chống dịch Covid-19 để thực hiện Chiến lược tổng thể về phòng, chống dịch Covid-19.

Tham dư cuộc họp có Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn, các Phó Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Khắc Định, Nguyễn Đức Hải, Trần Quang Phương; Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Thường trực Ủy ban Xã hội và các cơ quan liên quan.

Tại cuộc làm việc, các đại biểu phát biểu ý kiến nhất trí quan điểm của Thường trực Ủy ban Xã hội về việc dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ tập trung quy định các cơ chế chính sách đặc biệt, đặc cách, đặc thù về phòng, chống dịch Covid-19 khác với quy định của luật hoặc chưa được luật hiện hành quy định.

Do đó, Chính phủ cần rà soát lại toàn bộ các cơ chế, chính sách, bảo đảm đúng tinh thần, phạm vi mà Quốc hội đã ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Nghị quyết số 30/2021/QH15.

Tham gia thảo luận những vấn đề lớn được nêu trong tờ trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của cơ quan của Quốc hội, các đại biểu đã cho ý kiến đối với những vấn đề lớn nêu trong tờ trình của Chính phủ như: Nhân lực tham gia tiêm chủng, xét nghiệm, chăm sóc, điều trị người nhiễm Covid-19; việc thanh toán chi phí tiêm chủng, xét nghiệm, khám bệnh, chữa bệnh Covid-19; khám bệnh, chữa bệnh từ xa; thuốc, nguyên liệu làm thuốc. Bình ổn giá trang thiết bị y tế và chính sách tiền lương, tiền công, phụ cấp và chế độ chính sách đối với người được điều động tham gia hỗ trợ phòng, chống dịch Covid-19.

Đáng chú ý về nội dung thanh toán chi phí khám, chữa bệnh cho người nhiễm Covid-19, Thường trực Ủy ban Xã hội thống nhất với tờ trình của Chính phủ thực hiện thanh toán theo số lượng thực tế sử dụng và mức giá mua vào theo kết quả đấu thầu được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tuy nhiên, lưu ý Chính phủ cần tổng kết các chi phí khám, chữa bệnh Covid-19 thời gian qua, làm rõ mức trích từ Quỹ Bảo hiểm y tế để bảo đảm an toàn quỹ cũng như bảo đảm tính minh bạch và khả thi.

Lắng nghe ý kiến góp ý tại cuộc làm việc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhất trí quan điểm của Thường trực Ủy ban Xã hội về việc dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ tập trung quy định các cơ chế chính sách đặc biệt, đặc cách, đặc thù về phòng, chống dịch Covid-19 khác với quy định của luật hoặc chưa được luật hiện hành quy định. Do vậy, Chính phủ cần rà soát lại toàn bộ các cơ chế, chính sách, bảo đảm đúng tinh thần, phạm vi mà Quốc hội đã ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Nghị quyết số 30.

Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ phân biệt rõ khái niệm cơ sở khám, chữa bệnh, cơ sở y tế và cơ sở thu dung, nhấn mạnh cần thiết triển khai hội chẩn trực tuyến, hỗ trợ khám, chữa bệnh, tư vấn điều trị từ xa cho người dân nhưng trước mắt chỉ nên áp dụng đối với bệnh nhân Covid-19 và không lấy tính mạng, sức khỏe người bệnh ra thí điểm.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 3/12/2021

Lễ tôn vinh “Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2021”

Tối 2/12, tại Nhà hát lớn Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam chủ trì phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương tổ chức Lễ tôn vinh và trao danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2021.

Đến dự Lễ tôn vinh và trao danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2021 có đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Bùi Văn Cường, Tổng Thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; Lê Tấn Tới, Chủ nhiệm Uỷ ban An ninh quốc phòng Quốc hội; Huỳnh Tấn Việt, Bí thư Đảng ủy khối các cơ quan Trung ương; Lê Hoài Trung, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương; Lương Quốc Đoàn, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam.

Cùng dự còn có các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các tổ chức chính trị-xã hội; Hội đoàn thể Trung ương; đại diện các tập đoàn, doanh nghiệp, nhà khoa học; đại diện lãnh đạo Hội nông dân các tỉnh, thành phố và 63 nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2021. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gửi lẵng hoa chúc mừng.

Năm 2021, Ban Tổ chức Chương trình Bình chọn và trao danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc” nhận được 146 hồ sơ đề cử từ 63 Hội Nông dân tỉnh, thành phố. Hội đồng chung khảo gồm đại diện lãnh đạo Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, đại diện các nhà khoa học, chuyên gia đã cẩn trọng, nghiêm túc, khách quan bình chọn 63 nông dân xuất sắc nhất.

Phát biểu tại Lễ tôn vinh, đồng chí Lương Quốc Đoàn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cho biết, vượt lên những khó khăn về thiên tai, dịch bệnh, vượt qua những thách thức trong sản xuất và thị trường; vượt qua những mất mát, khó khăn bởi đại dịch Covid-19, nông dân Việt Nam trong 2 năm qua, đặc biệt là năm 2021 tiếp tục vượt khó vươn lên, đoàn kết, sáng tạo giúp nhau giảm nghèo, làm giàu cho mình, cho quê hương, đất nước và chung tay xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, đô thị văn minh.

Từ thực tiễn cuộc sống và phong trào thi đua yêu nước, đã xuất hiện những gương nông dân điển hình tiên tiến, nông dân xuất sắc trong các lĩnh vực. Vinh danh nông dân Việt Nam xuất sắc là tôn vinh công sức, tài năng, đạo đức, sự sáng tạo của người nông dân vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam vững mạnh và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, cũng lan tỏa mạnh mẽ về mẫu hình người nông dân mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Cũng tại buổi Lễ tuyên dương, đồng chí Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn được Đảng và Nhà nước xác định có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Bởi vậy, đầu tư phát triển toàn diện, bền vững nông nghiệp, nông dân, nông thôn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong đó nông dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm hướng đến của các chính sách.

Đánh giá cao Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã có sáng kiến phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, các tỉnh thành và cơ quan liên quan tổ chức chương trình “Tự hào Nông dân Việt Nam năm 2021” với 5 hoạt động chính, trong đó điểm nhấn là bình chọn, tôn vinh, trao danh hiệu nông dân xuất sắc, tiêu biểu toàn quốc năm 2021.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/12/2021

Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành logistics

Phát biểu chào mừng Diễn đàn Logistics Việt Nam 2021 do Bộ Công thương phối hợp Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức ngày 14/12 tại Hà Nội, đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương đánh giá, logistics của Việt Nam trong những năm qua đã đạt được nhiều bước phát triển.

Nghiên cứu năm 2021 của Bộ Công thương cho thấy, chỉ số năng lực hoạt động của logistics đã tăng, đạt 3,34 điểm so 3,27 điểm của năm 2018. Việt Nam cũng là nước được xếp hạng trong Top 10 của chỉ số logistics thị trường mới nổi với mức tăng trưởng cao từ 14-16%. Tuy nhiên, dịch Covid-19 hai năm qua đã ảnh hưởng mọi khía cạnh của đời sống kinh tế-xã hội đất nước.

Chủ đề chính của Diễn đàn Logistics Việt Nam 2021 là “Phát triển nhân lực logistics” vì đây đang là chủ đề mà Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp quan tâm nhằm giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đồng thời chuẩn bị cho việc phục hồi đà tăng trưởng sau tác động của dịch Covid-19.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 11/12/2021

Chống dịch trong điều kiện thích ứng linh hoạt

Sau hai tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ, cả nước đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong kiểm soát dịch Covid-19, qua đó từng bước khôi phục phát triển kinh tế-xã hội. Do thực hiện thích ứng linh hoạt cho nên số ca mắc Covid-19 tăng trở lại, đặt ra yêu cầu bám sát tình hình thực tế, triển khai các biện pháp ứng phó linh hoạt, phù hợp đối với các địa phương.

Nhờ những kết quả tích cực trong kiểm soát dịch Covid-19 mà thị trường lao động, xuất khẩu, thu hút đầu tư từng bước được phục hồi. Các địa phương và bộ, ngành nghiêm túc tổ chức triển khai thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 128/NQ-CP.

Đáng chú ý, nghị quyết đã tạo được khung pháp lý vững chắc giúp các địa phương ban hành và thực hiện các biện pháp hành chính và chuyên môn y tế phù hợp với các cấp độ dịch trên địa bàn. Các địa phương từng bước mở cửa cho hoạt động đi lại, giao thương, phục hồi sản xuất bảo đảm đời sống dân sinh, phòng, chống dịch trong tình hình mới. Đến ngày 8/12 cả nước có 55 tỉnh, thành phố đã ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 128/NQ-CP hoặc văn bản chỉ đạo phòng, chống dịch trong sản xuất, giao thông… Tất cả 63 tỉnh, thành phố đã đánh giá và công bố cấp độ dịch, được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế.

Theo thống kê của Hệ thống quản lý ca bệnh Covid-19, sau khi giảm về mức hơn 3.000 ca mắc/ngày (cuối tháng 10), dịch đã tăng trở lại, riêng bảy ngày qua có trung bình 14.487 ca/ngày. Đến hết ngày 10/12, cả nước đã ghi nhận 1.382.272 ca nhiễm, đứng thứ 33 trong tổng số 223 quốc gia và vùng lãnh thổ; bình quân cứ 1 triệu người có 14.019 ca nhiễm. Đến nay, 1.052.341 người mắc Covid-19 được công bố khỏi bệnh và 27.402 ca tử vong.

Đáng chú ý, số ca mắc trong cộng đồng ghi nhận hằng ngày cũng đã chiếm hơn 50% tổng số ca mắc mới. Một số địa phương có số ca mắc cộng đồng tăng cao so với tuần trước, gồm: Bến Tre, Hà Nội, Cần Thơ, Cà Mau, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, Tây Ninh, Sóc Trăng, Bình Định, Hải Phòng, Gia Lai… Hiện cả nước có 846 xã, phường ở mức nguy cơ cao (cấp độ 3), 218 xã, phường ở mức nguy cơ rất cao (cấp độ 4; so với tuần trước đó, tăng 211 xã, phường cấp độ 3, giảm 15 xã, phường cấp độ 4).

Mặc dù dịch cơ bản được kiểm soát trên phạm vi toàn quốc, nhưng số ca mắc cộng đồng và tử vong tiếp tục có xu hướng gia tăng ở nhiều địa phương.

Đáng chú ý, do dịch đã lưu hành trong cộng đồng, có nguy cơ xuất hiện các ổ dịch mới, có khả năng bùng phát bất cứ lúc nào, nhất là tại các địa phương có mật độ dân cư cao, giao thương, đi lại lớn. Đặc biệt thời gian tới, thời tiết chuyển mùa đông-xuân thuận lợi cho sự phát triển, lây lan của vi-rút, đồng thời gia tăng giao thương đi lại dịp Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán 2022 và nguy cơ xâm nhập của biến thể mới.

Bên cạnh đó, có tâm lý chủ quan, lơ là, mất cảnh giác của một số đơn vị, người dân trong việc thực hiện quy định về phòng, chống dịch sau một thời gian dài nới lỏng giãn cách xã hội.

Từ thực tế đó đòi hỏi công tác ứng phó dịch cần được tập trung và hiệu quả hơn nữa. Các bộ, ngành, địa phương, cơ quan liên quan cần thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19. Cần thực hiện nghiêm, hiệu quả Nghị quyết số 128/NQ-CP và Quyết định số 4800/QĐ-BYT; linh hoạt tăng cấp độ phòng, chống dịch ở những khu vực có diễn biến dịch phức tạp để nhanh chóng kiểm soát tình hình. Có kế hoạch chuẩn bị công tác phòng, chống dịch bệnh trong dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán 2022. Tăng cường theo dõi, giám sát, kiểm soát tại các cửa khẩu để ngăn chặn nguy cơ xâm nhập và lây lan của biến chủng mới.

Mặc dù đã xác định “sống chung với dịch” nhưng vẫn cần tăng cường bảo đảm an toàn phòng, chống dịch trong các khu công nghiệp, trường học; kiểm tra phòng, chống dịch tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhất là tại bệnh viện, cơ sở sản xuất, chợ, siêu thị, nhà ga, sân bay, bến xe… để phát hiện sớm, có biện pháp xử lý, ngăn chặn lây lan trên diện rộng.

Về phía Bộ Y tế cần chỉ đạo, đôn đốc các địa phương đẩy nhanh tiến độ tiêm chủng bảo đảm trong thời gian sớm nhất thực hiện tiêm đủ hai mũi vaccine phòng Covid-19 cho trẻ từ 12 tuổi trở lên và sớm triển khai tiêm mũi 3 cho người có nguy cơ cao cũng như chuẩn bị kế hoạch tiêm cho trẻ từ 5-11 tuổi…

Đến nay, Việt Nam đã ký hợp đồng, mua, nhận viện trợ, tài trợ tổng số 211 triệu liều vaccine phòng Covid-19. Cùng với lộ trình sản xuất trong nước, chắc chắn nguồn cung vaccine sẽ đáp ứng tốt công tác tiêm chủng tại nước ta trong thời gian tới.

Theo ghi nhận của Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), những ngày gần đây tiến độ tiêm vaccine phòng Covid-19 có xu hướng giảm. Tỷ lệ sử dụng vaccine trong tổng số vaccine được phân bổ của nhiều địa phương còn thấp, trong khi tỷ lệ bao phủ vaccine cho đối tượng từ 18 tuổi trở lên chưa cao (dưới 85%).

Cục Y tế dự phòng đã có văn bản “thúc” các địa phương đẩy nhanh tiến độ tiêm vaccine phòng Covid-19 đủ liều cơ bản cho người từ 18 tuổi trở lên, bảo đảm tiêm chủng an toàn theo các quy định và hướng dẫn của Bộ Y tế. Địa phương tổ chức các đội lưu động “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng” lập danh sách người thuộc nhóm nguy cơ cao để quản lý, tiêm vaccine, hỗ trợ tiếp cận dịch vụ y tế sớm, điều trị kịp thời.

Theo thống kê của các cơ sở điều trị, phần lớn những trường hợp tử vong là ở nhóm người mắc bệnh nền, bệnh mãn tính hoặc người cao tuổi, sức khỏe suy giảm. Bộ Y tế đã đưa ra chiến lược giảm tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân Covid-19. Đó là, tiếp cận các loại thuốc điều trị đặc hiệu đang lưu hành trên thế giới để đưa về Việt Nam điều trị của bệnh nhân nặng. Các địa phương tiếp tục nâng cao năng lực thu dung, điều trị vừa để giảm tối đa trường hợp tử vong cũng như chủ động thích ứng các tình huống dịch.

Kinh nghiệm qua những đợt tham gia chống dịch tại Hải Dương, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh… tại cuộc hội chẩn trực tuyến với đầu cầu An Giang sáng 10/12, PGS,TS Nguyễn Văn Chi, Phụ trách Trung tâm Cấp cứu A9 (Bệnh viện Bạch Mai) cho rằng, các địa phương cần quyết liệt phân tầng điều trị bệnh nhân Covid-19 theo đúng mức độ của bệnh. Đây là yếu tố tiên quyết để tránh xung đột về nhân lực, cơ sở vật chất cho các tầng, từ đó giảm tỷ lệ bệnh nhân nặng tầng 1 và tầng 2 phải chuyển lên tầng 3, từ đó giảm áp lực cho tầng trên và giảm tỷ lệ bệnh nhân tử vong.

TS Nguyễn Quang Bảy, Trưởng Khoa Nội tiết, đái tháo đường (Bệnh viện Bạch Mai) chỉ rõ, các cơ sở y tế cần lập danh sách và phân loại bệnh nhân Covid-19 có kèm bệnh nền như tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp… từ đó có kế hoạch điều trị cho phù hợp bởi các bệnh nhân có bệnh nền khi mắc Covid-19 thì nhiều nguy cơ sẽ trở nặng và khó qua khỏi nếu chúng ta không theo dõi sát sao và có phác đồ điều trị một cách hiệu quả.

Dịch còn diễn biến phức tạp, số ca mắc mới, tử vong vẫn tăng trong khi biến thể mới đe dọa. Hơn lúc nào hết, nguyên tắc phòng, chống dịch: 5K+vaccine, thuốc điều trị+công nghệ+ý thức người dân cần được thực hiện đồng bộ và xuyên suốt. Bên cạnh các giải pháp của cơ quan chuyên môn, rất cần những sự chung sức, đồng lòng của người dân. Mỗi người dân nâng cao ý thức, thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch là bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cộng đồng.

Trung Hiếu

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 5/12/2021

Đường sắt tiếp tục bán vé nguyên khoang, nguyên toa

Ngày 4/12, Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam cho biết, để đáp ứng nhu cầu của hành khách, ngành đường sắt tiếp tục duy trì bán vé nguyên khoang, nguyên toa đến hết ngày 28/2/2022, đồng thời giảm giá từ 10% đến 15%. Đặc biệt, không giới hạn cự ly đối với hành khách mua vé đi tàu nguyên khoang, nguyên toa như trước đây.

Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, để bảo đảm an toàn cao nhất cho hành khách đi tàu trong mùa dịch, từ ngày 15/11, ngành đường sắt đã chính thức mở bán vé, cung cấp dịch vụ nguyên khoang (khoang 4 giường và 6 giường), nguyên toa tới khách hàng. Đến ngày 3/12, sau gần 20 ngày mở bán, ngành đường sắt đã bán được gần 1.000 vé nguyên khoang, nguyên toa và nhận được sự quan tâm, phản hồi tích cực từ phía hành khách.

Nhận thấy nhu cầu của hành khách muốn có không gian riêng, bảo đảm an toàn ở mức cao nhất khi đi tàu cùng gia đình, người thân hoặc theo nhóm rất lớn, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới, ngành đường sắt tiếp tục duy trì bán vé nguyên khoang, nguyên toa đến hết ngày 28/2 cùng chính sách giảm giá từ 10%-15% và đặc biệt là không giới hạn cự ly đối với hành khách mua vé đi tàu nguyên khoang, nguyên toa.

Như vậy, kể cả hành khách mua vé đi chặng ngắn (dưới 300 km) vẫn có thể mua vé nguyên khoang, nguyên toa khi di chuyển và hưởng các chính sách ưu đãi của ngành đường sắt. Hành khách có vé đi nguyên khoang, nguyên toa nếu có nhu cầu đưa, đón tại nhà, ngành đường sắt sẽ phục vụ theo nhu cầu và được cung cấp miễn phí suất ăn trên tàu. Tại các nhà ga, hành khách được bố trí phòng đợi hoặc khu vực chờ tàu riêng, bố trí lối đi riêng khi lên, xuống tàu.

Cùng với việc kéo dài thời gian bán vé nguyên khoang, nguyên toa; tuân thủ nghiêm các quy định về phòng, chống dịch và triển khai nhiều giải pháp phòng dịch nghiêm ngặt như tổ chức phun khử khuẩn tại các nhà ga và toa xe trước khi đưa ra vận dụng; các nhân viên phục vụ trên tàu, dưới ga tuân thủ việc tiêm vaccine và xét nghiệm SARS-CoV-2 trước khi làm việc,… hành khách hoàn toàn có thể yên tâm khi lựa chọn tàu hỏa là phương tiện đi lại trong dịp Tết Nguyên đán 2022.

Để bảo đảm quyền lợi cho hành khách, ngành đường sắt vẫn duy trì áp dụng chính sách giảm giá vé cho các đối tượng chính sách xã hội như Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, người cao tuổi, học sinh, sinh viên,… khi có nhu cầu sử dụng phương tiện tàu hỏa trong dịp Tết.

Trang Ly

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 4/12/2021

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 43,5 tỷ USD

11 tháng năm 2021, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước đạt gần 43,5 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu nhóm nông sản chính ước đạt trên 19,3 tỷ USD; lâm sản chính đạt khoảng 14,3 tỷ USD, thủy sản đạt trên 7,9 tỷ USD,…

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho biết, tháng 11/2021, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước đạt khoảng 4,2 tỷ USD, tăng 8,9% so với tháng 11/2020 và tăng 5,8% so với tháng 10/2021. Tính chung 11 tháng năm 2021, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước đạt gần 43,5 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu nhóm nông sản chính ước đạt trên 19,3 tỷ USD, tăng 13,7%; lâm sản chính đạt khoảng 14,3 tỷ USD, tăng 20,9%; thủy sản đạt trên 7,9 tỷ USD, tăng 3,5%; chăn nuôi ước đạt 393 triệu USD, tăng 4%; nhóm đầu vào sản xuất trên 1,5 tỷ USD, tăng 25,9%.

Trong 11 tháng, nhiều sản phẩm, nhóm sản phẩm có giá trị xuất khẩu tăng gồm: Cà phê, cao su, gạo, nhóm hàng rau quả, hồ tiêu, hạt điều, sắn và sản phẩm từ sắn, sản phẩm chăn nuôi, sản phẩm gỗ,… Các mặt hàng cao su, hạt điều, sắn và sản phẩm từ sắn tăng cả khối lượng và giá trị xuất khẩu. Cụ thể, cao su tăng 11,7% khối lượng và 40,5% giá trị; gạo tăng 0,8% khối lượng và tăng 7,3% giá trị,… Riêng hồ tiêu dù khối lượng xuất khẩu giảm nhưng nhờ giá bình quân tăng nên giá trị xuất khẩu vẫn tăng 44%; cà phê khối lượng giảm 4,4% nhưng giá trị xuất khẩu vẫn tăng 5,9%.

Về  thị trường xuất khẩu, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 11 tháng năm 2021 của Việt Nam tới các thị trường thuộc khu vực châu Á chiếm 43,1% thị phần, châu Mỹ (29,6%), châu Âu (11,5%), châu Phi (1,9%), châu Đại Dương (1,6%).

Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Hoa Kỳ, đạt trên 11,9 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ chiếm tới 67,2% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam sang thị trường này. Đứng thứ 2 là thị trường Trung Quốc, tiếp đến là thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc …

Bộ NN&PTNT cho biết, trong thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của hai Tổ công tác (phía Nam và phía Bắc) để chỉ đạo, hướng dẫn các Sở NN&PTNT, phối hợp với các bộ, ngành, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã khẩn trương triển khai các giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong lưu thông, sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Thường xuyên tổ chức, phối hợp tổ chức và tham gia các diễn đàn, hội nghị trực tuyến kết nối cung – cầu, xúc tiến tiêu thụ nông sản, phát triển ngành hàng. Bên cạnh đó, tiếp tục thúc đẩy mở cửa thị trường nông sản với các nước Peru, Úc, Braxin, Trung Quốc, Hoa Kỳ, ASEAN, Nga,…/.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 15/12/2021

Bàn giao hài cốt quân nhân Mỹ

Ngày 14/12, lễ bàn giao hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam (MIA) diễn ra tại Đà Nẵng. Đại diện phía Việt Nam đã bàn giao cho đại diện phía Mỹ hai bộ hài cốt là kết quả của đợt tìm kiếm chung lần thứ 144 và 145 (tháng 7-12/2021). Hài cốt này đã được các chuyên gia pháp y của Việt Nam giám định tại Đà Nẵng, kết luận có thể liên quan tới các trường hợp quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam và đề nghị chuyển về Mỹ để xác minh thêm.

Đại diện Việt Nam nhấn mạnh chính sách nhân đạo của Chính phủ trong giải quyết vấn đề MIA với phía Mỹ, khẳng định lại chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tinh thần hòa hiếu của dân tộc Việt Nam; đồng thời, đánh giá cao và mong muốn Mỹ tăng cường hơn nữa trợ giúp Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, đặc biệt về rà phá bom mìn, tẩy độc các điểm nóng da cam và hỗ trợ nạn nhân, tìm kiếm bộ đội Việt Nam mất tin, mất tích trong chiến tranh.

Quyền Phó Đại sứ Mỹ Noah Zaring (N.Da-ring) cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ của Chính phủ, người dân Việt Nam đối với hoạt động nhân đạo MIA; nhấn mạnh hợp tác nhân đạo MIA đã giúp xây dựng lòng tin, sự tôn trọng lẫn nhau và là tiền đề thúc đẩy quan hệ hai nước trong nhiều lĩnh vực hợp tác khác như kinh tế-thương mại, nhân đạo, trong đó có việc giải quyết hậu quả chiến tranh tại Việt Nam; cho biết Mỹ đã trợ giúp Việt Nam hơn 24 triệu liều vắc-xin phòng, chống Covid-19, 20 triệu USD trang thiết bị y tế và sẽ tiếp tục trợ giúp Việt Nam trong lĩnh vực này.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 14/12/2021

Tuyên dương 50 thanh niên khuyết tật tiêu biểu năm 2021

Trong số những tấm gương của chương trình năm nay, có nhiều cá nhân là nguồn động lực, cảm hứng vượt khó giành nhiều thành tích xuất sắc như vận động viên cử tạ Lê Văn Công, nhà sáng lập chương trình truyền thông cho thanh niên khuyết tật chống dịch an toàn Lương Thị Kiều Thúy.

Tối 13/12, tại Hà Nội, Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam phối hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn TCPVN tổ chức chương trình “Tỏa sáng nghị lực Việt” năm 2021. Đồng chí Bùi Quang Huy, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam, dự chương trình.

Được khởi xướng vào năm 2013, chương trình “Tỏa sáng nghị lực Việt” đến nay đã tuyên dương hơn 546 nghìn thanh niên khuyết tật tiêu biểu theo các cấp Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Năm nay, trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Trung ương Hội đã nhận được 75 hồ sơ tham gia chương trình.

Qua đây, đã lựa chọn được 50 thanh niên khuyết tật tiêu biểu, xuất sắc. Trong đó, có nhiều hạt nhân lan tỏa động lực, cảm hứng vượt khó vươn lên trong cuộc sống, giành nhiều thành tích nổi bật như vận động viên cử tạ Lê Văn Công với hàng loạt huy chương vàng, bạc ở khu vực châu Á và Thế vận hội dành cho người khuyết tật.

Ở lĩnh vực công tác xã hội, có thể kể đến Nhà sáng lập Chương trình truyền thông cho thanh niên khuyết tật chống dịch an toàn, đồng sáng lập “Tiệm giặt là người điếc” Lương Thị Kiều Thúy. Tiêu biểu trên lĩnh vực phát triển kinh tế là anh Trần Hoàng Lấm với mô hình nông nghiệp cho doanh thu 900 triệu đồng mỗi năm, giải quyết việc làm cho nhiều thanh niên địa phương.

Năm nay, gương thanh niên khuyết tật vươn lên trong học tập, tích cực hoạt động tình nguyện vì cộng đồng điển hình có chị Nguyễn Thụy Thủy Tiên (sinh viên Trường Đại học Kinh tế-Luật, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh). Là “Sinh viên 5 tốt”, chị còn năng nổ tham gia các chương trình thiện nguyện và phòng, chống dịch Covid-19.

Dịp này, Ban tổ chức chương trình đã trao tặng mỗi thanh niên khuyết tật tiêu biểu 1 Bằng khen của Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, 1 sổ tiết kiệm trị giá 10 triệu đồng. Đồng thời, trao các giải thưởng của Cuộc thi viết “Tỏa sáng nghị lực Việt”.

Ngọc Vy

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 11/12/2021

Tôn vinh 87 trí thức trẻ tiêu biểu ngành y

Sáng 10/12, Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì và tôn vinh trí thức tiêu biểu năm 2021. Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân dự và trao Huân chương Lao động hạng Nhì tặng Tổng hội Y học Việt Nam.

Đây là sự động viên và khích lệ đội ngũ trí thức ngành y tế cả nước tiếp tục có những đóng góp tích cực và hiệu quả hơn nữa vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tại buổi lễ, đại diện Tổng Hội Y học Việt Nam trao chứng nhận trí thức tiêu biểu ngành y tế cho 87 trí thức tiêu biểu, trong đó có 24 người có học hàm, học vị giáo sư, tiến sĩ và tương đương trở lên; 36 người có học hàm, học vị phó giáo sư, tiến sĩ và tương đương trở lên; 27 người có học vị tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa II.

Các trí thức tiêu biểu được tôn vinh năm 2021 thực sự xứng đáng với danh hiệu vinh dự này, không chỉ mang đến niềm tự hào đối với chính bản thân người trí thức được tôn vinh và gia đình mà còn trở thành niềm vinh dự và trách nhiệm lớn lao đối với Tổng hội y học Việt Nam để tiếp tục quan tâm, làm tốt hơn nữa công tác tập hợp, đoàn kết và phát huy sức sáng tạo, trí tuệ của đội ngũ trí thức ngành y tế, các chuyên gia đầu ngành có kinh nghiệm trong quản lý và lĩnh vực lâm sàng vì sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

PGS, TS Nguyễn Thị Xuyên, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam cho biết, việc lựa chọn tôn vinh các trí thức tiêu biểu ngành y năm 2021 dựa trên nhiều tiêu chí quan trọng. Những cá nhân được tôn vinh là những người đã được công nhận một trong các danh hiệu cấp Nhà nước như: Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động; Thầy thuốc Nhân dân, Nhà giáo Nhân dân; Thầy thuốc Ưu tú, Nhà giáo Ưu tú… và được các Hội chuyên ngành trực thuộc đề cử.

Đồng thời, các tri thức cũng tích cực tham gia các hoạt động hội và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ của Tổng hội, đặc biệt là tích cực tham gia các hoạt động phòng, chống Covid-19; có nhiều đóng góp cho việc xây dựng và phát triển của Tổng hội Y học Việt Nam nói riêng và của toàn nền y học Việt Nam nói chung.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 5/12/2021

Tạo lập môi trường văn hóa lành mạnh

Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề cập một số nhóm nhiệm vụ trọng tâm để tiếp tục xây dựng, giữ gìn, chấn hưng và phát triển nền văn hóa của dân tộc, trong đó có nội dung “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa; bảo vệ những giá trị chân-thiện-mỹ”.

Ngay sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc, lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết, đang bắt tay triển khai 11 nhiệm vụ, trong đó có nội dung tập trung xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh để tạo động lực phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế. Trong nội dung này, Bộ tập trung tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, qua đó để xây dựng bộ tiêu chí về chỉ số văn hóa quốc gia hướng tới sự phát triển bền vững. Ngày 2/12, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã tổ chức Tọa đàm “Xây dựng mô hình văn hóa ứng xử trong trường học”. Vấn đề văn hóa ứng xử trong các cơ sở giáo dục và văn hóa học đường được các cán bộ quản lý, chuyên gia giáo dục nêu ra nhằm hướng tới xây dựng một môi trường học tập có chuẩn mực văn hóa, đạo đức được xã hội thừa nhận.

Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú với những giá trị nhân văn, tiến bộ là nhiệm vụ trọng yếu để phát triển văn hóa dân tộc hiện nay. Những môi trường văn hóa mà mỗi cá nhân đã trải qua trong suốt cuộc đời chính là nơi mà họ được dạy dỗ, được học hỏi để phát triển nhân cách, để trở thành một con người xã hội. Từ gia đình, nhà trường, cơ quan, đoàn thể đến các cộng đồng dân cư,… đó là những môi trường bồi đắp cho mỗi con người không chỉ về tri thức, kinh nghiệm sống, kỹ năng sống mà còn là nơi trao gửi yêu thương, bồi dưỡng những xúc cảm thẩm mỹ, những giá trị văn hóa, đạo đức… Môi trường văn hóa lành mạnh sẽ vun đắp, hình thành cho con người những đức tính, phẩm chất tốt đẹp; đồng thời góp phần đẩy lùi cái lạc hậu, cái giả dối, cái xấu. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Có cơ chế, chính sách, giải pháp để xây dựng môi trường văn hóa thật sự trong sạch, lành mạnh, cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của nhân dân.

Trên thực tế, môi trường văn hóa, xã hội tiếp tục bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, tham nhũng, tiêu cực. Chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền còn lớn; đời sống văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Hiện tượng ô nhiễm môi trường văn hóa không chỉ xuất hiện ở một số cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp mà ngay cả một số không gian văn hóa vốn được coi là nơi nuôi dưỡng cho những giá trị tốt đẹp như gia đình, học đường… cũng có những dấu hiệu rạn vỡ, xuất hiện nhiều tiêu cực đáng lo ngại. Môi trường văn hóa bị ô nhiễm xuất phát từ nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, nhất là những tác động của bối cảnh, tình hình phức tạp trong và ngoài nước, mặt trái của nền kinh tế thị trường, giao lưu hội nhập quốc tế; việc ban hành quy định, hướng dẫn về xây dựng môi trường văn hóa chưa đồng bộ, công tác kiểm tra, giám sát chưa nghiêm; các phong trào, chương trình hoạt động văn hóa diễn ra còn mang tính hình thức, thời vụ; nguồn lực đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng…

Để xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ, là nền tảng tinh thần của xã hội, nhất thiết phải có hệ thống pháp luật hướng tới việc bảo vệ các giá trị, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa tốt đẹp, bảo vệ, tôn trọng quyền làm chủ của người khác, của cộng đồng. Tiếp tục triển khai có hiệu quả các phong trào, các cuộc vận động có ý nghĩa như: Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; thực hành nếp sống văn minh trong cưới, việc tang, lễ hội; xây dựng làng bản, khu phố, gia đình văn hóa… Thực hiện biểu dương, khen thưởng kịp thời những tấm gương tiêu biểu, những cơ quan, đoàn thể có cách làm hay sáng tạo, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng môi trường văn hóa để lan tỏa những giá trị tốt đẹp, đẩy lùi cái xấu… Quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết chế văn hóa đầy đủ, đồng bộ. Mỗi địa phương, cộng đồng, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống. Môi trường văn hóa giờ đây bên cạnh không gian hiện thực, còn có cả những không gian ảo, thông qua internet. Vì thế cần lưu ý các không gian này, xem xét bối cảnh xã hội số, kinh tế số, công dân số trong mối quan hệ với việc hình thành văn hóa số.

Việc xây dựng môi trường văn hóa phải là công việc của tất cả bộ, ngành, địa phương chứ không chỉ là công việc của riêng ngành văn hóa. Tất nhiên, phải có sự thống nhất giữa các bộ, ngành trong việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách cũng như sự phân công trách nhiệm rõ ràng trong quá trình cộng đồng trách nhiệm xây dựng môi trường văn hóa. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đồng bộ đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chung tay của các bộ, ngành, địa phương, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân.

Quang Đông

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 5/12/2021

Nguyễn Thúc Thùy Tiên đăng quang Hoa hậu Hòa bình quốc tế

Đúng như dự đoán, thí sinh Việt Nam Nguyễn Thúc Thùy Tiên đã đăng quang ngôi vị Hoa hậu Hòa bình quốc tế 2021, vừa kết thúc tại Thái Lan.

Thí sinh Việt Nam Nguyễn Thúc Thùy Tiên đã giành vương miện cuộc thi Hoa hậu Hòa bình quốc tế 2021, vừa diễn ra tại Show DC (Bangkok, Thái Lan) tối 4-12.

Sau màn hô tên đầy ấn tượng tại đêm bán kết, thí sinh Việt Nam tiếp tục gây ấn tượng tại đêm chung kết Miss Grand International (Hoa hậu Hòa bình quốc tế) 2021. Dù là gương mặt cuối cùng khép lại phần đồng diễn nhưng Thùy Tiên vẫn gây ấn tượng bởi màn hô tên đầy năng lượng.

Sau màn trình diễn của 60 thí sinh, MC đã công bố tốp 3 quốc phục đẹp nhất Miss Grand International thuộc về đại diện của các quốc gia: Malaysia, Peru, Angola.

Mặc dù trước đó, Thùy Tiên đã dẫn đầu tốp 5 phần thi Quốc phục về lượt bình chọn nhưng người đẹp đã không được nằm trong tốp 3 bộ trang phục dân tộc đẹp nhất.

Miss Grand International – Hoa hậu Hòa bình Quốc tế là cuộc thi sắc đẹp thường niên, có trụ sở tại Thái Lan, tổ chức lần đầu năm 2013. Người đăng quang sẽ đến nhiều nước để truyền thông điệp về “chấm dứt chiến tranh và bạo lực”.

Sau 7 lần diễn ra, cuộc thi ngưng tổ chức năm 2020 vì dịch. Đầu năm nay, cuộc thi trở lại tại Thái Lan, đương kim hoa hậu là Evelyn Abena Appiah đến từ Mỹ.

Các đại diện Việt Nam tham dự Miss Grand International những năm gần đây đều lọt tốp khá cao: Á hậu Phương Nga, Á hậu Kiều Loan, Á hậu Huyền My lọt top 10 và Á hậu Ngọc Thảo top 20.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 14/12/2021

Ông Nguyễn Đức Chung bị tuyên phạt 8 năm tù

Chiều 13/12, sau hai ngày xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên án vụ án lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và các đơn vị liên quan.

Theo đó, Tòa tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đức Chung, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP Hà Nội 8 năm tù; bị cáo Võ Tiến Hùng, nguyên Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội (Công ty Thoát nước) 4  năm tù và bị cáo Nguyễn Trường Giang, nguyên Giám đốc Công ty TNHH thương mại dịch vụ Arktic 4 năm 6 tháng tù, cùng về tội danh lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Riêng bị cáo Nguyễn Đức Chung, tổng hợp với bản án 5 năm tù trước đó về tội “Chiếm đoạt tài liệu bí mật Nhà nước”, hình phạt chung đối với bị cáo Chung là 13 năm tù.

Ngoài ra, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung, cấm hai bị cáo Nguyễn Đức Chung và Võ Tiến Hùng giữ các chức vụ liên quan đến quản lý doanh nghiệp tài chính trong các tổ chức kinh tế Nhà nước từ 3-4 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù. Đối với số tiền thiệt hại trong vụ án, tòa yêu cầu các bị cáo Chung và Giang liên đới bồi thường cho Công ty Thoát nước hơn 36 tỷ đồng.

Tại phần tuyên án, Hội đồng xét xử nêu rõ, đây là vụ án rất nghiêm trọng, quá trình triển khai thực hiện công tác xử lý, khắc phục ô nhiễm nước tại các hồ trên địa bàn thành phố Hà Nội, lợi dụng vị thế công việc trong Ủy ban nhân dân thành phố và vì động cơ vụ lợi và động cơ cá nhân khác nhau, các bị cáo trong vụ án, đứng đầu là bị cáo Nguyễn Đức Chung đã có các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, vi phạm Luật Phòng, chống tham nhũng, vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, cố ý làm trái chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, ký kết 15 hợp đồng kinh tế mua chế phẩm Redoxy-3C của Công ty Watch Water thông qua Công ty Arktic (là công ty gia đình bị cáo Chung) để Công ty Arktic được hưởng lợi nhuận không chính đáng số tiền hơn 36 tỷ đồng, gây thiệt hại cho vốn ngân sách Nhà nước số tiền đặc biệt lớn và gây nhiều hệ lụy nghiêm trọng khác.

Hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án là biểu hiện một phần của tệ nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu, không chỉ gây thiệt hại lớn về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, hoạt động kinh doanh lành mạnh của doanh nghiệp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, hình ảnh của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, của người đứng đầu thành phố Hà Nội, dẫn đến một số cán bộ chủ chốt của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội có hành vi sai phạm nghiêm trọng bị xử lý kỷ luật và xử lý hình sự, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với chính quyền.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 2/12/2021

Kỳ họp thứ chín của Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Từ ngày 29-11 đến ngày 1-12-2021, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp kỳ thứ chín. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì kỳ họp.

Tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương đã xem xét, kết luận một số nội dung sau:

  1. Xem xét kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Trà Vinh và một số cán bộ, đảng viên, UBKT Trung ương nhận thấy:

Ban Thường vụ Đảng ủy BĐBP tỉnh Trà Vinh đã vi phạm các nguyên tắc, quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh và nhiều cán bộ, đảng viên liên quan, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt và chỉ huy các đơn vị trực thuộc thiếu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của Bộ Quốc phòng trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản.

Những vi phạm nêu trên đã gây hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại lớn tiền và tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức Đảng và lực lượng BĐBP, gây bức xúc trong xã hội. Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm; căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật:

– Cảnh cáo Ban Thường vụ Đảng ủy BĐBP tỉnh Trà Vinh các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025.

– Khai trừ ra khỏi Đảng các đồng chí: Đại tá Phạm Văn Trên, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh; Thượng tá Nguyễn Văn Hùng, nguyên Đảng ủy viên BĐBP tỉnh, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Đồn trưởng Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Trường Long Hòa; Thượng úy Sơn Hoàng Ngự, cán bộ Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Trường Long Hòa; Thượng tá Lê Văn Phương, nguyên Phó Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường thủy, Công an tỉnh Trà Vinh và Phạm Hồ Hải, Trưởng đại diện Cảng vụ hàng hải Cần Thơ tại Duyên hải, tỉnh Trà Vinh.

– Cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng các đồng chí: Đại tá Nguyễn Văn Ri, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chính ủy BĐBP tỉnh; Thượng tá Nguyễn Quốc Viễn, Phó Tham mưu trưởng BĐBP tỉnh, Bí thư Đảng ủy Phòng Tham mưu, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Đồn trưởng Đồn Biên phòng Long Vĩnh và Thiếu tá Nguyễn Minh Sơn, Đảng ủy viên BĐBP tỉnh, Phó Bí thư Đảng ủy, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Long Vĩnh.

– Cảnh cáo đồng chí Đỗ Hữu Lộc, Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy BĐBP tỉnh Trà Vinh.

UBKT Trung ương đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật đồng chí Phạm Thái Sơn, Phó Chủ nhiệm Cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh BĐBP, nguyên Tỉnh ủy viên, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh Trà Vinh.

– UBKT Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy BĐBP tỉnh Trà Vinh kiểm điểm nghiêm túc, rút kinh nghiệm, chỉ đạo và xem xét trách nhiệm, xử lý kỷ luật các tổ chức, cá nhân có liên quan đến các vi phạm nêu trên.

  1. Tiếp tục xem xét, xử lý kỷ luật một số cá nhân có liên quan đến vi phạm của Ban Cán sự đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật: Cảnh cáo đồng chí Nguyễn Nam Liên, Phó Bí thư Đảng ủy, Trưởng ban Tổ chức Đảng ủy Bộ, Bí thư Đảng ủy, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính. Khiển trách các đồng chí: Nguyễn Huy Quang, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ, nguyên Chủ nhiệm UBKT Đảng ủy Bộ, nguyên Bí thư Chi bộ, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế và Trần Quý Tường, nguyên Bí thư Chi bộ, nguyên Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, Bộ Y tế.

UBKT Trung ương đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật đồng chí Cao Minh Quang, nguyên Ủy viên Ban Cán sự đảng, nguyên Đảng ủy viên, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế.

III. Sau khi xem xét Báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh, UBKT Trung ương nhận thấy:

Ban Thường vụ Huyện ủy Cô Tô nhiệm kỳ 2020-2025 đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ, lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu thiếu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định về trách nhiệm nêu gương.

Đồng chí Lê Hùng Sơn, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Cô Tô vi phạm Quy chế làm việc, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, vi phạm nghiêm trọng phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định về trách nhiệm nêu gương, quan hệ bất chính với cán bộ thuộc quyền.

Những vi phạm nêu trên đã gây dư luận, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức Đảng, chính quyền và hình ảnh của người cán bộ, đảng viên.

Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm; căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật Cảnh cáo Ban Thường vụ Huyện ủy Cô Tô nhiệm kỳ 2020-2025 và đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật đồng chí Lê Hùng Sơn.

UBKT Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và việc thực hiện kỷ luật lao động.

  1. Xem xét Báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai, UBKT Trung ương nhận thấy:

Đồng chí Đàm Quang Vinh, Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Chánh Thanh tra tỉnh Lào Cai đã không trung thực trong việc báo cáo, kê khai lý lịch, sử dụng văn bằng không hợp pháp, vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và Quy định về những điều đảng viên không được làm.

UBKT Trung ương đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật đồng chí Đàm Quang Vinh; yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong công tác quản lý cán bộ.

  1. Xem xét kết quả giám sát một số tổ chức Đảng và đảng viên, bên cạnh những ưu điểm, UBKT Trung ương nhận thấy:
  2. Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy Sơn La còn có một số vi phạm, khuyết điểm, hạn chế, thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, để xảy ra một số vi phạm, khuyết điểm trong công tác quản lý, sử dụng đất đai và thực hiện các dự án đầu tư.

UBKT Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy Sơn La kiểm điểm nghiêm túc, rút kinh nghiệm, khắc phục kịp thời những vi phạm, khuyết điểm, hạn chế đã được chỉ ra; báo cáo kết quả về UBKT Trung ương.

  1. Ban Cán sự đảng UBND tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2016-2021 và đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban Cán sự đảng, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai có một số vi phạm, khuyết điểm trong việc tham mưu ban hành và tổ chức thực hiện Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng chỉ đạo, điều hành, quản lý việc thực hiện các dự án, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm trong việc quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai, đầu tư, đấu thầu và bảo vệ môi trường… Những vi phạm, khuyết điểm trên của Ban Cán sự đảng và đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban Cán sự đảng, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai cần được tiếp tục kiểm tra, làm rõ.
  2. Xem xét kết quả kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy và UBKT Tỉnh ủy; kiểm tra tài chính Đảng đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, UBKT Trung ương nhận thấy:

Bên cạnh những ưu điểm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và UBKT Tỉnh ủy Hải Dương còn có một số vi phạm, khuyết điểm, hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng và việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản của Đảng. UBKT Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy và UBKT Tỉnh ủy Hải Dương nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm, khắc phục kịp thời những vi phạm, khuyết điểm, hạn chế đã được chỉ ra.

Cũng tại kỳ họp này, UBKT Trung ương đã thảo luận, cho ý kiến về dự thảo Quy định của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm; Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2020 và xem xét, quyết định một số nội dung quan trọng khác.

ỦY BAN KIỂM TRA TRUNG ƯƠNG

Tháng Mười Hai 16, 2021

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 8:49 sáng

Tin mới nhận

Cụ Đoàn Di 84 tuổi được con út là Đoan Minh Tâm cho xem bài Thư của bạn Ngô Thị Hòa (https://phamquynh.wordpress.com/2021/11/11/thu-gui-ban-ngo-thi-hoa/) trên Blog PhamTon thì rất hài lòng.

Cháu Tâm gửi ảnh với chú thích hóm hỉnh: bố cháu cũng biết …thả tim.

Doan Di Tha Tim

Tháng Mười Hai 14, 2021

Chúc mừng năm mới 2022

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 5:01 sáng

Phụ mẫu dân hay là công bộc dân?

Filed under: Báo — phamquynh @ 5:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 1 năm 2022.

 PHỤ MẪU DÂN HAY LÀ CÔNG BỘC DÂN?

            Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là nguyên văn một bài Phạm Quỳnh viết đăng trên tạp chí Nam Phong số 102 (tháng 1 và 2 năm 1926) từ trang 1 đến trang 4.

Nhận thấy bài văn còn có tính thời sự trong tình hình hiện nay, chúng tôi mạnh dạn đưa lên Blog PhamTon  để bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo, dù đã quá xưa cũ, ngót 90 năm rồi còn gì…

Nhân tiện, cũng để biết hai chữ công bộc  đã được dùng khá lâu ở nước ta để gọi những nhân viên, quan chức chính quyền nhà nước tận lòng phục vụ nhân dân.

—o0o—

Theo cái lý tưởng cũ của Á Đông thời quan là “dân chi phụ mẫu”, nghĩa là quan đối với dân có cái oai quyền, có cái trách nhiệm, có cái bụng thương yêu chăm chút, dạy bảo ân cần, như cha mẹ đối với con cái vậy. Lý tưởng ấy là một lý tưởng gốc của xã hội cổ nước Tàu và nước ta theo về cái “chế độ gia trưởng”. Đứng đầu một nhà là người cha; đứng đầu một nước là ông vua, tức là cha chung cả nước; vua ủy quyền cho bách quan để trông nom việc nước, cai trị muôn dân, bách quan thay quyền thế mệnh vua, ở trong phạm vi quyền chức mình, cũng được cái địa vị tôn trọng, cũng có cái trách nhiệm lớn lao như vua; địa vị tôn trọng là được muôn dân kính trọng như cha như mẹ, trách nhiệm lớn lao là phải mưu sự hạnh phúc cho dân, như cha mẹ đối với con vậy. Nhà là cái đoàn thể thiên nhiên của trời đất dựng ra; nước chẳng qua là một cái nhà lớn, phạm vi có to tát hơn mà thể cách cũng vẫn là một. Thế gọi là cái “chế độ gia trưởng”, nghĩa là lấy gia đình làm khuôn mẫu cho cả quốc gia, cả xã hội, và định cái chủ quyền trong nước cũng như cái chủ quyền một nhà.

Về đời phong tục còn thuần hậu, việc nước còn giản đơn, dân trí chửa mở mang, nhân tâm còn chất phác , thời cái lý tưởng ấy rất là hay lắm. Nước ta cũng như các nước khác ở cõi Á Đông này, lập quốc là do cái lý tưởng ấy, mà xã hội ta giữ được bền chặt cho đến giờ cũng là nhờ ở cái chế độ ấy. Cho nên các tiên dân ta đều lấy đó làm điều cốt yếu trong cái công phu giáo hóa cho đời. Đối với kẻ cầm quyền thời lấy những cái gương các minh quân lương tể đời xưa mà răn dạy, khiến cho kẻ làm vua thời mong cho được cái đức cao ông thánh nhân như vua Nghiêu vua Thuấn, kẻ làm quan cũng cầu cho được cái tư cách bậc hiền nhân như Y Doãn Chu công. Còn đối với dân thời đã được những bậc thánh hiền như thế cầm cương nẩy mực, chỉ lối đưa đường, chỉ dạy cho cái nghĩa vụ biết phục tòng người trên, như ngọn cỏ theo gió, không phải khó nhọc gì, vì phàm người trên chủ trương thi thố là chỉ có một cái mục đích lợi ích cho người dưới mà thôi.

Ở cái thời đại Đường Ngu, cái xã hội Hi Hoàng như thế, thời cái chế độ gia trưởng ấy thật là hoàn toàn thích hợp.

Nhưng mà đời mỗi ngày một đổi, người mỗi lúc một khác, cuộc sinh hoạt càng phiền phức, lòng đạo đức càng suy vi, cái chế độ ấy dần dần không thích hợp nữa. Người trên đã không phải là thánh hiền cả, mà người dưới vẫn cứ phải phục tòng hoài, người trên tất lợi dụng người dưới để thỏa cái lòng tư dục của mình, bởi đó mà cái chế độ gia trưởng ở Đông phương đã biến hẳn ra cái chính thể chuyên chế. Đối với chính thể này thời vua quan là thần thánh, mà kẻ bình dân là trâu ngựa, đất bùn. Một bên gồm hết cả các quyền lợi, một bên không có một cái quyền lợi nào, đến cái quyền làm người cũng không được trọn vẹn, vì sinh mệnh tài sản của dân là ở trong tay kẻ cầm quyền cả. Chính thể ấy thật là trái với cái lý tưởng như trên kia; sở dĩ còn duy trì được là vì hai cớ: một là học thuật luân lý cũ chưa đến nỗi tuyệt hẳn, cho nên vua quan dẫu có kẻ xằng, nhưng cũng có người hay, đời đời kế tiếp được cái tinh thân lập quốc của tiên dân; hai là dân trí không có lối mở mang, chửa thoát li khỏi cái chế độ gia trưởng, đã trụy lạc vào cái chính thể chuyên chế, đời đời triền miên trong vòng khuôn hắc ám, trừ có cái phong trào nào ở ngoài tràn ngập đến mà lôi cuốn đi, không thời vĩnh kiếp mơ màng ở trong đám tối mà không mong được trông thấy ánh sáng mặt trời.

Ngày nay cái phong trào ấy ở Tây phương đã truyền tới đây, càng ngày càng mạnh, lay chuyển cả nền móng cái xã hội cổ nước Nam này. Nhất diện thời dân trí đã rạng mở, người dân đã biết coi mình là giống người, có nghĩa vụ mà cũng có quyền lợi, chứ không phải giống trâu ngựa ở dưới quyền vua quan nữa. Nhất diện thời cái học thuật cổ, cái lý thuyết cũ làm phương châm cho kẻ mục dân (vua, quan, “kẻ chăn dân” – PT chú), ngày nay đã tuyệt hẳn, kẻ làm quan bây giờ hầu coi luân lý đạo đức xưa như mớ giấy lộn, đống tro tàn, không ai muốn ngó tới nữa.

Thời thế đã thay đổi, lòng người đã khác xưa như thế, mà cái chế độ quan trường vẫn cứ giữ như cũ thì thể sao được? Quan vẫn muốn tự coi mình, dân cũng hãy còn coi quan là bậc “phụ mẫu dân” thì thật là trái hẳn với cái xu hướng đời nay. Không những trái với cái xu hướng đời nay mà lại là một sự giả dối không thực nữa. Dối mình, dối người, dối kẻ ngu dân mà lợi dụng cái oai thừa thủa trước, cái quyền hão bây giờ, để làm một cái kế doanh lợi riêng cho mình, ấy cái tâm lý tầm thường ấy đã làm cho một phần trong quan trường nước ta đắc tội với quốc dân nhiều lắm.

Cái tình trạng quan trường bây giờ thế nào, phàm người trí thức trong nước ai cũng đã rõ cả, không cần phải tả ra đây làm gì. Chắc người hay cũng có, nhưng kể dở không phải là không nhiều, và những thói tham ô có lẽ lại thịnh hành hơn cả từ xưa đến giờ. Có kẻ độc miệng đã nói một câu: “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”, lời tuy quá khắc, nhưng tưởng cũng có khi không sai vậy. Chính cụ Thân Trọng Huề năm xưa đã thuật lại câu ấy trong mấy bài “Chấn chỉnh quan trường” của cụ đăng trong báo này. Cụ là một bậc tai mắt trong quan trường,  mà trông thấy cái tệ của quan trường, cũng phải nóng lòng sốt ruột, lên tiếng hô hào, dùng những lời kích thiết để cảnh tỉnh bà con. Nhưng mà xem ra cũng là vô hiệu cả, cụ đã phải phàn nàn rằng cụ nói không khác gì như “người diễn thuyết ở giữa sa mạc” vậy. Là bởi quan trường ở nước ta ngày nay đã đến bậc không thể lấy sự đạo đức, sự nhân nghĩa mà chấn chỉnh được. Phải nhờ pháp luật của nhà nước, lời công luận của quốc dân, họa may mới chữa sửa nổi.

Về phần Chính phủ thì nay được quan Toàn quyền mới là tay lĩnh tụ một dân đảng lớn bên Đại Pháp, ba mươi năm nay ở Nghị viện vẫn giữ một cái chủ nghĩa bênh vực cho kẻ bình dân, kẻ lao động những phường tham quan ô lại, chắc không dung nào (là Alexandre Varenne, đảng viên Đảng Xã Hội Pháp, nghị sĩ, luật sư, nhà báo – PT chú). Mỗi lần có những thủ đoạn bác tước (bóc lột tàn tệ – PT chú), hay là những sự hành vi tệ lạm của bọn đó mà tố cáo tới tai ngài, chắc ngài sẽ hết sức trừng trị. Vậy ta có thể vững dạ trông mong ở cái bụng công minh của quan thủ hiến Chính phủ Bảo hộ, không sợ có kẻ tìm phương ủng tắc (che đậy sự thật – PT chú) vậy.

Nhưng cốt nhất là về phương diện quốc dân ta. Ông văn sĩ Marquet trong bài diễn thuyết về “Tiền đồ nước Nam” đã dịch trong bản chí một kỳ trước, có nói mấy câu như sau này, thật như vẽ được cái tâm lý của người dân ta đối với quan trường.

“… Quan trường nước Nam không ra gì, là dân An Nam cũng không ra gì: dân nào quan ấy, thật là đáng lắm… Tôi có biết nhiều ông quan làm việc đứng đắn và cũng muốn hết sức mưu sự lợi ích cho dân, chỉ vì dân gian lắm sự lôi thôi, nay tố tụng, mai kiện cáo, kiếm chuyện mà làm hại nhau, rồi cứ kìn kìn đem lễ đến cửa quan: thế là dân cũng xấu, chứ không phải một (như chỉ có – PT chú) quan xấu. – Nay muốn sửa đổi phải sửa đổi cả dân, vì dân không biết gì. Nếu cứ đổ tội cả cho mấy người đầu sở, thì chẳng hóa ra tiện quá dư? – vả lại các ông có muốn tôi nói thực một câu này không: mỗi người An Nam là một ông quang ngầm đó; ai cũng có cái hi vọng làm quan hết cả!”

Ấy cái thông tật của dân mình là đó. Dân xấu như thế thì trách chi quan chẳng ra gì. Nhưng mà quan trường đã không biết tự sửa, mà quốc dân vẫn cứ giữ mãi những cái thói mơ hồ như thế thì vận nước đến thế nào? Ngày nay những tư tưởng bình đẳng, tự do, cộng hòa, dân chủ, đã truyền bá sang nước ta. Những người có học thức, có tư tưởng, phải nhận lấy cái chức trách “tiên giác” (thức tỉnh trước – PT chú) mà đem những tư tưởng ấy giảng giải trong dân gian, khiến cho bỏ hết những cái thiên kiến hủ lậu từ trước đi, mà lập nhiễm lấy những điều hay lẽ phải thích hợp với thời thế bây giờ.

Một cái thiên kiến rất trái ngược với đời nay, và hiện còn phổ thông trong dân gian lắm, là cái thiên kiến coi quan là “dân chi phụ mẫu”, sợ quan như sợ cha mẹ, sợ thánh thần. Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế nên quan mới có kẻ tác ác tác hại được đến thế. Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế nên xã hội nước ta vốn là một xã hội rất bình đẳng, không có hạng quí tộc, không có hạng bình dân, nghiễm nhiên phân ra hai đẳng cấp: quan là kẻ có quyền, dân là kẻ không quyền, quan là kẻ ăn sung mặc sướng, xuống ngựa lên xe, dân là kẻ chân lấm tay bùn, dầu sương dãi nắng, quan là bọn “tư bản”, dân là bọn “lao động”! Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế, nên kẻ nào chưa được quan thì cầy cục cho kỳ được, kẻ nào đã được quan thì hết sức mà giữ lấy, cử quốc (cả nước – PT chú) đều xô đẩy nhau về một đường ấy, ngoại giả không còn có học vấn, không còn có tư tưởng, không còn có sự nghiệp, không còn có công danh gì nữa, bao nhiêu cái khôn cái khéo chỉ dùng để “ăn quẩn” lẫn nhau, diễn ra trong xã hội một cái bi kịch có thể gọi là cái bi kịch “gà què ăn quẩn cối xay!”

Ấy cái thiên kiến ấy là một thiên kiến phải mau mau mà trừ khử đi cho hết.

Quan ngày nay không phải là “dân chi phụ mẫu” nữa, chính là “dân chi công bộc” đó.

Công bộc! Công bộc! Công bộc là đầy tớ chung của cả nước. Xin ai chớ cho tên đó là đê tiện, chính là cái huy hiệu đẹp nhất ở đời này.

Quan Toàn Quyền Varenne trong bài diễn thuyết ở Hội đồng Chính phủ vừa rồi, đoạn viếng đức Khải Định có câu nói rằng: “Tôi thành tâm cảm động mà kính viếng vong linh đức Hoàng đế thủa sinh thời đã biết làm một người công bộc trung thành với nước nhà và một người bạn thân hết lòng với Bảo hộ.”

Phái hủ lậu, phái hương nguyện, nghe thấy gọi “Thiên tử” là “Công bộc” như thế, chắc rùng mình, sửng sốt, chép miệng, thở dài mà than rằng: “Đời này thật là đời luân thường đảo ngược thật!”

Không! Luân thường không đảo ngược gì cả, chỉ có tư tưởng người ta rộng ra hơn trước mà thôi. Tư tưởng người ta rộng ra hơn trước nên không mê tín những cái huy hiệu hão huyền nữa, biết rằng vua quan cũng là người như mọi người, cũng là con trong một nước cả, nếu có biết cúc cung tận tụy với nước, biết đem thân hi sinh cho nước, biết hết lòng thờ dân thờ nước, như người đầy tớ có nghĩa thờ ông chủ nhà có nhân, thời mới đáng tôn đáng trọng, chứ không phải chỉ đội một cái danh hiệu cũ, thừa sự mê hoặc của công chúng mà mong được ăn trên ngồi chốc người ta đâu.

Nhà văn nước Pháp đã nói rằng: Trong tiếng Pháp, không tiếng gì đẹp bằng tiếng Servir, nghĩa là “phụng sự”. Phụng sự là đem hết tài lực, hết tâm tư, mà thờ một cái chủ nghĩa, một cái lý tưởng cao, hoặc là thờ dân, hoặc là thờ nước, hoặc là thờ đạo, hoặc là thờ Trời, càng tận trung tận thành với cái tôn chỉ mình bao nhiêu, càng có công với đời bấy nhiêu. Duy đáng khinh đáng bỉ là những kẻ chỉ biết “thờ” cái lợi riêng của mình, phụng sự cái sự “Hà bao (hầu bao, túi đựng tiền – PT chú) chủ nghĩa” mà thôi.

Cho nên ở các nước văn minh người ra ngợi khen những kẻ có công với nước không tôn là “cha mẹ dân” bao giờ mà gọi là “công bộc nước” (serviteurs du pays). Ông quốc trưởng, ông quân chủ, chẳng qua là kẻ “đệ nhất công bộc” trong một nước mà thôi. Cái tiếng “công bộc” đó vẻ vang tốt đẹp biết dường nào!

Muốn làm một kẻ “Công bộc” cho xứng đáng, phải có sự nghiệp gì cho ích quốc lợi dân, không phải là dễ vậy. Chứ muốn bề ngoài giữ lấy cái hư danh “cha mẹ” dân mà bề trong làm “đầy tớ” riêng cho một ông “quan thầy” nào để mong che chở cho những sự hành vi bất chánh đáng của mình, thì thật là dễ lắm, mà cũng hèn lắm. Cho nên, ai ôi! làm “công bộc” mới khó,  chứ làm “tư bộc” vẫn dễ, làm “công bộc” mới danh giá, chứ làm “tư bộc” thật đê hèn!

Cái huy hiệu “công bộc” dã tốt đẹp như thế, cái địa vị công bộc đã vẻ vang như thế, các ngài trong quan trường ta không phải ngu gì mà không biết đem đổi cái tên “phụ mẫu” cũ rích kia lấy cái tên “công bộc” mới mẻ này. Các ngài làm như thế là tỏ ra người thức thời, một là cứu vớt được cái đoàn thể quan trường đương đắm đuối, hai là thuận được cái phong trào tự do bình đẳng đời nay và bớt được lòng oán giận của công chúng. Hồi Đại Cách mệnh nước Pháp, đảng quý tộc thấy lòng công phẫn của dân đã nổi lên, biết không sao địch nổi, bèn đồng lòng tự nguyện xin nhường lại cả các đặc quyền cho công dân; nhờ cái thái độ ôn hòa đó mà sau dân đảng với quý phái không đến nỗi xung đột nhau cho lắm. Gương mặt lịch sử đã rõ đấy, kẻ tri thức nên biết theo.

Còn về phần quốc dân ta thời nên nhận chân rằng nay đã đến cái thời kỳ “thay bậc đổi ngôi” đây, và từ giờ trở đi đối với quan trường không nên nệ theo cái tỉ lệ “phụ mẫu” nữa mà nên quyết theo cái tỉ lệ “công bộc”.

P.Q.

Văn hóa “công bộc”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 1năm 2022.

VĂN HÓA “CÔNG BỘC”

Hữu Thọ

(Bài đăng trên tạp chí Thời nay Xuân Giáp Ngọ 2014, trang 5 mục Góc nhin thời nay)

—o0o—

Ðầu năm thường nghĩ về văn hóa. Ðầu năm Ngọ này, mong muốn “Thần Mã” sải bước thiên lý cho nên thử bàn về “văn hóa công bộc”, “văn hóa đầy tớ” là văn hóa của cơ quan công quyền và văn hóa của cán bộ, công chức đang là một nội dung quan trọng về văn hóa hiện nay.

Ngày nay, chúng ta đều biết Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn xác định cán bộ, công chức là “công bộc”, là đầy tớ của dân. Nhưng có người hỏi “Bác Hồ xác định vị thế đó vào lúc nào?” thì trước đây trả lời câu hỏi này không dễ nhưng bây giờ có Toàn tập Hồ Chí Minh, lại có CD toàn tập thì có thể tìm thấy ngay.

Với các công cụ hỗ trợ, chúng ta có thể thấy rõ khái niệm đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên lần đầu trong bức thư gửi Ủy ban các kỳ, tỉnh, huyện, làng… Bắc Bộ ngày 7-10-1945, nói rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Nghĩa là chưa đầy hai tháng sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cán bộ, đảng viên phần lớn đều có chức có quyền trong bộ máy công quyền, vị thế “công bộc” của cán bộ, viên chức đã được xác định. Bức thư đó gửi Ủy ban các cấp ở Bắc Bộ nhưng lại đăng công khai trên báo Cứu quốc nghĩa là được công bố trước toàn dân, toàn Ðảng và đội ngũ cán bộ, viên chức cả nước.

Không chỉ trong những ngày khởi đầu của chính quyền mớBac Ho tham Vinh Phuci mà trong Di chúc dặn lại Người cũng nhắc nhở cán bộ, đảng viên, công chức phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân… Ðiều đó thấy rõ tư tưởng hết lòng vì nhân dân là tư tưởng xuyên suốt cuộc đời của Người, là nền tảng của đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ của nước Việt Nam mới.

Không những ở nước ta mà nhiều nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ của Ðảng và của dân tộc hết sức coi trọng việc giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên.

Ngay trong các bài giảng cho lớp thanh niên chuẩn bị thành lập Ðảng được tập hợp trong sách Ðường Kách mệnh thì bài đầu tiên là Tư cách người kách mệnh với 14 điều “tự mình”, năm điều “đối với người”, bốn điều “đối với công việc”. Những nội dung đó đều nhấn mạnh trách nhiệm với nhân dân, với đất nước, với đồng bào, đồng chí… nhưng theo tôi, khái niệm “công bộc”, “đầy tớ” của dân chưa được nhắc tới.

Ðiều đó có thể thấy rõ, vị thế “công bộc”, “đầy tớ” của dân chỉ xác định rõ khi chính quyền về tay nhân dân, là trách nhiệm đặc thù, cao cả, căn bản của những người cán bộ, đảng viên, công chức trong xã hội mới. Có nghĩa rằng không làm tròn trách nhiệm “công bộc” thì thực chất không xứng đáng là cán bộ, công chức của nhân dân.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có nhiều nội dung, trong đó có nội dung xây dựng văn hóa trong Ðảng, trong cơ quan nhà nước và các đoàn thể chính trị, nghĩa là văn hóa toàn bộ máy của hệ thống chính trị phải thấm nhuần “văn hóa công bộc”.

Như trong bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các Ủy ban Bắc Bộ cũng là với toàn quốc có trách nhiệm của cơ quan công quyền và trách nhiệm của cán bộ, công chức.

Các cơ quan công quyền của nhân dân là nơi đề ra các chủ trương chính sách và điều hành chính sách thì vấn đề cơ bản phải là “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh” theo lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi chủ trương cũng như thủ tục hành chính trong quá trình tiếp xúc với nhân dân đều lấy sự hài lòng của dân làm thước đo. Theo tôi nghĩ, đó là nội dung cơ bản văn hóa công bộc của các cơ quan trong hệ thống chính trị.

Với cán bộ, công chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là người đầy tớ của dân, không phải là nơi làm quan phát tài mà phải hết lòng vì nhân dân phục vụ, không tham ô lãng phí, phù hoa, xa xỉ, không được lên mặt “quan cách mạng”, hách dịch mà phải trọng dân, kính dân, thương dân, học dân, hỏi dân, nghe dân phê bình. Ngay từ thuở mới dựng nước, Bác Hồ đã nói tới sáu căn bệnh mà cán bộ, công chức cần đề phòng và đấu tranh khắc phục, nói gọn như sau: Tự cho phép mình làm trái pháp luật / Cậy thế cậy quyền coi thường dư luận, không nghĩ đến dân / Ăn tiêu xa xỉ / Tham ô, lãng phí / Tự tung tự tác, kéo bè kéo cánh, ban phát địa vị cho bà con họ hàng mặc dù họ không đủ năng lực và phẩm chất / Chia rẽ / Kiêu ngạo, vác mặt “quan cách mạng”, coi khinh dân gian, độc hành, độc đoán… Sau bức thư trong những ngày đầu cách mạng thành công, Người còn nói chuyện, viết nhiều bài báo để giáo dục đạo đức của cán bộ công chức và ba năm sau trong sách Sửa đổi lối làm việc, Người nói rõ thêm một số nội dung, nhưng tôi nghĩ những nội dung nêu trong bức thư của những ngày đầu thành lập chính quyền nhân dân là sâu sắc và dự báo rất sớm, rất chính xác. Tôi hiểu đó là nội dung văn hóa cơ quan công quyền, văn hóa cán bộ, công chức thể hiện “văn hóa công bộc, văn hóa đầy tớ” của bộ máy và cán bộ, công chức.

Khi nói về vị thế “công bộc”, “đầy tớ”, có đồng chí đã hỏi về vị thế lãnh đạo của Ðảng. Trong Di chúc, Người cũng yêu cầu Ðảng phải xứng đáng là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Vì Ðảng ta sinh ra từ lòng dân tộc, Ðảng ta chỉ có một mục đích duy nhất là phục vụ Tổ quốc và nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân, “thật sự là công bộc của dân”, đi sát thực tế, tôn trọng, chân thành lắng nghe ý kiến của nhân dân, thấu hiểu ước vọng của nhân dân thì sẽ làm giàu trí tuệ của Ðảng để có quyết sách đúng đắn và được dân tin yêu mới có thể trở thành “người lãnh đạo” thật tin cậy của nhân dân.

H.T.

Chút tình của anh Hữu Thọ

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:52 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 1 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

CHÚT TÌNH CỦA ANH HỮU THỌ

Phạm Tôn

Nhân kỷ niệm 96 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2021) báo Nhân Dân đăng trên trang nhất tin của Thông tấn xã Việt Nam Chủ tịch nước thăm nhà báo, gia đình nhà báo lão thành. Sau phần viết thăm nhà báo Đặng Minh Phương, bản tin viết:

“Chủ tịch nước đã tới thăm gia đình cố nhà báo Hữu Thọ, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, nguyên Tổng Biên tập báo Nhân Dân . Ông là một tài năng, là cây bút chính luận xuất sắc của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Trước khi qua đời vào tháng 5/2015, nhà báo Hữu Thọ đã xuất bản nhiều cuốn sách, trong đó cuốn Mắt sáng, Lòng trung, Bút sắc được nhiều người yêu thích, vì đấy được coi là ba yêu cầu cơ bản nhất của người làm báo. Đây cũng là những điều mà Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc luôn gửi gắm đến những người làm báo trong mỗi dịp kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam”.

Đó là tấm lòng và sự đánh giá của Đảng và Nhà nước ta với nhà báo lão thành Hữu Thọ. Còn với riêng tôi, cũng có những kỷ niệm riêng với Anh.

Tôi được biết Anh từ năm 18 tuổi, khi tôi làm bí thư chi đoàn Thanh niên Lao động Đội Thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân  có 12 thanh niên Hà Nội, chiều nào cũng đến trụ sở tòa soạn ở 71 Hàng Trống để thụ giáo về nghề báo sau buổi sáng cùng nhau đi bán báo từ 4 giờ sáng khắp đường phố, ngõ ngách và cả vùng ngoại thành Hà Nội. Hồi ấy, Anh làm ở ban Nông nghiệp theo dõi về hợp tác hóa, còn Anh Hà Đăng viết về sản xuất. Hai Anh đều chưa vợ. Sau này về làm nhân viên tập sự tổ Nhân Dân nông thôn, ở cơ quan gọi là Báo Con (vì chỉ nhỏ bằng nửa tờ Nhân Dân), mỗi tuần ra ba ngày, tôi hay tìm gặp Anh để hỏi về nông nghiệp. Hồi ấy, phóng viên trẻ như các Anh đều muốn nâng cao trình độ, mới liên hệ với trường Đại học Tổng hợp xin học hàm thụ ở khoa văn. Bọn bán báo chúng tôi cũng xin tham gia. Việc học hàm thụ chẳng đi đến đâu, nhưng nhờ đó gần gụi các Anh hơn. Rồi tôi được điều động sang nhà in Nhân Dân  làm ở tổ sửa bài, thường chú ý đọc bài anh viết. Rồi lại dự thi vào đại học y dược, trúng tuyển vào Học viện Nông Lâm, cùng lớp với anh Nguyễn Văn Hòa. Hôm Anh Hữu Thọ vào học viện viết bài có ghé thăm anh ấy, tôi mới biết anh Hòa có bút danh Hòa Bình, trước cũng ở báo Nhân Dân . Sau này tốt nghiệp, nghe nói anh Hòa làm giám đốc Nông trường Thành Tô.

Rồi vì bị lao, tôi xin thôi học đầu năm thứ ba. Năm 1965, bắt đầu làm việc ở cảng Phà Đen. Cuối năm 1972, anh Thép Mới người khai sinh và chỉ đạo Đội bán báo chúng tôi từ chiếntrường miền Nam trở về, lại đưa tôi về tòa soạn báo làm ở phòng Tư liệu. Hồi ấy, tôi chuyên dịch tiếng Pháp các sách về nghề báo. Một lần Anh Hữu Thọ gặp tôi hỏi tên tiếng Pháp của bản tôi dịch Kỹ thuật nghề báo là gì, tôi mới biết trước khi tôi trở lại,các bản dịch đã lưu truyền trong cơ quan.

Sau 1975, tôi vào Sài Gòn làm ở cơ quan thường trực của báo từ ngày thành lập, vừa giúp anh Thép Mới về tư liệu, vừa nấu ăn theo phiên như các bạn, rồi khi cần thì cho đi viết bài. Cứ như thế cho đến khi nhiều bệnh mới phát sinh, cơ quan cho nghỉ để chữa bệnh. Tây y chê, thì chuyển sang Đông y, không thuộc bảo hiểm y tế, phải tự lo lấy để cứu mạng mình, cơ quan thỉnh thoảng cũng trợ cấp ngoài chế độ. Thành ra lâu năm tôi không có dịp gặp Anh, dù Anh có vào Thành phố Hồ Chí Minh và đến cơ quan. Vì tôi có mấy khi sang cơ quan đâu. Hồi này vợ tôi Lê Thị Đông đã về làm kế toán trưởng ở cơ quan.

Năm 1991, đám tang Anh Thép Mới tại Thành phố Hồ Chí Minh, Anh có vào, tôi thấy nhưng chỉ ra dấu chào, không bắt tay như với anh Hồng Hà có đến bên hỏi thăm tôi.

Mãi đến mồng chín Tết năm Quý Dậu tức ngày chủ nhật 31/1/1993, Anh Hữu Thọ bấy giờ đã là Tổng Biên tập báo Nhân Dân cùng một bạn phóng viên thể thao cùng đội bán báo với tôi năm xưa và Nguyễn Hữu Vân sống cùng khu tập thể ở 82 Lý Chính Thắng, lên thăm căn gác nhỏ gia đình đang sống, tôi mới lại gặp Anh. Tôi thưa với Anh và hai bạn là hiện nay, tôi bị bệnh nặng, nhưng chưa  rõ có cách chữa không vì ngay đến tên bệnh còn chưa xác định được, thì vụ tổ chức cơ quan đưa ra cho hai lựa chọn, một là về mất sức,hai là thôi việc. Tôi chọn thôi việc cốt tránh lùm xùm do cơ quan giám định y khoa làm sao xác định được bệnh khi chính giáo sư nổi tiếng Đặng Văn Chung đã khám tôi hai buổi với rất nhiều xét nghiệm chiếu chụp cũng chỉ xác nhận là bệnh rất nặng, sẵn sàng giới thiệu đi chữa bệnh ở nước ngoài nếu có điều kiện. Tổ chức cơ quan ở Hà Nội gợi ý anh Tấn Thọ phụ trách cơ quan ép hội đồng giám định nhận xét là tôi mất sức 61%, làm anh rất ngại, nên cũng khuyên tôi thôi việc. Vì thế, tôi đã viết tay đúng bốn chữ: Tôi xin thôi việc. Thế là mọi chuyện xong ngay, tôi nhận được số tiền tính theo 28 năm công tác, mà vợ tôi sợ tiền mất giá đi mua ngay vàng được vừa đúng sáu chỉ.

Hữu Vân thương tôi, cứ nhắc lại hồi anh ấy mổ dạ dày ở bệnh viện Bình Dân, tôi lo cho bạn ấy chu đáo từ chọn bác sĩ Văn Tần giỏi nhất viện mổ đến các tiêu chuẩn được hưởng đến mức tối đa. Còn đồng đội cũ thì nói Tết có Tổng biên tập đến thăm tận nhà , không phải kêu là chẳng ai quan tâm. Tôi buột miệng: Mồng 9 rồi còn Tết gì nữa.

Chẳng biết lời hai bạn có ảnh hưởng đến Anh thế nào, chỉ thấy khi chia tay, Anh bảo: cứ yên tâm điều trị. Tôi thật lòng cảm ơn Anh.

Hôm sau, Lê Thị Đông vợ tôi đem về cho một tờ giấy kẻ ô nhỏ, chữ Anh Hữu Thọ viết những dòng như sau: Thân gửi chị Yến (Chị Yến là thủ quỹ) Tôi đã thảo luận với anh Kiến Phước (tức anh Nguyễn Tấn Thọ) đề nghị chị chi 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đưa tới anh Thành theo tiêu chuẩn anh em cơ quan ta nghỉ. Tôi cũng nói với Kiến Phước viết thư xin lỗi anh Thành. Và từ nay, khi cơ quan có tiêu chuẩn biếu các đồng chí về hưu, mất sức và về nghỉ thì cần nhớ tới anh Thành. (Xóa hai chữ: mong chị) 1/2/1993 (ký tên) Hữu Thọ”.

Rồi sáng thứ bảy 6/2/1993, anh Kiến Phước và chị Liên Nga, phóng viên, tổ trưởng công đoàn, mang thư xin lỗi viết rất lễ độ, chữ to, rõ ràng kèm tấm thiếp chúc Tết của cơ quan và 100.000đ với lời nói: “Mong anh vui lòng nhận cho

Tất nhiên việc ngoài nguyên tắc tài chính này chỉ diễn ra đúng một lần. Nhưng tôi không bao giờ quên chút tình của anh Hữu Thọ và của cả anh Tấn Thọ nữa.

Tôi mong những ai chức trọng quyền cao cũng có chút tình như anh Hữu Thọ.

Tôi còn nhớ mãi lời Anh hai lần nhắc tới Anh Thép Mới trong một cuộc giao lưu trực tiếp với các nhà báo  trẻ nhân Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam trên VTV1. Hồi ấy, Anh đã là thần tượng của giới báo chí sau khi xuất bản nhiều cuốn sách về nghề báo, nhất là cuốn Mắt sáng, Lòng trong, Bút sắc. Khi nói về những năm đầu từ tuyên huấn một huyện thuần nông lên nhận việc ở báo Nhân Dân năm 1957 anh kể thành thật là lần dầu viết một cái tin nhỏ sau bị ban biên tập bảo không dùng được, anh đã tính về lại nghề cũ ở huyện nọ. Chia sẻ với Anh Thép Mới, người đàn anh không hơn mình mấy tuổi đời (Thép Mới sinh năm 1925, Hữu Thọ sinh năm 1932) thì bị phang ngay một câu thuần Việt: Cái nhà anh này, chán bỏ mẹ! Mới viết lần đầu mà đã muốn bỏ cuộc! Lần sau, được giao đi viết bài tường thuật, lại bị bảo không dùng được vì bài chẳng ra bài, tin không ra tin. Lại tâm sự, định nói lời chia tay vì thấy là mình không hợp với nghề báo thì lại bị Anh Thép Mới phang cho ngay một câu thuần Việt nữa: Cái anh này, chán bỏ mẹ! Chưa chi đã bỏ chạy!

Nhờ lời chê chân tình của đàn Anh mà Anh Hữu Thọ trụ lại với nghề.

Tôi càng quí và phục Anh Hữu Thọ hơn ở chỗ dám nói những chuyện mà nhiều người nổi tiếng không muốn ai nhắc lại bước chập chững vào đời của mình. Cứ như từ khi lọt lòng mẹ đã là Siêu Nhân, chưa bao giờ, tè dầm ị đùn cả!

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/9/2021 mùa Covid-19

giãn cách chặt toàn dân quyết thắng đại dịch.

P.T.

Tháng Mười Hai 9, 2021

Cô sinh viên Vũ Tôn Thiên Châu nhận giải thưởng ở Cát Bà

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:14 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 12 năm 2021.

Tin mới nhận

CÔ SINH VIÊN VŨ TÔN THIÊN CHÂU CÙNG NHÓM CÁC BẠN SINH VIÊN KHOA KIẾN TRÚC VÀ QUY HOẠCH TRƯỜNG ĐHXD HÀ NỘI NHẬN GIẢI THƯỞNG CUỘC THI Ý TƯỞNG THIẾT KẾ CẢNH QUAN HAI BÊN BỜ SÔNG – GIAI ĐOẠN 1 KHU DU LỊCH ĐÔ THỊ CÁI GIÁ – CÁT BÀ

Vũ Tôn Thiên Châu là chút ngoại của học giả Thượng Chi Phạm Quỳnh, cháu ngoại của Kiến trúc sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tôn Thất Đại, con gái thứ của Thạc sĩ, Kiến trúc sư Tôn Ánh Hồng, hiện đang là sinh viên năm cuối của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch trường ĐHXD Hà Nội. Vừa qua, ngày 03/12/2021, tại Cung Triển lãm Kiến trúc Quy hoạch Xây dựng Quốc gia, nhóm sinh viên Kiến trúc, trong đó có Châu đã được nhận giải Nhì tại cuộc thi Ý tưởng thiết kế cảnh quan hai bên bờ sông – Giai đoạn 1 Khu đô thị Du lịch Cái Giá, Cát Bà.

Ông quả là Người nặng lòng với nước

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 8:05 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 12 năm 2021.

ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đó là tên hai bài Phạm Tôn tôi viết gửi dự Cuộc Trao đổi – Ý kiến về trường hợp Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh trên tạp chí Hồn Việt (từ tháng 8 đến tháng 11/2008). Bài thứ nhất được đăng trên số 15, tháng 9/2001, nhưng đổi nhan đề thành Ông Phạm Quỳnh quả là người nặng lòng với nước. Bài thứ hai đăng trên số 17, tháng 11/2008, lại được đổi nhan đề là Phạm Quỳnh, cuộc phiêu lưu không tránh khỏi bi đát… Nhưng sau đây, chúng tôi đăng lại nguyên văn hai bài trên theo đúng nhan đề và toàn văn bài đã gửi cho Hồn Việt. Đó là theo đúng lệ của blog chúng tôi: chỉ đăng nguyên văn theo đúng bản gốc, chưa bị ai – ngoài tác giả – biên tập, sửa chữa.

*

*       *

Nhân đọc bài “Ông Phạm Quỳnh và báo Nam Phong” của Đặng Minh Phương (Tạp chí Hồn Việt số 14. Tháng 8 2008)

Nhà báo lão thành Đặng Minh Phương tỏ ra có con mắt tinh đời khi trích dẫn đoạn văn sau đây: “Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để rồi lấy danh nghĩa chính phủ Nam triều đòi Pháp phải trở lại hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực tình là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm”. Đó là một đoạn văn có trọng lượng trích trong tác phẩm Đời viết văn của tôi của nhà văn Việt Nam nổi tiếng Nguyễn Công Hoan, phần ông viết rõ lý do vì sao ông viết nên thiên kiệt tác Kép Tư Bền: Đó là vì ông thương…Phạm Quỳnh! (Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, năm 1971). Có điều đáng tiếc là nhà báo lại gán đoạn đó cho Phạm Tôn, khiến cho Phạm Tôn mang tiếng “đạo văn” khi ông viết: “ông Phạm Tôn trên báo Xưa và Nay tháng 9-2006 viết” trước khi đưa ra đoạn văn trên. Sau đoạn văn trên ông còn thòng thêm một câu hóm hỉnh: “(xin được lưu ý ông Phạm Tôn là ông Phạm Quỳnh từng nói nước ta còn mà!)”. Quả tình Phạm Tôn tôi thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn, không có hiểu biết, cũng không đủ tầm cỡ để viết những dòng nặng ký như thế… Nhưng nhân được người trên quan tâm như vậy, chúng tôi cũng xin bày tỏ vài điều chân thật, không phải ai cũng biết cả.

Phạm Quỳnh là con nhà nho, cháu nhà nho, chắt nhà nho, mà đều là nhà nho nghèo, loại hàn sĩ cả. Từ cụ Dưỡng Am Phạm Hội (trích Gia phả họ Hoàng Đạo- Phụ: bên ngoại, do rể: Hoàng Đạo Thành bái ghi, môn đệ tử: Tô Ngọc Huê thủ thức, tôn sinh: Ngô Văn Dạng phụng viết, Hoàng Đạo Thúy kính dịch từ chữ Hán) đến ông nội rồi cha đẻ đều dạy học mà không thu học phí, chỉ sống với những gì học trò đem biếu, khi thì thúng gạo, rổ khoai, lúc con gà, con cá, mớ rau. Chín tháng mất mẹ, bà nội và bà cụ tú cho hưởng thừa tự phải bế đi bú chực nhà hàng xóm. Rồi chín tuổi mất cha, gia đình khốn khó, hai cụ phải bòn những quả ổi, quả bồ hòn trong vườn nhỏ sau nhà đem bày bán trước cửa cùng mớ hàng xén lặt vặt để có cái cơm cháo qua ngày nuôi cháu khôn lớn. Sau đó lại lo cháu “Không có cái chữ thì làm sao sống được với đời”, bèn cho theo học trường tiểu học Pháp Việt mới mở ở phố Hàng Bông gần nhà (Hoàng Đạo Thúy: Phố phường Hà Nội xưa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2000). Chỉ vì ở đấy học không mất tiền. Rồi tiếp đến lại học Trường Thông ngôn (Collège Des Interprètes) ở bờ sông Hồng, cũng lại vì học ở đấy không mất tiền!

Nghèo khổ như thế lại ham học và có hiếu với hai bà cụ, Phạm Quỳnh chỉ mong cố gắng học để đổi đời, đền đáp ơn hai bà nuôi dạy. Mặt khác “Ông, cha Phạm Quỳnh có liên hệ mật thiết với các tổ chức Cần Vương, Phục Việt chống Pháp đương thời (…) Vì thế, không lạ gì chuyện cậu thanh niên Phạm Quỳnh đã nhiệt tình tham gia ủng hộ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, tham gia bãi khóa ngay tại Trường Thông ngôn, phản đối đàn áp Đông Kinh Nghĩa Thục, bắt giam các sĩ phu yêu nước đến nỗi đã từng bị Pháp bắt giữ, năm mới 15 tuổi” (Mạc Kinh: Nỗi oan khiên của học giả Phạm Quỳnh, trong tập Giải oan lập một đàn tràng, Cơ sở xuất bản Tâm Nguyện, phát hành lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2001). Sau đó được thả ra vì thấy là người không thuộc tổ chức hội kín nào cả (Sự tình cờ của lịch sử đã khiến con thứ mười của Phạm Quỳnh là Phạm Thị Hoàn sau này lại lấy nhạc sĩ Lương Ngọc Châu cháu nội cụ Lương Văn Can vị chủ soái của Đông Kinh Nghĩa Thục).

Năm 1908, đỗ thủ khoa trường Trung học thuộc địa (Collège Du Protectorat) tức trường Bưởi, nay là trường Chu Văn An, Phạm Quỳnh được tuyển vào làm nhân viên Trường Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise d’Êxtrême – Orient). Tại đây do yêu cầu công việc, Phạm Quỳnh phải tự học Hán văn đến mức đọc và viết được văn chữ Hán. Trường Viễn Đông Bác Cổ là cả một kho tư liệu sách vở, “kho báu tri thức’ cho chàng trai hiếu học, yêu nước, thiết tha với lịch sử cha ông. Phạm Quỳnh đã tìm trong mớ giấy bản phủ bụi và tìm ra những áng văn thơ yêu nước. Ông đọc, chọn lọc trong sách Lệ ngữ Văn tập rồi dịch ra Pháp văn, đưa đăng trong tạp chí của Trường Viễn Đông Bác Cổ như tài liệu tham khảo lịch sử hai bài của Nguyễn Viết Lụy tế các tướng sĩ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Từ đấy hai bài này mới được người đời biết đến (Hoàng Đạo Thúy: Nhà họ Phạm Lương Đường và chủ bút Phạm Quỳnh, bài viết theo yêu cầu của Viện Văn học ngày 5-12-1992).

Từ 1913, hai mươi tuổi, Phạm Quỳnh đã thử sức trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh với những bài khảo cứu, bình luận văn học nghệ thuật. Đến 1917, mới 24 tuổi nhưng đã có thâm niên 9 năm công tác nghiên cứu viết lách, ông chớp thời cơ nhận làm chủ bút phần quốc ngữ tạp chí Nam Phong, giành lấy cho mình và những người cùng chí hướng, yêu nước, đặc biệt yêu tha thiết tiếng ta, có chỗ để thi thố tài năng, góp sức xây dựng nền quốc học, mở mang dân trí, tăng tiềm lực cho đất nước sau này. Trên tạp chí Nam Phong, ngoài những việc không thể không làm trong một tờ báo mà thực tế là do người Pháp chi tiền và điều hành, ông đã khôn khéo đăng những bài văn yêu nước của người xưa và cả người đương thời, những bài về lịch sử chống ngoại xâm,v.v… làm nên cả một bộ bách khoa thư về lịch sử và đời sống Việt Nam phong phú. Cũng từ đó tập hợp được lực lượng yêu quốc văn, yêu quý lịch sử nước nhà, tạo điều kiện cho biết bao thanh niên nâng cao hiểu biết về nhiều mặt đời sống, vun bồi thêm lòng yêu nước sẵn có trong họ.

Năm 1925 Phan Bội Châu bị Pháp bắt ở Thượng Hải (Trung Quốc) rồi đưa về Hà Nội giam ở nhà tù Hỏa Phan boi chau (tre)Lò, đem ra xét xử ở Hội đồng Đề hình là tòa án thực dân tàn bạo nhất thời ấy. Tất nhiên, kẻ đứng ra xét xử đều là người Pháp. Hơn nữa, dư luận người Pháp ở Đông Dương cũng như ở chính nước Pháp sẽ có tác động rất lớn, có thể nói là quyết định đối với vụ xử án này. Vì thế ông đã không phát biểu chính kiến trên Nam Phong, mà trên một tờ báo của Pháp có ảnh hướng rất lớn hồi bấy giờ. Hơn nữa viết trên báo tiếng Pháp thì tự do hơn, có thể trình bày hết ý mình, vì thời ấy báo tiếng Pháp không bị kiểm duyệt. Ông cho đăng trên tờ Indochine Républicaine bài lên tiếng công khai bênh vực Phan Bội Châu, yêu cầu khoan hồng cho nhà chí sĩ chỉ có “một tội” là “tội yêu nước như bất kỳ người Pháp nào yêu nước Pháp” (Chính Đạo: Hồ Chí Minh con người có huyền thoại, tập 2, 1925-1945, Văn hóa, Houston, Mỹ, trang 49, chú thích 8). Sáu tháng sau ngày bị bắt, 8 giờ 30 phút ngày 23-11-1925, Hội đồng Đề hình xử vụ Phan Bội Châu. “Hội đồng Đề hình Pháp cho là: trong 8 tội đó có 6 tội đáng phạt đi đầy, 1 tội đáng khổ sai chung thân và một tội đáng tử hình (theo Bùi Đình: Vụ án Phan Bội Châu, NXB Tiếng Việt, Hà Nội, 1950). Tuy vậy, có lẽ vì sợ hậu quả của vụ án mà tới lúc này họ chưa thể lường được nếu xử tử hình Phan, nên vào phút chót sau một ngày xét xử, hội đồng này đã tuyên án Phan khổ sai chung thân (Nguyễn Quang Tô: Sào Nam Phan Bội Châu con người và thi văn, tủ sách Văn học, bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên, Sài Gòn 1974).

Năm 1932, Phạm Quỳnh nhận vào Huế tham gia quPham Quynh_Trean trường với ý nghĩ ngây thơ là có điều kiện để những điều mà trước nay mình chỉ có thể luận bàn trên trang giấy và bằng lời nói thì nay có cơ thực hiện được. Mười ba năm ông làm quan thì có tới hơn chín năm làm Thượng thư Bộ Học. Ông kiên quyết chủ trương người Việt phải học tiếng Việt đã, chống lại chủ trương thịnh hành thời ấy là cho học ngay tiếng Pháp từ vỡ lòng “vì là thần dân của Đại Pháp thì học tiếng Pháp sớm ngày nào hay ngày nấy, dù sao rồi cũng ra làm việc cho Tây”. Ông cố gắng rất nhiều, nhưng mới chỉ thành công ở mức bắt buộc phải học tiếng Việt đạt bằng Sơ học yếu lược mới được thi tốt nghiệp tiểu học.

Năm 1933 mới làm quan được một năm ông đã viết thư cho Lu-i Mác-ti (Louis Marty) là giám đốc chính trị tùng sự tại phủ toàn quyền Đông Dương, cũng là “bạn cũ” đồng sáng lập tạp chí Nam Phong, để bênh vực một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi, nhờ Lu-i Mác-ti can thiệp giảm án. Trong thư đề ngày 18-1-1933, Phạm Quỳnh nêu rõ ông (ở Huế) viết thư này để giới thiệu em vợ là ông Lê Xuân đến gặp Lu-i Mác-ti ở Hà Nội, trình bày một việc bà mẹ vợ Phạm Quỳnh yêu cầu ông nhờ Lu-i Mác-ti giúp đỡ. Đó là vụ một chiến sĩ cộng sản 18 tuổi tên là Nguyễn Công Nghi bị bắt ở Kiến An vì một vụ “âm mưu Cộng Sản”, đã bị tòa án Kiến An kết án tù chung thân và hiện nay đang bị giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội, sắp bị đầy đi Côn Đảo, thậm chí đầy đi ngoài xứ Đông Dương. Anh này là em ông Nguyễn Công Kính, chủ hãng thuốc lào Giang Ký danh tiếng ở Hà Nội , một người giàu có, đáng kính và có vai vế trong xã hội, lại là người có ân nghĩa lớn với gia đình vợ Phạm Quỳnh. Ông trình bày sơ qua vụ này và đề nghị Lu-i Mác-ti can thiệp, còn gợi ý nếu không thể tha được (Vì ông tin là anh ta vô tội) thì cho đi tù ở gần Hà Nội hoặc ít nhất cũng là vùng Bắc Bộ, đừng bắt đi Côn Đảo hay những nơi quá xa xôi. Vì gia đình ấy, ông anh cả không có con chỉ trông vào anh ta kiếm con trai nối dõi, mà anh lại cHoang Hy Nguyenhưa có vợ; không được thăm nuôi thì gia đình rất lo lắng, v.v… Ông cố hết sức dùng tình cảm riêng thân mật lâu năm với Lu-i Mác-ti để xin xử nhẹ tay với người cộng sản trẻ này. Tư liệu này chúng tôi được đọc là do sau khi Lu-i Mác-ti chết, bà vợ thấy có bút tích của Phạm Quỳnh, đã gửi lại cho bà Phạm Thị Ngoạn, con gái ông cũng là tiến sĩ Xoóc-bon (Sorbonne), Pa-ri, tác giả luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction Au Nam Phong)

Ông Phạm Tuân con trai út Phạm Quỳnh sinh năm 1936, đến nay (2008) còn nhớ rất rõ và kể cho người viết bài này kỷ niệm khó quên thời thơ ấu, đặc biệt là những ấn tượng lạ lùng về những lần được thân phụ dẫn đi thăm “ông già điên” ở túp lều tranh bên bến Ngự. Năm ấy ông mới lên bốn.

Các buổi chiều, cơm nước xong, thường bác tài Mai hỏi: “Chú Miềng (chú mình, nói trại giọng miền Trung) có theo Cụ đi chơi không…Hôm nay Cụ lại đến “ông già điên đây”. Ông nhớ hồi đó không biết người ấy là ai nhưng gặp thì thấy hiền hậu, dễ thương, hay hỏi chuyện trẻ con dễ hiểu mà cũng dễ trả lời, nên ông thường bám xe đi theo cha luôn. Cha và ông già ăn mặc xuềnh xoàng, râu tóc dài, xơ xác thường vào trong nhà nhỏ to trò chuyện một lát rồi ra về. Vẻ thân mật lắm, nhất là lúc mới đến và khi sắp ra về. Cuối năm ấy ông già mất, ông Tuân mới nghe cha nói đó là Cụ Phan Bội Châu.

Ngày 24-12-1925, một tháng một ngày sau hôm xử án tại Hà Nội kết án khổ sai chung thân thì toàn quyền Va-ren (Varenne) vốn là Đảng viên Đảng Xã Hội Pháp ký quyết định “ân xá Phan Bội Châu. Tuy “được ân xá”, nhưng, thật ra ông bị giam lỏng ở bến Ngự (Huế), bị mật thám theo dõi, kiềm chế mọi hoạt động. Ông dựng một túp lều ở bến Ngự và sống ở đấy suốt 15 năm cuối đời. Nơi đâPhan boi chau (gia)y biến thành nơi tập trung của thanh thiếu niên và học sinh Huế, tới để yết kiến, chiêm ngưỡng vị anh hùng dân tộc. Nơi đây cũng thường lui tới một số công chức còn nặng tình dân tộc, sùng bái các vị anh hùng, vĩ nhân đã hiến trọn cuộc đời cho đất nước (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

Biết cảnh sống khó khăn của Phan Bội Châu, nhiều người đã gửi ngân phiếu nặc danh giúp ông tiền bạc, nhiều đến nỗi Phan Bội Châu bị phiền hà. Ông đã phải buộc lòng từ tạ bằng một bức thư với lời lẽ chân tình tha thiết. Trùm mật thám Trung kỳ Xô-nhi (Sogny) đã bủa một mạng lưới mật thám dày đặc bao vây túp lều bến Ngự. Mà hồi ấy, theo như chính lời Phan Bội Châu nói (do Lạc Nhân, nguyên thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân ghi lại đăng trên báo Tiếng Dân năm 1933) thì: “Tôi không hề kêu ca, nhưng trong nhà nhiều miệng ăn, nào là các đồng chí đi đầy về đã quá già, không biết làm gì để sống, cũng phải tới đây chung sống với tôi, nào con cháu các đồng chí, kẻ chết chém, người chết trong lao, tôi phải nuôi dưỡng vì không biết bỏ cho ai bây giờ”. Trong số đó có Phạm Công Nguyệt con trai độc nhất của liệt sĩ Phạm Hồng Thái, chưa từng được biết mặt cha. Anh được Phan Bội Châu nuôi cho ăn học tại trường Khải Định Huế đến Nha Phan Boi Chauđỗ tú tài triết học. (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

Ngày 29-10-1940, Phan Bội Châu mất, thọ 74 tuổi. Mai táng trong chiều ngày kế tiếp, theo đúng di chúc của Cụ. Ngoài những người thường ngày gần gũi bên cụ, không mấy ai dám lai vãng, sợ ty Liêm phóng theo dõi rầy rà. Theo Nguyễn Quang Tô: “hàng trăm, ngàn câu đối, văn tế được gửi trực tiếp đến nhà hoặc đăng báo, hay truyền tụng miệng cho nhau nghe… tạo thành một bầu không khí bi hùng tràn ngập khắp Trung Nam Bắc. Một số người còn gửi tiền về tòa soạn báo Tiếng Dân nhờ lo xây dựng phần mộ. Lại có những người thuộc hạng “tai to mặt lớn” đã phải lén lút chui lòn cửa sau nhà Phan để được tới trước bàn thờ Phan dâng điếu lễ và tấm lòng kính mộ.”

Không biết trong số những người “gửi ngân phiếu nặc danh”, “gửi tiền nhờ báo Tiếng Dân”, “lén lút chui lòn cửa sau” có Phạm Quỳnh không? Tôi nghĩ, công bằng mà nói, khó có thể trả lời dứt khoát là không.

Bởi, chỉ cần xua đi lớp bụi thành kiến kì thị dầy đặc đã chôn vùi cuộc đời ông suốt hơn nửa thế kỉ qua, ta thấy ngay ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC.

Những dòng tôi viết trên đây chỉ là nhân đọc bài của nhà báo lão thành Đặng Minh Phương mà nghĩ tới thôi, hoàn toàn không có ý trả lời, thảo luận hay tranh luận gì cả. Tôi viết chỉ là vì tâm đắc với L.T.S in trước bài ông là: “đánh giá công minh người và việc của quá khứ là việc khó. Nó cần rất nhiều điều kiện mà trước hết cần chỗ đứng nhìn, cần hiểu bối cảnh lịch sử và tư liệu lịch sử…Ngày nay chúng ta cần có thái độ cởi mở khoan dung, gạn lọc công bằng…nhưng cũng không được làm đảo lộn lịch sử, lờ mờ thật giả, đưa đến sai lệch nguy cơ cho lịch sử và cho cả hiện tại”

 Ngày 8-8-2008

Phạm Tôn

 Chú thích những chữ in trên giấy Phạm Quỳnh dùng viết thư cho Lu-i Mác-ti:

    • Bằng tiếng Pháp:
      • Palais Inpérial: Hoàng Cung
      • Cabinet Civil de Sa Majesté: Ngự tiền Văn phòng
    • Bằng chữ Hán:
      • Ngự tiền Văn phòng dụng tiên: Giấy viết thư Ngự tiền Văn phòng dùng

Thu gui Louis Marty

Tiền tuyến đã rất gần

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 7:27 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 12 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI- Một truyện ngắn ra đời (phần 17)

Tiền tuyến đã rất gần

Phạm Tôn

Ăn cơm trưa xong, tôi khoan khoái ra sân, nhìn qua giàn mướp trĩu quả xanh mát ngắm bầu trời xanh ngắt bồng bềnh mây trắng lững lờ trôi. Từ trong một đám mây trắng, hai chiếc máy bay trắng bạc bay ra. Tôi tưởng máy bay ta đi tuần như mọi ngày để yên lòng dân nên gọi mọi người còn trong văn phòng Đội 5 ra xem. Nhưng không phải hai mà ba, bốn rồi năm máy bay tuôn ra từ mây trắng, bắt đầu bắn xối xả xuống cầu Long Biên, một tên lửa cắt đứt một nhịp cầu. Công nhân đội 5 tôi số đông là phụ nữ vẫn tiếp tục làm việc như thường. Hai máy bay Mỹ bị hạ. Hôm sau là 12/8 phải xuống hầm mới làm việc được. Cả ngày bảy máy bay bị hạ, nhân dân Hà Nội hả dạ. Tối về nhà gặp một bạn từ Nam Hà lên chơi, rủ bạn đi xem phố, chẳng mua được gì thết bạn cả. Đêm, ngủ rồi em Thân dạy học ở Đông Anh mới về, phải qua sông bằng tàu há mồm. Hôm sau là chủ nhật văn phòng Đội 5 vẫn làm việc, công nhân thêm tin tưởng, vẫn đi làm đầy đủ. Hơn 11 giờ đêm mới nghỉ. Ven sông tấp nập người người chờ sà lan, tàu thuyền, phà sang ngang mặc dù các phương tiện này vẫn hoạt động cả ngày lẫn đêm. Thế mới biết vai trò của cầu Long Biên lớn đến thế nào.

Tối ngồi hóng mát ở bờ sông với cụ Sán, cụ cho biết là có chuyện bên Đoàn thanh niên xin mình về, chú Tân sẽ thay mình làm việc hiện nay. Mình nói không muốn đi thì cụ bảo nếu anh cố tình ở lại sẽ có khó khăn. Vẫn là chuyện nghi ngờ này  nọ, là điều mình luôn chú ý nhưng chẳng coi là chuyện gì to tát. Lúc ấy cụ mới nói là muốn giữ mình ở lại. Vấn đề của anh… nó tựa như rạng đông ấy. Tốt lắm rồi. Nhưng mặt trời vẫn chưa mọc hẳn. Còn một tí khó khăn nữa. Có anh em bảo tôi nếu còn ở lại đây thì phải giữ anh đến kỳ cùng. Nói chung, anh có tín nhiệm đấy. Nhiều người tin cậy.

Nhớ tối 11, vào nhà Tiến, bí thư đoàn cũ nay là phó thư ký công đoàn cảng. Tiến bảo báo Tiền Phong có xin một người biết dịch tài liệu có trình độ chính trị văn hóa. Công văn xin người còn nằm ở tổ chức.

Nhân một lần anh Nguyễn Văn Hoan nguyên trưởng phòng tổ chức hành chính cảng ghé thăm tại đội 5, mình hỏi chuyện này, anh bảo có lẽ là do anh có mấy lần gợi ý với khu về trường hợp của mình. Anh vẫn áy náy về việc giúp đỡ mình chưa trọn vẹn. Mình nói thật với anh là anh tốt quá, nhưng em chưa muốn rời cảng lúc này. Trừ phi đi Thanh niên xung phong hay bộ đội

Thật ra chiến tranh đã lan tới Hà Nội từ đầu tháng sáu. Tối thứ bảy mồng 3 tháng sáu, mình đã tham dự buổi Tổng duyệt lực lượng thanh niên ba sẵn sàng Thủ đô, tổ chức tại quảng trường trước nhà Ngân hàng. Trời mưa. Hơn 10 ngàn thanh niên đeo súng, ba lô trên vai tay cầm đuốc làm bằng thanh gỗ gắn ống bơ sữa bò trong đựng giẻ tẩm dầu ma dút. Trong khí thế rực lửa anh hùng đó, đại diện công nhân nhà máy điện hứa: Tim chúng tôi có ngừng đập dòng điện của Thủ đô vẫn còn cháy mãi. Rồi tuần hành khắp khu trung tâm đến hai giờ sáng mới về nhà ngủ.

Trưa thứ bảy tuần sau, về Thanh Trì thăm gia đình chị Tửu, suýt ăn bom đạn Mỹ. Một cuộc bắn phá cực kỳ dã man vào khu dân cư ven sông Hồng phía dưới cảng Hà Nội. Xem ra chúng rục rịch đánh cảng. Công nhân làm ở đây phần lớn là người Thanh Trì xôn xao bàn tán. Hôm sau, số người đi làm chưa giảm mấy, nhưng có vẻ lo lắng, thăm dò. Ở ven sông đã có lệnh sơ tán trẻ em và tất cả những ai không trực tiếp sản xuất xuống các vùng xuôi phía dưới. Đội 5 quyết định ban chỉ huy, nhân viên văn phòng và các tổ trưởng không ai nghỉ làm, kể cả chủ nhật, ngày lễ, bà con thấy vậy cũng yên tâm hơn.

Tối 9/9, Nguyễn Xuân An truyền thanh và Đỗ Xuân Bảo lái cẩu đến nhà chơi. An báo một tin quan trọng Đội thanh niên xung phong số 49 của Hà Nội sẽ về Cảng Sông Hồng công tác và mình sẽ được chuyển sang làm công tác văn hóa quần chúng của đội. Nếu quả thật có chuyện đó thì thật hiện nay không còn mơ ước nào cao xa hơn. Một giai đoạn mới có thể sẽ quyết định cuộc đời mình từ nay về sau.

Chiều 13/9, mưa rất to, dai dẳng đến tận tối, không đi đâu ăn cơm được. Đành cùng đội phó Nguyễn Khánh Chước và tổ trưởng Trần Văn Mão lục lọi kho của chị Tửu, khắp các thùng, ngăn kéo… để kiếm ăn. Kết quả là cả ba anh em được một bữa no kềnh ăn toàn mì nấu mướp và bột mì rán. Chảo để nấu các món ấy là cái nắp thùng đựng nước lộn ngược. Trời mát lại đói, ăn ngon miệng lạ.

Đang lúc mưa to Tân và Đán đến học tiếng Pháp rất đúng giờ. Đán ướt sũng cả quần mặc dù đã sắn quần cao hết cỡ. Còn Tân, an toàn hơn, mặc áo va rơ bạt và quần đùi cực ngắn, chân đi ủng. Hai bạn thật đáng mến. Đêm ấy, mình về nhà Tân trong xóm Phà Đen ngủ nhường giường cho anh Chước nhà xa. Anh Mão gì thì gì cũng phải về nhà.

Chiều hôm sau, xong việc, anh Chước nói cho mình nghe chuyện anh dự hội nghị xét duyệt biên chế, có đến mấy người nói mình là phần tử Nhân Văn Giai Phẩm, đã viết bài báo gì đó nên đã bị đuổi khỏi tòa soạn báo Nhân Dân. Nhưng những người tham dự đều hỏi có chứng cớ gì không, vì ai biết cũng khen chú ấy là người tốt, tận tâm, hết lòng giúp đỡ mọi người, không nề hà việc lớn, nhỏ gì giúp được là giúp. Rồi hội nghị thông qua việc xét duyệt biên chế cho mình, đúng hai năm sau khi mình vào việc tại Cảng. Lúc đầu làm chuyên trách bổ túc văn hóa và văn hóa quần chúng, sau làm thống kê, kế toán ở các đội sản xuất, nhưng bao giờ cũng dạy học ở các lớp bổ túc văn hóa và dạy các cá nhân ham học tự xin học. Tất nhiên là miễn phí. Trong số người đến học ở đội 5 vào các buổi trưa có một người chăm chỉ nhất, có thể nói là ngoan cố nhất, học bất kể thời tiết thế nào và học xong thì ngồi lại dai nhất, có khi chẳng nói gì mà chỉ ngồi một mình hút thuốc Bêrati của An ba ni. Đó là anh Nguyễn Việt Quốc cùng làm với tôi hồi ở tổ sửa bài Nhà in báo Nhân Dân năm 1959-1960.

Sáng hôm sau, anh Nguyễn Văn Bào bạn bán báo với tôi ngày xưa, nay là phóng viên thể thao của báo dẫn một số anh em trong cơ quan đến đội 5. Hầu hết là người mới, tôi không biết mặt. Tôi giới thiệu các anh với anh Chước nói rõ là các anh đến đây để vác gỗ như bác Sán đã biết, hợp đồng tôi cũng trình cảng vụ, làm xong tôi sẽ đưa anh Bào là đại diện lên tài vụ lĩnh tiền. Anh Chước vui vẻ tiếp, mời uống nước và nói nên làm sớm cho khỏi nắng. Tội dặn các bạn một điều là hồi trước còn đang đi học, anh bạn chúng tôi là Phạm Duy Phùng đã phàn nàn với tôi là vác gỗ xong thì phải tắm mới về được, ai chẳng thế, mà có những thằng cứ cố mặc cái xi líp làm công nhân bốc vác tắm cùng thấy rất khó chịu. Nghe tôi nói, các bạn trẻ cười, riêng anh Bào sống cùng nhà trọ với anh Phùng ở phố Trúc Bạch thì bảo đúng thế, nhớ đừng có tạo sự xa cách với mọi người.

Các bạn cũ vẫn không quên tôi.

17 giờ ngày 30/8, có lệnh tập trung 25 công nhân đi làm nhiệm vụ đặc biệt ở ga Yên Viên. Cụ Sán phải đi vay gạo cho một số người nhà xa ăn tạm. Mình cũng ăn và cùng đi với anh chị em. 19 giờ xuống ca nô, rồi lại lên bờ chờ đi ô tô. Cuối cùng có lệnh về. Mỗi người được một cái bánh mì và nửa lạng thịt kho. Mình và mấy thanh niên về trụ sở ngủ, vừa đi vừa ăn, rất vui. Qua một chuyến huy động thử này thấy rõ nhiều điều. Thanh niên có mặt 100%. Các tổ trưởng tổ phó cũng vậy, kể cả bác Tám mới ốm dậy. Mấy chị to mồm, nổi tiếng là hay thắc mắc cũng đi. Một tổ phó đi đến nửa đường thì lại về, chị ta không muốn đi, vì sợ chết, nhưng lại sợ tổ viên chê cười. Đang lúc ấy lại gặp anh chồng đi làm về, bàn bạc  một lát rồi cả hai cùng về. Lại nhớ hồi tháng 7, tối thanh niên mở hội tòng quân. Người đến lèo tèo vì không biết trước nội dung cuộc họp. Có hôm đến, lại hoãn, hoặc có hôm gặp phải ông cán bộ nói dai, nói dài, nói dại, mất thì giờ mà chẳng được tích sự gì.

Thanh niên cảng lạ lắm, nhất là các cô gái, không thể nhìn bề ngoài mà đánh giá họ được. Một sáng tháng tư, đội I chạy thử băng xích bốc dỡ hàng bao kiện, cô Nguyệt một công nhân 17 tuổi xinh xắn làm ca I, đến 9 giờ thì bị tai nạn. Thịt chỗ dưới bắp chân bị nghiến nát, lộ cả xương. Cô bé không ngất đi nhưng mặt tái mét, lả cả người vì đau đớn mà vẫn không nghe thấy tiếng rên la nào. Chiều hôm sau, tôi vào bệnh viện Phủ Doãn gần nhà thăm em, cho em bông hóa đá mềm mình mới tạc xong với nhiều tâm huyết. May là vết tổn thương không nặng, sẽ không để lại tật nguyền nào. Em tươi tỉnh, rất vui vì được nhiều người quan tâm. Mấy ngày sau đi làm chiều về ghé Trạm xá giao thông vận tải cốt thăm em Nguyệt mong hiểu vì sao một cô gái trẻ như em lại có thể chịu đựng đau đớn thản nhiên như vậy. Tình cờ gặp một chị 34, 35 tuổi đang nằm trạm xá gọi mình nói chuyện thân  mật, tin cậy đến mức mình không dám hỏi tên chị. Rồi chị mời vào buồng, may thay đó cũng là buồng Nguyệt nằm. Nguyệt đã khá tỉnh táo và vui vẻ. Em nói bông hoa anh cho hôm nọ ai xem cũng khen là đẹp. Tôi cầm lấy bông hoa, đúng là có nhiều người xem thật. Cái ngọn lá và phần cong uốn duyên dáng của bông hoa, rất khó làm đã bị gãy. Nguyệt có vẻ tiếc. Mình phải hứa sẽ làm lại những chỗ ấy. Tôi cho Nguyệt mượn một cuốn sách về Ngô Vận Đạc, một Paven của Trung Quốc, rồi về dạy học bổ túc văn hóa ở cảng. Học được độ một giờ thì báo động. Vừa nghe nói máy bay cách 50 km, lập tức thấy nổ súng dữ dội, đường đạn lượn vòng vèo đỏ rực trên nền trời đen sẫm, hệt như pháo hoa… Mười phút sau, định học lại thì có lệnh yêu cầu tan học ngay. Chỉ những ai làm ca đêm mới được ở lại xí nghiệp. Nghe nói chúng nó hẹn đánh cảng ta. Dạo này được một ngày không có tiếng máy bay địch, một đêm ngủ yên là rất quí. Đẹp trời là sẽ có máy bay địch, đến bắn phá. Sau những đám mây trắng bông đã từng tuôn ra hàng đoàn máy bay kẻ cướp.

Hà Nội chuyển sang sinh hoạt về đêm. Các buổi sáng, kể cả sáng chủ nhật đường phố vắng vẻ như sáng mồng một Tết. Nếu không có việc thật cần không ai ra đường làm gì. Các cửa hàng lớn, tất cả các hiệu sách đều mở cửa vào buổi tối. Các rạp chiếu phim đều giảm số vé đi rất nhiều. Chỉ còn bán các hạng vé đắt tiền. Các buổi tối cũng đỡ nhộn nhịp. Chỉ có cửa hàng bia hơi là còn đông khách. Trời nóng quá. Đó cũng là một cách bồi dưỡng sức khỏe rẻ tiền. Ở bến sông, cửa hàng ăn uống đã đóng cửa.

Hằng ngày, sà lan, thuyền vận tải đến cảng Hà Nội ngày một nhiều. Chủ yếu là chở hàng viện trợ của các nước anh em phe xã hội chủ nghĩa: Đường đỏ Cu ba, mì, mỡ Ba Lan, thịt hộp Liên Xô và mỡ thùng ni lông của Rumani.

Hôm vừa rồi, đọc được Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Đã lâu lắm rồi mới được đọc một truyện ngắn hay đến như thế, một bản anh hùng ca rực lửa anh hùng.

Giữa tháng năm, ngày nào cũng báo động hàng chục lần. Kể cả ban đêm. Ngày 19/5, mừng thọ Bác Hồ 77 tuổi, mười máy bay giặc Mỹ đã rơi, có mấy chiếc rơi trên đường phố nội thành. Ngày 21/5 suốt ngày có máy bay xâm phạm. Tôi tận mắt thấy máy bay giặc phóng tên lửa về phía nhà máy điện, nước Hà Nội. Chiều, mất điện cũng mất luôn nước. Thiếu chuẩn bị, người ta đua nhau đi xin nước giếng, gạn những chum vại vô tình còn chứa nước, và kéo nhau ra sông Hồng tắm…

Tối hôm ấy, mình ăn tạm bát cháo rồi ra phố chơi. 19:30 phố Tràng Tiền còn điện. Vào hiệu sách quốc văn mua Trường sơn hùng tráng của Hồng Châu mà mình tin là bút danh mới của anh Thép Mới. Khi sang đặt mua báo Nhân Dân thì điện tắt. Cả thành phố tối om. Người Hà Nội xì xào lo ngại, nhiều gia đình í ới chào nhau đi sơ tán… Về nhà, thắp đèn dầu, đọc sách mới mua thì Tạ Anh Phi đi làm về, đến xin ít nước để uống và rửa chân tay. Mình múc cho Phi một chậu nhôm nước từ cái chum men xanh ngày trước trồng quất cảnh Tết. Cậu ta chỉ dùng một nửa, còn lại trút vào chum. Đến đêm thì đèn lại sáng. Hôm sau nước đã ri rỉ. Tối lại tha hồ tắm rồi. Tất nhiên cái ang to nhà dưới và cái chum xanh nhà mình từ nay lúc nào cũng đầy nước.

Hôm nay, được ngủ một giấc đẫy suốt đêm qua, lại được thêm một giấc ngon lành trưa nay, ai cũng lấy làm lạ. 15 giờ, ta hạ một máy bay trinh sát, mọi người mới thấy yên tâm.

Báo động liên tiếp suốt buổi trưa 30/8. Chú Đỗ Đình Hưng bốc xếp sống với mình hồi ở căn nhà nhỏ cùng lái xe Nhượng đến chơi. Nấu cơm ăn. Đến tối thì đèn tắt, hai anh em lên nhà máy điện, nơi Hưng và đội bốc vác của chú đang làm việc trên đó. Nhà máy bị phá hủy đang xây dựng lại trông như một pháo đài cổ. Đèn sáng rực. Công nhân nhà máy điện, công nhân kiến trúc đang làm việc nhộn nhịp. Mấy tối nay, nhà máy tổ chức hội diễn văn nghệ sôi nổi. Riêng phân xưởng cơ khí cũng đủ diễn suốt một đêm. Lúc về, qua cầu Long Biên, đèn sáng rực, công nhân làm việc nhộn nhịp, có lẽ cố thông cầu dịp quốc khánh.

Sáng 2/9, chỉ có một lần máy bay đến gần vùng trời Thủ đô. Mình ra trụ sở đội 5, qua các phố xá đông vui, mậu dịch tổng hợp mở cửa, nờm nợp những người là người. Thuốc lá bán tự do. Tối, đi xem phố ngày hội. Phố Tràng Tiền phải cắt ba công an luôn mồm gọi loa yêu cầu giữ gìn trật tự mà đường vẫn hay bị tắc. Vào hiệu sách, cảm thấy vui vì khách rất đông, phải xếp hàng hơn 30 phút mới trả được tiền. Chiều, mưa to. Vẫn có máy bay giặc lởn vởn quanh Thủ đô.

Trưa 10/9, em Hưng lại chơi rủ ra cảng gặp Trần Thị Tuệ người yêu của em. Em không ngờ là mình chưa yêu cô gái nào. Em nói, khi nào anh cũng nghĩ đến mọi người. Ai cũng yêu mến anh, thân thiết với anh. Có lẽ vì thế mình không khi nào buồn nản được, luôn được tiếp thêm sức sống. Tối lại về trụ sở, một mình đọc sách… Có tiếng loa văng vẳng hòa lẫn tiếng sóng dạt dào vỗ bờ, trong đêm đen một ngọn đèn tàu thủy đỏ thắm nổi bật lên… Sao thấy thèm làm việc, thèm được thử thách, chiến đấu, cống hiến lạ.

Tháng 10/1967, chị Thanh Vân làm Viện Văn học ở buồng ngoài cùng nhà mình cho biết là Viện đã mấy  lần cử anh Nguyễn Kim Thản đến gặp mình bàn việc xin mình về viện văn học, công tác tại tổ ngôn ngữ. Mình cảm ơn và xin từ chối, chị nói dịu dàng Thế mà chị vẫn nghĩ là em rất yêu văn học. Mình nói chính vì thế mà em phải từ chối, tự biết mình còn phải học hỏi nhiều. Thi chị nói Ờ, anh Phong Lê cũng nói là chưa chắc em đã thích Mình nhớ có lần mình bộc bạch lòng yêu văn học thì anh có nói là nên đi sâu tìm hiểu chính những con người mình đang sống chết cùng với họ, từ tính cách đến lời ăn tiếng nói không ai giống ai, nhưng cũng có những con người điển hình giống nhiều người mà vẫn có cá tính riêng.

Ngày 24/10/1967, Nguyễn Xuân An truyền thanh đưa cho mình bốn tập Sông Đông êm đềm (1-4) và tập Ruồi Trâu (xuất bản lần đầu). Mình cầm sách nói Tịch thu. An cười rất tươi, cái miệng vốn đã rộng lại càng rộng hơn. Không ngờ đó là lần gặp cuối trước khi bạn bước vào một cuộc đời mới: Bộ đội. Anh chỉ được ghé Cảng 15 phút, không ghé qua nhà gặp mẹ. Lần này đi đột ngột, lại chỉ có một mình.

Sáng 16/11/1967, chị Thanh Vân cho biết tin buồn. Anh Phạm Hồng Sơn thân thiết với mình không còn nữa, báo Quân Đội Nhân Dân có đăng… Mình thản nhiên nghe, vì tự nhiên nhớ lại một lần cháu Dung, con nuôi anh hốt hoảng đến báo tin là nghe nói anh vừa mất. Mình an ủi cháu, bảo cứ bình tĩnh, đừng tin nhảm. Sáng hôm sau mình đi tàu điện vào ngay bệnh viện thăm anh. Mình kể anh nghe tin dữ, anh nheo mắt cười hóm hỉnh: Chết thế nào được Anh vừa nói vừa chỉ vào chồng bản thảo: Còn khối việc đây này. Chết thế nào được.

Nhưng rồi, ăn cơm cũng không yên, vì không muốn ăn, chỉ muốn mau được xem tờ báo chị Vân bảo. Có tiếng rao báo. Mặc nguyên quần áo rách rưới ở nhà, mình chạy vội ra phố. Nhưng báo Quân Đội Nhân Dân hết rồi. Ăn vội mấy miếng rồi lục lại nhật ký, đọc lại những gì ghi về anh. Mình biết lần này thì mình mất anh thật rồi.

Tối, ra trụ sở Đội 5, định lên phòng phát thanh xí nghiệp mượn báo, tình cờ gặp cô Trần Thị Phúc đang khoác chăn dạ trực chiến ở đê. Mình hỏi báo, Phúc lén lấy trộm cho mình một tờ. Mở vội các trang I, rồi trang 4 cũng không có một dòng cáo phó. Dưới ánh trăng rằm vằng vặc, trên trang 3 nổi lên dòng chữ đen: Phạm Hồng Sơn đi trọn con đường của một người cộng sản, không phải là tin mà là cả một bài của Vũ Hồ. Bài báo sơ lược quá, nhưng cũng có những chi tiết làm mình xé lòng, rơi nước mắt: Có lần trong cơn đau, anh níu gãy cả những chấn song cửa sổ hoặc : một phần tiền để ủng hộ xã Phương Trung quê anh. Anh dặn kỹ số tiền này dành cho hợp tác xã nào kém nhất và nên dùng vào việc chăn nuôi…. Đó là những ý nghĩ cuối cùng của Phạm Hồng Sơn trên giường bệnh, giữa những cơn đau dữ dội làm anh mê man. Anh mất hồi 3 giờ sáng giữa năm 1967, mộ chôn ở thôn Phương Trung, Thanh Oai Hà Tây.

Đêm đã khuya, côn trùng nỉ non rả trích, nước sông Hồng cuồn cuộn dâng lên đột ngột. Cầu phao đứt. Thỉnh thoảng mới có tiếng xe vận tải rú vang rồi xa dần. Vắng lặng quá… Dưới ngọn đèn dầu, mình cùng bác Sán ngồi nói chuyện mãi về anh Phạm Hồng Sơn và những người như anh, những người con yêu của dân tộc.

Đêm đã quá khuya lúc nào không hay.

Tối 21/11, ra trụ sở đội 5 nói chuyện với bác Sán. Ban giám đốc mới sắp đưa bác đi học một tháng, sau đó chưa biết thế nào. Mới nghĩ đến cảnh hai bác cháu phải xa nhau đã cảm thấy buồn buồn. Mình giúp bác được quá ít, cũng chưa học được ở bác bao nhiêu. Tối 16/12, hai bác cháu chụm đầu dưới ngọn đèn làm việc. Bác cho biết ban giám đốc có ý định lấy mình làm thư ký riêng, tập hợp tình hình…

18/12 máy bay Mỹ đánh phá cầu Long Biên rất điên cuồng, quyết liệt.  Chúng bay dọc theo cầu mà thả bom. Cầu bị phá hại hơn tất cả các lần trước. Mất hẳn một trụ và đứt mấy nhịp. Nhưng ngay tối hôm ấy, thanh niên xung phong đã làm xong một cầu phao mới, ô tô đi lại được. Có một nhóm văn nghệ ra tận đầu cầu phao hát đàn phục vụ. Người đàn hát và người xem đều đứng trong bóng tối. Số người đàn hát có lẽ cũng bằng số người xem. Anh chị em còn phải đảm bảo thông xe, chỉ thay phiên nhau lên xem thôi. Trong bóng tối, một nữ diễn viên sôi nổi hát bài Cô gái vót chông trong gió rét, hai tay nắm vào nhau duyên dáng. Hôm sau, lại liên tiếp có mấy trận đánh lớn, bom bi nổ liên miên. Hai thanh niên xung phong bị thương nặng. Hai cầu phao vẫn rất đông khách

Cuộc họp toàn đội 5 tối 27/12 thật cảm động. Tất cả bà con phát biểu đều không tán thành giải tán Đội; nêu bật tình cảm tha thiết gắn bó với nhau hơn một năm trời biết bao kỷ niệm vui buồn có nhau. Hôm sau tiếp tục có nhiều tin về việc mình chuyển  công tác, nhưng mặc kệ. Cụ Sán thì yêu cầu mình làm cho cụ một bản tổng kết về Đội 5, chỉ để bỏ túi thôi, chẳng gần gửi đi đâu.

Đầu tháng 1/1968, mình xuống Đội I, tắm và gặp gỡ anh chị em công nhân mới ở nông thôn ra, ai cũng kêu ăn đói, nằm rét và nhớ nhà, chán nản lắm.

Để cả một buổi trưa để tổng vệ sinh căn gác nơi ở mới thành nơi làm việc, học tập. Gác cao, thoáng, lúc nào cũng có tiếng xe hơi, tiếng người. Chỉ cần bước ra sân thượng là thấy sông, thấy tàu, thuyền bè sà lan, những con người đang lao động: công nhân, bộ đội, chủ hàng, các cán bộ lãnh đạo. Buồng nhìn ra ngay cần cẩu cổng lừng lững chuyển hàng. Có lẽ chỉ có một nhược điểm: Có máy bay, báo động chạy không kịp là chết tươi. Vì đây là trọng điểm của khu vực trọng điểm. Công việc chuyên môn ở một đội mới hầu như toàn người mới làm mình mệt phờ. Tối nào cũng 12 giờ, hoặc một giờ, một rưỡi mới đi nằm mà năm sáu giờ sáng đã lại làm việc. Mình ngủ ngay tại phòng này. Cho nên bạn nào có tâm sự cũng tạt vào trút bầu tâm sự. Vui mà mệt quá.

Chiều 29/2/1968, cụ Sán bảo tôi tối nay cùng cụ ra trực ở chỗ cần cẩu cổng, cụ cũng đã báo các tổ trưởng sản xuất và tất cả đảng viên trong chi bộ. Tối gặp nhau, chỉ có hai bác cháu ngồi nói chuyện với nhau một lát, vẫn không có ai đến. Cụ đã vê một điếu thuốc lào, nhưng không hút, bảo tôi về nhà xem còn không hay tan nát cả rồi.

4 giờ sáng ngày 1/3/1968, tôi đang ngủ ở nhà thì nghe tiếng máy bay bay rất sát, rồi có tiếng bom, tiếng súng bắn. Báo động, đến 4:30 thì báo an… Tôi đi làm với ý nghĩ chẳng qua cũng như những lần trước thôi, một nơi nào đó bị bắn phá, còn cuộc sống vẫn tiến hành như bình thường. Không ngờ, đến gần cảng mới được biết là sáng nay, bom Mỹ đã trút xuống đất cảng 18 quả bom, vào đúng khu vực đội I của mình. Mình vào một nhà quen trong khu Phà Đen, gửi gạo xin ăn cơm cả ngày, rồi sang ngay Đội I, không lên xí nghiệp làm công tác văn nghệ như đã định. Một cảnh tan hoang bày ra trước mắt; gạch ngói ngổn ngang, từng dãy nhà kho cao rộng đổ sụp, ngói xô. Phòng làm việc của mình bị bật tung cửa, cái khóa xe đạp vẫn nối hai cánh cửa với nhau cùng văng xuống tầng dưới, vôi vữa gạch ngói ngổn ngang, bàn lật ngược. Cả những khung sà lan lớn chưa lắp ráp cũng ngổn ngang giữa đường. Mình tham gia đào bới khiêng xác các công nhân hy sinh, cảng mất năm người, kho lương thực mất hai người. Chị Bê cao lớn, khỏe mạnh vui tính, chị Tự ranh mãnh hay lảu cảu đùa cợt, anh Lạc, một công nhân mới trẻ khỏe hóm hỉnh, và chị Bé, anh Chuẩn, những công nhân hiền lành, tất cả đều nằm đây, hầu hết đều còn nguyên vẹn, trông như người đang ngủ. Chị Bê đẹp như một pho tượng nữ thần, mặt phủ một lớp bột xi măng và đất mỏng. Chỉ có anh Chuẩn là mất một cánh tay. Tôi khiêng các anh, chị mà sao thấy như khi chết con người ta nặng hơn khi sống. Số bị thương thì khá nhiều, nhưng không mấy ai bị nặng. Chuyển xác xong, mình phụ Bảo lái cẩu vạn năng cần dài 25m, cùng anh Khiêm kỹ thuật ra ngay chỗ bom nổ chậm thu dọn, cẩu những khoang xà lan ra khỏi mặt đường. Sau đó có thêm anh Thuận chồng chị Tửu và anh Mậu ra cùng làm. Tất cả làm việc hăng say, khẩn trương không hề có ai lo sợ sẽ mất mạng vì bom chưa nổ hết. Chiều đưa tang công nhân. Mình vẽ ngay hai áp phích vào bảng, kêu gọi trả thù cho đồng đội. Hai bảng bày ngay ở nhà ăn.

Sau một đêm yên tĩnh, cảng lại hoạt động bình thường. Trừ đội I còn bom chưa nổ phải kéo quân đi làm nơi khác. Vào thăm khu ở của công nhân mới, 13 người, chỉ còn 4 người ở lại. Khác hẳn số công nhân cũ, ngày nào đến ca cũng ra xí nghiệp chờ lệnh… Chiều lên lại chỗ có bom nổ chậm, vào trụ sở đội, lên chỗ làm việc, lấy một số đồ lặt vặt rồi về. Chú Phạm Văn Cường gầy nhỏ ham làm thơ suốt hai ngày nay ở đấy rồi. Chú tham gia phá bom, rất khổ tâm vì mãi nó không nổ cho. Đáng mến lạ.

Cái đêm Mỹ ném bom bắn phá cảng dữ dội nhất ấy, bà vợ cụ Sán làm ca 3. Bà yếu sức nên làm tạp vụ lo bữa ăn giữa ca cho tổ. Ở gần cần cẩu cổng có gian nhà cấp bốn sát mé sông làm nơi nghỉ cho công nhân. Bà dọn mì nấu cho các công nhân nữ ăn trên cái bàn gỗ to, còn mình thì thu dọn xoong nồi. Ăn xong các chị bảo bà hôm nay nhường cái mặt bàn có quạt mát cho ba chị to khỏe là chị Bê, chị Tự và chị Bé lên nằm ngủ một lát. Bà đành xuống gầm bàn ngủ tạm. Không ngờ bom nổ, mái nhà sập, ba chị nằm trên chết ngay. Còn bà, nhờ cái bàn to gỗ dầy che nên thoát chết. Cụ Sán chỉ huy cứu sập đứng ngay trên bàn dưới có vợ mình mà không biết. Về sau, bà cứ khen tôi đã cứu bà, còn ông ấy nói rõ to, tôi nghe thấy tiếng, mà tôi gọi thế nào ông ấy cũng chẳng thèm nghe. May có chú đi kiểm tra mới phát hiện ra. Bà bị giập hai tay. Nhưng sống.

Hôm bom ném đội I, văn phòng nơi mình ngủ giường gãy đôi, sách vở tung tóe. Nhà ăn tập thể tan hoang, mình phải mò về Thanh Trì kiếm cơm ăn. Lũ trẻ ở đây hôm nay thật lạ. Hễ thấy mặt mình là chúng kêu chú Thành rồi ù té chạy đi, đứa nào cũng thế lo về nhà báo tin. Hóa ra hôm ấy có một chủ hàng tên là Thành bị thương nặng, xe cấp cứu chở đi. Tin về Thanh Trì ai cũng thương mình, bảo rõ tội nghiệp chú ấy, hiền lành, tử tế thế mà. Thành ra nhà chị Tửu đãi tôi một bữa ngon, mừng thoát đại nạn.

Tối chủ nhật ấy mình về nhà. 23 giờ thấy có báo động, rồi bắn, bom nổ. Tất cả chỉ kéo dài không quá 15 phút. Vậy mà hôm sau mồng 5/3/1968 đi làm sớm đã thấy một phần Lò Lợn, cả nhà máy cơ khí Lương yên, tất cả các kho thuộc nhà máy xay và một dãy nhà dân ở khu lao động Lương Yên… chỉ còn là những đống gạch vụn ngói vỡ, những khung mái trơ xương, những mảnh mái tôn quăn queo méo mó rúm ró. Rất may là nghe nói chỉ có một hai người bị nạn ở khu máy xay. Nhưng khu nhà ở thì có nhà anh Tý công nhân cảng, chết cả hai vợ chồng. Khu nhà máy xay chính bốn tầng vẫn đứng sừng sững giữa đống đổ nát, có tự vệ súng ống sẵn sàng canh gác trên tầng thượng. Tối 4/3, Cảng vẫn tiến hành đại hội công nhân viên chức ở ba địa điểm sơ tán. Họp xong, mình về ngủ lại khu anh em thanh niên. Đêm đã khuya, còn thấy anh em quê Thường Tín lục tục trở về cảng. Mấy hôm trước, sợ quá, họ đã bỏ cảng về quê, nay đã về gần đủ.

Văn phòng đội sơ tán về khu Phà Đen ở trong nhà một công nhân bốc dỡ, hầm đào ngay trong nhà. Ca sản xuất ban ngày, công nhân đi làm khá đông đủ. Ca hai, tương đối ít hơn. Cứ khoảng 18, 19 giờ là lục tục xin về. Dù có đuổi việc chúng tôi cũng cứ về nhà. Cái chết đột ngột không sao tránh nổi của mấy công nhân hôm 1/3 đã có hậu quả thật xấu. Tuy vậy, dưới ánh đèn đất tự chế sáng rực công nhân cảng vẫn tiếp tục làm việc. Các đội 2, 3, chưa từng bị tai nạn chiến tranh làm việc đều đặn hơn. Còn đội I, bên cạnh việc thanh toán hậu quả, sản xuất cũng đang phục hồi dần.

Cuối tháng 10/1968, Cảng Hà Nội nhộn nhịp chuẩn bị đón Đoàn Kiểm tra ngành giao thông vận tải của Đảng và Chính phủ. Làm cổng chào, kẻ khẩu hiệu, dọn dẹp nhà xưởng, nơi làm việc, nơi sản xuất, bàn cả việc mổ bò làm phở xào… Mình là bí thư Thanh niên chi đoàn I bận suốt mấy ngày. Cuộc mít tinh toàn cảng tổ chức ngay ở khu vực sản xuất của đội I, trước cần cẩu cổng. Khẩu hiệu đỏ chữ vàng, đèn nhiều màu rực rỡ. Công nhân số đông là người lớn tuổi, mặc áo quần đẹp, sạch sẽ, còn cánh thanh niên thì chỉ một số ăn mặc đẹp, còn số đông vẫn đánh bộ bảo hộ lao động. Không mấy ai rõ mục đích ý nghĩa của cuộc mít tinh này nên không khí có vẻ tản mạn, kém sôi nổi. Về dự nói chuyện tại cảng có thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, cục trưởng Cục Vận tải Đường sông Bình Tâm. Nghe nói chuyện xong, công nhân bàn bạc nhiều. Họ biết đã bắt đầu cuộc chuyển mình lớn của cảng, cuộc sống của họ cũng sẽ sang trang.

24/10, Đội I liên hoan, mình được chia một miếng thịt bò, vội đem về nhà xào… Làm việc xong, rủ Bảo lái cẩu, anh Hữu Thông cùng về nhà ăn. Bất ngờ cậu Tuyên đến, báo cho biết sắp lên Tây Bắc, thăm em Nhàn được. Tự nhiên thành một cuộc họp mặt ý nghĩa, vui vẻ, trò chuyện thoải mái.

Tối 1/11/1968, dự cuộc họp rất sôi nổi với các tổ trưởng sản xuất. Hàng loạt vấn đề gay gắt của cuộc sống công nhân được đặt ra tìm cách giải quyết, nhằm nâng cao năng suất lao động cũng là nâng cao phẩm chất của người công nhân. Hôm 3/11, trời đẹp, người vui. Các báo đăng lời kêu gọi của Bác Hồ yêu cầu Mỹ ngừng ném bom miền Bắc vô điều kiện. Cả một bầu không khí hòa bình tràn ngập khắp nơi. Phố xá đông hơn, người các tỉnh cũng về Hà Nội nhiều. Các đường phố treo cờ và những băng đỏ chói ngời câu nói nổi tiếng của Bác mà ai cũng nhớ nằm lòng: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Như một lời nhắc nhở chớ quên Miền Nam. Như một mệnh lệnh: Tiến lên giành toàn thắng. Lại thêm một lứa thanh niên mới tuyển từ Đông Anh.

Ngày 5/11, nghe một tin phấn khởi sẽ có khoảng 200 công nhân cảng đi khu 4, mình sẽ xung phong đi ngay, tất nhiên sẽ phải mang theo mấy tập giấy, còn làm báo tường. Sáng 6/11, qua xóm Phà Đen thấy nhiều nhà đang dỡ ra dựng lại. Tối chủ nhật, ở cảng còn hai đám cưới nữa.

Dạo này họp nhiều mà không đi thì thiệt. Đúng là có tin đi khu 4 thật. Có thêm hai đám cưới nữa, là bốn đám tất cả. Chắc là những cặp đôi này không định đi khu 4 rồi, hay biết đâu  nổi máu anh hùng lên đi cả đôi thì sao. Ai mà biết được dân cảng này…

Tối 11/12 cùng các bạn trong chi đoàn ra bãi xem phim Liên Xô Án mạng phố Đăng tơ, một bộ phim tuyệt hay mình đã xem đến ba lần. Về khu tập thể để ngủ thì gặp các bạn làm ca 2 về, cho biết có chủ trương chính thức lấy công nhân xung phong đi công tác khu 4. Thế là nổ ra một cuộc tranh luận khá sôi nổi. Hôm sau, có người về quê… sơ tán. Mình hào hứng vận động anh em cùng đi. Sau một cuộc họp ngắn gọn trưa 12/12, không ngờ số người ghi tên tham gia đã khá đông. Riêng thanh niên đã có hơn 20 người. Cuối cùng chỉ duyệt được đúng 20 người. Riêng mình, vì yêu cầu công tác, bị để lại. Mình ức quá, anh em cũng rất tiếc. Trong những ngày này, mình thấy gắn bó với tập thể một cách lạ lùng, cảm thấy hạnh phúc được anh chị em yêu mến thật lòng, nhất là sau hôm báo tường số I Tiến lên của chi đoàn ra số đầu, được công nhân toàn đội hoan nghênh nhiệt liệt. Công nhân thấy có người lạ như cán bộ văn phòng hoặc người đội khác đến gần tờ báo là tiến lại gần xem có ý xấu không. Hôm bí thư Đảng ủy mới nhờ cậu kỹ sư đến dán bài thơ khen Tiến Lên, cũng bị giám sát như vậy rồi báo ngay cho mình biết ra xem. Công nhân coi tờ báo là tiếng nói của mình. Dịp này lại đúng kỳ làm lương cho nên mình quá bận rộn với đội mới có số người đông gấp bốn lần đội 5 cũ. Trưa không ngủ, làm việc liên tục 12 giờ mỗi ngày, tối lại gặp gỡ, bàn bạc với anh chị em về nhiệm vụ mới, nhất là việc phục vụ khu 4. Buổi hợp mặt anh chị em trong đội trước khi lên đường thật cảm động. Uống nước trà, hút thuốc, trò chuyện tâm tình, rồi hát, ngâm thơ tự sáng tác, chú Cường bốc vác, nhà thơ của Tiến Lên mượn bút mình viết ngay một bài thơ. Tất nhiên cũng như những bài viết cho báo tường, không có nhan đề. Chưa bao giờ anh em thấy thương yêu nhau, vui vẻ phấn khởi như thế… Tiếp đó cả người đi lẫn người ở đều xuống hội trường cảng dự liên hoan ngọt. Đang lúc giám đốc phát biểu thì có điện khẩn của cục đường sông báo hoãn ngày lên đường đến 15/12. Giám đốc Nguyễn Kim Bài nhấn mạnh là cho hoãn ba ngày, nhưng số người từ 30 sẽ tăng lên 50. Không dễ đâu. Thế là lại một cuộc vận động mới, trưa 14/12, người thứ 22 đăng ký. Mình nghĩ sẽ có hy vọng trong kỳ này bèn đi tìm bác Hoành trưởng đoàn đi khu 4 kỳ này. Bác cũng người Huế. Học lớp bảy mình dạy, rất nghiêm túc. Con người đen như được đúc bằng thép. Cao lớn, nét mặt khắc khổ nhưng giọng nói ấm áp, dịu dàng. Bác làm trưởng ban bảo vệ, sống một thân một mình ở cảng, nhưng không ăn bếp tập thể mà tự nấu ăn như nhiều ông già xứ Huế. Tối 15/12, trước khi ca 2 tan ca, bác đưa tôi lên gặp giám đốc Nguyễn Kim Bài, trình bày nguyện vọng. Giám đốc nheo mắt nhìn tôi rồi nói nhỏ Cậu tha thiết đi lắm hả. Thế thì, nếu mai thiếu sẽ cho đi…

Chuyện này không lường trước được nên tôi không báo cho cụ Sán biết.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 26/3/2019

P.T.

 

 

Thư của bạn Ngô Thị Hòa

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 7:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 12 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – MỘT TRUYỆN NGẮN RA ĐỜI – PHỤ LỤC

THƯ CỦA BẠN NGÔ THỊ HÒA

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bạn Ngô Thị Hòa sinh ngày 4 tháng 4 năm 1939, hơn tôi một tuổi. Ngày 26/11/1961, tại Câu lạc bộ Thanh Niên Hà Nội số 9 Vọng Đức hồi 19 giờ 30 Ngô Thị Hòa kết hôn với Đoàn Di bạn thân của tôi. Từ đấy đến ngày 1/3/2016 cuối đời Ngô Thị Hòa là bạn thân thiết của tôi, thường viết thư cho nhau.

Năm 2008 tạp chí Hồn Việt mở hội thảo về Nguyễn Văn Vĩnh – Phạm Quỳnh; bài tôi viết về Ông Ngoại đăng trong số 15. Tôi gửi cho gia đình và bạn bè, đặc biệt gửi cho ba bạn thân là Lê Đăng Quang, Nguyễn Hùng Cường và vợ chồng Đoàn Di – Ngô Thị Hòa. Không ngờ, ít ngày sau tôi nhận được thư về bài tôi viết. Không phải của ba bạn trai thân thiết, mà là của bạn Ngô Thị Hòa, bấy giờ đã nghỉ hưu trong tình trạng sức khỏe suy kiệt. Suốt ngày nằm trên giường, đến ngồi dậy cũng khó khăn. Vợ chồng tôi vô cùng cảm động cùng đọc thư bạn viết đầy tâm huyết. Tôi nhớ ra bạn giỏi lo toan việc nhà, hết lòng chăm sóc chồng con, nhưng bạn cũng từng là một cán bộ đoàn thanh niên năng nổ và sau này còn là một đảng ủy viên giàu lòng nhân ái và có tinh thần trách nhiệm cao ở Bệnh viện Xanh Pôn nổi tiếng của Hà Nội.

Ngày 9/8/1996, có lẽ thấy trong mình khỏe hơn mọi ngày, bà viết cho vợ chồng tôi một bức thư dài đến kín bốn trang vở học trò, còn viết thêm ra cả lề trang vở nữa mới hết những điều muốn nói. Mở đầu thư, bà viết: Ông Bà Ngoại Sài Gòn của các cháu Đức, Trí thân mến, làm vợ chồng tôi cảm động quá. Đức, Trí là hai con trai của cháu Minh con gái ông bà sống cùng thành phố với chúng tôi. Hai vợ chồng yêu nhau rồi lấy nhau sau khi đi lao động ở Đức về trước hợp đồng được bồi thường số tiền đủ mua ngôi nhà nhỏ hai tầng ở quận 11 Sài Gòn. Cưới xong về đó sống và sinh con đầu lòng ở đó.

Gần cuối trang tư, bà chân tình bộc bạch với chúng tôi điều mà chắc bà chưa bao giờ nói với chồng và hai con trai ở Hà Nội: Tôi lúc nào cũng ao ước được ở cùng cái Minh, nhưng chắc không bao giờ được.

Thôi cũng đành chịu, chừng nào vợ chồng nó làm ăn khấm khá, nó năng về luôn thì cũng đỡ nhớ và vui hơn.

Sau đây là nguyên văn bức thư bạn Ngô Thị Hòa gửi cho tôi về bài viết trên tạp chí Hồn Việt năm 2008. Bấy giờ đã ở tuổi gần 70, bệnh cũng đã nhiều năm trở nặng:

Toàn bộ thư bạn Ngô Thị Hòa như sau:

Hà Nội ngày 26/9/2008

Anh Thành và Đông cùng cháu Trung quý mến;

Tôi may mắn được ông cho xem tờ báo Hồn Việt, viết về nhà chính trị và văn hóa Phạm Quỳnh!

Cảm ơn ông! Vừa là bạn tốt vừa là nhà báo thông minh, ông đã gạch dưới những đoạn trọng tâm, giúp tôi dễ đọc, dễ hiểu nhiều.

Trước đây có lúc tôi đã nghĩ về ông Cụ Ngoại. Tôi thấy các con và các cháu của Cụ mang sức cống hiến nhiều cho đất nước. Qua bài báo Hồn Việt, tôi thấy các con và cháu cụ mang nhiều ảnh hưởng về tư cách đạo đức yêu nước thương người của cụ.

Cả gia đình đã xác định được đúng và sống và làm việc rất xuất sắc, đó là điều quí vô cùng.

Cụ có các con như bác sĩ lão khoa Phạm Khuê, có nhạc sĩ tài hoa Phạm Tuyên. Có bài hát cậu Tuyên làm như Gửi nắng cho em, mỗi lần đài giới thiệu đến bài Gửi nắng cho em là tôi lại ôm lấy cái đài bé nhỏ, để được nghe rõ từng lời.

Rồi các cháu cụ là nhà báo Phạm Tôn, nhà giáo Tôn Thất Đại, Tôn Thất Thân, Tôn Nữ Thanh Nhàn; các cháu là bác sĩ như Đặng Vũ Tứ, Đặng Nguyệt Bính,v.v…

Tôi rất vui vì rằng: hoàn cảnh của ông ngoại của ông và ông nội của tôi có những điểm giống nhau. Ông nội tôi ngày bé cũng cha mẹ mất sớm, và cũng được cha mẹ nuôi cho ăn học thành tài. Ông nội tôi chỉ được học chữ nho, sau dậy học ở quê nhà thôn Thanh Thùy (Rùa) Thanh Oai Hà Đông nay là Hà Sơn Bình. Cụ dạy nhiều môn sinh trong làng, ngoài tổng, không lấy tiền của học trò. Nhưng các trò gom góp tiền nong, thóc gạo nuôi thầy, làm nhà cho thầy ở. Cụ là một nhà nho nghèo.

Ông ngoại của ông may mắn hơn, được học nhiều, học cả tiếng Pháp. Vì thông minh, đỗ thủ khoa và được bổ làm quan thượng thư.

Sau này tình hình trong nước và thế giới biến động nên ngài phải qua một vài khúc mắc.

Tuy thế các con và các cháu thấy vui vì có một người cha, người ông tài đức vẹn toàn.

Với lòng hiếu thảo và sự thông minh, các con và cháu giúp cho nhiều người hiểu đúng về Cụ.

Thời nào cũng thế, người đỗ đạt cao, trước đây bổ làm quan, nay thì làm bộ trưởng nọ kia.

Mục đích của việc học thành tài, phải ra làm việc, cái chính là làm được những việc có lợi cho dân có ích cho nước.

Tất cả số phận của từng người đã có sự an bài của ông Trời cả. (Là đảng viên cộng sản, nhưng Ngô Thị Hòa là con chiên ngoan đạo; khi mất các con mai táng theo nguyện vọng của mẹ, đúng nghi lễ Thiên Chú Giáo – PT ghi chú)

Tôi viết hơi lộn xộn, ông thông cảm…

Tôi rất phấn khởi vì có những người bạn bè để chia sẻ, cảm thông, nhất là cảm thông về gia đình.

Tôi xin chúc ông bà và cháu Trung mạnh khỏe, đạt mọi sự như ý.

Hòa (ký)

Ngô Thị Hòa

Tháng Mười Hai 3, 2021

Trên quê hương yêu dấu

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:11 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 11 năm 2021.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 30/11/2021

Mối quan hệ Việt – Nga vững bền theo năm tháng

Nhận lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức LB Nga từ ngày 29/11 đến 2/12. Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và LB Nga vừa kỷ niệm 70 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2020 và tổ chức Năm chéo tại mỗi quốc gia nhân kỷ niệm 25 năm ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của mối quan hệ hữu nghị Việt-Nga và 20 năm ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Việt-Nga. 

Với bối cảnh đặc biệt và đầy ý nghĩa nêu trên, chuyến thăm chính thức LB Nga của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhằm củng cố hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống và đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Nga.

Kể từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 30/1/1950, quan hệ song phương phát triển rất mạnh mẽ. Nhìn lại lịch sử quan hệ hai nước trên suốt chặng đường hơn 70 năm qua, có thể thấy, quan hệ Việt-Nga luôn vững bền theo năm tháng và ngày càng phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực như chính trị-ngoại giao, kinh tế-thương mại, văn hóa-xã hội, khoa học-công nghệ…

Trải qua thử thách của thời gian và biến động của lịch sử, mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước luôn nồng ấm và tin cậy. Nhân dân Việt Nam luôn biết ơn sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của nhân dân LB Nga trong thành phần Liên Xô (trước đây) dành cho Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trên các diễn đàn đa phương, hai bên đồng quan điểm về nhiều vấn đề quốc tế và khu vực, phối hợp chặt chẽ và ủng hộ nhau tại các diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, ASEAN…

Trong lĩnh vực chính trị-ngoại giao, quan hệ Việt Nam-Nga có sự tin cậy cao và được củng cố thông qua các chuyến thăm các cấp cũng như các cơ chế tham vấn, đối thoại chiến lược hằng năm. Các chuyến thăm cấp cao được hai nước thực hiện khá thường xuyên, tạo xung lực mới cho các lĩnh vực hợp tác khác. Bất chấp ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, hợp tác kinh tế-thương mại song phương duy trì đà tăng trưởng tích cực với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2020 đạt gần 4,85 tỷ USD.

Tính đến tháng 4/2021, Nga đứng thứ 25 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 144 dự án và tổng số vốn đăng ký khoảng 944 triệu USD. Việt Nam có hơn 20 dự án đầu tư sang Nga với tổng vốn đăng ký gần 3 tỷ USD. Năng lượng là lĩnh vực hợp tác truyền thống chiến lược và hiệu quả, đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách hai nước. Cộng đồng người Việt Nam tại Nga hiện có khoảng 60-80 nghìn người, đã làm ăn, sinh sống tại Nga trong ba thập kỷ; có những đóng góp đáng kể cho đất nước, luôn đi đầu trong các hoạt động từ thiện.

Đại dịch Covid-19 càng khẳng định sức mạnh của sự đoàn kết, tinh thần tương thân tương ái giữa Việt Nam và Nga. Kể từ thời điểm bùng phát dịch bệnh đến nay, hai nước đã phối hợp chặt chẽ trong cung ứng và chuyển giao công nghệ, sản xuất vaccine phòng Covid-19. Trong giai đoạn đầu khi dịch mới bùng phát, Chính phủ Việt Nam, Quốc hội, các bộ, ngành của Việt Nam đã tặng Nga khẩu trang và một số vật tư y tế. Phía Nga đã viện trợ cho ta các liều vaccine Sputnik V và thuốc điều trị, vật tư y tế.

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhằm thắt chặt quan hệ hữu nghị truyền thống, đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-LB Nga, từ đó mở ra cơ hội mới trong các lĩnh vực còn nhiều tiềm năng hợp tác giữa hai nước. Chuyến thăm cũng góp phần khẳng định đường lối đối ngoại do Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra là độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ song phương đi vào chiều sâu.

Việc hai nước trao đổi đoàn cấp cao sau thời gian gián đoạn do đại dịch Covid-19 có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố sự tin cậy chính trị và tăng cường quan hệ giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, nhất là sau khi Việt Nam tổ chức thành công Đại hội Đảng lần thứ XIII và Nga tiến hành bầu cử Duma quốc gia vào tháng 9/2021.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 26/11/2021

Dấu ấn quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản

Chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đạt được những kết quả toàn diện, vừa cụ thể vừa có ý nghĩa chiến lược, tạo ra những dấu ấn lớn cho quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản.

Tối 25/11, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam đã về đến Hà Nội, kết thúc chuyến thăm chính thức Nhật Bản. Nhân dịp này, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn trả lời phỏng vấn về mục đích, ý nghĩa và những kết quả nổi bật của chuyến thăm.

Phóng viên (PV): Xin Bộ trưởng cho biết mục đích, ý nghĩa của chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam?

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn: Từ ngày 22 đến 25/11/2021, nhận lời mời của Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thăm chính thức Nhật Bản. Điểm đặc biệt chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính là chuyến thăm chính thức Nhật Bản đầu tiên của người đứng đầu Chính phủ và Thủ tướng cũng là vị khách nước ngoài đầu tiên của Chính phủ mới của Nhật Bản.

Nhật Bản là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam và là đối tác có ảnh hưởng ngày càng lớn trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Nhìn lại gần 50 năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao và đặc biệt hơn 30 năm đổi mới, Nhật Bản luôn tích cực tham gia hỗ trợ và đồng hành với Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế-xã hội; đến nay, Nhật Bản là đối tác số 1 về cung cấp viện trợ phát triển chính thức (ODA), số 2 về đầu tư, số 3 về du lịch, số 4 về thương mại của Việt Nam, là nơi cộng đồng gần 450.000 người Việt Nam sinh sống, làm việc.

Mục đích chính của chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ là nhằm tăng cường, củng cố quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản đi vào thực chất hơn, hiệu quả hơn, đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, doanh nghiệp và địa phương hai nước, nhất là trong bối cảnh cả Việt Nam và Nhật Bản đang phải khắc phục hậu quả của đại dịch COVID-19.

Có thể nói, chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên 3 phương diện, đó là:

Chuyến thăm tiếp tục đưa quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng với Nhật Bản đi vào chiều sâu, nâng tầm và thúc đẩy các mặt quan hệ hợp tác giữa hai nước đi vào thực chất hơn, xứng tầm với quan hệ đối tác chiến lược trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, chính trị, ngoại giao, quốc phòng và an ninh…

Trong bối cảnh cả hai nước có nhu cầu phục hồi kinh tế để khắc phục hậu quả tiêu cực của đại dịch COVID-19, chuyến thăm góp phần thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác thiết yếu, phù hợp với nhu cầu và khả năng của hai bên trên các lĩnh vực về chuyển đổi số, hợp tác y tế, hạ tầng giao thông, chống biến đổi khí hậu, nông nghiệp công nghệ cao, đô thị thông minh…

Chuyến thăm còn là minh chứng sinh động về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, Việt Nam là bạn bè tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

PV: Xin Bộ trưởng cho biết những kết quả nổi bật của chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ và những định hướng ưu tiên trong thời gian tới?

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn: Chúng ta có thể thấy những con số ấn tượng từ chuyến thăm. Chỉ trong hai ngày rưỡi, Thủ tướng Chính phủ đã có gần 50 hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều lãnh đạo chủ chốt của Nhật Bản từ lãnh đạo Quốc hội, các Bộ trưởng trong chính quyền, các cựu lãnh đạo của Nhật Bản, lãnh đạo Đảng Cộng sản, Đảng Công Minh, lãnh đạo các địa phương, các trường đại học và các doanh nghiệp hàng đầu Nhật Bản, gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam, đại diện trí thức Việt Nam tại Nhật Bản. Các thành viên của đoàn cũng có gần 20 cuộc gặp với đối tác để trao đổi sâu về các lĩnh vực hợp tác chuyên ngành và hợp tác giữa các địa phương.

Kết quả của chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Thủ tướng Chính phủ không chỉ thể hiện ở những con số mà còn ở ý nghĩa chiến lược lâu dài của chuyến thăm. Có thể khẳng định, chuyến thăm đã đạt được những kết quả toàn diện, vừa cụ thể vừa có ý nghĩa chiến lược, tạo ra những dấu ấn lớn cho quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản.

Thứ nhất, hai bên đã xác định được những định hướng lớn và biện pháp cụ thể để làm sâu sắc quan hệ vốn đã rất chặt chẽ và sâu rộng giữa hai nước. Các kết quả đó thể hiện rõ nét, toàn diện và thực chất trong Tuyên bố chung “Mở ra giai đoạn mới của quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản vì hòa bình và phồn vinh của châu Á”.

Hai bên thống nhất phương hướng lớn để tiếp tục đẩy mạnh các lĩnh vực hợp tác quan trọng như tăng cường quan hệ chính trị, hợp tác quốc phòng-an ninh, thúc đẩy phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19, phát triển nguồn nhân lực, phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu, nông nghiệp, chuyển đổi năng lượng, y tế, phối hợp kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (1973 -2023).

Hai nước sẽ đưa hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư bước vào giai đoạn phát triển mới sâu hơn, hiệu quả hơn, thực chất hơn; phối hợp để Nhật Bản giúp hỗ trợ Việt Nam thực hiện 03 đột phá chiến lược, hướng tới các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội mà đã đề ra. Hai bên sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác trong lĩnh vực mà hai nước có nhu cầu và Nhật Bản có thể mạnh như: Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, hạ tầng chiến lược, nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thực hiện các cam kết mà hai bên đã công bố với mục tiêu giảm phát thải về 0 vào năm 2050.

Việt Nam và Nhật Bản sẽ phát huy tối đa các cơ chế hợp tác hiện có, thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác an ninh – quốc phòng giữa hai nước trong các lĩnh vực như: An ninh mạng, quân y, tăng cường năng lực thực thi pháp luật trên biển, giải quyết hậu quả chiến tranh, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Hai bên cũng khẳng định sẽ tiếp tục thúc đẩy các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA của Nhật Bản cho giai đoạn phục hồi sau đại dịch COVID-19 nhằm đáp ứng những nhu cầu mới phát sinh và lợi ích của hai nước trong các lĩnh vực ưu tiên, bao gồm: hạ tầng giao thông, hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu, y tế và chuyển đổi số, có tính đến các ưu đãi, thủ tục tinh gọn.

Về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai bên đạt nhận thức chung về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm, nhất trí tăng cường phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, tiếp tục hợp tác chặt chẽ nhằm duy trì hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực và trên thế giới.

Thứ hai, chuyến thăm đã giúp củng cố niềm tin, thắt chặt tình hữu nghị, nâng cao hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước, nhân dân hai nước.

Trong suốt chuyến thăm, thông điệp được nhắc đến nhiều lần, đó là Việt Nam luôn coi Nhật Bản là bạn, là đối tác tin cậy, quan trọng hàng đầu chia sẻ nhiều lợi ích chiến lược chung. Nhân dân hai nước dành sự tin cậy và tình cảm quý mến cho nhau. Trong suốt chuyến thăm, hai bên thống nhất cho rằng, sự tương đồng về văn hóa, lịch sử quan hệ lâu đời, sự tin cậy, hiểu biết giữa hai dân tộc là tài sản quý giá mà hai nước cần phát huy. Lãnh đạo cấp cao Nhật Bản cũng đánh giá cao những đóng góp của cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản.

Các nhà lãnh đạo, các đảng phái, người dân Nhật Bản đã đón tiếp Đoàn hết sức chân tình, trọng thị, nồng ấm, thể hiện tình cảm quý mến với đất nước, con người Việt Nam. Phía Nhật Bản tin tưởng vào tiềm năng, khả năng phục hồi và phát triển kinh tế của Việt Nam sau đại dịch.

Thứ ba, chuyến công tác đã đạt được những kết quả cụ thể, thúc đẩy hợp tác giữa các bộ, ban, ngành, địa phương và doanh nghiệp hai nước. Các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp hai nước đã ký kết và trao đổi hơn 50 văn kiện hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có thỏa thuận hợp tác trị giá nhiều tỷ USD. Hai bên cũng thống nhất sớm mở lại đường bay giữa hai nước, áp dụng hộ chiếu vắc-xin, xử lý các vấn đề liên quan đến thực tập sinh, lưu học sinh Việt Nam tại Nhật Bản, tháo gỡ những vướng mắc trong thực hiện vốn ODA, thúc đẩy các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm.

Trong các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại, Thủ tướng đã gặp gỡ với lãnh đạo của nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn của Nhật Bản. Sau khi nghe Thủ tướng giới thiệu về nỗ lực kiểm soát COVID-19 và thích ứng phục hồi kinh tế của Việt Nam, các tập đoàn, doanh nghiệp đều cho rằng thời điểm chuyến thăm rất có ý nghĩa trong việc thúc đẩy giao lưu, hợp tác phát triển kinh tế sau đại dịch và đánh giá tiềm năng hợp tác giữa hai nước còn rất lớn.

Trong lúc khó khăn do dịch COVID-19, hai bên đã luôn hợp tác chặt chẽ trong phòng chống dịch bệnh. Tại chuyến thăm này, Nhật Bản công bố viện trợ bổ sung cho Việt Nam hơn 1,5 triệu liều vắc-xin và số vắc-xin này đã về cùng chuyên cơ của Thủ tướng, nâng tổng số vắc-xin Nhật Bản tặng Việt Nam lên hơn 5,6 triệu liều. Hai bên cũng nhất trí tăng cường hợp tác trong nghiên cứu sản xuất vắc xin và thiết bị y tế. Ngay trong chuyến thăm này, tập đoàn SMBC của Nhật Bản đã đóng góp 1 triệu USD cho công tác phòng chống COVID-19 của Việt Nam.

Tóm lại, chuyến thăm tiếp tục khẳng định vị thế vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trên trường quốc tế. Các hoạt động đa dạng, phong phú của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã một lần nữa thể hiện sự tự tin, năng động của Việt Nam. Cùng với các hoạt động đối ngoại của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, chuyến công tác tiếp tục khẳng định quyết tâm đẩy mạnh công cuộc hội nhập của đất nước, củng cố quan hệ đối ngoại với các nước, các đối tác, củng cố niềm tin của bạn bè quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân trong nước về chủ trương, đường lối phát triển đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.

PV: Xin cảm ơn Bộ trưởng!.

Mạnh Hùng

 Trang 1 báo Nhân Dân ngày 26/11/2021

Chủ tịch nước gửi Thư khen Chương trình “75 nghìn sáng kiến, vượt khó, phát triển”

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc vừa có Thư khen Chương trình “75 nghìn sáng kiến, vượt khó, phát triển” của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Báo Nhân Dân trân trọng giới thiệu toàn văn Thư khen của Chủ tịch nước.

Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày Quốc tế Lao động tại Việt Nam (1/5/1946-1/5/2021), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã phát động Chương trình “75 nghìn sáng kiến, vượt khó, phát triển” trong đoàn viên công đoàn, công nhân, công chức, viên chức, người lao động của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên cả nước. Tôi nhiệt liệt biểu dương phong trào này.

Đây là Chương trình rất thiết thực vì lao động sản xuất là nguồn gốc tạo ra của cải và sự thịnh vượng của quốc gia. Những người có khả năng đóng góp tốt nhất cho công việc hằng ngày là những người lao động trực tiếp va chạm với công việc, biết rõ vướng mắc ở đâu và hiểu rõ cần làm gì để cải thiện hiệu suất của tổ chức trên từng khía cạnh nhỏ nhất. Chương trình giúp khơi dậy và thúc đẩy kiến tạo văn hóa mới trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp: Mỗi nhân viên đều hăng say, nhiệt huyết, trăn trở, đóng góp vào sự phát triển của tổ chức nơi mình làm việc.

Tôi chúc mừng sự thành công của Chương trình với 250.177 sáng kiến tham gia (vượt 300% so với mục tiêu). Các sáng kiến có mặt ở mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội được trân trọng, ghi nhận và khích lệ kịp thời; rất nhiều sáng kiến đã ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn lao động, sản xuất và công việc của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp mang lại giá trị gia tăng cao, như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Sáng kiến và kinh nghiệm là của quý chung cho cả dân tộc”.

Tôi tin tưởng và chúc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tiếp tục phát huy Chương trình “75 nghìn sáng kiến, vượt khó, phát triển”, tiếp tục có nhiều chương trình ý nghĩa và lan tỏa sâu rộng, góp phần nhân lên niềm tin và khát vọng phấn đấu cho một đất nước Việt Nam hùng cường, hạnh phúc.

Thân ái!

                                        Nguyễn Xuân Phúc

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 25/11/2021

Phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Sáng 24/11, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương tổ chức Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng theo hình thức trực tuyến.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị.

Dự hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước; Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch Quốc hội; Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, BCH T.Ư Đảng; lãnh đạo các bộ, ban, ngành, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội, nghề nghiệp.

Dự hội nghị tại điểm cầu Vĩnh Phúc có các đồng chí: Phạm Hoàng Anh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Lê Duy Thành, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Vũ Việt Văn, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; các đồng chí Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành. Hội nghị cũng được kết nối trực tuyến tới 130 điểm cầu ở các sở, ban, ngành, huyện, thành phố, các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh.

Trình bày báo cáo tóm tắt về việc kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, xây dựng, phát triển văn hóa sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, các định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển văn hóa, con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh: Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc; hình thành nên những giá trị văn hóa Việt Nam cao đẹp, bền vững: Yêu nước, đoàn kết, cần cù, dũng cảm, tài trí, lạc quan, hiếu học, nghĩa tình, hòa hiếu, khoan dung…

Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, ngay từ khi ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định ba mặt trận quan trọng của cách mạng nước ta là chính trị, kinh tế và văn hóa. Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943 của Đảng xác định xây dựng nền văn hóa Việt Nam,  bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật do cách mạng dân chủ giải phóng thắng lợi mà được cởi mở xiềng xích và sẽ đuổi kịp văn hóa tân dân chủ thế giới; khẳng định ba nguyên tắc vận động quần chúng xây dựng văn hóa là “dân tộc hóa”, “đại chúng hóa”, “khoa học hóa”. Tính chất của nền văn hóa mới Việt Nam được xác định là “dân tộc về hình thức, tân dân chủ về nội dung”. Tại hội nghị lần thứ 5, BCH Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đề ra 5 quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ cụ thể nhằm phù hợp với thực tiễn của đất nước trong giai đoạn mới. Còn hội nghị lần thứ 9, BCH T.Ư Đảng khóa XI ban hành Nghị quyết số 33 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu, phát triển bền vững đất nước khẳng định “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa cho biết, sau 35 năm đổi mới đất nước, việc xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam đạt được những kết quả quan trọng. Nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác văn hóa tiếp tục được đổi mới, cơ bản đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước lĩnh vực này từng bước đước nâng cao. Việc xây dựng môi trường văn hóa, văn hóa chính trị, văn hóa kinh tế được gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đặc biệt, Việt Nam đã chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, đa dạng hóa các hình thức văn hóa đối ngoại; bản sắc, giá trị văn hóa, con người Việt Nam tiếp tục được kế thừa, phát huy cao độ khi đất nước gặp khó khăn, thử thách do thiên tai, dịch bệnh, nhất là dịch bệnh Covid-19 từ cuối năm 2019 đến nay.

Tham luận tại hội nghị, các đại biểu đề nghị Ban Bí thư Trung ương, Bộ Chính trị tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 33 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước; nâng cao nhận thức về văn hóa và nhiệm vụ phát triển văn hóa, con người Việt Nam, trước hết là cho cán bộ, đảng viên, các tổ chức Đảng; cần hoạch định chiến lược phát triển văn hóa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, bảo đảm việc bố trí nguồn lực đầu tư phù hợp, tạo cơ chế thuận lợi thu hút nguồn lực xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển. Cùng với đó, chú trọng xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và nhân văn trong hệ thống chính trị, trong từng cộng đồng thôn làng, khu dân cư, tổ dân phố, trường học, cơ quan, doanh nghiệp và mỗi gia đình. Tiếp tục kiên trì mục tiêu xây dựng con người văn minh, phát triển toàn diện, hình thành hệ giá trị văn hóa mới trên cơ sở kế thừa và phát huy những giá trị nhân văn sâu sắc. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, đất nước Việt Nam hơn 4 nghìn năm lịch sử, trải qua bao biến đổi, thăng trầm do thiên nhiên và con người đã tích luỹ, tạo ra và phát huy được nhiều giá trị, bản sắc văn hoá riêng của dân tộc, làm nên hồn cốt của dân tộc và góp phần đóng góp vào nền văn hoá chung của nhân loại. Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn luôn coi trọng vai trò của văn hoá và hết sức quan tâm đến công tác xây dựng văn hoá trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhận thức của Đảng về văn hoá ngày càng toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn; luôn đặt con người luôn là chủ thể, giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ rõ những tồn tại, bất cập trong phát triển, bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa như: Phát triển văn hóa chưa đồng bộ, chưa xứng tầm với chiến lước phát triển của đất nước; sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền còn cao; nhiều di sản quý báu có nguy cơ mai một, xuống cấp, tiêu vong; công tác giới thiệu, quảng bá văn hóa ra nước ngoài chưa mạnh; công tác quản lý nhà nước lĩnh vực này ở một số nơi còn lỏng lẻo, thiếu quyết liệt, hiệu quả…

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém, nhất là để chấn hưng, phát triển nền văn hóa trong bối cảnh hội nhập, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện tốt mục tiêu của Nghị quyết số 33 của BCH Trung ương Đảng khóa XI là xây dựng và phát triển văn hóa, con người là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cùng với đó, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường của dân tộc; xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới. Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo tồn, tiếp thu các tinh hoa văn hóa của nhân loại, xây dựng môi trường văn hóa văn minh, bảo vệ những giá trị chân – thiện – mỹ, khắc phục sự chênh lệch về sự phát triển, hưởng thụ văn hóa. Phát huy giá trị văn hóa của nhân dân, phát triển các giá trị văn hóa sâu rộng, bảo đảm công bằng, văn minh. Chú trọng xây dựng văn hóa trong chính trị, kinh tế, nhất là văn hóa trong Đảng trở thành tấm gương đạo đức cho xã hội; văn hóa doanh nghiệp trở thành hệ điều tiết cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với xã hội số, công dân số, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, bảo đảm văn hóa phải được ngang hàng với phát triển kinh tế. Đảy mạnh công tác sắp xếp, quản lý bộ máy quản lý hoạt động văn hóa từ Trung ương đến cơ sở, khơi thông các nguồn lực cho phát triển văn hóa; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ trí thức làm công tác văn hóa, nghệ thuật. Quan tâm hơn nữa đến việc bảo tồn, tôn tạo các giá trị văn hóa của dân tộc để người dân Việt Nam được hưởng thụ các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 24/11/2021

Kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Bộ Chính trị quyết định phân công bà Trương Thị Mai giữ chức Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; ông Lê Minh Hưng giữ chức Ủy viên Ban Chỉ đạo.

Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quyết định về việc phân công kiêm giữ chức Phó Trưởng ban và Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Tại Quyết định số 378-QĐNS/TW, Bộ Chính trị quyết định phân công bà Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực kiêm giữ chức Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Bà Trương Thị Mai sinh năm 1958, quê quán Quảng Bình. Bà là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, XIII, Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, XIII, Đại biểu Quốc hội liên tục 5 khóa, từ khóa X – XV.

Trước khi làm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, bà Trương Thị Mai đã trải qua các chức vụ như: Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội khóa XI; Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội khóa XII, XIII; Trưởng Ban Dân vận Trung ương.

Tại Quyết định số 379-QĐNS/TW, Bộ Chính trị quyết định phân công ông Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, kiêm giữ chức Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Ông Lê Minh Hưng sinh năm 1970, quê quán Hà Tĩnh. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII, Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII; đại biểu Quốc hội khóa XV.

Trước khi giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, ông Lê Minh Hưng từng giữ các chức vụ như: Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam); Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Sau khi kiện toàn, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gồm 18 thành viên do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban; ông Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương là Phó Trưởng Ban Thường trực và 5 Phó Trưởng ban khác.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 23/11/2021

Việt Nam tiếp tục nỗ lực vun đắp cho quan hệ ASEAN – Trung Quốc

Sáng 22.11.2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính dẫn đầu đoàn Việt Nam, cùng các lãnh đạo ASEAN và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dự Hội nghị trực tuyến cấp cao đặc biệt kỷ niệm 30 năm quan hệ đối thoại ASEAN – Trung Quốc (1991-2021).

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định, khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện ASEAN và Trung Quốc vừa nhất trí thiết lập là minh chứng cho thành quả hợp tác 30 năm qua, trên cơ sở tin cậy chính trị, hợp tác hữu nghị và toàn diện, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau. Hướng tới tương lai, Thủ tướng nhấn mạnh ASEAN và Trung Quốc cần tiếp tục củng cố lòng tin chiến lược và đẩy mạnh hợp tác toàn diện, nhân lên các thành tựu, hướng tới những mục tiêu cao hơn, những lợi ích rộng hơn cho quan hệ ASEAN-Trung Quốc.

Chia sẻ ủng hộ các định hướng hợp tác mà các Lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã nêu, Thủ tướng nhấn mạnh thêm những yếu tố cốt lõi trong hợp tác, cụ thể là: (i) cùng nhau giữ vững hòa bình, ổn định hợp tác phát triển trong môi trường còn nhiều bất định, và (ii) phát huy thành quả, thúc đẩy hợp tác chặt chẽ hơn nữa để ứng phó hiệu quả với các thách thức mới, mang tính toàn cầu, góp phần phát triển toàn diện, bao trùm, thịnh vượng, an toàn, bền vững cho mỗi bên.

Thủ tướng nhấn mạnh, để bảo đảm hoà bình, an ninh, ổn định ở khu vực, nhất là ở Biển Đông, cần tăng cường đối thoại, củng cố lòng tin, tuân thủ luật pháp quốc tế và hành xử trách nhiệm của các quốc gia, cùng nhau nỗ lực hơn nữa thực hiện đầy đủ Tuyên bố DOC, tiếp tục thúc đẩy xây dựng và sớm đạt được Bộ Quy tắc COC hiệu lực, hiệu quả, phù hợp luật pháp quốc tế và Công ước Luật Biển (UNCLOS) 1982.

Thủ tướng bày tỏ mong muốn ASEAN và Trung Quốc sớm khôi phục, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư. Thủ tướng đề xuất Trung Quốc tạo thuận lợi hơn nữa cho hàng hoá xuất khẩu của ASEAN, bảo đảm cân bằng thương mại, tăng cường kết nối đầu tư công nghệ cao gắn với đổi mới sáng tạo, phát triển hạ tầng, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, chống biến đổi khí hậu, sớm nối lại giao lưu nhân dân…

Thủ tướng khẳng định, trên nền tảng quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác truyền thống tốt đẹp với Trung Quốc, Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực góp phần vun đắp cho quan hệ ASEAN-Trung Quốc phát triển đúng tầm mức của đối tác chiến lược toàn diện, đóng góp quan trọng củng cố, tăng cường hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác, phát triển bền vững ở khu vực và trên thế giới, đem lại lợi ích thiết thực cho mỗi quốc gia và cho ấm no và hạnh phúc của mọi người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, an ninh

ASEAN và Trung Quốc đánh giá quan hệ hai bên là một trong những mối quan hệ đối tác cùng có lợi, năng động và thực chất. ASEAN và Trung Quốc công bố thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện đã minh chứng cho những kết quả quan trọng đạt được trong hợp tác toàn diện giữa hai bên trong 30 năm qua.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh những nguyên tắc cơ bản như tôn trọng lẫn nhau, đề cao các chuẩn mực trong quan hệ quốc tế, hợp tác cùng có lợi, quan tâm chân thành và chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau và cùng đẩy mạnh hợp tác đa phương khu vực và thế giới; khẳng định Trung Quốc nhất quán coi trọng ASEAN như một trọng tâm trong chính sách đối ngoại láng giềng, ủng hộ ASEAN đóng vai trò trung tâm, có vai trò và vị thế ngày càng cao trong khu vực và trên thế giới. Trung Quốc mong muốn cùng ASEAN tăng cường hợp tác xây dựng ngôi nhà chung trên các khía cạnh hoà bình, an toàn, tươi đẹp và hữu nghị.

Chủ tịch Tập Cận Bình nhấn mạnh 3 yếu tố cốt lõi tiếp tục mang tính quyết định đối với quan hệ ASEAN-Trung Quốc trong tương lai là tin cậy chính trị, tinh thần hữu nghị và hợp tác cùng có lợi.

Trung Quốc sẽ tiếp tục hợp tác với ASEAN ứng phó dịch COVID-19, thúc đẩy sáng kiến “lá chắn y tế” để cùng hợp tác ứng phó dịch bệnh ở khu vực, hỗ trợ thêm 150 triệu liều vaccine phòng COVID-19 cho các nước ASEAN, đóng góp thêm 5 triệu USD cho Quỹ ASEAN ứng phó COVID-19, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hợp tác sản xuất vaccine, nghiên cứu và phát triển thuốc điều trị thiết yếu và hỗ trợ nâng cao năng lực y tế ứng phó bùng phát dịch bệnh trong tương lai.

Cùng với việc đề xuất những biện pháp như tận dụng hiệu quả Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), nâng cấp Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA)…, Trung Quốc khẳng định sẽ mở cửa thị trường cho các nước ASEAN, sẵn sàng nhập khẩu các sản phẩm có chất lượng, trong đó có các mặt hàng nông sản từ các nước ASEAN trị giá lên tới 150 tỉ USD trong 5 năm tới.

Trao đổi về tình hình khu vực và quốc tế, các nước nhất trí cần cùng xây dựng Biển Đông thành vùng biển hoà bình, an ninh, ổn định và hợp tác. Trên cơ sở đó, các nước tham gia Hội nghị nhấn mạnh tầm quan trọng của xây dựng lòng tin, tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình. Các bên cam kết triển khai đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố DOC, thúc đẩy xây dựng COC hiệu quả, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/11/2021

Truyền cảm hứng, niềm tin vào chủ nghĩa xã hội

Vừa ra mắt, cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam – Dư luận trong nước và quốc tế về bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng” đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của bạn đọc. Đây là vấn đề rất lớn, rất cơ bản và có nhiều cách tiếp cận.

Từ bài viết của Tổng Bí thư đã có hàng nghìn bài viết đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới, của cán bộ, đảng viên, người dân ở mọi miền Tổ quốc, hưởng ứng và đánh giá cao. Tổng hợp, tuyển chọn các bài viết đó, cuốn sách góp phần làm sâu sắc thêm những quan điểm, tư tưởng của Tổng Bí thư, truyền cảm hứng, vững tin vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Bài viết của Tổng Bí thư được công bố vào trung tuần tháng 5/2021. Ngay sau đó và cho đến hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện ngày càng nhiều bài viết hưởng ứng và cho rằng, đây là một công trình nghiên cứu khoa học, công phu, tâm huyết, tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn về những vấn đề cơ bản nhất của cách mạng nước ta. Đọc các bài viết in trong cuốn sách càng thấy rõ, dù người viết là ai, có thể đề cập một hoặc nhiều nội dung, hay chỉ nêu một ý kiến ngắn, song đều có điểm chung là rất tâm đắc với cách nêu vấn đề, luận giải vấn đề thuyết phục của Tổng Bí thư.

Nhận thức rõ hơn con đường chúng ta đi, đích chúng ta đến

Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã có không dưới hàng trăm bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhưng chưa thể làm sáng tỏ hết mọi vấn đề đặt ra kể cả về lý luận và thực tiễn, nhất là từ khi Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, làm không ít người bi quan, dao động và hoài nghi về mô hình xã hội này. Với bao năm dày công nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và trực tiếp lãnh đạo đất nước tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, với tư duy khoa học và cách nhìn biện chứng, lịch sử, cụ thể, với tấm lòng thiết tha và niềm tin mãnh liệt vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và bằng chính thực tiễn sinh động của đất nước sau 35 năm đổi mới, Tổng Bí thư đã nêu, giải đáp thuyết phục, thỏa đáng đúng, trúng nhiều vấn đề đặt ra. Bài viết mang một tâm thế mới, có cách nhìn toàn diện, có ý nghĩa, giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc hơn. Những người có bài viết in trong cuốn sách đều ủng hộ và thể hiện sự đồng tình cao với những quan điểm của Tổng Bí thư, qua đó nhận thức đúng hơn về những thành tựu và khuyết tật cũng như các mâu thuẫn vốn có không thể giải quyết của chủ nghĩa tư bản; hiểu sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội; vì sao Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đi lên bằng cách nào và những vấn đề cần giải quyết trong quá trình đổi mới.

Theo các tác giả có bài in trong cuốn sách, sức cuốn hút từ bài viết của Tổng Bí thư là ở chỗ vừa luận giải đúng, trúng những vấn đề bức thiết nhất của thời đại với những dẫn chứng sinh động thuyết phục từ thực tiễn, vừa có cách trình bày gần gũi, dung dị, như muốn chia sẻ với người đọc những điều tâm huyết nhất tự đáy lòng mình. Qua đó muốn giúp người đọc định hình về chủ nghĩa xã hội và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể ở Việt Nam, nhận thức sâu sắc hơn về con đường chúng ta đi, đích chúng ta đến.

Làm phong phú thêm kho tàng lý luận về chủ nghĩa xã hội

Hiếm có bài viết nào được dư luận quốc tế quan tâm, đánh giá cao như bài viết lần này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Vấn đề không mới, nhưng phải chăng, tư duy, tầm nhìn, cách thể hiện có nhiều điểm mới làm cho bài viết có sức hút lớn như vậy.

Qua 50 bài trao đổi, trả lời phỏng vấn, đánh giá của các học giả, người nghiên cứu, bạn bè quốc tế,… được tuyển chọn, in trong cuốn sách nói lên điều ấy. Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Giám đốc Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào Phuvông Ùnkhănxẻn chia sẻ: “Bài viết (bài viết của Tổng Bí thư) được ví như một giáo trình có giá trị khoa học cao, định hướng cho hoạt động của nhà tư tưởng, lý luận, chiến sĩ cách mạng, cán bộ, đảng viên của các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa”. Chủ nhiệm Văn phòng nghiên cứu so sánh chính đảng thế giới, Trường Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Triệu Tự Sinh đánh giá: “Đây là bài viết có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn quan trọng, định hướng cho Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân nỗ lực phấn đấu nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Trưởng Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia Keo Baphnom cho rằng, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Trưởng Ban Nghiên cứu châu Á-châu Đại Dương thuộc Trung tâm Nghiên cứu chính trị quốc tế (CIPI) của Cuba; Phó Chủ tịch Thường trực Hội hữu nghị Cuba-Việt Nam TS Ruvislei González Saez nhận định, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “có giá trị tham khảo cho các quốc gia đang trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội cũng như công tác nghiên cứu lý luận-thực tiễn”, “là tài liệu tham khảo cho các lực lượng tiến bộ trên thế giới phấn đấu cho sự phát triển của các xã hội công bằng nhất”. Viện trưởng Viện Đông Phương học, Trường đại học Sư phạm quốc gia A.I.Herzen, Liên bang Nga GS, TSKH Andrey Vassoevich cho rằng: “Quan điểm của Tổng Bí thư về phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội là ý tưởng gần gũi không chỉ với hàng triệu người Việt Nam, mà còn với đông đảo người dân trên thế giới”…

Các bài viết in trong cuốn sách vừa thể hiện sự đồng tình, vừa biểu thị quyết tâm hành động, biến mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và cũng là khát vọng của cả dân tộc thành hiện thực, hướng tới một xã hội mà trong đó sự phát triển là thật sự vì con người; một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn… Không cứ những bài viết chính luận mà có khi chỉ là một ý kiến ngắn nhưng đều là những điều tâm huyết mà người viết muốn chia sẻ với người lãnh đạo cao nhất của Đảng ta cùng trả lời cụ thể hơn các câu hỏi đặt ra từ thực tiễn thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, để thống nhất nhận thức và hành động. Đó còn là những bài viết phản ánh ở các địa phương triển khai thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư trong bài viết… Có khi một nội dung nhưng được nhiều bài viết tập trung phân tích dưới nhiều góc độ. Cụ thể như trong thời kỳ quá độ, phải không ngừng củng cố, tăng cường phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa; về phát huy sức mạnh Nhân dân – cội nguồn của sức mạnh; về phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội; về phát triển bền vững để bảo vệ môi trường sống trong lành; về xây dựng hệ thống chính trị mà quyền lực thật sự thuộc về Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân phục vụ…

Đọc kỹ từng bài viết càng thấy cuốn sách là một tài liệu quý. Từ bài viết của mình, Tổng Bí thư đã làm lan tỏa niềm tin, truyền cảm hứng cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta về khát vọng phát triển đất nước. Những bài viết trong cuốn sách đã góp thêm một tiếng nói làm cho niềm tin ấy, khát vọng ấy mãnh liệt hơn, để xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn./.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 17/11/2021

Hoàn thiện đề án sửa đổi, bổ sung, thay thế một số Quyết định, Quy định của Bộ Chính trị

Thực hiện Chương trình công tác năm 2021 của Bộ Chính trị, chiều 16/11, tại Hà Nội, Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương tổ chức hội nghị đóng góp ý kiến vào dự thảo một số đề án của Ban Tổ chức Trung ương. Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Trưởng Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương chủ trì hội nghị.

Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Công an, Phó Trưởng Tiểu ban; Đại tướng Lương Cường, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên Tiểu ban; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Mai Văn Chính, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương; Nguyễn Quang Dương, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Phó Trưởng Tiểu ban Thường trực.

Tại hội nghị, các thành viên Tiểu ban thảo luận các báo cáo tổng kết, cho ý kiến vào nội dung dự thảo Quy định mới thay thế Quy định số 126-QĐ/TW, ngày 28/2/2018 của Bộ Chính trị “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng” và dự thảo Quyết định mới thay thế Quyết định số 266-QĐ/TW, ngày 20/10/2014 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương cùng các văn bản liên quan khác.

Kết luận hội nghị, đồng chí Trương Thị Mai yêu cầu Tổ biên tập tiếp thu tối đa ý kiến góp ý của các đại biểu và tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện các dự thảo, tham mưu lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương trình Bộ Chính trị vào tháng 12/2021

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 30/11/2021

Mở mới cửa khẩu quốc tế đường bộ Vĩnh Xương

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 146/NQ-CP quyết nghị mở mới cửa khẩu quốc tế đường bộ Vĩnh Xương và hợp nhất với cửa khẩu quốc tế đường sông Vĩnh Xương thành cửa khẩu quốc tế đường bộ và đường sông Vĩnh Xương, tỉnh An Giang.

Bộ Ngoại giao, UBND tỉnh An Giang và các cơ quan liên quan tiếp tục hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy định tại Nghị định số 112/2014/NĐ-CP ngày 21/11/2014 của Chính phủ quy định về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền; trong trường hợp dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, việc tổ chức Lễ công bố khai trương thực hiện vào thời điểm và hình thức phù hợp.

UBND tỉnh An Giang chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí lực lượng, trang thiết bị tại khu vực cửa khẩu nêu trên phù hợp với các quy định của pháp luật.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 19/11/2021

Chủ tịch Quốc hội dự khai mạc Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc – Di sản văn hóa Việt Nam”

Tối 18/11, tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chương trình nghệ thuật “Bình minh Đất Việt”, chào mừng Tuần Đại đoàn kết các dân tộc – Di sản văn hóa Việt Nam năm 2021.

Dự chương trình có các đồng chí: Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Nguyễn Văn Hùng, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư; Nguyễn Đắc Vinh, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội và đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương.

Phát biểu tại Chương trình, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đồng chí Vương Đình Huệ gửi lời chúc mừng tới các đại biểu và toàn thể đồng chí, đồng bào nhân kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Khẳng định Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc – Di sản văn hóa Việt Nam” là hoạt động ý nghĩa trước thềm Hội nghị Văn hóa toàn quốc và triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đồng chí nhấn mạnh, đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc ta, Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng xây dựng, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuần Đại đoàn kết các dân tộc là hoạt động biểu dương các tấm gương tiêu biểu từ cộng đồng đồng bào các dân tộc trong cả nước, tôn vinh các hoạt động bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, đồng thời góp phần giới thiệu những nét đẹp văn hóa truyền thống, lan tỏa những giá trị nhân văn, tinh thần tương thân tương ái, tình yêu quê hương, đất nước, con người Việt Nam, nhất là trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, ảnh hưởng rất lớn tới kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân.

Đồng chí Vương Đình Huệ đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên quyết liệt kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe của nhân dân, ổn định, phục hồi và phát triển sản xuất; tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ: Động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các cuộc vận động, phong trào thi đua, triển khai thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị được giao; động viên đồng bào các dân tộc phát huy truyền thống đoàn kết, gìn giữ các giá trị lịch sử, văn hóa đang được lưu giữ bằng trí nhớ, bằng chữ viết của các dân tộc.

Đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, mặt trận các cấp và mọi tầng lớp nhân dân trong bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắng cảnh, các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; Đẩy mạnh tuyên truyền, mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, đồng bào trong nước cũng như kiều bào ta ở nước ngoài; chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ những người dân gặp nhiều khó khăn, đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục làm tốt vai trò chủ trì hiệp thương, phối hợp giữa các tổ chức thành viên, hội tụ tối đa trí tuệ, tâm huyết của các nhà khoa học, các chuyên gia giàu kinh nghiệm, lắng nghe ý kiến của các tầng lớp nhân dân về các vấn đề quốc kế dân sinh, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của quần chúng nhân dân; chủ động phối hợp với chính quyền các cấp giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc ngay tại cơ sở; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao, ổn định xã hội để phát triển toàn diện và bền vững đất nước.

Đồng chí Vương Đình Huệ cũng đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện có hiệu quả “Chương trình phối hợp về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh giai đoạn 2021 – 2025”, làm cho các giá trị văn hóa truyền thống thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế.

Chương trình nghệ thuật “Bình minh Đất Việt” gồm ba phần: Bình minh trên bản; Vang vọng hồn thiêng sông núi; Miền đất câu hò điệu ví. Với các hoạt cảnh, diễn xướng, ca múa nhạc kết hợp nghệ thuật sắp đặt, các tiết mục trình diễn kết hợp giữa quan họ, hát văn, sử thi, dân ca… đã giới thiệu, quảng bá, tôn vinh giá trị các di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa và di sản thiên nhiên, đồng thời khích lệ tinh thần đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam.

NGỌC LIÊN

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 29/11/2021

Chủ động ngăn chặn nguy cơ xâm nhập, lây lan của biến thể mới Omicron

Văn phòng Chính phủ vừa có công văn số 8706/VPCP-KGVX ngày 29/11/2021 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về việc kiểm soát biến chủng mới Omicron của virus SARS-CoV-2.

Công văn nêu: Gần đây trên thế giới đã ghi nhận biến chủng mới Omicron của virus SARS-CoV-2 và đang lây lan nhanh ra nhiều nước trên thế giới. Để chủ động kiểm soát, phòng, chống dịch bệnh, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Y tế chủ động bám sát diễn biến tình hình dịch do chủng mới Omicron gây ra; thường xuyên trao đổi với Tổ chức Y tế Thế giới để cập nhật thông tin, kịp thời, chính xác về biến chủng này, trên cơ sở đó đề xuất các phương án, biện pháp phòng, chống dịch kịp thời, phù hợp, hiệu quả với diễn biến tình hình dịch.

Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các bộ, cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao chỉ đạo các đơn vị chức năng tăng cường kiểm soát người đến và đi qua các nước đã phát hiện ca bệnh nhiễm chủng mới Omicron nhập cảnh vào Việt Nam để ngăn chặn nguy cơ xâm nhập và lây lan của biến thể này vào nước ta.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 27/11/2021

Gần 92% số người từ 18 tuổi trở lên đã được tiêm vắc-xin phòng Covid-19

Theo thông tin trên Cổng tiêm chủng Covid-19, tính đến chiều 26/11, cả nước đã tiêm được 116.430.866 liều vắc-xin phòng Covid-19. Tỷ lệ bao phủ ít nhất một liều vắc-xin là 91,8% và tỷ lệ tiêm đủ hai liều vắc-xin là 63,6% dân số từ 18 tuổi trở lên. Theo khu vực, tỷ lệ này lần lượt ở miền bắc là 85,1% và 56,4%; miền trung là 89,8% và 48,2%; Tây Nguyên là 88,5% và 35%; miền nam là 97,9% và 77,6%.

Bên cạnh đó, đến nay đã có 36 tỉnh ,thành phố triển khai điều trị có kiểm soát bằng thuốc kháng vi-rút Molnupiravir cho bệnh nhân Covid-19 nhẹ và không triệu chứng. Bộ Y tế đã cung cấp miễn phí gần 250 nghìn liều thuốc này cho người bệnh sử dụng.

Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội Vũ Cao Cương cho biết: từ sáng nay (27/11), TP Hà Nội sẽ triển khai tiêm vắc-xin phòng Covid-19 cho học sinh lớp 9 và giảm dần độ tuổi đến 12 tuổi như lộ trình đề ra cũng như theo lượng vắc-xin mà Bộ Y tế phân bổ. Sở Y tế Hà Nội vừa tiếp tục phân bổ 137.724 liều vắc-xin Pfizer cho 30 quận, huyện, thị xã để thực hiện tiêm mũi 1 cho trẻ em 14 tuổi (tương đương khối lớp 9) đang học tập, sinh sống trên địa bàn thành phố. Tính đến ngày 25/11, toàn thành phố đã tiêm được 235.199 mũi cho học sinh lớp 10, 11 và 12.

Cục Quản lý dược (Bộ Y tế) cho biết, Tập đoàn dược phẩm MSD của Mỹ và Công ty Pfizer đã có văn bản gửi Cục Quản lý dược đồng ý nhượng quyền tự nguyện sản xuất thuốc điều trị Covid-19 gồm: thuốc kháng vi-rút Molnupiravir và thuốc Paxlovid. Trên cơ sở đó, Cục Quản lý dược đề nghị Hiệp hội Doanh nghiệp dược Việt Nam sớm thông báo đến các cơ sở sản xuất thuốc thành viên có nhu cầu liên hệ với Tập đoàn dược phẩm MSD, Công ty Pfizer hoặc Quỹ Bằng sáng chế thuốc để nộp hồ sơ nhằm trở thành đối tác nhượng quyền tự nguyện sản xuất thuốc Molnupiravir và Paxlovid.

Theo thông báo của Bộ Y tế, ngày 26/11, trên Hệ thống Quốc gia quản lý ca bệnh Covid-19 ghi nhận 13.109 ca nhiễm mới, gồm 15 ca nhập cảnh và 13.094 ca ghi nhận trong nước (tăng 665 ca so với ngày trước đó) tại 60 tỉnh, thành phố, có 7.288 ca trong cộng đồng. Ngoài ra cũng có 12.368 người mắc Covid-19 được công bố khỏi bệnh và 137 ca tử vong. Như vậy, trong bảy ngày qua trung bình mỗi ngày ghi nhận 11.162 ca nhiễm mới.

Bộ Y tế chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương triển khai quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh mùa đông xuân năm 2021-2022, chú trọng triển khai công tác phòng, chống dịch bệnh tại các vùng sâu, vùng xa, vùng khó tiếp cận dịch vụ y tế, vùng đồng bào dân tộc sinh sống, khu vực di biến động về dân cư, có ổ dịch cũ và nơi có tỷ lệ tiêm chủng chưa cao. Sở Y tế Hà Nội có công văn gửi Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội; phòng y tế, trung tâm y tế các quận, huyện, thị xã; các cơ sở khám, chữa bệnh trong và ngoài công lập yêu cầu tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch trong tình hình mới.

Ngày 26/11, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh An Giang đã họp bàn giải pháp kéo giảm tỷ lệ người tử vong do nhiễm Covid-19. Theo báo cáo, đến nay tỉnh ghi nhận 340 ca tử vong, đứng thứ 6 trong cả nước về số ca tử vong. Theo ngành y tế, qua phân tích cho thấy, số ca tử vong xảy ra nhiều từ tháng 11 với trung bình mỗi ngày có 10 bệnh nhân tử vong, trong đó có 308 người chưa tiêm vắc-xin do họ bị bệnh nền, già yếu, bệnh ung thư, bệnh thần kinh nên từ chối tiêm. Bí thư Tỉnh ủy kiêm Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh Lê Hồng Quang yêu cầu ngành y tế và các huyện, thị xã tìm giải pháp hạn chế đến mức thấp nhất số ca tử vong, vận động, tuyên truyền để người dân hiểu nếu không tiêm vắc-xin thì khi bị nhiễm sẽ dẫn đến nguy cơ tử vong rất cao.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 24/11/2021

Lần đầu thực hiện thành công phẫu thuật nội soi lấy gan từ người hiến sống

 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vừa thực hiện thành công ca phẫu thuật nội soi lấy mảnh gan phải từ người hiến sống để ghép gan. Đây là lần đầu tiên kỹ thuật này được thực hiện tại Việt Nam.

Đại tá, TS. Lê Văn Thành, Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật gan-mật-tụy, phẫu thuật viên chính của ca mổ này chia sẻ, sau 5 giờ đồng hồ, mảnh ghép gan phải hoàn chỉnh đã được lấy thành công bằng phẫu thuật nội soi để ghép cho người nhận gan. Đây là một trong những kỹ thuật mổ phức tạp nhất được thực hiện bằng phẫu thuật nội soi hiện nay.

Phương pháp này đem lại nhiều lợi ích cho người hiến gan, như can thiệp ít xâm lấn, giúp giảm đau sau mổ tốt hơn mổ mở, thời gian phục hồi nhanh hơn, tính thẩm mỹ cao… trong khi kết quả tương đương với mổ mở. Người hiến gan ra viện khoẻ mạnh sau 6 ngày phẫu thuật với chức năng gan bình thường. Người nhận gan sau 10 ngày thì chức năng gan ghép cũng đã hoạt động tốt, ăn uống tốt, tự đi lại và thực hiện các sinh hoạt cá nhân.

Hiện nay, trên thế giới chỉ có một số ít các trung tâm gan-mật và ghép gan tại các quốc gia có nền y học phát triển như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc mới thực hiện được phẫu thuật nội soi lấy mảnh ghép gan từ người hiến sống.

Việc ứng dụng thành công phương pháp phẫu này tại Bệnh viện 108 là một bước tiến mới trong lĩnh vực ghép gan, góp phần nâng cao trình độ chuyên ngành ghép tạng Việt Nam, đồng thời tiếp tục mở ra triển vọng cứu sống những người bệnh hiểm nghèo và giúp họ có cuộc sống khỏe mạnh hơn.

Hiện nay, cả nước có 9 trung tâm có thể thực hiện thành công kỹ thuật ghép gan và đã có hơn 300 bệnh nhân được ghép gan. Riêng Bệnh viện 108 đã ghép gan từ người hiến sống cho 91 trường hợp (trên tổng số 94 trường hợp ghép gan đã thực hiện tại bệnh) trong 4 năm thực hiện ghép gan vừa qua.

Theo các chuyên gia, mặc dù Việt Nam thực hiện ghép gan muộn hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nhưng cho đến nay, các bác sĩ đã hoàn toàn làm chủ được kỹ thuật này. Số ca ghép gan thành công ngày càng tăng lên theo từng năm. Chi phí ghép gan cũng thấp hơn nhiều so với các nước khác.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 21/11/2021

Bế mạc Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ 22

Liên hoan phim Việt Nam (LHPVN) lần thứ 22 đã hạ màn. Như thông lệ, giải thưởng quan trọng nhất quyết định thành công của LHP là phim truyện điện ảnh – “trái tim” của LHP. Nhiều người đã nghĩ đến một cái kết viên mãn cho phim “Bố già” với cặp đôi đạo diễn Vũ Ngọc Đãng – Trấn Thành với doanh thu khoảng 400 tỉ đồng là phim Việt có doanh thu cao nhất mọi thời đại, cũng như một cách kể chuyện khá đời, dễ xem, dễ cảm với đại chúng. Trong khi “Mắt biếc” của Victor Vũ vừa kém hơn về doanh thu vừa không thực sự “đã” về nghệ thuật. Thế nhưng “Mắt biếc” lại có ưu thế khác.

Cái lý của Mắt biếc

Chiếu theo tiêu chí của LHP “Xây dựng nền công nghiệp điện ảnh Việt Nam giàu bản sắc dân tộc, hiện đại và nhân văn” trong bối cảnh điện ảnh Việt gắn kết chặt chẽ với du lịch để vừa quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt vừa tạo nguồn thu thì “Mắt biếc” tuy doanh thu không bằng “Bố già” nhưng đã tạo ra hiệu ứng du lịch tốt cho Huế, khi nhiều địa điểm quay phim trở thành nơi “check in” cho giới trẻ và trở thành những điểm đỏ được các nhà làm phim đánh dấu trong đầu khi chọn bối cảnh cho phim.

LHP 22 lại diễn ra tại Huế và “Mắt biếc” trước đó đã giành được tình yêu của khán giả Huế khi công chiếu tại đây nên việc trao Bông sen vàng cho phim cũng là hợp lý.

Tuy nhiên, sòng phẳng về nghệ thuật thì “Mắt biếc” chỉ là “vàng” non, kết cấu phim, cách kể chuyện qua dựng phim chưa ấn tượng. Phim cũng chưa thể hiện được tay nghề xứng đáng của đạo diễn Victor Vũ, một “ông vua phòng vé” có khả năng làm những đề tài rất đa dạng.

Giải Đạo diễn xuất sắc gọi tên Trịnh Đình Lê Minh với bộ phim “Bằng chứng vô hình” và giải kịch bản xuất sắc cho nhóm tác giả Trấn Thành, Bùi Trương Hữu Nhi và Hồ Thúc An – phim “Bố già” là những lựa chọn ít gây tranh cãi.

Giải nam diễn viên chính cho Tuấn Trần trong “Bố già” là sự tưởng thưởng cho nỗ lực của một diễn viên trẻ. Trong khi giải nữ diễn viên chính làm người đoạt giải, NSND Lê Khanh (phim “Gái già lắm chiêu 5: Những cuộc đời vương giả”) bộc lộ cảm xúc vừa bất ngờ, vừa sung sướng với mẩu giấy trên tay, khi chị lâu lắm mới tái xuất màn ảnh. Sự ghi nhận cho NSND Lê Khanh cũng làm mất đi cơ hội cho Thu Trang đã thể hiện xuất sắc trong “Tiệc trăng máu” và “Chị Mười Ba 2: 3 ngày sinh tử” hay Kaity Nguyễn trong hai phim “Tiệc trăng máu” và “Gái già lắm chiêu 5”.

Những cái  tên quen và những cơ hội bị đánh mất

Ở mảng tài liệu – khoa học, vẫn là ba “ông lớn” giành các giải chính là Trung tâm Phim Tài liệu và Phóng sự, Đài Truyền hình Việt Nam, Công ty TNHH MTV Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương và Điện ảnh Quân đội nhân dân.

Trong đó, đạo diễn Tạ Quỳnh Tư, một gương mặt quen thuộc giành cú đúp Bông sen vàng phim tài liệu dành cho bộ phim “Ranh giới” và giải đạo diễn xuất sắc cho “Ranh giới” và “Nẻo đường hội ngộ” là rất xứng đáng, nhất là khi “Ranh giới” đã tạo nên cơn sốt cho khán giả, gây hiệu ứng mạnh mẽ với những hình ảnh quay sống động trong bệnh viện mùa Covid-19. Phim khoa học, giải Đạo diễn xuất sắc cho Trịnh Quang Tùng – phim “Lũ miền núi – cũng là một cái tên quen thuộc.

Tương tự như vậy, mảng phim hoạt hình vẫn là Công ty Cổ phần Hãng phim Hoạt hình Việt Nam độc chiếm hết các giải, duy nhất chỉ có giải cá nhân Kỹ xảo hoạt hình xuất sắc dành cho hoạ sĩ Nguyễn Quang Trung – Bộ phim “Mảnh ghép của Rồng”, Hãng phim Hội Điện ảnh Việt Nam. Tiếc cho “Mảnh ghép của Rồng” đáng ra hoàn toàn xứng đáng giành một giải cao về phim, với cách kể khác biệt, sáng tạo.

Cũng như ở mảng phim truyện,“Miền ký ức” của nữ đạo diễn trẻ Bùi Kim Quy là 1 phim tốt, kinh phí vẻn vẹn khoảng 200 triệu đồng chững chạc với những tìm tòi thể nghiệm về kết cấu và cách kể bằng ngôn ngữ hình ảnh chưa được ghi nhận là điều đáng tiếc.

Đôi điều

LHP 22 thể hiện nỗ lực lớn của Ban tổ chức, đặc biệt là chủ nhà Huế trong thời điểm khó khăn về dịch bệnh, số ca COVID-19 tăng liên tục trong mấy ngày LHP, thời tiết bất lợi gần hai ngày đầu… nên khán giả đến xem phim ở 4 rạp chiếu chưa đông, có bữa chỉ trên chục người. LHP diễn ra nhìn chung suôn sẻ, ấm cúng và an toàn dù nhiều đại biểu tiếc muốn chương trình phong phú hơn, có thêm hội thảo về nghề…

Nếu như lễ khai mạc LHP được tổ chức suôn sẻ có nét riêng (dù phóng sự tài liệu hơi dài) thì lễ bế mạc chưa thực sự chuyên nghiệp. Việc lựa chọn các Ban giám khảo thực sự là nỗi đau đầu của Ban tổ chức, nhưng cần kiên quyết không để lọt các thành viên BGK có quan hệ người nhà với thí sinh dự thi, để tránh những lùm xùm không đáng có.

Câu chuyện về một ban tổ chức LHP chuyên nghiệp, chỉ tập trung cho LHP lại được đặt ra, để ngay từ bây giờ, việc đề ra một slogan LHP mới mẻ, lên kế hoạch cho việc tổ chức một LHP không chỉ là ngày hội của những nhà làm phim, của khán giả mà còn là chợ mua bán phim, giới thiệu dự án phim, hội thảo, và kết hợp các tour du lịch có chiều sâu để thực sự quảng bá cho tỉnh đó, địa phương đó.

LHP 22 – “nét dịu dàng pha lẫn trầm tư” -như lời trong bài hát nổi tiếng “Huế, tình yêu của tôi”

Việt Văn

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 20/11/2021

Lễ tưởng niệm đồng bào và cán bộ, chiến sĩ hy sinh, tử vong trong đại dịch Covid-19

Thực hiện chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, vào lúc 20h hôm nay (19/11), Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và UBND Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Lễ tưởng niệm đồng bào tử vong và cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong đại dịch COVID-19.

Buổi lễ diễn ra tại điểm cầu Thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội, được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam và đài truyền hình các tỉnh, thành phố tiếp sóng.

Điểm cầu chính là Hội trường Thống Nhất, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, với khoảng 1.000 đại biểu tham dự, bao gồm nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng đại diện 50 gia đình có thân nhân mất vì COVID-19. Cùng với đó là một số điểm cầu truyền hình tại thành phố Thủ Đức, các quận, huyện của TPHCM, các địa phương như: Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Đà Nẵng, Bắc Giang, Bắc Ninh… Điểm cầu thành phố Hà Nội tại sân khấu đa năng, Công viên Thống Nhất, phố Trần Nhân Tông (quận Hai Bà Trưng), với khoảng 300 đại biểu.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gửi lẵng hoa tưởng niệm đồng bào tử vong và cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong đại dịch COVID-19. Tham dự tại điểm cầu Hội trường Thống Nhất (TPHCM) có ông Võ Văn Thưởng, Thường trực Ban Bí thư; ông Trần Thanh Mẫn, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; ông Đỗ Văn Chiến, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; ông Nguyễn Văn Nên, Uỷ viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; ông Vũ Đức Đam, Phó Thủ tướng Chính phủ; bà Võ Thị Ánh Xuân, Phó Chủ tịch nước; đại diện các bộ, ngành Trung ương, TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành vùng trọng điểm phía nam cùng thân nhân, gia đình có người mất do COVID-19.

Tham dự buổi lễ tại điểm cầu Hà Nội có Bí thư Thành ủy TP. Hà Nội Đinh Tiến Dũng; Trưởng Ban Dân vận Trung ương Bùi Thị Minh Hoài cùng lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương; lãnh đạo Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban MTTQ, lãnh đạo các sở, ban, ngành, quân huyện của TP. Hà Nội; đại diện các lực lượng tuyến đầu tham gia phòng, chống dịch; đại diện các tổ chức tôn giáo, các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế.

Để đảm bảo công tác phòng, chống dịch COVID-19, các đại biểu tham dự lễ tưởng niệm được yêu cầu thực hiện nghiêm túc quy định về 5K; đảm bảo đã tiêm đủ liều vaccine, liều sau cùng tối thiểu phải đủ 14 ngày, tính đến hết ngày tham gia buổi lễ; có giấy xét nghiệm SARS-CoV-2 âm tính trong vòng 72 tiếng, tính đến hết thời điểm tổ chức lễ tưởng niệm.

Mục đích của buổi lễ nhằm tưởng niệm hơn 2,3 vạn đồng bào tử vong và tri ân, biểu dương cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng đã hy sinh trong công tác phòng, chống dịch COVID-19. Đây là hoạt động đầy ý nghĩa thể hiện sự chia sẻ, động viên của Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam trước những mất mát, đau thương của các gia đình, người thân và lan tỏa tình nhân ái cộng đồng. Đồng thời buổi lễ cũng nhằm tiếp tục động viên tinh thần các lực lượng tuyến đầu và nâng cao ý thức trách nhiệm của Nhân dân trong tham gia phòng, chống dịch COVID-19; khích lệ tinh thần đại đoàn kết, ý chí quật cường của toàn dân tộc để mỗi người cùng đồng lòng vượt qua khó khăn, thách thức, thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19, phục hồi sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Theo chương trình buổi lễ, tại TPHCM, sau khi xem một số hình ảnh, phóng sự về những ngày tháng chống dịch, các đại biểu thực hiện nghi thức mặc niệm và thắp nến tưởng niệm đồng bào tử vong và cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong đại dịch. Bên cạnh đó còn có các hoạt động như dâng hương, hoa tại hai điểm cầu, thả đèn hoa đăng trên tuyến kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè (trước chùa Pháp Hoa, Q.3) và trên kênh Tàu Hủ – Bến Nghé (gần cầu Mống, Q.4). Xen kẽ chương trình, Ban tổ chức sẽ phát các phóng sự mang tên “Cuộc chiến sinh tử” và “Vượt lên đau thương” tri ân lực lượng tuyến đầu chống dịch, chia sẻ mất mát với những gia đình có người thân mất vì dịch bệnh, niềm tin bước vào giai đoạn bình thường mới.

Trong tinh thần hiệp thông của lễ tưởng niệm, lúc 20h30, Giáo hội Phật giáo Việt Nam TPHCM khuyến nghị tất cả các chùa và cơ sở tự viện trên địa bàn dành một phút tưởng niệm với nghi thức thỉnh đại hồng chung, dừng mọi hoạt động để hưởng ứng.

Tòa Tổng giám mục Tổng giáo phận TPHCM cũng thông báo các nhà thờ và nhà nguyện trong Tổng giáo phận đồng loạt đổ chuông sầu khoảng 5 phút, để cầu nguyện và tưởng nhớ đồng bào đã tử vong trong đại dịch.

Lãnh đạo Sở GTVT TPHCM đã gửi văn bản đến Cảng vụ Hàng hải và Cảng vụ Đường thủy nội địa thông báo các phương tiện như tàu, thuyền, sà lan… đang lưu đậu trên tuyến kênh, sông, luồng hàng hải trên địa bàn kéo hồi còi tưởng niệm. TPHCM kêu gọi người dân tắt đèn và thắp nến vào thời điểm 20h30 ngày 19/11 tại các nơi công cộng, đường đi bộ, công viên, khu dân cư, căn hộ, khách sạn, văn phòng, nhà dân tưởng niệm đồng bào đã mất.

Tại Hà Nội cũng sẽ có những hoạt động và hình thức tưởng niệm phù hợp như đánh (thỉnh) chuông tại các cơ sở tôn giáo (chùa, nhà thờ…) trên địa bàn; tắt đèn và thắp nến tưởng niệm đồng bào tử vong và cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong đại dịch COVID-19.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 18/11/2021

Bế mạc Liên hoan Kịch nói toàn quốc năm 2021

Ngày 17.11, tại Nhà hát Tháng Tám (TP.Hải Phòng), Liên hoan Sân khấu kịch nói toàn quốc 2021 chính thức bế mạc sau 12 ngày diễn ra sôi nổi. 

Với 20 vở diễn đến từ 14 đơn vị nghệ thuật trên cả nước, khán giả yêu mến sân khấu kịch nói đã có dịp thưởng thức những tác phẩm xuất sắc ghi dấu ấn của các đơn vị nghệ thuật thông qua hình thức thể hiện và đề tài phong phú như: Đề tài về chiến tranh cách mạng, hiện thực phê phán, cổ trang, tâm lý xã hội, kịch văn học, kịch đương đại…

Theo đánh giá của Hội đồng Nghệ thuật, các đơn vị đầu tư thỏa đáng vào các khâu chính như kịch bản, đạo diễn, diên viên và các bộ phân kỹ thuật… Do đó người làm sân khấu có được những điều kiện tốt nhất để bộc lộ tài năng sáng tạo, người xem được thưởng thức một cách đồng bộ cái đẹp, cái hay, cái hấp dẫn của vở diễn. Người xem còn bắt gặp những hình tượng nhân vật của quá khứ lịch sử, những sự kiện và con người đương thời với nhiều tính cách dữ dội, mãnh liệt, được trải nghiệm những khoảnh khắc thăng hoa của diễn xuất.

Đề tài được phản ánh trong Liên hoan rất phong phú, mới và có giá trị dự báo. Nhiều vở diễn đầu tư xứng đáng cho âm nhạc, coi việc có nhạc, cần nhạc như hơi thở, giúp cho vở diễn có cảm xúc, đồng hành cùng nhân vật trong các sự kiện. Các vở diễn kịch nói trong liên hoan lần này được thể hiện rất đẹp, hợp lý và mới về chất liệu, về ánh sáng, về hình khối hội họa, tạo hình.

Hội đồng Nghệ thuật đánh giá tại liên hoan có một đội ngũ diên viên trẻ, giàu nhiệt huyết trong sáng tạo các hình tượng nhân vật. Hội đồng quan tâm nhận xét, thẩm định và đánh giá các diễn viên trong các vai thứ, vai phụ, tuy nhỏ nhưng nối được liền mạch những nhận thức, cảm xúc mà vở diễn tạo được với khán giả.

Kết quả, Hội đồng nghệ thuật Liên hoan trao Huy chương Vàng dành cho 6 tác phẩm xuất sắc nhất là: “Con đò của mẹ” (Nhà hát Công an nhân dân), “Điều còn lại”  và “Thiên Mệnh” (Nhà hát Kịch Việt Nam), “Làng song sinh” (Nhà hát Kịch Hà Nội), “Hố đen” (Nhà hát Kịch nói Quân đội), “Làm vua” (Công ty TNHH NTSK  Lệ Ngọc).

Huy chương Bạc được trao cho 3 vở diễn: “Đường Chân trời” (Đoàn Kịch nói Hải Phòng), “Hoạn thư ghen” (Câu lạc bộ Sân khấu “Biển hẹn”- Hội Sân khấu Hải Phòng – Hội Kiều học), “Ngược chiều gió” (Nhà hát Tuổi Trẻ).

Huy chương Đồng được trao cho 7 vở diễn: “Lau trắng” (Câu lạc bộ Sân khấu thử nghiệm, Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam); “Non thiêng” (Đoàn Nghệ thuật Quảng Ninh); “Thiên định” (Trung tâm VHNT tỉnh Hải Dương); “Vầng sáng” (Nhà hát Ca múa kịch Lam Sơn); “Cái …ao làng” (Nhà hát Tuổi trẻ); “Tình bạn và công lý” (Đoàn Nghệ thuật tỉnh Phú Thọ); “Tình mẹ” (Hội Sân khấu Hà Nội).

Về Giải cá nhân, Ban tổ chức trao tặng 28 Huy chương Vàng và 42 Huy chương Bạc và 16 Huy chương Đồng cho các nghệ sĩ, diễn viên xuất sắc.

Ngoài ra, Liên hoan còn ghi nhận các thành phần sáng tạo với các giải thưởng gồm: Tác giả xuất sắc nhất cho TS.Nguyễn Đăng Cương với vở diễn “Điều còn lại” (Nhà hát Kịch Việt Nam) và Đạo diễn xuất sắc nhất dành cho NSND Trung Hiếu với vở diễn “Làng song sinh” (Nhà hát Kịch Hà Nội), Nhạc sĩ xuất sắc nhất – nhạc sĩ Đức Trịnh với vở diễn “Hố đen” (Nhà hát Kịch nói Quân đội), Hoạ sĩ xuất sắc – NSƯT Doãn Bằng với vở diễn “Đường chân trời” (Đoàn Kịch nói Hải Phòng).

Mai Dung

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 18/11/2021

Chúc mừng Đại lễ Khai đạo Cao Đài năm 2021

Nhân dịp kỷ niệm Đại lễ Khai đạo Cao Đài, ngày 17/11, thay mặt Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến đã gửi thư chúc mừng tới các vị chức sắc, chức việc và toàn thể đồng bào theo đạo Cao Đài.

Thư viết: “Nhân dịp kỷ niệm Đại lễ Khai đạo Cao Đài, thay mặt Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi thân ái gửi tới các vị chức sắc, chức việc và toàn thể đồng bào theo đạo Cao Đài lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Chúc toàn đạo đón mừng đại lễ an lạc, đoàn kết và thành công. Trong thời gian qua, phát huy truyền thống “Phụng đạo yêu nước”, “Đồng hành cùng dân tộc” với phương châm “Nước vinh đạo sáng”, các hội thánh và tổ chức Cao Đài đã tích cực vận động tín đồ và nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hưởng ứng và tích cực tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; các hoạt động xã hội hóa y tế, giáo dục; từ thiện và an sinh xã hội; xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh… góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh và trật tự.

Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhấn mạnh: Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước Việt Nam đang nỗ lực phòng, chống, thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh Covid-19, các vị chức sắc, chức việc, đồng bào đạo Cao Đài đã tích cực chung sức cùng nhân dân cả nước chủ động, tích cực tham gia việc phòng, chống dịch bằng nhiều hoạt động thiết thực, cụ thể ở các cộng đồng dân cư và cơ sở tôn giáo, góp phần hiệu quả kiểm soát, ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh tại Việt Nam.

Thay mặt Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Đỗ Văn Chiến trân trọng biểu dương và đánh giá cao những đóng góp tích cực của các vị chức sắc, chức việc và đồng bào theo đạo Cao Đài đối với đất nước và tin tưởng rằng, trong thời gian tới, đồng bào đạo Cao Đài tiếp tục phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc, hưởng ứng và tích cực tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, cùng toàn dân thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 22/11/2021

Hủy quyết định giảm thời gian chấp hành án đối với Phan Sào Nam

Tòa cấp cao tuyên hủy các quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 587, số 80 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh với Phan Sào Nam; quyết định Giám đốc thẩm tuyên Phan Sào Nam chấp hành bản án trở lại.

Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên xét xử theo thủ tục Giám đốc thẩm xem xét kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội liên quan quyết định tha tù trước thời hạn đối với Phan Sào Nam.

Hội đồng Giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã ra quyết định chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Theo đó, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xác định, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh ra các quyết định giảm thời gian chấp hành án đối với phạm nhân Phan Sào Nam là không đủ điều kiện và không có căn cứ pháp luật.

Tòa cấp cao đã tuyên hủy các quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 587 và số 80 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh với Phan Sào Nam; đồng thời quyết định Giám đốc thẩm cũng tuyên Phan Sào Nam phải chấp hành bản án trở lại.

Trước đó, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã ban hành quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm đối với các quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, đối với phạm nhân Phan Sào Nam (cựu Giám đốc Công ty cổ phần VTC truyền thông trực tuyến), bị kết án về các tội “Tổ chức đánh bạc” và “Rửa tiền” ngày 12/3/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm xét thấy, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 587 ngày 29/4/2020 và quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 80 ngày 4/2/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đối với Phan Sào Nam là không đủ điều kiện và không có căn cứ pháp luật.

Đối với quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 587 ngày 29/4/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 19 tháng cho phạm nhân Phan Sào Nam là không có căn cứ pháp luật.

Theo quy định, Phan Sào Nam, bị tuyên 5 năm tù, ngoài điều kiện đã chấp hành được 1/3 thời hạn phạt tù và phải có ít nhất 6 tháng hoặc 2 quý liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại khá trở lên. Tuy nhiên, Phan Sào Nam mới được xếp loại khá quý 3/2019, quý 4/2019 xếp loại trung bình.

Ngoài việc xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù, Nam đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trong trường hợp đặc biệt là “lập công.”

Tuy nhiên, qua tài liệu xác minh về tình tiết “lập công” cho thấy, tại văn bản số 851 ngày 20/11/2019, Cơ quan an ninh điều tra, Công an tỉnh Phú Thọ, có nội dung: Cơ quan điều tra đã tiếp xúc, vận động Phan Sào Nam viết thư gửi gia đình Lê Văn Kiên để vận động đối tượng đầu thú.

Kết quả, sau khi được gia đình thông báo về việc Phan Sào Nam viết thư vận động Kiên về nước, cùng với sự tác động của Cơ quan an ninh điều tra… đến ngày 20/10/2019, Lê Văn Kiên đã về nước đầu thú.

Kết quả xác minh của Vụ 8, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao xác định, trong quá trình giam giữ, không có việc Phan Sào Nam viết thư động viên đối tượng truy nã quốc tế Lê Văn Kiên về nước đầu thú.

Điều tra viên cũng như cán bộ điều tra không biết Phan Sào Nam tác động đến gia đình Lê Văn Kiên và Phan Anh Tuấn như thế nào; không có tài liệu xác định quá trình giam giữ Phan Sào Nam gửi thư ra ngoài để vận động đầu thú… Do đó, kháng nghị cho rằng việc xác nhận Phan Sào Nam lập công là không có căn cứ.

Với quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 80 ngày 4/2/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại (3 tháng 7 ngày) cho phạm nhân Phan Sào Nam ra trại ngày 6/2/2021.

Theo Viện Kiểm sát, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 587 ngày 29/4/2019 trước đó được xác định không có căn cứ, dẫn đến quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 80 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh cũng không đủ điều kiện và không có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Từ đó, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội xét xử theo thủ tục Giám đốc thẩm, hủy các quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 587 và số 80 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đối với Phan Sào Nam.

Cũng liên quan đến vụ việc này, theo thông tin từ cuộc họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực ngày 18/11/2021, Ban Chỉ đạo đưa vụ việc xử lý cán bộ, đảng viên tiêu cực trong việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù với Phan Sào Nam vào diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo.

Liên quan việc giảm chấp hành hình phạt tù trước thời hạn cho Phan Sào Nam có 9 tập thể và 29 cá nhân bị xác định sai phạm, tiêu cực bị xử lý và yêu cầu xử lý trách nhiệm.

Trước đó, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã công bố quyết định kỷ luật với Ban cán sự Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng các nhiệm kỳ 2015-2020 và 2020-2025, một số Ủy viên Ban cán sự Đảng, lãnh đạo và cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, do đã vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo trong việc xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho Phan Sào Nam khi không đủ điều kiện.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 20/11/2021

Thi hành kỷ luật Ban cán sự đảng Bộ Y tế, Ban cán sự đảng UBND tỉnh Hà Nam và một số cá nhân

Ngày 19/11, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Bộ Chính trị, Ban Bí thư để xem xét, thi hành kỷ luật Ban Cán sự đảng Bộ Y tế, Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam nhiệm kỳ 2016 – 2021 và một số cá nhân là cán bộ lãnh đạo, nguyên cán bộ lãnh đạo của Bộ Y tế và của tỉnh Hà Nam.

Sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương và nghe đại diện tổ chức đảng, cá nhân vi phạm trình bày, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhận thấy:

  1. Ban Cán sự đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016 – 2021đã vi phạm các nguyên tắc hoạt động của Đảng, Quy chế làm việc của Ban Cán sự đảng; buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, để Bộ Y tế, Cục Quản lý dược, một số đơn vị, cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc và nhiều cá nhân vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác xây dựng, ban hành thể chế, chính sách; trong cấp phép nhập khẩu thuốc, mua sắm thuốc, trang thiết bị y tế, vật tư tiêu hao và thực hiện liên doanh, liên kết trang thiết bị y tế; để nhiều tổ chức đảng, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, một số cán bộ, đảng viên đã bị xử lý hình sự.

Những vi phạm, khuyết điểm nêu trên đã gây hậu quả nghiêm trọng, thất thoát, lãng phí tiền, tài sản của Nhà nước, Quỹ Bảo hiểm y tế, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng lớn đến chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, làm giảm uy tín của tổ chức đảng và ngành y tế.

  1. Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam nhiệm kỳ 2016 – 2021đã vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm Quy chế làm việc của Tỉnh ủy: Không họp bàn, không báo cáo, xin ý kiến Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy cho chủ trương nhiều dự án thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, khai thác đá làm vật liệu xây dựng; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo để Ủy ban nhân dân tỉnh và một số cơ quan có nhiều vi phạm, khuyết điểm trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, khoáng sản, đầu tư, cải tạo nâng cấp một số tuyến đường giao thông nông thôn, gây hậu quả nghiêm trọng; để một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính.
  2. Đối với một số cá nhân

(1) Đồng chí Nguyễn Thị Kim Tiến, với cương vị Bí thư Ban Cán sự đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế, đồng chí chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm người đứng đầu về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Cán sự đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016 – 2021 và Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Y tế nhiệm kỳ 2015 – 2020. Đồng chí chịu trách nhiệm cá nhân về những vi phạm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các nguyên tắc, quy chế, quy định của Đảng; vi phạm những điều đảng viên không được làm; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để Bộ Y tế và một số cơ sở khám, chữa bệnh vi phạm có hệ thống, kéo dài, gây hậu quả nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí tiền, tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng đến chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, gây bức xúc trong xã hội, làm giảm uy tín của tổ chức đảng, ngành y tế và cá nhân đồng chí.

(2) Đồng chí Trương Quốc Cường, với cương vị Ủy viên Ban Cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Y tế (từ ngày 21/11/2016 đến nay) và Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Quản lý dược các nhiệm kỳ 2010 – 2015, 2015 – 2020, Cục trưởng Cục Quản lý dược (từ ngày 1/8/2007 đến ngày 20/11/2016), đồng chí cùng chịu trách nhiệm về vi phạm, khuyết điểm của Ban Cán sự đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016 – 2021; đồng chí đã vi phạm các nguyên tắc, quy chế, quy định của Đảng, vi phạm những điều đảng viên không được làm; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra nhiều vi phạm pháp luật trong cấp phép cho thuốc giả nguồn gốc, xuất xứ lưu hành, gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí tiền, tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng đến chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân, gây bức xúc xã hội, làm giảm uy tín tổ chức đảng, ngành y tế và cá nhân đồng chí; để nhiều cán bộ bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự, cá nhân đồng chí bị xử lý hình sự.

(3) Đồng chí Nguyễn Xuân Đôngvới cương vị Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban Cán sự đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam nhiệm kỳ 2016 – 2021, đồng chí chịu trách nhiệm người đứng đầu về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2016 – 2021. Chịu trách nhiệm cá nhân về vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, Quy chế làm việc khi thực hiện nhiều dự án khai thác khoáng sản nhưng không chỉ đạo tổ chức họp bàn, thảo luận thống nhất trong Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh, không báo cáo, xin ý kiến Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy cho chủ trương; thiếu trách nhiệm, buông lỏng chỉ đạo, điều hành công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, khoáng sản, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm, nhiều tổ chức, cá nhân bị xử lý kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính; trực tiếp ký một số văn bản để các doanh nghiệp khai thác khoáng sản, thực hiện dự án đầu tư trái quy định, gây hậu quả nghiêm trọng.

(4) Đồng chí Đinh Văn An, với cương vị là Tỉnh ủy viên nhiệm kỳ 2015 – 2020, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Công thương (từ tháng 11/2018 đến tháng 9/2020), đồng chí chịu trách nhiệm người đứng đầu về những vi phạm, khuyết điểm của Sở Công thương. Chịu trách nhiệm cá nhân về vi phạm quy chế, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong việc chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện thủ tục cấp giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; thiếu trách nhiệm, buông lỏng chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát để nhiều cán bộ cấp dưới có vi phạm, khuyết điểm, bị xử lý kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính.

Vi phạm của Ban Cán sự đảng Bộ Y tế, Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam nhiệm kỳ 2016 – 2021 và vi phạm của các đồng chí Nguyễn Thị Kim Tiến, Nguyễn Xuân Đông, Đinh Văn An là nghiêm trọng, vi phạm của đồng chí Trương Quốc Cường là rất nghiêm trọng, làm thiệt hại, thất thoát, lãng phí lớn tiền, tài sản, tài nguyên, khoáng sản của Nhà nước, làm giảm uy tín của ngành y tế, của tổ chức đảng, chính quyền tỉnh Hà Nam và cá nhân mỗi đồng chí, gây bức xúc trong xã hội, phải được xem xét thi hành kỷ luật nghiêm minh theo quy định của Đảng.

Căn cứ các Quy định của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm. Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, tinh thần tự phê bình và phê bình, kết quả khắc phục các vi phạm, khuyết điểm, những đóng góp của từng tổ chức đảng và từng cá nhân.

Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức Cảnh cáo đối với Ban Cán sự đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016 – 2021; thi hành kỷ luật bằng hình thức Cảnh cáo, đồng thời miễn nhiệm chức vụ Trưởng Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương đối với đồng chí Nguyễn Thị Kim Tiến.

Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức Khiển trách đối với Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam nhiệm kỳ 2016 – 2021; thi hành kỷ luật bằng hình thức Khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí Trương Quốc Cường; thi hành kỷ luật bằng hình thức Cảnh cáo đối với đồng chí Nguyễn Xuân Đông; miễn nhiệm chức vụ Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Nam nhiệm kỳ 2020 – 2025 đối với đồng chí Đinh Văn An.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 16/11/2021

Xử lý nhà thầu chậm bảo hành, sửa chữa quốc lộ 1 qua Phú Yên

Các đợt mưa lớn đã làm phát sinh nhiều vị trí ổ gà, sình lún, hư hỏng mặt đường gây mất an toàn giao thông trên tuyến Quốc lộ 1 qua địa bàn tỉnh Phú Yên.

Quốc lộ hư hỏng, tai nạn rình rập

Theo UBND tỉnh Phú Yên, Quốc lộ 1 qua TX. Đông Hòa (Phú Yên) hư hỏng nghiêm trọng, trong ba ngày liên tiếp đã xảy ra ba vụ tai nạn làm ba người tử vong, một người bị thương nặng.

UBND TX. Đông Hòa sau đó đã có công văn gửi Sở Giao thông Vận tải (GTVT) tỉnh Phú Yên kiến nghị sửa chữa hư hỏng mặt đường quốc lộ 1, đèn tín hiệu giao thông đi qua địa phương này.

Theo UBND TX.Đông Hòa, hiện nay đang vào mùa mưa, mặt đường Quốc lộ 1 qua địa phương đã xuất hiện nhiều vị trí bong tróc, sụt lún gây mất an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông. Đặc biệt, khi trời mưa lớn, ngập nước làm hạn chế tầm nhìn, nguy cơ cao xảy ra tai nạn giao thông (TNGT). Nội dung này đã được UBND và công an TX.Đông Hòa đã kiến nghị vào ngày 26, 27/10 vừa qua nhưng các đơn vị liên quan chưa có động thái khắc phục.

Trước thực trạng đó, UBND tỉnh Phú Yên đã có Văn bản (số 6317) gửi Bộ GTVT nêu rõ, thời gian qua, do ảnh hưởng của các đợt mưa lớn đã làm phát sinh nhiều vị trí ổ gà, sình lún hư hỏng mặt đường gây mất ATGT trên tuyến quốc lộ 1 qua địa bàn tỉnh Phú Yên.

Ban ATGT, Sở Giao thông vận tải Phú Yên đã nhiều lần làm việc, đôn đốc Cục Quản lý đường bộ III, Ban Quản lý dự án Thăng Long và các Nhà đầu tư tiếp tục duy trì công tác đảm bảo ATGT khi thời tiết bất lợi và tiến hành sửa chữa triệt để các hư hỏng ngay khi thời tiết thuận lợi.

“Để đảm bảo an toàn giao thông, đáp ứng nhu cầu đi lại an toàn của nhân dân, trên cơ sở đề nghị của Sở GTVT (tại Báo cáo số 446/BC-SGTVT ngày 03/11/2021), UBND tỉnh Phú Yên đề nghị Bộ GTVT chỉ đạo các đơn vị liên quan khẩn trương tiếp tục duy trì công tác đảm bảo ATGT, bố trí đầy đủ biển báo, lực lượng điều tiết giao thông, đảm bảo tuyệt đối ATGT tại các vị trí hư hỏng; tập trung nhân vật lực, tranh thủ thời tiết thuận lợi, đẩy nhanh tiến độ sửa chữa triệt để, đúng yêu cầu chất lượng của đường quốc lộ 1 đoạn qua địa phận tỉnh Phú Yên”, văn bản nêu rõ.

Ông Nguyễn Phương Đông, Giám đốc Sở GTVT tỉnh Phú Yên, cho biết sau khi quốc lộ 1 qua Phú Yên bị hư hỏng nặng, Bộ GTVT đã lấy mẫu đưa đi kiểm định và xác định 1 trong những nguyên nhân dẫn đến đường hư là do thành phần đá trộn trong bê- tông nhựa nóng có độ bám dính kém với nhựa, dẫn đến khi thấm nước bị bong tróc, gây nên ổ gà, ổ voi.

Bộ GTVT chỉ đạo nhà thầu khắc phục ngay

Sáng ngày 16/11, thông tin từ Văn phòng UBND tỉnh Phú Yên cho hay, UBND tỉnh đã nhận được Văn bản của Bộ GTVT, chỉ đạo Ban Quản lý dự án Thăng Long sửa chữa hư hỏng mặt đường, đảm bảo ATGT tại gói thầu số 26, Dự án xây dựng công trình mở rộng QL1, tỉnh Phú Yên.

Theo đó, Bộ GTVT yêu cầu Ban Thăng Long khẩn trương tổ chức kiểm tra, rà soát, kịp thời phát hiện các hư hỏng để yêu cầu nhà thầu thi công gói thầu số 26 khẩn trương khắc phục, sửa chữa triệt để đảm bảo an toàn giao thông, an toàn khai thác.

Quá trình thực hiện, chỉ đạo nhà thầu bố trí đầy đủ biển báo, lực lượng điều tiết giao thông đảm bảo tuyệt đối ATGT trước và trong suốt quá trình sửa chữa.

Ban Thăng Long chịu trách nhiệm nếu để xảy ra mất ATGT, sự cố công trình trên tuyến do việc chậm trễ khắc phục, sửa chữa các hư hỏng.

Trường hợp nhà thầu chậm trễ, không đảm bảo chất lượng trong việc thực hiện trách nhiệm bảo hành, Ban Thăng Long sử dụng tiền bảo hành công trình để thuê tổ chức, cá nhân khác có đủ năng lực để triển khai thực hiện, sửa chữa công trình theo quy định đảm bảo chất lượng, tiến độ yêu cầu và đảm bảo ATGT trong quá trình khai thác sử dụng; đồng thời, xử lý nghiêm các nhà thầu vi phạm theo đúng quy định hợp đồng và các quy định khác có liên quan; thống kê danh sách các nhà thầu vi phạm báo cáo Bộ GTVT để xem xét đánh giá về lịch sử không hoàn thành hợp đồng theo quy định của Luật Đấu thầu khi triển khai các dự án do Bộ GTVT quản lý.

Theo báo cáo của Cục quản lý đường bộ III, gói thầu số 26 (đang trong thời gian bảo hành) mặt đường còn hư hỏng, mới chỉ được xử lý đảm bảo giao thông bằng vật liệu tạm, dễ bị hư hỏng lại khi thời tiết mưa dài ngày dẫn đến nguy cơ mất an toàn giao thông.

Tháng Mười Hai 1, 2021

Nhạc sĩ Phạm Tuyên, tuyển tập 100 bài hát, ấn phẩm độc đáo của Nhà xuất bản Hội Nhà Văn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:11 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 12 năm 2021.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên, tuyển tập 100 bài hát, ấn phẩm độc đáo của Nhà xuất bản Hội Nhà Văn

Blog PhamTon

Chiều 27/11/2021, chúng tôi ở Thành phố Hồ Chí Minh mới nhận được ấn phảm độc đáo này từ Phạm


Hồng Tuyến con gái út của nhạc sỹ gửi từ Hà Nội, mặc dù tác phẩm này đã được phát hành nhân sinh nhật lần thứ 91 của ông ngày 12/1/2021.

Nói là độc đáo chắc các bạn không lạ, vì ngay tên nhà xuất bản đã là Nhà xuất bản… Hội Nhà Văn! Nhưng bên trong tập sách khổ 16x24cm, in 1.000 cuốn, còn những ảnh và bài viết chưa từng xuất hiện trong bất kỳ sách nào về nhạc sĩ Phạm Tuyên. Đó là ảnh Phạm Tuyên thời kỳ là đại đội trưởng đội các thiếu nhi nhỏ tuổi nhất trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam, tiểu sử đầy đủ của nhạc sĩ, Lời mở đầu của Trần Đăng Khoa với nhận định Phạm Tuyên là một nhạc sĩ vạn vỡ. Ông có khả năng tung hoành trên nhiều đề tài, thể loại. Và kết thúc bằng bài phỏng vấn thẳng thắn, nhiều mặt của Hồng Thanh Quang thực hiện tháng 10/2015 dài đến 15 trang (từ 227-241) nhan đề Nhạc sĩ Phạm Tuyên “Lịch sử công bằng”. Và không chỉ có thế, xen giữa các bản nhạc Phạm Tuyên, còn có những trang văn liên quan đến những bài ca ấy của PGS – TS Tâm lý học Nguyễn Ánh Tuyết, người bạn đời của ông, luôn song hành với các tác phẩm của ông.

Trong bài giới thiệu này, xin mời các bạn đọc: Tiểu sử Nhạc sĩ Phạm Tuyên, Lời mở đầu của Trần Đăng Khoa và một số trang trích trong sách Chúng tôi đã sống như thế của bà Nguyễn Ánh Tuyết như Câu chuyện về Bài ca người thợ rừng, Sức sống của Chiếc gậy Trường Sơn, Bài ca viết dưới bom B-52, Hà Nội- Điện Biên Phủ Tiếng reo vang Như có Bác trong ngày đại thắng!, Gửi nắng cho em và “số phận” bài ca, Chuyện vui xung quanh Con kênh ta đào.

—o0o—

1.TIỂU SỬ NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

Trần Đăng Khoa

Nhạc sĩ Phạm Tuyên sinh ngày 12/1/1930, quê ở xã Lương Ngọc, Bình Giang, Hải Dương. Thuở nhỏ, ông t


heo cha – Phạm Quỳnh, chủ bút báo Nam Phong vào Huế. Chính ở đây, tâm hồn ấu thơ của Phạm Tuyên đã chìm đắm trong âm thanh nhã nhạc cung đình và học nhạc lý phương tây ở trường Quốc học. Năm 1949 ông học tại Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, khóa V, Khóa Tổng phản công. Năm 1950, là Đại đội trưởng tại Trường Thiếu sinh quân. 1954, cán bộ phụ trách Văn Thể Mỹ tại Khu học xá Trung ương tại Trung Quốc. 1958 về nước, làm tại Ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam. Ông từng là phụ trách âm nhạc, Trưởng đoàn Ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam; Trưởng ban Văn nghệ Đài Truyền hình Việt Nam; Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội từ năm 1995-2010 và là Chủ tịch danh dự sau đó.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2012 cho các tác phẩm: Những ngôi sao ca đêm (1964), Từ làng Sen (1969), Đêm trên Cha Lo (1971), Tiến lên Đoàn viên (1954), Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng (1959)

Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm: Đảng đã cho ta một mùa xuân (1960), Bám biển quê hương (1964), Chiếc gậy Trường Sơn (1967), Gẩy đàn lên hỡi người bạn Mỹ (1969), Như có Bác trong ngày đại thắng (1975).

Nhạc sĩ được trao tặng Huân chương Lao động Hạng Ba cho sáng tác Như có Bác trong ngày đại thắng.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên có tất cả gần 700 tác phẩm, trong đó 200 bài hát dành cho thiếu nhi. Nhạc sĩ được Tổ Chức Kỷ Lục Việt Nam trao tặng danh hiệu “Người có nhiều bài hát thiếu nhi được phổ biến nhất”.

Ngoài ra, ông còn viết báo, sách lý luận âm nhạc: Nhạc lý cơ bản, Các bạn trẻ hãy đến với âm nhạc, Âm nhạc ở quanh ta, Âm nhạc cho trẻ em….

Nhạc sĩ Phạm Tuyên có khả năng lay động người nghe trong nhiều đề tài, có nhiều bài hát in sâu vào trí nhớ của công chúng, ca khúc chính trị, ca khúc trữ tình, cả ca khúc về ngành nghề. Đặc biệt các ca khúc thiếu nhi của ông được hát qua nhiều thế hệ, trở thành bài hát truyền thống của nhiều lứa tuổi. Hoạt động của ông rất phong phú trong các lĩnh vực sáng tác, lý luận (giới thiệu thẩm mỹ âm nhạc về tác giả, tác phẩm); và phong trào âm nhạc quần chúng. Ông chính là người đề xướng và chỉ đạo nhiều cuộc thi mang tính chất toàn quốc như Tiếng hát Hoa phượng đỏ, Liên hoan văn nghệ truyền hình toàn quốc. Nhiều năm ông là Chủ tịch Hội đồng giám khảo của nhiều Hội diễn toàn quốc…

2.LỜI MỞ ĐẦU

Có thể nói, Phạm Tuyên là một nhạc sĩ vạm vỡ. Ông có khả năng tung hoành trên nhiều đề tài, nhiều thể loại: ca khúc chính trị, ca khúc trữ tình, cá khúc thiếu nhi, rồi ca khúc về các ngành nghề. Ở mảng đề tài nào, Phạm Tuyên cũng có những bài hát “găm” được vào trí nhớ công chúng. Đặc biệt là những ca khúc chính trị. Đây là một đề tài rất khó viết, và nếu có viết được thì cũng rất khó hay. Vậy mà Phạm Tuyên có cả một loạt bài. Trong đó có không ít bài rất ấn tượng. Phạm Tuyên có khả năng biến những sự kiện chính trị thành tình cảm, xúc cảm với những giai điệu đẹp. Ở lĩnh vực này, có thể nói, Phạm Tuyên như một người chép sử bằng âm thanh. Trước mọi biến động của lịch sử đất nước, ta đều tìm thấy trong âm nhạc của Phạm Tuyên. Ông viết khỏe, viết nhanh mà không hề sống sít. Có thể dõi theo từng ca khúc của Phạm Tuyên mà tìm thấy từng bước đi của Cách mạng. Ngay buổi trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Sài Gòn vừa được giải phóng, trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam đã vang lên ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng. Thật hào sảng, khi Phạm Tuyên đã thay mặt cho toàn thể nhân dân tuyên bố cho thế giới biết:

Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông

Ba mươi năm Dân chủ Cộng hòa, kháng chiến đã thành công

Bài hát như một tiếng reo vui của tất cả mọi tầng lớp người ở mọi lứa tuổi. Giai điệu và lời ca đều rất giản dị. Hầu hết những ca khúc thành công của Phạm Tuyên đều như thế. Nghĩa là rất giản dị. Giản dị đến mức, nhiều người nhầm tưởng là nhạc bình dân, nghe có vẻ như là nôm na, cảm giác như ai cũng có thể viết được và rất dễ viết. Nhưng thực tình, nhạc Phạm Tuyên chỉ dễ viết khi ông đã viết ra rồi.

  1. NHẠC SĨ TRONG SÁCH CỦA PHÓ GIÁO SƯ TIẾN SĨ NGUYỄN ÁNH TUYẾT

Câu chuyện về bài ca Người thợ rừng

Những âm thanh từ cuộc sống đầy sôi động đã làm nên ca khúc Phạm Tuyên khi ông thâm nhập hết mình vào cuộc sống ấy. Báo Hà Nội mới số 256/1999 đã đăng bài “Nhạc sĩ Phạm Tuyên sáng tác Bài ca người thợ rừng như thế nào? của Trần Quốc Toán (một cán bộ ngành Lâm nghiệp) đã nhắc lại hoàn cảnh ra đời của bài hát nổi tiếng đó:

“Buổi chiều một ngày mùa hè năm 1963, Giám đốc Phạm Tự Do thay mặt công nhân viên chức Lâm trường Hương Sơn (Hà Tĩnh) đón tiếp nhạc sĩ Phạm Tuyên đi từ Hà Nội vào cùng với bốn người khách nước ngoài (ba chuyên gia Liên Xô và một nhà văn Đức), rồi cử ngay ông Trần Đình Phòng (cán bộ tuyên văn lâm trường) dẫn nhạc sĩ Phạm Tuyên đi khắp 14 phòng ban của Lâm trường bộ, từ phòng kế hoạch, kỹ thuật đến trạm xá, ban Văn Thể Mỹ… Và hình như những gì đã nghe, đã thấy ở Lâm trường bộ chưa đủ sức thuyết phục, thỏa mãn để làm rung động cảm xúc tạo nên nốt nhạc, lời ca nên nhạc sĩ Phạm Tuyên xin giám đốc vào rừng đến với công nhân ở các trạm, đội.

Một người dân Hà Nội thứ thiệt, da trắng, dong dỏng cao, đẹp trai, luôn cười nụ, quen sống nơi đô thành, vậy mà đi rừng khỏe đến kính nể. Quần xắn cao, chân đi dép cao su, tay cầm gậy lội suối, vượt dốc, có khi thấy nhạc sĩ ngồi xe tải vận chuyển gỗ trông như một phụ xe, đi đến 60 đon vị trạm, đội, phân trường ở 51 tiểu khu thuộc Lâm trường, nơi xa nhất 50 km, từ các đội tu bổ, bảo vệ ở khe Năm đến các trạm quản lý, xây dựng phát triển kinh doanh rừng đến tận các đội khai thác Ngã Đôi, Rào Mác…Tính ra tổng đường đi của nhạc sĩ mới thấy ngày đã đi trên 500km đường rừng. Đặc biệt sên, vắt cắn, muỗi đốt cộng với những cơn mưa rừng bất chợt đến, đột ngột đi và nước của rừng đại ngàn chốn sơn cùng thủy tận độc có tiếng “nước Rào Qua, Ma Khi Chè” vẫn không làm nhạc sĩ sợ và nản lòng. Cơm 3 hào/ bữa ở rừng (chủ yếu muối, măng) mà Phạm Tuyên ăn ngon lành, vẫn chuyện vui với anh chị em công nhân không biết mệt. Rồi lại theo xe tải Zin 130-3 cầu đi sâu vào phân xưởng Ngả Đôi. Trong lúc bốc gỗ lên xe, nhạc sĩ cùng anh em công nhân hạ cội vui vầy bên nồi nước chè xanh đậm đặc thì có một thanh niên đến bên tâm sự: “Chú xem ai nói rừng đây ác, dù cho có nắng mưa thất thường, làm lụng vất vả nhưng chúng cháu vẫn sống vui và thi đua lao động sản xuất và… nói nhỏ chú đừng cười, còn yêu nhau nữa đấy…”

Ai bảo rừng xanh là quái ác!” Một ý nhạc vụt lóe lên trong đầu nhạc sĩ. Ngay chiều hôm đó anh leo lên đồi Cồn La ngồi một mình để theo đuổi ý nhạc và “Bài ca người thợ rừng” xuất hiện trên khung nhạc: “ Ai bảo rừng xanh là quái ác! Ai bảo Trường Sơn là nắng rát/ Gió núi mưa nguồn, sói beo quanh mình xiết bao kinh hoàng… Rồi điệp khúc: “Rừng ơi! Ta đã về đây! Mang sức của đôi tay lao động khó khăn không quản ngại! Rừng ơi! Trong tiếng ca hôm nay! Vang lên cuộc đời sáng tươi trong tương lai…”

Trời chưa sáng rõ, Phạm Tuyên đã đem bản nhạc đến cho anh chị em đội xung kích tuyên truyền văn hóa tập. Tối hôm đó đội văn nghệ đã hát giới thiệu “Bài ca người thợ rừng” trước đông đảo công nhân viên chức Lâm trường, khách nước ngoài công tác tại đây và nhân dân trong khu vực.

Với nét nhạc tươi vui sôi nổi, đằm thắm thiết tha, khi dồn dập như thác đổ, khi dàn trải như dòng chảy của những con suối, khi âm vang như tiếng vọng của núi rừng, cộng với lời ca dung dị, chân thực, mạnh mẽ, tươi vui lạc quan, ngay sau khi bài hát được phổ biến đã đi ngay vào lòng người công nhân Lâm trường Hương Sơn, Hà Tĩnh nói riêng, của ngành Lâm nghiệp cả nước nói chung, từ thế hệ này đến thế hệ khác. Và không chỉ riêng những người đang công tác trong ngành Lâm nghiệp. “Bài ca người thợ rừng” còn được ngân vang phổ biến rộng rãi trong đông đảo quần chúng nhân dân biết và nhớ đến, đặc biệt rất được đông đảo thanh niên ưa thích.”

Khi mới nghe ca khúc Bài ca người thợ rừng được trình bày lần đầu tiên, nhạc sĩ bậc đàn anh Văn Cao vui mừng nhận xét: “Hay, hay lắm! Cậu này rồi phát triển tốt đấy”, còn nhà thơ Quang Dũng thì xúc động nói: “Nghe bài này hình ảnh rừng xanh từ hồi mình đóng quân ở Tây Bắc hiện về rất rõ rệt cứ như là mình đang sống giữa rừng ấy”.

Có ai ngờ một bài hát viết tặng một lâm trường ở tận Hương Sơn Hà Tĩnh lại bay đến phương trời Âu (Bungari) được trình bày trong những đêm ca nhạc sôi động của lưu học sinh Việt Nam, rồi bay sang Nhật Bản để được in trên báo ở đó, lại theo đoàn Hợp xướng thanh niên Santana (Tôkyô) sang thăm Việt Nam và ngân vang trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội (1998). Bài ca còn được Tổng cục trưởng Tổng cụ Lâm nghiệp Nguyễn Văn Tạo tặng tác giả chiếc đài bán dẫn Orionton, được nhạc sĩ rất yêu thích và mang đi nghe nơi sơ tán cùng bà con trong xóm suốt bao nhiêu năm bom đạn.

(Trích Hồi ký Chúng tôi đã sống như thế của PGS – TS Nguyễn Ánh Tuyết)

*

* *

SỨC SỐNG CỦA CHIẾC GẬY TRƯỜNG SƠN

Rất nhiều ca khúc của nhạc sĩ Phạm Tuyên đều có xuất xứ từ cuộc sống đầy biến động, từ cuộc đấu tranh khốc liệt của đất nước. Bài hát của ông sở dĩ có sức sống lâu bền trong lòng người yêu âm nhạc bởi nó mang hơi thở, nhịp đập trái tim của nhân dân.

Điều đó, chúng ta có thể thấy rõ một phần qua “Sức sống của ca khúc Chiếc gậy Trường Sơn” là đầu đề một bài báo của tác giả Thái Kiều Ngân đăng trên báo Nhân Dân ngày 15/4/2000, có đoạn như sau:

“Đầu những năm 70 khi còn là chiến sĩ trong quân ngũ từ miền Bắc hành quân vượt Trường Sơn vào Nam, bọn lính trẻ chúng tôi thường hát bài: Chiếc gậy Trường Sơn. Cả Đại đội đều thuộc làu làu bài này, nhưng ít ai được biết đến tác giả của nó. Sau này làm báo, may mắn tôi có dịp làm quen với tác giả – Nhạc sĩ Phạm Tuyên.

“Bài hát “Chiếc gậy Trường Sơn” được ông sáng tác một cách tình cờ, ngẫu hứng. Chuyện là mùa hè năm 1967, ông Quách Vinh, giám đốc Sở Văn hoá – Thông tin Hà Tây có mời các nghệ sĩ Văn Cao, Phạm Tuyên, Chế Lan Viên, Hoàng Vân…đi thực tế tìm cảm hứng sáng tác ở Hoà Xá huyện Ứng Hoà…Tối đến nhóm nghệ sĩ được mời nghỉ lại tại nhà khách sơ sài của UBND xã. Khoảng 4 giờ sáng, Phạm Tuyên nghe thấy những bước chân chạy rầm rập của dân quân tự vệ (bộ đội tại làng). Họ tập luyện bằng cách đeo hàng chục cân gạch đá trên lưng vừa đi, vừa chạy với hy vọng sau này có đủ sức đi bộ vượt Trường Sơn vào Nam đánh đế quốc Mỹ. Ông chủ tịch Hoà Xá cho biết: Ở xã có một tập tục mới là trước khi thanh niên địa phương tòng quân, chính quyền tổ chức chia tay giản dị nhưng trang trọng, tặng những tân binh trẻ mỗi người một chiếc gậy có tên gọi Gậy Trường Sơn. Còn người ra trận thì tặng lại người vợ, người yêu của mình Chiếc Nhẫn chung thuỷ được làm bằng đuy-ra, vỏ xác máy bay Mỹ”.

“Bâng khuâng trước hiện tượng rất thơ này, Phạm Tuyên đã dùng âm luật của đồng bằng Bắc Bộ để sáng tác. Âm hưởng của ca khúc dường như được vang lên từ một địa phương rất xa Trường Sơn qua câu: “Trường Sơn ơi! Nơi núi mờ xa mà ta chưa qua…”. Hình ảnh Trường Sơn thời ấy như một biểu tượng của khó khăn mà thanh niên mơ ước sẽ vượt qua. Bài hát không nhắc đến địa danh Hoà Xá, tác giả đã từ một hiện tượng cụ thể mình từng chứng kiến để rồi khái quát lên thành một hình tượng mang tính thời đại – phản ánh sinh động một khía cạnh của lịch sử thời đánh Mỹ. Ca khúc đã khích lệ thanh niên vươn tới ước mơ của mình với một khí thế “ Sức trẻ đi cứu nước vững vàng hơn dãy Trường Sơn”

Phạm Tuyên viết ca khúc Chiếc gậy Trường sơn từ năm 1967 mà mãi đến bốn năm sau (1971) ông mới đến Trường Sơn. Đúng như ông tưởng tượng, những hình ảnh trong bài hát chẳng khác mấy hiện thực: “ Có suối reo, có gió ngàn cây, có dốc cao vực sâu mất lối/ Mây trắng quyện dưới chân bước bồi hồi/ Có nắng lửa đốt thiêu vách núi…”. Bài hát như lời quê hương thôi thúc tuổi trẻ lên đường cứu nước: “Trường Sơn ơi! Cho dẫu hiểm nguy bền tâm vững chí/ Trong bước đi nghe tiếng đồng quê/ Nghe gió reo bờ tre gốc lúa/ Nghe tiếng người mến thương vẫn dặn dò/ Giữ vững truyền thống của đất nước…” và bồi đắp cho họ lòng quyết tâm giải phóng miền Nam: “Trường sơn ơi! Ta đã lên đường. Khi lửa tiền phương đang nhắc ta gấp bước đường xa/ Khi thù giặc cướp nước cháy bỏng trong lòng ta”.

Khi mới giải phóng miền Nam, tình cờ ông được nghe một ca sĩ Sài Gòn hát bài Chiếc gậy Trường Sơn, ngạc nhiên và thú vị, ông tìm hỏi ngay ca sĩ thì được trả lời: “Em khoái bài này vì nó có khí thế lắm, hay lắm! Trong không khí âm nhạc quanh quẩn với đời sống cá nhân nhỏ bé thời Mỹ – nguỵ thì sự tiếp thu tự nguyện dạng ca khúc Cách mạng quả là điều đáng mừng. Rồi vài ngày sau đó ông gặp gỡ với một số anh em họ hàng trong đó có người đã tham gia nguỵ quân, họ nói vui với anh: “Gậy của anh khua đến đâu, chúng em chạy re đến đấy!”

Sau ngày miền Nam giải phóng, dân làng Hoà Xá rất tự hào với Chiếc gậy Trường sơn, họ lập nhà truyền thống đặt tên là Chiếc gậy Trường Sơn và bản nhạc Chiếc gậy Trường Sơn do nhạc sĩ Phạm Tuyên chép tay được lồng khung treo trang trọng chính giữa phòng truyền thống. Dân làng Hoà Xá coi ông như một thành viên của làng, mỗi khi dân làng đón huân chương hay mở hội truyền thống, ông đều có mặt như về với quê hương của mình và cùng họ, kể cả những người đã vượt Trường Sơn lẫn những bạn trẻ ngày hôm nay ca vang bài Chiếc gậy Trường Sơn.

Bài hát có thật nhiều kỷ niệm khó quên, đến nay ông còn giữ bài Chiếc gậy Trường Sơn do Lê Văn Ngọc, một chiến sĩ đã chép tay trên đường đi B (tức là đi vào miền Nam) để truyền nhau hát khắp chiến trường Nam Bộ thời kỳ 1968 – 1975, đã hy sinh ở mặt trận, do đồng đội là Trần Danh Lân gửi đến cho nhạc sĩ.

Bài hát “Chiếc gậy Trường Sơn đã nằm trong danh mục 10 bài hát hay nhất về Trường Sơn trong cuộc bình chọn do Binh đoàn Trường Sơn kết hợp với Đài TNVN tổ chức năm 1999.

(Trích Hồi ký Chúng tôi đã sống như thế của PGS – TS Nguyễn Ánh Tuyết)

*

* *

BÀI CA VIẾT DƯỚI BOM B52 HÀ NỘI – ĐIỆN BIÊN PHỦ

Phạm Tuyên có nhiều ca khúc mà lời ca và giai điệu đã trở thành món ăn tinh thần của nhân dân về những thời điểm đáng ghi nhớ, nhiều người đã hát mà không nhớ tên tác giả, vì hình như những bài ca ấy tất yếu phải ra đời trong thời điểm lịch sử ấy. Chính vì vậy mà sau khi giải phóng miền Nam, tờ Tin sáng, một tờ báo nổi tiếng của Sài Gòn đã đăng một bài phỏng vấn anh với nhan đề: “Phạm Tuyên – Người viết nhạc dưới bom B52 và trong ngày Đại thắng”.

Đúng như vậy, dưới bom B52 ông đã viết “ Hà Nội – Điện Biên Phủ” với âm điệu hào hùng như để nói với thế giới: “Đâu chỉ vì non nước riêng này/ Phất ngọn cờ sao chính nghĩa”. Về hoàn cảnh ra đời của ca khúc, xin đọc một đoạn trong tập thơ văn Hà Nội mười hai ngày đêm ấy (NXB Văn học – 1973) có một đoạn ghi nhanh của nhà báo Hữu Thọ như sau: “…Buổi sáng ngày 28/12/1972, một nhạc sĩ (đó là nhạc sĩ Phạm Tuyên) đến gặp tòa soạn. Anh mang đến một bản nháp bài hát mới làm đêm qua. Trên ghế đá dưới gốc đa, anh hát cho mấy người nghe. Mọi người đều biết bom địch ném vào khu nhà anh ở. Chiếc dương cầm của anh bị hỏng. Nhưng anh muốn đóng góp tâm hồn mình vào cuộc chiến đấu chung. Bài hát Hà Nội – Điện Biên Phủ ra đời như thế! Hôm sau bài hát đó được đăng trên một tờ báo (báo Nhân Dân ). Hôm sau nữa, Đài Phát thanh dựng bài đầu tiên về Hà Nội 12 ngày đêm chiến đấu của ta phái đi muôn phương…”

Buổi phát thanh đêm 29/12 bài hát đã truyền đi trên sóng đã gây xúc động cho nhiều người. Nhiều nhạc sĩ ở miền Nam sau này cho biết là: Hà Nội vẫn đánh giặc, vẫn ca hát và ngâm thơ, đó là tín hiệu của một ngày chiến thắng không xa! Và thật là thú vị, vì ngay 30/12 Mỹ đã phải xuống thang. Nhạc sĩ tâm sự: “Phải chăng vào mùa xuân năm 1975, khi tôi cất tiếng hát reo vui ngày Đại thắng trong vài dòng nhạc ngắn ngủi lại chẳng có những xúc cảm mạnh mẽ bắt nguồn từ những hành khúc rắn rỏi, quyết liệt và cũng đầy hy vọng, tự hào như những gì dã được ghi lại một cách say sưa và hối hả trong bài Hà Nội – Điện Biên Phủ”. Đây cũng là một ca khúc mang tính nhạy cảm chính trị và tính dự báo cao.

Về ca khúc này có một phát hiện lý thú, khi nghiên cứu về chiến thắng B52 trên bầu trời Hà Nội, một câu hỏi được đặt ra: “Báo nào, đài nào đã sử dụng từ “Điện Biên Phủ trên không” đầu tiên? Câu hỏi khó khăn ấy đã được cán bộ của Bảo tàng quân chủng Phòng không không quân vào cuộc. Các anh chị đã đến các thư viện lớn, lật từng trang báo (Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội mới…) phát hành trong những ngày tháng hào hùng cuối năm 1972, đầu năm 1973. Cuối cùng họ đã đạt kết quả, tìm ra được đáp số. Đó là báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Lao động Việt Nam. Trong số ra ngày 29/12/1972, có dòng chữ “Hà Nội – Điện Biên Phủ” nhan đề một bài hát của nhạc sĩ Phạm Tuyên, và cạnh đó ở trang 2 có một dòng chữ “Hà Nội đang thắng một trận Điện Biên Phủ trên không” (Lưu Trọng Lân – Tổng tập Ngàn năm văn hiến Thăng Long, trang.1957).

(Trích Hồi ký Chúng tôi đã sống như thế của PGS TS Nguyễn Ánh Tuyết)

*

* *

TIẾNG REO VANG NHƯ CÓ BÁC TRONG NGÀY ĐẠI THẮNG

Một trang sử hào hùng nhất, vẻ vang nhất, tràn đầy niềm vui nhất của cả dân tộc đã đến, đó là ngày 30 tháng 4 năm 1975 – ngày giải phóng Sài Gòn – giải phóng miền Nam, Phạm Tuyên đã kịp ghi lại xúc cảm ấy bằng một tiếng reo vui – Như có Bác trong ngày Đại thắng. Ca khúc đó dường như đã nằm sẵn trong niềm ước mơ cháy bỏng, niềm tin mãnh liệt của tác giả vào ngày toàn thắng chỉ còn đợi đến giây phút thiêng liêng đó là ùa ra và cộng hưởng ngay với triệu triệu niềm vui của mọi người trên toàn đất nước.

Chiều 30 tháng 4 năm ấy, tất cả anh chị em Đoàn ca nhạc Đài TNVN cùng với một số anh chị em bên Giao hưởng Hợp xướng tập hợp tại phòng thu thanh của Đài để dàn dựng và thu ngay ca khúc Như có Bác trong ngày Đại thắng để kịp phát trong bản tin chính thức công bố tin toàn thắng cho cả nước và trên toàn thế giới biết. Tất cả mọi người đều hết sức phấn chấn. Chưa có một bài hát nào được dàn dựng, thu thanh và phát với một tốc độ nhanh như vậy! Cũng chưa có một bài hát nào mà khi tập cả người hát, người đệm đàn, người dàn dựng, người thu thanh đều rưng rưng nước mắt, nước mắt của niềm vui vì ngày Đại thắng!

Những ai đã nghe bài hát đó một lần là đã nhập tâm điệp khúc:”Việt Nam – Hồ Chí Minh!” . Đây chính là niềm khát vọng, là tiếng nói từ trái tim của mỗi người trong ngày vui Đại thắng. Hầu hết những người Việt Nam trong những ngày này, ai cũng tưởng nhớ tới Bác Hồ, Người lúc sinh thời đã nói lời bất hủ:”Miền Nam luôn trong trái tim tôi” , và tác giả của bài ca đó đến thời khắc này mới được biết chiến dịch giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam là chiến dịch mang tên Bác – chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày hôm đó, 17 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975 cả dân tộc mừng vui đến nghẹn thở khi nghe tin Đại thắng được trịnh trọng tuyên bố qua làn sóng Đài TNVN cùng với tiếng hát lạc quan, hào hùng mà tràn đầy xúc động của bài Như có Bác trong ngày Đại thắng. Hàng chục triệu người vừa nghe, vừa khóc, vừa nhẩm theo, học thuộc khi loa phóng thanh phát đi bài đó trên mọi đường phố, làng quê của đất nước. Sự ra đời của bài hát cũng đáng ghi nhớ, vì nó gặp được “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” như tác giả của nó đã từng nhận định.

Nhớ lại đúng vào thời điểm 21gìờ 30 đêm 28 tháng 4 năm 1975, khi nghe bản tin thời sự loan báo Nguyễn Thành Trung, một trung uý phi công “nguỵ” đã ném bom vào sân bay Tân Sơn Nhất, một niềm xúc động dâng trào với linh cảm là chẳng còn bao lâu nữa thôi thì Sài Gòn và cả miền Nam sẽ được giải phóng! Đêm hôm ấy ông bồi hồi khác thường, trên tay cầm mẩu giấy và chiếc bút chì ra đứng đầu cầu thang, nơi đó có một bóng đèn chiếu sáng, ngoài trời lâm thâm mưa. Ông cứ đứng đó ghi xong cả giai điệu và lời ca của bài hát Như có Bác trong ngày Đại thắng để không phá giấc ngủ của vợ con (vì nhà rất chật). Cả cuộc đời gắn bó với nhân dân, với đất nước, sống với lý tưởng cao đẹp, một cuộc đời không ngừng phấn đấu vươn lên, khổ đau và hy vọng để bây giờ có thể hát lên: “Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông!”

Bài hát được ông sáng tác trong một khoảnh khắc ngắn ngủi vào cái đêm 28/4/1975, nhưng nói cho chính xác thì nó được sinh ra từ khoảnh khắc đó cộng với cả cuộc đời nhạc sĩ. Và chỉ mấy ngày sau. bài hát đã vang lên khắp cả miền Bắc và cả các đô thị, xóm ấp miền Nam mới giải phóng đúng vào ngày lễ 1/5 năm đó.

Sau này, bài hát đã được vang lên trong nhiều cuộc gặp gỡ, giao lưu với bạn bè quốc tế. Bài hát đã được hát ở nhiều nước (Nga, Đức, Cu Ba, Trung Quốc, Nhật Bản…). Trong bài viết Phạm Tuyên – Người Nhạc sĩ của nhân dân, đăng trong cuốn Những người lao động sáng tạo của thế kỷ (NXB Lao động – 2003) tác giả Diệu Ánh đã viết về ca khúc này: “Bài hát là thông điệp hoà bình, là niềm kiêu hãnh, lạc quan của dân tộc, là lời hiệu triệu, là niềm tin vào tất thắng của chính nghĩa. Bài hát ngân nga mãi trong lòng mọi người, là nhịp cầu nối hai miền đất nước, giữa các quốc gia đã từng yêu mến và ủng hộ Việt Nam đấu tranh cho thống nhất và hoà bình”. Ca khúc này thường được trình bày dưới dạng ca khúc quần chúng, nhưng cũng đã được thể hiện ở thể loại hợp xướng. Với giọng hát nhiều bè của nam nữ ca sĩ Đài TNVN hoà cùng giọng hát trong trẻo của đội Sơn ca thành một bản hợp xướng huy hoàng vang vọng đến trái tim mọi người. Ca khúc đó còn được trình bày dưới hình thức diễn xướng do ca sĩ nổi tiếng người Nhật Takimoto cùng với giọng hát điêu luyện của hai ca sĩ trẻ Trọng Tấn và Khánh Linh, lúc bay bổng, lúc dồn dập, lúc thiết tha, lúc lắng đọng làm người nghe ngỡ ngàng.

Ca khúc Như có Bác trong ngày Đại thắng đã được Nhà nước thưởng Huân chương Lao động hạng Ba với câu ghi trên huân chương: Tặng thưởng nhạc sĩ Phạm Tuyên – đã có thành tích xuất sắc trong việc sáng tác bài hát “Như có Bác trong ngày Đại thắng” góp phần cổ vũ kịp thời cho ngày giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Hà Nội ngày 30 tháng 4 năm 1985 – Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Trường Chinh (đã ký).

Từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến nay, bài hát Như có Bác trong ngày Đại thắng phổ biến tới mức mà mọi người, từ em bé mới tập nói cho tới các cụ già, ai cũng thuộc, người ta hát khi gặp nhau, khi giã bạn. Có một chuyện thật cảm động, đó là sau ngày giải phóng miền Nam chừng chục năm, ông về thăm Tây Ninh, nơi có chiến khu D nổi tiếng, trong một cuộc gặp mặt với các đồng chí và bà con địa phương thì bỗng nhiên có một em bé gái khoảng mười tuổi đến khoanh tay trước mặt ông mà nói:”Con cám ơn bác vì bác đã đặt tên cho con”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên rất ngạc nhiên, nhưng đó là câu chuyện có thực 100%. Số là ngay sau ngày miền Nam giải phóng, đồng chí Bảy Nứ (tức là Trần Văn Nứ) được điều động về Nam công tác (đồng chí là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954) đúng vào thời kỳ vợ chuẩn bị sinh con. Khi chia tay chị ấy gặng hỏi chồng: “Nếu sinh con thì đặt tên gì?”. Bảy Nứ suy nghĩ một hồi rồi nói với vợ; “Nếu là con trai thì đặt tên là Đại Thắng, nhưng nếu là con gái thì em cứ hát bài “Như có Bác trong ngày Đại thắng”, lần theo lời bài hát ấy nếu gặp chữ gì hay phù hợp với con gái thì đặt tên con bằng chữ ấy”. Và chị đã sinh con gái, theo lời chồng chị đã làm như vậy, chị nhẩm hát bài Như có Bác trong ngày Đại thắng, đến câu: “Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng”. Như bắt được vàng, chị lấy ngay chữ Huy Hoàng đặt tên cho con. Thế là cháu bé có tên là Huy Hoàng. Cháu Huy Hoàng là một cháu bé thông minh, hồi học lớp 5, Huy Hoàng đạt giải 3 cuộc thi Văn toàn Quốc, sau này đã tốt nghiệp Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh và bây giờ là cán bộ Ngân Hàng của tỉnh Tây Ninh.

Xung quanh ca khúc này có khá nhiều chuyện vui, lạ về tính phổ biến của bài hát: Trong một cuộc hội chợ tại công viên 29/3 ở Đà Nẵng người ta xúm quanh một con chim nhồng (một loài vẹt) đang cất tiếng hát bài Như có Bác trong ngày Đại thắng! Thấy lạ nhiều người khách hỏi mua nhưng chủ của nó không bán mà chỉ để khoe thôi. Ông nói: “Tiếng “hát” của con chim nhỏ này là niềm vui của cả nhà chúng tôi đấy!”. Năm sau nữa lại một ông chủ khác cũng mang đến hội chợ 29/3 này một con chim nhồng biết hát ca khúc đó mà còn hát hay hơn để khoe với mọi người chứ không bán. Lại một chuyện vui nữa, một hôm nhạc sĩ Phạm Tuyên nhận được bức thư của một em thiếu nhi ở xa gửi tới, trong bức thư thấy nhiều chữ lạ lắm: “Nho cứ Bồ Hác trui ngày vong đặng thái/ Lày bác nơi đãnh thà chắng thiến hoang huỳ/ Băm mươi na đánh trâu gièn toàn vạnh nông san/ Băm mươi na du chuẩn quà họng khiến cháng đã thồng canh/ Vạt niêm Hình Chí Mô…” đánh vần mãi mới đoán ra là bài hát của mình. Thì ra đây chỉ là một lối nói lái (theo kiểu miền Trung) bài hát Như có Bác trong ngày Đại thắng mà em thiếu nhi đã coi như một trò chơi gửi cho tác giả để cùng vui! Bài Như có Bác trong ngày Đại thắng cũng thường vang lên tại các sân vận động mỗi khi có bàn thắng, người ta đổ ra đường đông nghịt với lá cờ đỏ sao vàng hòa trong tiếng hát bài Như có Bác trong ngày Đại thắng, như tiếng reo vui của lòng mình một cách thật tự nhiên trước một thắng lợi to lớn.

Ca khúc Như có Bác trong ngày Đại thắng sở dĩ đi sâu được vào lòng người, giữ lại bền lâu trong tâm hồn hàng triệu người nghe, theo các nhà phê bình lý luận âm nhạc thì vì nó vừa mang tính khái quát lại vừa mang tính cụ thể. Ca khúc đó đã nói lên tầm vĩ đại của cuộc đấu tranh oanh liệt của cả dân tộc Việt Nam, đồng thời lại nói được một cách cụ thể, một thời kỳ lịch sử 30 năm để giành toàn vẹn non sông, vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ở Nhật, ngay từ những ngày đầu bài hát mới ra đời, đã có 49 tỉnh thành in ra để ca hát trong cộng đồng. Họ nói: “Chúng tôi hát bài này không chỉ để ca ngợi chiến thắng 30 tháng Tư của các bạn mà là để ca ngợi một nước Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh”.

Về bài hát này, trong một bài viết có nhan đề: Phạm Tuyên – Tiếng hát ngày chiến thắng” ở chuyên mục Tài trí Việt Nam của tạp chí Thế giới mới, nhà thơ Bế Kiến Quốc đã viết: “Trong một số thời điểm đặc biệt, lịch sử luôn cần có một ca khúc xuất hiện tức thời và được hàng vạn, hàng triệu con người hát vang trên những đường phố, quảng trường, cánh đồng, chiến luỹ… Hạnh phúc thay những nhạc sĩ đáp ứng được yêu cầu ấy của lịch sử. Đó là Văn cao với “Tiến quân ca”, đó là Đỗ Nhuận với “Chiến thắng Điện Biên Phủ”, đó là Lưu Hữu Phước với “Giải phóng miền Nam”. Và đó là Phạm Tuyên với “Như có Bác trong ngày Đại thắng”. Những ca khúc “tức thời” đó đã bộc lộ tư tưởng, tình cảm của nhân dân, cổ vũ hàng triệu con người cùng tham gia vào một nhiệm vụ chính trị. Những ca khúc đó đã đi thẳng vào lòng người nhẹ nhàng mà sâu sắc, không thể có lời động viên, hô hào nào sánh bằng!”

(Trích Hồi ký Chúng tôi đã sống như thế của PGS – TS Nguyễn Ánh Tuyết)

*

* *

GỬI NẮNG CHO EM VÀ “SỐ PHẬN” BÀI CA

Ca khúc Gửi nắng cho em (phổ thơ Bùi Văn Dung) nhạc sĩ Phạm Tuyên sáng tác ngay sau khi Sài Gòn được giải phóng. Một tình cảm khác lạ tràn ngập lòng ông khi đang giữa mùa đông mà bạn bè trong đó lại rủ đi tắm biển, làm ông không khỏi ngỡ ngàng mà cất lên tiếng ca: “Anh ở trong này chưa thấy mùa đông/ Nắng vẫn đỏ mận hồng đào cuối vụ/ Trời Sài gòn xanh cao như quyến rũ/ Thật diệu kỳ là mùa đông phương Nam…” Ông liên tưởng đến miền Bắc mà lòng xốn xang thương nhớ những người yêu dấu, nên: “ Muốn gửi ra em một ít nắng vàng… Khi bài hát vang lên trên làn sóng Đài TNVN, đầu tiên là giọng ca mượt mà của ca sĩ Kiều Hưng rồi sau đó là giọng ca trong sáng của ca sĩ Trung Kiên, được đông đảo bạn nghe đài ưa thích, yêu cầu phát lại, nhiều đoàn nghệ thuật lấy làm tiết mục biểu diễn…. Ngay lập tức một “lệnh cấm bất thành văn” truyền đến tai các ca sĩ và các đơn vị nghệ thuật: “không được phổ biến bài hát “Gửi nắng cho em” ở bất cứ đâu” vì một số người quản lý nghệ thuật ở ngoài này đã rỉ tai nhau lên án: “Mới giải phóng Sài Gòn chưa bao lâu mà Phạm Tuyên đã ăn phải bả của chủ nghĩa thực dân mới rồi, chưa chi đã vội gửi nắng từ miền Nam ra miền Bắc, chẳng hoá ra là ngoài này âm u lắm hay sao?!”. Thế là ca khúc Gửi nắng cho em bị chết yểu, bị cấm trong một thời gian khá dài!

Ai cũng biết hình tượng nghệ thuật thường mang nhiều nghĩa. Nếu tiếp nhận nó bằng một tâm địa hẹp hòi, đố kỵ, thì chỉ thấy rặt một màu đen tối, nhưng nếu với một tâm hồn lành mạnh, một cái nhìn rộng lượng thì lại phát hiện ra ở nó nhiều điều tốt đẹp, trong sáng luôn hướng về phía tươi sáng, phía phát triển. Có thể coi bài Gửi nắng cho em là một ca khúc trữ tình ca ngợi tình yêu đôi lứa đậm đà chung thuỷ, đôi trai gái lúc nào cũng yêu thương nhau, nghĩ đến nhau dù ở cách xa đôi miền Nam, Bắc. Nhưng cũng có thể coi đây là một bức tranh tuyệt đẹp của thiên nhiên nước ta, khi ở trong này chưa có mùa đông nắng vẫn đỏ, mận hồng đào vẫn sai quả, thì ngoài kia những cành đào lại vươn lên trong giá rét để nở hoa đón tết. Từ mùa đông miền Bắc mới vào ai mà không bị quyến rũ bởi mùa đông phương Nam, một miền thiên nhiên kỳ diệu mới được giải phóng? Chính sự tương phản khí hậu giữa hai miền đất nước đã hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau để đất nước càng thêm tươi đẹp, thêm mạnh giàu.

Gửi nắng cho em/ Gửi nắng về sưởi ấm những bàn tay!” là nguyện vọng tha thiết của người nhạc sĩ lần đầu tiên vào miền Nam. Rõ ràng tình yêu con người quyện với tình yêu thiên nhiên đã tạo nên một khúc tình ca thật đặc biệt, thật quyến rũ! Âm điệu bài ca trải rộng khắp đất trời, làm sáng cả không gian mà giúp cho lòng người thêm ấm áp.

Sau cả gần cả chục năm bị cấm, đầu mùa xuân năm 1986 nhạc sĩ Bửu Huyền phụ trách phòng ca nhạc Đài Truyền hình Tp Hồ Chí Minh quyết định cho ca sĩ Ngọc Tân hát ca khúc Gửi nắng cho em đúng vào buổi giao thừa trên sóng truyền hình Thành phố. Có thể nói giọng ca Ngọc Tân với giai điệu thiết tha trong sáng đã chinh phục được người nghe. Thấy ca khúc Gửi nắng cho em được hâm mộ ở phía Nam nên Đài truyền hình Trung Ương cũng mạnh dạn phát bài đó nhiều lần trên sóng và lại được người nghe hâm mộ. Thế là từ đó “lệnh cấm bất thành văn” đối với ca khúc Gửi nắng cho em không còn hiệu lực nữa, nhiều người từ ca sĩ chuyên nghiệp đến nghiệp dư đều được tự do hát ca khúc này.

Về ca khúc Gửi nắng cho em cũng có vài chuyện vui nho nhỏ: Vào một buổi trưa mùa hè, nắng gắt, cây cối đứng im vì lặng gió, Phạm Tuyên cầm chiếc đồng hồ hỏng đến cửa hiệu sửa đồng hồ. Người thợ sửa đồng hồ không nói gì mà nhận sửa ngay. Sửa xong anh ta nhìn nhạc sĩ Phạm Tuyên tủm tỉm cười mà nói: “Dạo này nóng quá, bác đừng gửi nắng ra ngoài này nữa nhé, đến mùa đông hãy gửi!”. Nói rồi người thợ sửa đồng hồ đưa lại cho ông chiếc đồng hồ vừa sửa xong với thái độ thân mật và trân trọng mà không lấy tiền! Ngược lại, trong một cuộc gặp mặt nhân kỷ niệm ngày quân và dân ta chiến thắng B52 mùa đông năm 1972, một sĩ quan cao cấp trong quân đội đến bắt tay ông hồ hởi nói: “Anh gửi nắng nhiều nữa ra miền Bắc đi, ngoài này còn rét lắm!”

Còn có một câu chuyện cảm động giữa nhạc sĩ, nhà thơ và ca sĩ của ca khúc Gửi nắng cho em. Chuyện là sau chiến tranh biên giới, nhạc sĩ Phạm Tuyên cố tìm cho được B.Văn Dung, người viết bài thơ Gửi nắng cho em mà ông đã phổ nhạc. Nhưng bặt vô âm tín, không biết nhà thơ còn hay đã hy sinh? Lần mò tìm kiếm mãi, sau gần chục năm thì một bài báo đăng trong báo Tiền phong cho biết B.Văn Dung chính là họ Bùi, tức là Bùi văn Dung đã phục viên và đang làm Bí thư Đảng ủy xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc). Nhạc sĩ vội vàng đi tìm gặp nhà thơ tại quê nhà. Hai người mừng rỡ ôm lấy nhau thật cảm động. Từ đó nhạc sĩ và nhà thơ thường liên lạc với nhau và Bùi Văn Dung lại tặng cho Phạm Tuyên những bài thơ mới làm.

Khi về Hà Nội, nhân dịp ca sĩ Ngọc Tân, người đã từng biểu diễn ca khúc Gửi nắng cho em như một bài hát “ruột”, biết chuyện về cuộc gặp gỡ cảm động này, anh đã mời vợ chồng nhạc sĩ và Bùi Văn Dung đến dự bữa cơm thân mật. Thế là một cuộc hội ngộ thật hiếm có diễn ra giữa nhạc sĩ, nhà thơ và ca sĩ của một bài hát. Họ chuyện trò với nhau như những người thân xa nhau lâu ngày nay mới gặp lại. Câu chuyện về cuộc hội ngộ đặc biệt đó được Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Phú (tức là Vĩnh Phúc và Phú Thọ khi còn sáp nhập) xây dựng thành chương trình với tiêu đề là “Đi tìm một nửa bài ca”.

(Trích Hồi ký Chúng tôi đã sống như thế của PGS – TS Nguyễn Ánh Tuyết)

*

* *

CHUYỆN VUI XUNG QUANH CON KÊNH TA ĐÀO

Sau ngày đất nước thống nhất, không gian sáng tác của Phạm Tuyên được mở rộng khắp cả nước. Bây giờ không còn một giới tuyến nào có thể ngăn cản được bước chân của ông. Mùa hè năm 1977, tức là hai năm sau ngày giải phóng miền Nam, ông đến Bến Tre, lúc này phong trào làm thuỷ lợi ở đồng bằng sông Cửu Long đang diễn ra rầm rộ và sôi nổi. Ông muốn viết một bài hát để phản ánh không khí lao động hào hứng nơi đây của thanh niên đang làm thuỷ lợi. Đọc được bài thơ Con kênh ta đào của B. Văn Dung đăng trên báo Sài Gòn giải phóng, ông thấy trúng ý mình nên phổ nhạc rất nhanh bài thơ đó thành ca khúc Con kênh ta đào. Đoạn đầu tả cảnh lao động gian khổ:”Con kênh ta đào chưa có nước chảy qua/ Chỉ có nắng mùa hè nóng bỏng nhưng rất nên thơ: “Giọt mồ hôi tròn lăn trên đất long lanh/ Tóc em búi gió vương xoà trên má…”. Đoạn sau nói lên sự gắn bó của những đôi nam nữ thanh niên trong lao động: “Ngay trên công trường ta đã mến yêu nhau/ Em cứ để khuôn mặt hồng lấm đất/ Con kênh xanh từ mắt em trong vắt/ Ngay buổi đầu anh đã thấy cả đồng xanh”. Niềm lạc quan toả ra khắp cánh đồng, trong lòng người: “ Đồng vui quá có rất nhiều đồng đội/ Ngày mai đây vào mùa gặt mới, em soi khuôn mặt mình xuống dòng kênh xanh/ Con kênh ta đào có anh và có em….” Âm nhạc của bài hát này vừa sôi nổi, vừa bay bổng, đậm đà âm hưởng Nam bộ. Ngay sau khi bài hát ra đời đội văn nghệ thanh niên xung phong của công trường trình bày ngay tại chỗ để động viên những người làm thuỷ lợi và được mọi người nhiệt liệt hưởng ứng.

Về bài hát Con kênh ta đào, ca sĩ Ngọc Tân đã kể lại khi biểu diễn ca khúc này cùng Thanh Hoa trong đêm nhạc Lời ru mùa xuân của Nhạc sĩ Phạm Tuyên vào mùa xuân 2001 rằng lần đầu tiên thu thanh bài Con kênh ta đào trên Đài TNVN, Ban lãnh đạo dự kiến ca sĩ Kiều Hưng cùng ca sĩ Thu Hiền sẽ song ca. Nhưng họ đang biểu diễn nơi xa chưa kịp về nên Ngọc Tân và Thanh Hoa được phân công hát để thu thanh. Thế là hai con người trẻ tuổi đó hát thật hào hứng, gây tiếng vang trên làn sóng Đài TNVN. Cũng từ đó những người yêu nhạc biết đến hai giọng ca trẻ ngọt ngào này. Và cũng từ đó họ đã trở thành giọng ca đầy triển vọng đứng vào hàng những ca sĩ nổi tiếng.

Xung quanh bài hát này cũng có nhiều chuyện vui: Một bà má Bến Tre rất thích bài Con kênh ta đào, bà hỏi: “Phạm Tuyên là đứa nào mà sáng tác bài hát hay dữ vậy?”. Một anh cán bộ thuỷ lợi trả lời:”Đó là nhạc sĩ Phạm Tuyên ở Hà Nội”. Bà nói ngay: “Bảo nó vô đây, tao chi cho nó mỗi tháng 100 trái dừa, cho cả vợ nó vô nữa, tao sẽ chi cho cả hai vợ chồng mỗi tháng 200 trái dừa!”.

Trong một thời kỳ dài bài hát này được phổ biến thật rộng rãi, đi đâu cũng thấy người ta “đào kênh”. Ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng đã xuất hiện các đôi thanh niên nam nữ thích rủ nhau đi “đào kênh” . Cứ mỗi lần họp chung thì cô Mùi và cậu Thành hai cán bộ giảng dạy trẻ của trường xung phong lên song ca bài hát tủ “Con kênh ta đào”, năm sau rồi năm sau nữa vẫn cứ một bài “Con kênh ta đào mà hát, mọi người vẫn hoan nghênh nhiệt liệt, nhưng có người nói vui: “Đào gì mà đào lâu thế, ba năm rồi mà kênh vẫn chưa đào xong à?!”.

Lại có câu chuyện khác làm người ta cười ra nước mắt: Một đội văn nghệ quần chúng của tỉnh Thái Bình đi dự hội diễn văn nghệ toàn quốc. Sân khấu rực ánh đèn, MC ra giới thiệu tiết mục: “Có hai con dê qua cầu, đi ngược chiều nhau nhưng không con nào nhường con nào, chúng chen lấn rồi húc vào nhau nên bị rơi tõm xuống kênh…” Khán giả hồi hộp theo rõi, tưởng đây là một câu chuyện dành cho các bé mẫu giáo, MC tiếp: “…nhưng may quá, Con kênh ta đào chưa có nước chảy qua!”. Cả hội trường được một phen cười vỡ bụng, vừa ngỡ ngàng, vừa thoải mái!

(Trích Hồi ký Chúng tôi đã sống như thế của PGS – TS Nguyễn Ánh Tuyết)

Thành phố Hồ Chí Minh thời bình thường mới Covid-19 ngày 30/11/2021

B.P.T.

Tạo một blog miễn phí với WordPress.com.