Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 9, 2021

Tiền tuyến đã rất gần

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 7:27 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 12 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI- Một truyện ngắn ra đời (phần 17)

Tiền tuyến đã rất gần

Phạm Tôn

Ăn cơm trưa xong, tôi khoan khoái ra sân, nhìn qua giàn mướp trĩu quả xanh mát ngắm bầu trời xanh ngắt bồng bềnh mây trắng lững lờ trôi. Từ trong một đám mây trắng, hai chiếc máy bay trắng bạc bay ra. Tôi tưởng máy bay ta đi tuần như mọi ngày để yên lòng dân nên gọi mọi người còn trong văn phòng Đội 5 ra xem. Nhưng không phải hai mà ba, bốn rồi năm máy bay tuôn ra từ mây trắng, bắt đầu bắn xối xả xuống cầu Long Biên, một tên lửa cắt đứt một nhịp cầu. Công nhân đội 5 tôi số đông là phụ nữ vẫn tiếp tục làm việc như thường. Hai máy bay Mỹ bị hạ. Hôm sau là 12/8 phải xuống hầm mới làm việc được. Cả ngày bảy máy bay bị hạ, nhân dân Hà Nội hả dạ. Tối về nhà gặp một bạn từ Nam Hà lên chơi, rủ bạn đi xem phố, chẳng mua được gì thết bạn cả. Đêm, ngủ rồi em Thân dạy học ở Đông Anh mới về, phải qua sông bằng tàu há mồm. Hôm sau là chủ nhật văn phòng Đội 5 vẫn làm việc, công nhân thêm tin tưởng, vẫn đi làm đầy đủ. Hơn 11 giờ đêm mới nghỉ. Ven sông tấp nập người người chờ sà lan, tàu thuyền, phà sang ngang mặc dù các phương tiện này vẫn hoạt động cả ngày lẫn đêm. Thế mới biết vai trò của cầu Long Biên lớn đến thế nào.

Tối ngồi hóng mát ở bờ sông với cụ Sán, cụ cho biết là có chuyện bên Đoàn thanh niên xin mình về, chú Tân sẽ thay mình làm việc hiện nay. Mình nói không muốn đi thì cụ bảo nếu anh cố tình ở lại sẽ có khó khăn. Vẫn là chuyện nghi ngờ này  nọ, là điều mình luôn chú ý nhưng chẳng coi là chuyện gì to tát. Lúc ấy cụ mới nói là muốn giữ mình ở lại. Vấn đề của anh… nó tựa như rạng đông ấy. Tốt lắm rồi. Nhưng mặt trời vẫn chưa mọc hẳn. Còn một tí khó khăn nữa. Có anh em bảo tôi nếu còn ở lại đây thì phải giữ anh đến kỳ cùng. Nói chung, anh có tín nhiệm đấy. Nhiều người tin cậy.

Nhớ tối 11, vào nhà Tiến, bí thư đoàn cũ nay là phó thư ký công đoàn cảng. Tiến bảo báo Tiền Phong có xin một người biết dịch tài liệu có trình độ chính trị văn hóa. Công văn xin người còn nằm ở tổ chức.

Nhân một lần anh Nguyễn Văn Hoan nguyên trưởng phòng tổ chức hành chính cảng ghé thăm tại đội 5, mình hỏi chuyện này, anh bảo có lẽ là do anh có mấy lần gợi ý với khu về trường hợp của mình. Anh vẫn áy náy về việc giúp đỡ mình chưa trọn vẹn. Mình nói thật với anh là anh tốt quá, nhưng em chưa muốn rời cảng lúc này. Trừ phi đi Thanh niên xung phong hay bộ đội

Thật ra chiến tranh đã lan tới Hà Nội từ đầu tháng sáu. Tối thứ bảy mồng 3 tháng sáu, mình đã tham dự buổi Tổng duyệt lực lượng thanh niên ba sẵn sàng Thủ đô, tổ chức tại quảng trường trước nhà Ngân hàng. Trời mưa. Hơn 10 ngàn thanh niên đeo súng, ba lô trên vai tay cầm đuốc làm bằng thanh gỗ gắn ống bơ sữa bò trong đựng giẻ tẩm dầu ma dút. Trong khí thế rực lửa anh hùng đó, đại diện công nhân nhà máy điện hứa: Tim chúng tôi có ngừng đập dòng điện của Thủ đô vẫn còn cháy mãi. Rồi tuần hành khắp khu trung tâm đến hai giờ sáng mới về nhà ngủ.

Trưa thứ bảy tuần sau, về Thanh Trì thăm gia đình chị Tửu, suýt ăn bom đạn Mỹ. Một cuộc bắn phá cực kỳ dã man vào khu dân cư ven sông Hồng phía dưới cảng Hà Nội. Xem ra chúng rục rịch đánh cảng. Công nhân làm ở đây phần lớn là người Thanh Trì xôn xao bàn tán. Hôm sau, số người đi làm chưa giảm mấy, nhưng có vẻ lo lắng, thăm dò. Ở ven sông đã có lệnh sơ tán trẻ em và tất cả những ai không trực tiếp sản xuất xuống các vùng xuôi phía dưới. Đội 5 quyết định ban chỉ huy, nhân viên văn phòng và các tổ trưởng không ai nghỉ làm, kể cả chủ nhật, ngày lễ, bà con thấy vậy cũng yên tâm hơn.

Tối 9/9, Nguyễn Xuân An truyền thanh và Đỗ Xuân Bảo lái cẩu đến nhà chơi. An báo một tin quan trọng Đội thanh niên xung phong số 49 của Hà Nội sẽ về Cảng Sông Hồng công tác và mình sẽ được chuyển sang làm công tác văn hóa quần chúng của đội. Nếu quả thật có chuyện đó thì thật hiện nay không còn mơ ước nào cao xa hơn. Một giai đoạn mới có thể sẽ quyết định cuộc đời mình từ nay về sau.

Chiều 13/9, mưa rất to, dai dẳng đến tận tối, không đi đâu ăn cơm được. Đành cùng đội phó Nguyễn Khánh Chước và tổ trưởng Trần Văn Mão lục lọi kho của chị Tửu, khắp các thùng, ngăn kéo… để kiếm ăn. Kết quả là cả ba anh em được một bữa no kềnh ăn toàn mì nấu mướp và bột mì rán. Chảo để nấu các món ấy là cái nắp thùng đựng nước lộn ngược. Trời mát lại đói, ăn ngon miệng lạ.

Đang lúc mưa to Tân và Đán đến học tiếng Pháp rất đúng giờ. Đán ướt sũng cả quần mặc dù đã sắn quần cao hết cỡ. Còn Tân, an toàn hơn, mặc áo va rơ bạt và quần đùi cực ngắn, chân đi ủng. Hai bạn thật đáng mến. Đêm ấy, mình về nhà Tân trong xóm Phà Đen ngủ nhường giường cho anh Chước nhà xa. Anh Mão gì thì gì cũng phải về nhà.

Chiều hôm sau, xong việc, anh Chước nói cho mình nghe chuyện anh dự hội nghị xét duyệt biên chế, có đến mấy người nói mình là phần tử Nhân Văn Giai Phẩm, đã viết bài báo gì đó nên đã bị đuổi khỏi tòa soạn báo Nhân Dân. Nhưng những người tham dự đều hỏi có chứng cớ gì không, vì ai biết cũng khen chú ấy là người tốt, tận tâm, hết lòng giúp đỡ mọi người, không nề hà việc lớn, nhỏ gì giúp được là giúp. Rồi hội nghị thông qua việc xét duyệt biên chế cho mình, đúng hai năm sau khi mình vào việc tại Cảng. Lúc đầu làm chuyên trách bổ túc văn hóa và văn hóa quần chúng, sau làm thống kê, kế toán ở các đội sản xuất, nhưng bao giờ cũng dạy học ở các lớp bổ túc văn hóa và dạy các cá nhân ham học tự xin học. Tất nhiên là miễn phí. Trong số người đến học ở đội 5 vào các buổi trưa có một người chăm chỉ nhất, có thể nói là ngoan cố nhất, học bất kể thời tiết thế nào và học xong thì ngồi lại dai nhất, có khi chẳng nói gì mà chỉ ngồi một mình hút thuốc Bêrati của An ba ni. Đó là anh Nguyễn Việt Quốc cùng làm với tôi hồi ở tổ sửa bài Nhà in báo Nhân Dân năm 1959-1960.

Sáng hôm sau, anh Nguyễn Văn Bào bạn bán báo với tôi ngày xưa, nay là phóng viên thể thao của báo dẫn một số anh em trong cơ quan đến đội 5. Hầu hết là người mới, tôi không biết mặt. Tôi giới thiệu các anh với anh Chước nói rõ là các anh đến đây để vác gỗ như bác Sán đã biết, hợp đồng tôi cũng trình cảng vụ, làm xong tôi sẽ đưa anh Bào là đại diện lên tài vụ lĩnh tiền. Anh Chước vui vẻ tiếp, mời uống nước và nói nên làm sớm cho khỏi nắng. Tội dặn các bạn một điều là hồi trước còn đang đi học, anh bạn chúng tôi là Phạm Duy Phùng đã phàn nàn với tôi là vác gỗ xong thì phải tắm mới về được, ai chẳng thế, mà có những thằng cứ cố mặc cái xi líp làm công nhân bốc vác tắm cùng thấy rất khó chịu. Nghe tôi nói, các bạn trẻ cười, riêng anh Bào sống cùng nhà trọ với anh Phùng ở phố Trúc Bạch thì bảo đúng thế, nhớ đừng có tạo sự xa cách với mọi người.

Các bạn cũ vẫn không quên tôi.

17 giờ ngày 30/8, có lệnh tập trung 25 công nhân đi làm nhiệm vụ đặc biệt ở ga Yên Viên. Cụ Sán phải đi vay gạo cho một số người nhà xa ăn tạm. Mình cũng ăn và cùng đi với anh chị em. 19 giờ xuống ca nô, rồi lại lên bờ chờ đi ô tô. Cuối cùng có lệnh về. Mỗi người được một cái bánh mì và nửa lạng thịt kho. Mình và mấy thanh niên về trụ sở ngủ, vừa đi vừa ăn, rất vui. Qua một chuyến huy động thử này thấy rõ nhiều điều. Thanh niên có mặt 100%. Các tổ trưởng tổ phó cũng vậy, kể cả bác Tám mới ốm dậy. Mấy chị to mồm, nổi tiếng là hay thắc mắc cũng đi. Một tổ phó đi đến nửa đường thì lại về, chị ta không muốn đi, vì sợ chết, nhưng lại sợ tổ viên chê cười. Đang lúc ấy lại gặp anh chồng đi làm về, bàn bạc  một lát rồi cả hai cùng về. Lại nhớ hồi tháng 7, tối thanh niên mở hội tòng quân. Người đến lèo tèo vì không biết trước nội dung cuộc họp. Có hôm đến, lại hoãn, hoặc có hôm gặp phải ông cán bộ nói dai, nói dài, nói dại, mất thì giờ mà chẳng được tích sự gì.

Thanh niên cảng lạ lắm, nhất là các cô gái, không thể nhìn bề ngoài mà đánh giá họ được. Một sáng tháng tư, đội I chạy thử băng xích bốc dỡ hàng bao kiện, cô Nguyệt một công nhân 17 tuổi xinh xắn làm ca I, đến 9 giờ thì bị tai nạn. Thịt chỗ dưới bắp chân bị nghiến nát, lộ cả xương. Cô bé không ngất đi nhưng mặt tái mét, lả cả người vì đau đớn mà vẫn không nghe thấy tiếng rên la nào. Chiều hôm sau, tôi vào bệnh viện Phủ Doãn gần nhà thăm em, cho em bông hóa đá mềm mình mới tạc xong với nhiều tâm huyết. May là vết tổn thương không nặng, sẽ không để lại tật nguyền nào. Em tươi tỉnh, rất vui vì được nhiều người quan tâm. Mấy ngày sau đi làm chiều về ghé Trạm xá giao thông vận tải cốt thăm em Nguyệt mong hiểu vì sao một cô gái trẻ như em lại có thể chịu đựng đau đớn thản nhiên như vậy. Tình cờ gặp một chị 34, 35 tuổi đang nằm trạm xá gọi mình nói chuyện thân  mật, tin cậy đến mức mình không dám hỏi tên chị. Rồi chị mời vào buồng, may thay đó cũng là buồng Nguyệt nằm. Nguyệt đã khá tỉnh táo và vui vẻ. Em nói bông hoa anh cho hôm nọ ai xem cũng khen là đẹp. Tôi cầm lấy bông hoa, đúng là có nhiều người xem thật. Cái ngọn lá và phần cong uốn duyên dáng của bông hoa, rất khó làm đã bị gãy. Nguyệt có vẻ tiếc. Mình phải hứa sẽ làm lại những chỗ ấy. Tôi cho Nguyệt mượn một cuốn sách về Ngô Vận Đạc, một Paven của Trung Quốc, rồi về dạy học bổ túc văn hóa ở cảng. Học được độ một giờ thì báo động. Vừa nghe nói máy bay cách 50 km, lập tức thấy nổ súng dữ dội, đường đạn lượn vòng vèo đỏ rực trên nền trời đen sẫm, hệt như pháo hoa… Mười phút sau, định học lại thì có lệnh yêu cầu tan học ngay. Chỉ những ai làm ca đêm mới được ở lại xí nghiệp. Nghe nói chúng nó hẹn đánh cảng ta. Dạo này được một ngày không có tiếng máy bay địch, một đêm ngủ yên là rất quí. Đẹp trời là sẽ có máy bay địch, đến bắn phá. Sau những đám mây trắng bông đã từng tuôn ra hàng đoàn máy bay kẻ cướp.

Hà Nội chuyển sang sinh hoạt về đêm. Các buổi sáng, kể cả sáng chủ nhật đường phố vắng vẻ như sáng mồng một Tết. Nếu không có việc thật cần không ai ra đường làm gì. Các cửa hàng lớn, tất cả các hiệu sách đều mở cửa vào buổi tối. Các rạp chiếu phim đều giảm số vé đi rất nhiều. Chỉ còn bán các hạng vé đắt tiền. Các buổi tối cũng đỡ nhộn nhịp. Chỉ có cửa hàng bia hơi là còn đông khách. Trời nóng quá. Đó cũng là một cách bồi dưỡng sức khỏe rẻ tiền. Ở bến sông, cửa hàng ăn uống đã đóng cửa.

Hằng ngày, sà lan, thuyền vận tải đến cảng Hà Nội ngày một nhiều. Chủ yếu là chở hàng viện trợ của các nước anh em phe xã hội chủ nghĩa: Đường đỏ Cu ba, mì, mỡ Ba Lan, thịt hộp Liên Xô và mỡ thùng ni lông của Rumani.

Hôm vừa rồi, đọc được Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Đã lâu lắm rồi mới được đọc một truyện ngắn hay đến như thế, một bản anh hùng ca rực lửa anh hùng.

Giữa tháng năm, ngày nào cũng báo động hàng chục lần. Kể cả ban đêm. Ngày 19/5, mừng thọ Bác Hồ 77 tuổi, mười máy bay giặc Mỹ đã rơi, có mấy chiếc rơi trên đường phố nội thành. Ngày 21/5 suốt ngày có máy bay xâm phạm. Tôi tận mắt thấy máy bay giặc phóng tên lửa về phía nhà máy điện, nước Hà Nội. Chiều, mất điện cũng mất luôn nước. Thiếu chuẩn bị, người ta đua nhau đi xin nước giếng, gạn những chum vại vô tình còn chứa nước, và kéo nhau ra sông Hồng tắm…

Tối hôm ấy, mình ăn tạm bát cháo rồi ra phố chơi. 19:30 phố Tràng Tiền còn điện. Vào hiệu sách quốc văn mua Trường sơn hùng tráng của Hồng Châu mà mình tin là bút danh mới của anh Thép Mới. Khi sang đặt mua báo Nhân Dân thì điện tắt. Cả thành phố tối om. Người Hà Nội xì xào lo ngại, nhiều gia đình í ới chào nhau đi sơ tán… Về nhà, thắp đèn dầu, đọc sách mới mua thì Tạ Anh Phi đi làm về, đến xin ít nước để uống và rửa chân tay. Mình múc cho Phi một chậu nhôm nước từ cái chum men xanh ngày trước trồng quất cảnh Tết. Cậu ta chỉ dùng một nửa, còn lại trút vào chum. Đến đêm thì đèn lại sáng. Hôm sau nước đã ri rỉ. Tối lại tha hồ tắm rồi. Tất nhiên cái ang to nhà dưới và cái chum xanh nhà mình từ nay lúc nào cũng đầy nước.

Hôm nay, được ngủ một giấc đẫy suốt đêm qua, lại được thêm một giấc ngon lành trưa nay, ai cũng lấy làm lạ. 15 giờ, ta hạ một máy bay trinh sát, mọi người mới thấy yên tâm.

Báo động liên tiếp suốt buổi trưa 30/8. Chú Đỗ Đình Hưng bốc xếp sống với mình hồi ở căn nhà nhỏ cùng lái xe Nhượng đến chơi. Nấu cơm ăn. Đến tối thì đèn tắt, hai anh em lên nhà máy điện, nơi Hưng và đội bốc vác của chú đang làm việc trên đó. Nhà máy bị phá hủy đang xây dựng lại trông như một pháo đài cổ. Đèn sáng rực. Công nhân nhà máy điện, công nhân kiến trúc đang làm việc nhộn nhịp. Mấy tối nay, nhà máy tổ chức hội diễn văn nghệ sôi nổi. Riêng phân xưởng cơ khí cũng đủ diễn suốt một đêm. Lúc về, qua cầu Long Biên, đèn sáng rực, công nhân làm việc nhộn nhịp, có lẽ cố thông cầu dịp quốc khánh.

Sáng 2/9, chỉ có một lần máy bay đến gần vùng trời Thủ đô. Mình ra trụ sở đội 5, qua các phố xá đông vui, mậu dịch tổng hợp mở cửa, nờm nợp những người là người. Thuốc lá bán tự do. Tối, đi xem phố ngày hội. Phố Tràng Tiền phải cắt ba công an luôn mồm gọi loa yêu cầu giữ gìn trật tự mà đường vẫn hay bị tắc. Vào hiệu sách, cảm thấy vui vì khách rất đông, phải xếp hàng hơn 30 phút mới trả được tiền. Chiều, mưa to. Vẫn có máy bay giặc lởn vởn quanh Thủ đô.

Trưa 10/9, em Hưng lại chơi rủ ra cảng gặp Trần Thị Tuệ người yêu của em. Em không ngờ là mình chưa yêu cô gái nào. Em nói, khi nào anh cũng nghĩ đến mọi người. Ai cũng yêu mến anh, thân thiết với anh. Có lẽ vì thế mình không khi nào buồn nản được, luôn được tiếp thêm sức sống. Tối lại về trụ sở, một mình đọc sách… Có tiếng loa văng vẳng hòa lẫn tiếng sóng dạt dào vỗ bờ, trong đêm đen một ngọn đèn tàu thủy đỏ thắm nổi bật lên… Sao thấy thèm làm việc, thèm được thử thách, chiến đấu, cống hiến lạ.

Tháng 10/1967, chị Thanh Vân làm Viện Văn học ở buồng ngoài cùng nhà mình cho biết là Viện đã mấy  lần cử anh Nguyễn Kim Thản đến gặp mình bàn việc xin mình về viện văn học, công tác tại tổ ngôn ngữ. Mình cảm ơn và xin từ chối, chị nói dịu dàng Thế mà chị vẫn nghĩ là em rất yêu văn học. Mình nói chính vì thế mà em phải từ chối, tự biết mình còn phải học hỏi nhiều. Thi chị nói Ờ, anh Phong Lê cũng nói là chưa chắc em đã thích Mình nhớ có lần mình bộc bạch lòng yêu văn học thì anh có nói là nên đi sâu tìm hiểu chính những con người mình đang sống chết cùng với họ, từ tính cách đến lời ăn tiếng nói không ai giống ai, nhưng cũng có những con người điển hình giống nhiều người mà vẫn có cá tính riêng.

Ngày 24/10/1967, Nguyễn Xuân An truyền thanh đưa cho mình bốn tập Sông Đông êm đềm (1-4) và tập Ruồi Trâu (xuất bản lần đầu). Mình cầm sách nói Tịch thu. An cười rất tươi, cái miệng vốn đã rộng lại càng rộng hơn. Không ngờ đó là lần gặp cuối trước khi bạn bước vào một cuộc đời mới: Bộ đội. Anh chỉ được ghé Cảng 15 phút, không ghé qua nhà gặp mẹ. Lần này đi đột ngột, lại chỉ có một mình.

Sáng 16/11/1967, chị Thanh Vân cho biết tin buồn. Anh Phạm Hồng Sơn thân thiết với mình không còn nữa, báo Quân Đội Nhân Dân có đăng… Mình thản nhiên nghe, vì tự nhiên nhớ lại một lần cháu Dung, con nuôi anh hốt hoảng đến báo tin là nghe nói anh vừa mất. Mình an ủi cháu, bảo cứ bình tĩnh, đừng tin nhảm. Sáng hôm sau mình đi tàu điện vào ngay bệnh viện thăm anh. Mình kể anh nghe tin dữ, anh nheo mắt cười hóm hỉnh: Chết thế nào được Anh vừa nói vừa chỉ vào chồng bản thảo: Còn khối việc đây này. Chết thế nào được.

Nhưng rồi, ăn cơm cũng không yên, vì không muốn ăn, chỉ muốn mau được xem tờ báo chị Vân bảo. Có tiếng rao báo. Mặc nguyên quần áo rách rưới ở nhà, mình chạy vội ra phố. Nhưng báo Quân Đội Nhân Dân hết rồi. Ăn vội mấy miếng rồi lục lại nhật ký, đọc lại những gì ghi về anh. Mình biết lần này thì mình mất anh thật rồi.

Tối, ra trụ sở Đội 5, định lên phòng phát thanh xí nghiệp mượn báo, tình cờ gặp cô Trần Thị Phúc đang khoác chăn dạ trực chiến ở đê. Mình hỏi báo, Phúc lén lấy trộm cho mình một tờ. Mở vội các trang I, rồi trang 4 cũng không có một dòng cáo phó. Dưới ánh trăng rằm vằng vặc, trên trang 3 nổi lên dòng chữ đen: Phạm Hồng Sơn đi trọn con đường của một người cộng sản, không phải là tin mà là cả một bài của Vũ Hồ. Bài báo sơ lược quá, nhưng cũng có những chi tiết làm mình xé lòng, rơi nước mắt: Có lần trong cơn đau, anh níu gãy cả những chấn song cửa sổ hoặc : một phần tiền để ủng hộ xã Phương Trung quê anh. Anh dặn kỹ số tiền này dành cho hợp tác xã nào kém nhất và nên dùng vào việc chăn nuôi…. Đó là những ý nghĩ cuối cùng của Phạm Hồng Sơn trên giường bệnh, giữa những cơn đau dữ dội làm anh mê man. Anh mất hồi 3 giờ sáng giữa năm 1967, mộ chôn ở thôn Phương Trung, Thanh Oai Hà Tây.

Đêm đã khuya, côn trùng nỉ non rả trích, nước sông Hồng cuồn cuộn dâng lên đột ngột. Cầu phao đứt. Thỉnh thoảng mới có tiếng xe vận tải rú vang rồi xa dần. Vắng lặng quá… Dưới ngọn đèn dầu, mình cùng bác Sán ngồi nói chuyện mãi về anh Phạm Hồng Sơn và những người như anh, những người con yêu của dân tộc.

Đêm đã quá khuya lúc nào không hay.

Tối 21/11, ra trụ sở đội 5 nói chuyện với bác Sán. Ban giám đốc mới sắp đưa bác đi học một tháng, sau đó chưa biết thế nào. Mới nghĩ đến cảnh hai bác cháu phải xa nhau đã cảm thấy buồn buồn. Mình giúp bác được quá ít, cũng chưa học được ở bác bao nhiêu. Tối 16/12, hai bác cháu chụm đầu dưới ngọn đèn làm việc. Bác cho biết ban giám đốc có ý định lấy mình làm thư ký riêng, tập hợp tình hình…

18/12 máy bay Mỹ đánh phá cầu Long Biên rất điên cuồng, quyết liệt.  Chúng bay dọc theo cầu mà thả bom. Cầu bị phá hại hơn tất cả các lần trước. Mất hẳn một trụ và đứt mấy nhịp. Nhưng ngay tối hôm ấy, thanh niên xung phong đã làm xong một cầu phao mới, ô tô đi lại được. Có một nhóm văn nghệ ra tận đầu cầu phao hát đàn phục vụ. Người đàn hát và người xem đều đứng trong bóng tối. Số người đàn hát có lẽ cũng bằng số người xem. Anh chị em còn phải đảm bảo thông xe, chỉ thay phiên nhau lên xem thôi. Trong bóng tối, một nữ diễn viên sôi nổi hát bài Cô gái vót chông trong gió rét, hai tay nắm vào nhau duyên dáng. Hôm sau, lại liên tiếp có mấy trận đánh lớn, bom bi nổ liên miên. Hai thanh niên xung phong bị thương nặng. Hai cầu phao vẫn rất đông khách

Cuộc họp toàn đội 5 tối 27/12 thật cảm động. Tất cả bà con phát biểu đều không tán thành giải tán Đội; nêu bật tình cảm tha thiết gắn bó với nhau hơn một năm trời biết bao kỷ niệm vui buồn có nhau. Hôm sau tiếp tục có nhiều tin về việc mình chuyển  công tác, nhưng mặc kệ. Cụ Sán thì yêu cầu mình làm cho cụ một bản tổng kết về Đội 5, chỉ để bỏ túi thôi, chẳng gần gửi đi đâu.

Đầu tháng 1/1968, mình xuống Đội I, tắm và gặp gỡ anh chị em công nhân mới ở nông thôn ra, ai cũng kêu ăn đói, nằm rét và nhớ nhà, chán nản lắm.

Để cả một buổi trưa để tổng vệ sinh căn gác nơi ở mới thành nơi làm việc, học tập. Gác cao, thoáng, lúc nào cũng có tiếng xe hơi, tiếng người. Chỉ cần bước ra sân thượng là thấy sông, thấy tàu, thuyền bè sà lan, những con người đang lao động: công nhân, bộ đội, chủ hàng, các cán bộ lãnh đạo. Buồng nhìn ra ngay cần cẩu cổng lừng lững chuyển hàng. Có lẽ chỉ có một nhược điểm: Có máy bay, báo động chạy không kịp là chết tươi. Vì đây là trọng điểm của khu vực trọng điểm. Công việc chuyên môn ở một đội mới hầu như toàn người mới làm mình mệt phờ. Tối nào cũng 12 giờ, hoặc một giờ, một rưỡi mới đi nằm mà năm sáu giờ sáng đã lại làm việc. Mình ngủ ngay tại phòng này. Cho nên bạn nào có tâm sự cũng tạt vào trút bầu tâm sự. Vui mà mệt quá.

Chiều 29/2/1968, cụ Sán bảo tôi tối nay cùng cụ ra trực ở chỗ cần cẩu cổng, cụ cũng đã báo các tổ trưởng sản xuất và tất cả đảng viên trong chi bộ. Tối gặp nhau, chỉ có hai bác cháu ngồi nói chuyện với nhau một lát, vẫn không có ai đến. Cụ đã vê một điếu thuốc lào, nhưng không hút, bảo tôi về nhà xem còn không hay tan nát cả rồi.

4 giờ sáng ngày 1/3/1968, tôi đang ngủ ở nhà thì nghe tiếng máy bay bay rất sát, rồi có tiếng bom, tiếng súng bắn. Báo động, đến 4:30 thì báo an… Tôi đi làm với ý nghĩ chẳng qua cũng như những lần trước thôi, một nơi nào đó bị bắn phá, còn cuộc sống vẫn tiến hành như bình thường. Không ngờ, đến gần cảng mới được biết là sáng nay, bom Mỹ đã trút xuống đất cảng 18 quả bom, vào đúng khu vực đội I của mình. Mình vào một nhà quen trong khu Phà Đen, gửi gạo xin ăn cơm cả ngày, rồi sang ngay Đội I, không lên xí nghiệp làm công tác văn nghệ như đã định. Một cảnh tan hoang bày ra trước mắt; gạch ngói ngổn ngang, từng dãy nhà kho cao rộng đổ sụp, ngói xô. Phòng làm việc của mình bị bật tung cửa, cái khóa xe đạp vẫn nối hai cánh cửa với nhau cùng văng xuống tầng dưới, vôi vữa gạch ngói ngổn ngang, bàn lật ngược. Cả những khung sà lan lớn chưa lắp ráp cũng ngổn ngang giữa đường. Mình tham gia đào bới khiêng xác các công nhân hy sinh, cảng mất năm người, kho lương thực mất hai người. Chị Bê cao lớn, khỏe mạnh vui tính, chị Tự ranh mãnh hay lảu cảu đùa cợt, anh Lạc, một công nhân mới trẻ khỏe hóm hỉnh, và chị Bé, anh Chuẩn, những công nhân hiền lành, tất cả đều nằm đây, hầu hết đều còn nguyên vẹn, trông như người đang ngủ. Chị Bê đẹp như một pho tượng nữ thần, mặt phủ một lớp bột xi măng và đất mỏng. Chỉ có anh Chuẩn là mất một cánh tay. Tôi khiêng các anh, chị mà sao thấy như khi chết con người ta nặng hơn khi sống. Số bị thương thì khá nhiều, nhưng không mấy ai bị nặng. Chuyển xác xong, mình phụ Bảo lái cẩu vạn năng cần dài 25m, cùng anh Khiêm kỹ thuật ra ngay chỗ bom nổ chậm thu dọn, cẩu những khoang xà lan ra khỏi mặt đường. Sau đó có thêm anh Thuận chồng chị Tửu và anh Mậu ra cùng làm. Tất cả làm việc hăng say, khẩn trương không hề có ai lo sợ sẽ mất mạng vì bom chưa nổ hết. Chiều đưa tang công nhân. Mình vẽ ngay hai áp phích vào bảng, kêu gọi trả thù cho đồng đội. Hai bảng bày ngay ở nhà ăn.

Sau một đêm yên tĩnh, cảng lại hoạt động bình thường. Trừ đội I còn bom chưa nổ phải kéo quân đi làm nơi khác. Vào thăm khu ở của công nhân mới, 13 người, chỉ còn 4 người ở lại. Khác hẳn số công nhân cũ, ngày nào đến ca cũng ra xí nghiệp chờ lệnh… Chiều lên lại chỗ có bom nổ chậm, vào trụ sở đội, lên chỗ làm việc, lấy một số đồ lặt vặt rồi về. Chú Phạm Văn Cường gầy nhỏ ham làm thơ suốt hai ngày nay ở đấy rồi. Chú tham gia phá bom, rất khổ tâm vì mãi nó không nổ cho. Đáng mến lạ.

Cái đêm Mỹ ném bom bắn phá cảng dữ dội nhất ấy, bà vợ cụ Sán làm ca 3. Bà yếu sức nên làm tạp vụ lo bữa ăn giữa ca cho tổ. Ở gần cần cẩu cổng có gian nhà cấp bốn sát mé sông làm nơi nghỉ cho công nhân. Bà dọn mì nấu cho các công nhân nữ ăn trên cái bàn gỗ to, còn mình thì thu dọn xoong nồi. Ăn xong các chị bảo bà hôm nay nhường cái mặt bàn có quạt mát cho ba chị to khỏe là chị Bê, chị Tự và chị Bé lên nằm ngủ một lát. Bà đành xuống gầm bàn ngủ tạm. Không ngờ bom nổ, mái nhà sập, ba chị nằm trên chết ngay. Còn bà, nhờ cái bàn to gỗ dầy che nên thoát chết. Cụ Sán chỉ huy cứu sập đứng ngay trên bàn dưới có vợ mình mà không biết. Về sau, bà cứ khen tôi đã cứu bà, còn ông ấy nói rõ to, tôi nghe thấy tiếng, mà tôi gọi thế nào ông ấy cũng chẳng thèm nghe. May có chú đi kiểm tra mới phát hiện ra. Bà bị giập hai tay. Nhưng sống.

Hôm bom ném đội I, văn phòng nơi mình ngủ giường gãy đôi, sách vở tung tóe. Nhà ăn tập thể tan hoang, mình phải mò về Thanh Trì kiếm cơm ăn. Lũ trẻ ở đây hôm nay thật lạ. Hễ thấy mặt mình là chúng kêu chú Thành rồi ù té chạy đi, đứa nào cũng thế lo về nhà báo tin. Hóa ra hôm ấy có một chủ hàng tên là Thành bị thương nặng, xe cấp cứu chở đi. Tin về Thanh Trì ai cũng thương mình, bảo rõ tội nghiệp chú ấy, hiền lành, tử tế thế mà. Thành ra nhà chị Tửu đãi tôi một bữa ngon, mừng thoát đại nạn.

Tối chủ nhật ấy mình về nhà. 23 giờ thấy có báo động, rồi bắn, bom nổ. Tất cả chỉ kéo dài không quá 15 phút. Vậy mà hôm sau mồng 5/3/1968 đi làm sớm đã thấy một phần Lò Lợn, cả nhà máy cơ khí Lương yên, tất cả các kho thuộc nhà máy xay và một dãy nhà dân ở khu lao động Lương Yên… chỉ còn là những đống gạch vụn ngói vỡ, những khung mái trơ xương, những mảnh mái tôn quăn queo méo mó rúm ró. Rất may là nghe nói chỉ có một hai người bị nạn ở khu máy xay. Nhưng khu nhà ở thì có nhà anh Tý công nhân cảng, chết cả hai vợ chồng. Khu nhà máy xay chính bốn tầng vẫn đứng sừng sững giữa đống đổ nát, có tự vệ súng ống sẵn sàng canh gác trên tầng thượng. Tối 4/3, Cảng vẫn tiến hành đại hội công nhân viên chức ở ba địa điểm sơ tán. Họp xong, mình về ngủ lại khu anh em thanh niên. Đêm đã khuya, còn thấy anh em quê Thường Tín lục tục trở về cảng. Mấy hôm trước, sợ quá, họ đã bỏ cảng về quê, nay đã về gần đủ.

Văn phòng đội sơ tán về khu Phà Đen ở trong nhà một công nhân bốc dỡ, hầm đào ngay trong nhà. Ca sản xuất ban ngày, công nhân đi làm khá đông đủ. Ca hai, tương đối ít hơn. Cứ khoảng 18, 19 giờ là lục tục xin về. Dù có đuổi việc chúng tôi cũng cứ về nhà. Cái chết đột ngột không sao tránh nổi của mấy công nhân hôm 1/3 đã có hậu quả thật xấu. Tuy vậy, dưới ánh đèn đất tự chế sáng rực công nhân cảng vẫn tiếp tục làm việc. Các đội 2, 3, chưa từng bị tai nạn chiến tranh làm việc đều đặn hơn. Còn đội I, bên cạnh việc thanh toán hậu quả, sản xuất cũng đang phục hồi dần.

Cuối tháng 10/1968, Cảng Hà Nội nhộn nhịp chuẩn bị đón Đoàn Kiểm tra ngành giao thông vận tải của Đảng và Chính phủ. Làm cổng chào, kẻ khẩu hiệu, dọn dẹp nhà xưởng, nơi làm việc, nơi sản xuất, bàn cả việc mổ bò làm phở xào… Mình là bí thư Thanh niên chi đoàn I bận suốt mấy ngày. Cuộc mít tinh toàn cảng tổ chức ngay ở khu vực sản xuất của đội I, trước cần cẩu cổng. Khẩu hiệu đỏ chữ vàng, đèn nhiều màu rực rỡ. Công nhân số đông là người lớn tuổi, mặc áo quần đẹp, sạch sẽ, còn cánh thanh niên thì chỉ một số ăn mặc đẹp, còn số đông vẫn đánh bộ bảo hộ lao động. Không mấy ai rõ mục đích ý nghĩa của cuộc mít tinh này nên không khí có vẻ tản mạn, kém sôi nổi. Về dự nói chuyện tại cảng có thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, cục trưởng Cục Vận tải Đường sông Bình Tâm. Nghe nói chuyện xong, công nhân bàn bạc nhiều. Họ biết đã bắt đầu cuộc chuyển mình lớn của cảng, cuộc sống của họ cũng sẽ sang trang.

24/10, Đội I liên hoan, mình được chia một miếng thịt bò, vội đem về nhà xào… Làm việc xong, rủ Bảo lái cẩu, anh Hữu Thông cùng về nhà ăn. Bất ngờ cậu Tuyên đến, báo cho biết sắp lên Tây Bắc, thăm em Nhàn được. Tự nhiên thành một cuộc họp mặt ý nghĩa, vui vẻ, trò chuyện thoải mái.

Tối 1/11/1968, dự cuộc họp rất sôi nổi với các tổ trưởng sản xuất. Hàng loạt vấn đề gay gắt của cuộc sống công nhân được đặt ra tìm cách giải quyết, nhằm nâng cao năng suất lao động cũng là nâng cao phẩm chất của người công nhân. Hôm 3/11, trời đẹp, người vui. Các báo đăng lời kêu gọi của Bác Hồ yêu cầu Mỹ ngừng ném bom miền Bắc vô điều kiện. Cả một bầu không khí hòa bình tràn ngập khắp nơi. Phố xá đông hơn, người các tỉnh cũng về Hà Nội nhiều. Các đường phố treo cờ và những băng đỏ chói ngời câu nói nổi tiếng của Bác mà ai cũng nhớ nằm lòng: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Như một lời nhắc nhở chớ quên Miền Nam. Như một mệnh lệnh: Tiến lên giành toàn thắng. Lại thêm một lứa thanh niên mới tuyển từ Đông Anh.

Ngày 5/11, nghe một tin phấn khởi sẽ có khoảng 200 công nhân cảng đi khu 4, mình sẽ xung phong đi ngay, tất nhiên sẽ phải mang theo mấy tập giấy, còn làm báo tường. Sáng 6/11, qua xóm Phà Đen thấy nhiều nhà đang dỡ ra dựng lại. Tối chủ nhật, ở cảng còn hai đám cưới nữa.

Dạo này họp nhiều mà không đi thì thiệt. Đúng là có tin đi khu 4 thật. Có thêm hai đám cưới nữa, là bốn đám tất cả. Chắc là những cặp đôi này không định đi khu 4 rồi, hay biết đâu  nổi máu anh hùng lên đi cả đôi thì sao. Ai mà biết được dân cảng này…

Tối 11/12 cùng các bạn trong chi đoàn ra bãi xem phim Liên Xô Án mạng phố Đăng tơ, một bộ phim tuyệt hay mình đã xem đến ba lần. Về khu tập thể để ngủ thì gặp các bạn làm ca 2 về, cho biết có chủ trương chính thức lấy công nhân xung phong đi công tác khu 4. Thế là nổ ra một cuộc tranh luận khá sôi nổi. Hôm sau, có người về quê… sơ tán. Mình hào hứng vận động anh em cùng đi. Sau một cuộc họp ngắn gọn trưa 12/12, không ngờ số người ghi tên tham gia đã khá đông. Riêng thanh niên đã có hơn 20 người. Cuối cùng chỉ duyệt được đúng 20 người. Riêng mình, vì yêu cầu công tác, bị để lại. Mình ức quá, anh em cũng rất tiếc. Trong những ngày này, mình thấy gắn bó với tập thể một cách lạ lùng, cảm thấy hạnh phúc được anh chị em yêu mến thật lòng, nhất là sau hôm báo tường số I Tiến lên của chi đoàn ra số đầu, được công nhân toàn đội hoan nghênh nhiệt liệt. Công nhân thấy có người lạ như cán bộ văn phòng hoặc người đội khác đến gần tờ báo là tiến lại gần xem có ý xấu không. Hôm bí thư Đảng ủy mới nhờ cậu kỹ sư đến dán bài thơ khen Tiến Lên, cũng bị giám sát như vậy rồi báo ngay cho mình biết ra xem. Công nhân coi tờ báo là tiếng nói của mình. Dịp này lại đúng kỳ làm lương cho nên mình quá bận rộn với đội mới có số người đông gấp bốn lần đội 5 cũ. Trưa không ngủ, làm việc liên tục 12 giờ mỗi ngày, tối lại gặp gỡ, bàn bạc với anh chị em về nhiệm vụ mới, nhất là việc phục vụ khu 4. Buổi hợp mặt anh chị em trong đội trước khi lên đường thật cảm động. Uống nước trà, hút thuốc, trò chuyện tâm tình, rồi hát, ngâm thơ tự sáng tác, chú Cường bốc vác, nhà thơ của Tiến Lên mượn bút mình viết ngay một bài thơ. Tất nhiên cũng như những bài viết cho báo tường, không có nhan đề. Chưa bao giờ anh em thấy thương yêu nhau, vui vẻ phấn khởi như thế… Tiếp đó cả người đi lẫn người ở đều xuống hội trường cảng dự liên hoan ngọt. Đang lúc giám đốc phát biểu thì có điện khẩn của cục đường sông báo hoãn ngày lên đường đến 15/12. Giám đốc Nguyễn Kim Bài nhấn mạnh là cho hoãn ba ngày, nhưng số người từ 30 sẽ tăng lên 50. Không dễ đâu. Thế là lại một cuộc vận động mới, trưa 14/12, người thứ 22 đăng ký. Mình nghĩ sẽ có hy vọng trong kỳ này bèn đi tìm bác Hoành trưởng đoàn đi khu 4 kỳ này. Bác cũng người Huế. Học lớp bảy mình dạy, rất nghiêm túc. Con người đen như được đúc bằng thép. Cao lớn, nét mặt khắc khổ nhưng giọng nói ấm áp, dịu dàng. Bác làm trưởng ban bảo vệ, sống một thân một mình ở cảng, nhưng không ăn bếp tập thể mà tự nấu ăn như nhiều ông già xứ Huế. Tối 15/12, trước khi ca 2 tan ca, bác đưa tôi lên gặp giám đốc Nguyễn Kim Bài, trình bày nguyện vọng. Giám đốc nheo mắt nhìn tôi rồi nói nhỏ Cậu tha thiết đi lắm hả. Thế thì, nếu mai thiếu sẽ cho đi…

Chuyện này không lường trước được nên tôi không báo cho cụ Sán biết.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 26/3/2019

P.T.

 

 

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một blog miễn phí với WordPress.com.

%d người thích bài này: