Pham Ton’s Blog

Tháng Một 10, 2022

Một truyện ngắn đã ra đời thế đấy

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:55 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 1 năm 2022.

MỘT TRUYỆN NGẮN ĐÃ RA ĐỜI THẾ ĐẤY

Phạm Tôn

Tối 16/11/1967, tôi gặp cô Trần Thị Phúc, một công nhân băng chuyền, cốt cán trong tốp ca nữ đang ôm súng khoác chăn trực tự vệ ở bờ sông. Tôi nhờ cô lên đài truyền thanh cảng xin cho tờ báo Quân đội Nhân Dân hôm nay có bài về việc Anh Phạm Hồng Sơn đã từ trần. Đọc xong, tôi cùng cụ Nguyễn Văn Sán còn ở lại trụ sở Đội 5 trò chuyện về Anh và những con người như Anh đến khuya. PHam Hong SonHôm sau về nhà 16 Hàng Da, tôi tìm xem Anh mất rồi, còn tôi giữ được gì về Anh. Trước tiên là rà lại nhật ký từ ngày tôi liên lạc tiếp xúc với Anh, đánh dấu bằng những mảnh giấy nhỏ. Xong, lại tìm những thư Anh gửi cho tôi, trong đó có một thư gửi chị dâu Thanh Thủy của tôi trả lời thư chị. Thấy thiếu một số thư Anh gửi cho tôi mà khi nhận tôi có trích ghi lại trong nhật ký.

Xong hai việc sưu tầm đó, tôi nghĩ mình chẳng gì cũng là một người ham viết, không thể không viết gì về Anh. Thể loại ham thích nhất là truyện ngắn, sao lại không cố viết một truyện ngắn về một người như Anh. Sẽ không lấy tên thật của Anh, mà học theo Bôrix Pôlêvôi khi viết Một con người chân chính về anh hùng phi công Marétxép đã biến tên nhân vật thành Marét-xiép cho dễ viết các phần cần hư cấu. Ban đầu, tôi chọn tên Phạm Thanh Sơn, rồi Phạm Thanh, cuối cùng chuyển hẳn thành Nguyễn Kiên Cường, nêu bật tính cách chủ yếu của Anh. Bối cảnh diễn ra sự kiện là làng quê, nơi quân y viện sơ tán, trong gian điều trị bệnh nhân nặng. Thời gian là giai đoạn sau khi Anh phát hiện bị viêm thận giai đoạn cuối, cũng là đoạn cuối cuộc đời Anh. Và tên truyện, tự nhiên bật ra: Khúc ca chiến thắng! Nhân vật tôi thành một thầy giáo nông thôn, có bệnh nhưng không nhiều và trầm trọng như nguyên mẫu là tôi. Còn thêm hai nhân vật thiếu nhi, cô hộ lý và tập thể cán bộ y tế chăm sóc trạm quân y dã chiến này.Ton That thanh chup cung bac Tan (anh tach rieng)

Rồi cứ thế, tôi nhẩn nha viết ngày này sang ngày khác, không bị thời hạn nào thúc bách. Vì chỉ viết theo ý mình, theo yêu cầu của bản thân muốn tưởng nhớ Anh thôi. Cứ viết rồi sửa đến lúc thấy không thể viết tốt hơn thì ngừng. Thế rồi truyện ngắn tôi thành tâm viết về Anh cũng hoàn thành ngày 25/4/1968. Thời gian khá dài. Sửa đi viết lại cũng nhiều lần. Chính thức có ba bản thảo. Sau đó chép nắn nót vào một quyển sổ, bìa có hình ngọn hải đăng tỏa sáng. Quyển này có ba phần: Nhật ký về một con người – chép lại nguyên văn nhật ký tôi ghi. Những lá thư của Anh – chép lại nguyên văn những thư Anh viết tôi còn giữ được. Và cuối cùng là Khúc ca chiến thắng

Tôi đã đưa nhiều người đọc. Mẹ tôi bảo con viết theo tấm gương Anh, mẹ đọc xúc động lắm. Còn Rosa người yêu đầu của tôi thì nói đọc phần nhật ký và thư thì không hiểu rõ lắm, đọc Khúc ca chiến thắng em cảm động quá.

Nhưng không hiểu sao những ngày này tôi tìm đâu cũng không thấy quyển sổ có hải đăng đó. May thay, tìm được mấy bản thảo khác nhau, hình thành bản thảo đầu tiên hoàn chỉnh, viết trên những trang giấy xám đen khác nhau.

Xin đưa ra mời bạn đọc chơi với lòng bao dung cho tấm lòng chân thành của tôi một thời tuổi trẻ U.30. Tấm lòng của tôi với Anh.

Khuc ca chien thang ban 1-1

Tong ket khuc ca chien thang

Khuc ca chien thang ban 1

Khucc a chien thang ban 3

P.T.

KHÚC CA CHIẾN THẮNG

Truyện ngắn của Trung Thành

Trời đã đứng bóng. Không một ngọn gió. Không một tiếng chim hót… Có con gà nhà nào gáy dở, cất tiếng ồ ồ kéo dài, nghe buồn não ruột.

Nguyễn Kiên Cường nghe tiếng gà, lòng lại thấy vui vui. Anh đặt bút xuống mép giường, tay trái khẽ nhắc tấm ván mỏng, để tập bản thảo đang chép dở sang một bên. Anh vặn mình cho đỡ mỏi, nheo đôi mắt đen rất tươi có đuôi dài hơi cụp xuống, nhìn qua những song nứa thanh mảnh ở cửa sổ, trông ra sân…Nghe tiếng gáy anh đã biết là chú gà trụi rồi. Nhưng anh vẫn muốn tận mắt ngắm chú ta gáy. Thật là ngộ nghĩnh. Chú nhắm nghiền hai mắt lại, vươn cao cái cổ đỏ gay lởm chởm mấy cọng lông trắng, khẽ vỗ đôi cánh cụt lủn, lơ thơ mấy chiếc lông đen nhợt nhạt, há hốc cái mỏ vàng chóe ngăn ngắn… Lần nào ngắm chú ta gáy anh cũng thầm nghĩ: Cái tư thế chú thảm hại quá, làm sao tiếng gáy của chú oai hùng được đây?!!Pham Hong Son Y Ta

Ánh nắng hắt vào nhà mà vẫn còn khá gắt. Trên nền gối xanh thẫm nổi bật khuôn mặt trắng bệch bạc với cặp lông mày rậm, đôi hàm hơi to có dáng cương nghị. Và có vẻ như hơi lạc lõng, trên khuôn mặt ấy có đôi môi đỏ rất tươi. Môi trên hơi cong mỏng. Hai bên mép hơi hằn ngược lên làm cái miệng lúc nào cũng như đang cười. Kiên Cường vừa co ruỗi xoa bóp bàn tay phải, vừa mỉm cười. Anh tham quá! Nếu không có chú gà phải gió ấy, có lẽ anh vẫn còn gò lưng ngồi trên giường mà chép. Ai ngờ mỏi đến thế này, mà cũng mệt quá mất rồi! Anh xem đồng hồ: Mười hai giờ mười phút. Hơn sáu giờ làm việc liền không một phút nghỉ rồi còn gì… Mí mắt nặng trĩu, anh  buồn ngủ lạ thường. Anh lật gối, lấy ra cái máy thu thanh nhỏ chạy pin, mở. Một khúc nhạc hùng tráng vang lên. Khúc quân hành quen thuộc của tiểu đoàn oai hùng năm xưa… Kiên Cường ngả mình trên gối, nhắm mắt lại… Có chị hộ lý trẻ mặc áo choàng xanh rêu, đứng ở mé cửa đã lâu, mặt đỏ ửng vì nắng. Chị nhanh nhẹn vào buồng, thu dọn cái bút, tập bản thảo, tấm ván và đặt cạnh giường một chiếc ghế đẩu rồi nhẹ nhàng bước ra.

Kiên Cường không hay biết gì. Bên tai anh vẫn vang lên khúc quân hành năm xưa…

Anh còn nhớ lần đầu được nghe bài ca ấy. Bấy giờ, anh đã là tiểu đoàn trưởng, mặc dầu tuổi đời chưa quá hai nhăm. Sau một trận đánh, anh đang ngồi dưới gốc cây trong khu rừng thưa trú quân ghi vội nhật ký, thì chính trị viên đến bên. Anh ta vui vẻ chỉ vào người cùng đi, nói với anh: Một nhà thơ, một nhạc sĩ mình mới phát hiện cậu ạ. Cậu, cậu hát cái bài vừa rồi đi. Thật hùng dũng hiên ngang vào!

Từ đấy, bài hát trở thành của chung cả tiểu đoàn, của riêng từng chiến sĩ. Chính Kiên Cường cũng đã nắn nót chép lời cả bài gửi về quê nhà, coi như lời hứa hẹn, lời thề. Giờ đây, những âm thanh không lời này lại gợi lên trong anh biết bao hình ảnh, kỷ niệm của cuộc sống sôi nổi cách đây hơn hai mươi năm rồi, mà không hiểu sao lại gần gũi tưởng như mới hôm qua thôi… Anh nhớ lại những ngày chiến đấu ở đồng bằng Nam Bộ, nhớ cái tình cảm sâu xa những ngày kỳ lạ, hơi có vẻ thần bí của đồng bào vùng theo Đạo Hòa Hảo, nhớ những đêm nằm võng ngủ rừng, những lần phải rút lui, nhờ sự giúp đỡ của đồng bào Khơ me mà bỗng biến thành cuộc phản công thắng lợi vẻ vang.

Anh nhớ từng khuôn mặt từng giọng nói, từng thói quen nhỏ nhặt của đồng đội. Nhiều người đã hy sinh. Mỗi cái chết một khác. Nhưng không có cái chết nào hèn nhát cả. Anh cùng đồng đội sống chết có nhau. Có trận đánh nào anh lại không dẫn đầu. Anh biết như thế là mạo hiểm và không phải khi nào cũng cần thiết, nhưng anh không thể làm khác. Nhiều lúc anh ngạc nhiên không hiểu sao mình vẫn còn sống. Anh đã vuốt mắt, đào huyệt cho biết bao đồng chí trẻ tuổi đời hơn mình nhiều. Không bao giờ quên các đồng chí đã hy sinh, anh cảm thấy họ vẫn sống, sống ngay bên anh, sống ngay trong anh. Những lúc gặp khó khăn, anh nghĩ đén họ, hỏi ý kiến họ. Nhưng hình như lần nào họ cũng cười không ai trả lời anh, ý như muốn nói: Anh cứ đùa thế chứ, anh hiểu thừa lúc này phải hành động thế nào rồi còn gì!

Trận chiến cuối cùng trước ngày Hòa Bình lập lại, tiểu đoàn anh thu được cả xe gíp, xe tăng. Anh mệt lả. Anh em buộc anh phải lên ngồi xe gíp. Chính anh đã bị trọng thương trên xe gíp này. Một lũ giặc hèn nhát vừa tháo chạy vừa quay lại bắn hú họa về phía sau bằng súng máy. Một viên đạn mồ côi đã tiện đứt cột sống lưng anh… Mười ba năm nay, anh nằm qua đã nhiều bệnh viện, mổ xẻ cũng mấy chục lần. Nửa người dưới vẫn hoàn toàn bại liệt. Vết thương vẫn rỉ nước vàng đau nhức.

Anh không để ý gì đến bệnh tật nữa,ngày đêm học tiếng nước ngoài. Thật bại nhiều phen, nhưng rồi những cuốn sách dịch đầu tiên của anh đã ra mắt bạn đọc. Anh đã trở về đội ngũ. Anh đã chiến thắng!Pham Hong Son Y Ta Dich Sach

Bom đạn giặc Pháp im tiếng chưa bao lâu thì giặc Mỹ đã kéo đến, gieo rắc chết chóc trên miền Nam yêu dấu ân tình của anh. Rồi tên lửa, bom bi Mỹ lại gieo rắc chết chóc trên miền Bắc quê hương anh. Quân y viện phải sơ tán. Anh phải rời tủ sách quen thuộc của bệnh viện, rời ngọn đèn điện giúp anh làm việc thâu đêm trong bất kể thời tiết nào, rời những người bạn chí thiết một lòng một dạ chung sức với anh làm những việc vì mọi người.

Cách đây hai năm trước khi sơ tán, anh còn biết thêm một trở ngại mới: Anh bị cả bệnh viêm thận. Tỷ lệ u rê trong máu đã đến mức không thể chữa khỏi.

Hôm chuyển hẳn sang chữa bệnh bằng Đông y, các bác sĩ tốt bụng đã hết lời ca ngợi phương pháp chữa mới này là nhiều triển vọng. Nhưng uống bát thuốc đầu tiên, anh đã bình tĩnh nghĩ thật giản dị: Mình còn ít thời gian lắm đây

Chị hộ lý nhẹ nhàng bưng vào một khay cơm, mắt sáng lên tự hào vì bữa ăn ngon lành hôm nay. Có rau xà lách xanh nõn. Có canh cá giấm nóng hổi, ngon lành. Cà chua đỏ. Mùi ngò om xông lên dìu dịu, thơm thơm.

Nghe tiếng động, Kiên Cường ngoảnh lại.  Chị hộ lý nói: Em chờ mãi. Thấy anh nghỉ rồi em mới hâm lại canh. Cá chép tươi ngon lắm anh ạ.

Nhìn khay cơm, Kiên Cường ngạc nhiên, nhíu cặp mày rậm lại. Đôi mắt đen có đuôi dài càng tươi: Tốt quá, cảm ơn cô…Hôm nay lại dám cho tôi ăn cả rau sống cơ à? Đại úy cau có đi vắng hay sao?…

Chị hộ lý trẻ buột miệng: Chính đại úy bảo em, từ hôm nay trở đi đồng chí ấy thích thứ gì thì cứ dọn cho ăn uống thứ ấy… Vì thế nên em cũng…

Chợt thấy Kiên Cường hơi cau mày nhìn mình bằng cặp mắt dò hỏi chân thành, chị bối rối quay đi. Lúc quay lại, hai mắt đỏ hoe, chị đưa tay dụi mãi. Rồi nói: Em đun rạ, nó khói quá đi mất anh ạ…

Chị nói giọng run run, rồi lẩn mau ra, lấy cớ là vội đun nước, kẻo bếp rơm mau tàn lắm.

Kiên Cường ăn chậm rãi. Anh cố ăn cho hết bát canh và đĩa rau sống để vui lòng chị hộ lý tốt bụng. Trên đời này, còn nhiều người tốt với anh quá. Anh không có quyền phụ lòng yêu thương tin cậy của họ. Anh phải sống, phải tiếp tục làm việc làm việc nhiều hơn nữa. Mải suy nghĩ miên man anh không ngờ mình ăn nổi suất cơm. Lúc chị hộ lý đem nước sôi đến, nhìn khay cơm, chị mừng rỡ mỉm cười thẹn thùng. Anh nói: Cô nấu khéo lắm: đúng kiểu canh chua Nam Bộ. Chị rót cho anh chén nước, thì anh cười, nói: Tôi còn phải uống món này trước đã chứ. Rồi vui vẻ với  tay lấy chai dầu paraphin to màu nâu, rót một cốc đầy, đưa lên miệng, nhắm mắt uống một hơi hết sạch.

Chị hộ lý rùng mình nhìn cảnh ấy. Chị biết là cần thiết cho việc tiêu hóa nhưng không sao cầm lòng được mỗi khi thấy anh uống dầu sánh hằng ngày như thế. Cuộc dời anh, hỏi còn có gì vui…

Chị thu dọn khay bát xong, thì anh đã lại tiếp tục cắm cúi chép bản thảo rồi. Chị biết anh cần ngủ, rất cần ngủ. Nhưng chị không dám ngăn cản anh làm việc… Từ ngày đi sơ tán, không có điện, không làm việc tối được, anh đã bỏ hẳn cái lệ ngủ buổi trưa theo qui định. Các bác sĩ, kể cả đại úy cau có đều biết nhưng làm ngơ…

2.

Đã hơn một tuần nay, hễ ngủ là Kiên Cường lại đắm mình vào những giấc mơ kỳ lạ nhưng lại hết sức mơ hồ, khủng khiếp, không đầu không đuôi. Sáng ra không tài nào nhớ được chút gì, chỉ cảm thấy rất căng thẳng, gay gắt. Thường thường ngủ dậy, mới bắt đầu làm việc người đã thấy bải hoải. Đến lúc nghỉ ăn trưa thì đã mệt nhoài rồi.

Anh mở máy thu thanh, từ từ nhắm mắt lại. Nghe thì chỉ dùng tai là được rồi. Mở mắt làm gì cho nó mỏi. Có khi còn không tập trung nghe được tốt nữa là khác. Dạo này, nhất cử nhất động anh đều tính toán căn cơ. Tiết kiệm đến mức tối đa. Lắm khi, chính anh cũng phải bật cười về cái tính chi li hà tiện quá quắt này của mình.

Có mấy con ruồi cứ vo ve bậu vào mặt. Anh bực mình buông màn, tiếp tục nhắm mắt nằm nghe tin tức.

Cửa khẽ hé mở. Một thanh niên cao gầy, mặc quần áo bộ đội đã bạc màu bước vào. Đặt mấy tập sách dầy mới mang đến lên mặt bàn, anh đứng tần ngần một lát, rồi nhẹ nhàng nhắc chiếc ghế, đặt gần vách đối diện với giường, khẽ ngồi xuống. Không một va chạm nhỏ, không một tiếng động. Hình như anh còn nín cả thở từ khi vào gian buồng nhỏ này. Anh trìu mến nhìn quanh gian buồng quen thuộc. Vách trát vội, còn lởm chởm cả cọng rơm. Nền nhà cũng chưa nhẵn, đất dầy lên ở các góc buồng, chân giường, cạnh cửa sổ nhỏ là một cái bàn mộc hẹp trên có để mấy tờ báo. Hai cái ghế, một cái anh đang ngồi, một cái để sát gường đặt mấy cuốn sách và tập bản thảo đang chép dở. Cạnh đầu giường là cái tủ con loại thường thấy ở các bệnh viện. Ngăn trên sách xếp đứng chặt cả. Gáy sách nhiều màu. Trên mặt tủ, có cái khung ảnh và một lọ hoa. Ảnh liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi cắt ở báo ra. Dưới ảnh là dòng chữ viết nắn nót bằng bút chì xanh đỏ Sống oanh liệt. Chết anh hùng. Không biết sao chữ sống viết bằng màu xanh, còn chữ chết lại viết màu đỏ. Dòng chữ này tuần trước chưa thấy. Cái lọ hoa, chỉ nhỏ như ngón tay cái người lớn thôi, bằng đồng vàng óng quà của một chi đoàn thợ tiện tặng. Trong lọ cắm trang trọng mấy bông hoa nhỏ xíu, cánh phơn phớt xanh da trời, có nhị vàng, thứ hoa cỏ thường thấy ở các bờ ruộng những ngày hè… Anh thanh niên tiếp tục nhìn quanh như tìm kiếm vật gì. Thấy cái âu thủy tinh để ở chân giường, anh có vẻ ngạc nhiên, rồi cau đôi mày nhỏ gọn như lá liễu. Đấy là quà của học sinh một trường Hoa Kiều sơ tán gần đây tặng anh. Một cái bể cá có rong xanh, nuôi nhiều loại cá, có con vàng óng, có con đen tuyền, còn có con vằn xanh vằn đỏ; có con nhanh nhẹn lao vút, có con lờ lững bơi, có con mềm mại ở yên một chỗ khẽ vung vẩy đuôi vây. Những người bệnh lâu năm liệt giường thấy những con vật sinh động, vui mắt như thế thường rất thích. Kiên Cường cũng từng rất quí yêu cái bể cá này. Tuần trước, chính anh còn giới thiệu tỉ mỉ từng loại cá một, kể cả tính nết từng con…

Anh thanh niên suy nghĩ một lát rồi rút bút viết mấy dòng chữ mực đỏ (dùng chấm bài cho học trò) vào một trang giấy xé ở sổ tay. Rồi nhẹ nhàng đặt tờ giấy lên mặt tủ con, lấy cái khung ảnh chặn lên trên. Đến bên giường, anh nhẹ nhàng tắt máy thu thanh. Anh rón rén quay ra, bỗng nghe tiếng gọi: Đồng chí Trung. Vội quay lại đã thấy Kiên Cường vén màn nháy nháy mắt tươi cười: Không hiểu sao không hẹn mà tôi cứ chờ đồng chí. Tin là hôm nay thể nào đồng chí cũng đến. Thế mà hóa ra thật!

Nhận thấy mắt Kiên Cường húp lên, đôi má đầy đặt, tuy nước da còn bệch bạc, Trung cũng vui vẻ nói: Anh chóng lại người thật đấy anh Cường ạ! Trông anh béo ra…

Kiên Cường nheo mắt cười hóm hỉnh: Phồn vinh giả tạo đấy! Phù rồi. Chiến dịch ăn nhạt bắt đầu năm hôm nay rồi.

Trung cố lấy giọng vui vẻ, nói nhanh: Cái…cái bể cá của anh đẹp thế, sao lại bỏ xó vậy.

Cường biết Trung muốn chuyển hướng câu chuyện, thầm cảm ơn bạn trẻ tinh ý. Anh nói chậm rãi, như phân trần: Mình cũng tiếc lắm chứ… Cứ ngắm mãi, đến một hôm thấy con cá đen chết, mình mới nhớ ra là phải thay nước, còn phải cho cá ăn giun chỉ…Thế là lại nghĩ đến chuyện rắc rối mỗi lần các đồng chí tắm cho mình, hằng ngày cho mình ăn uống, phục vụ mình săn sóc mình… Chẳng nhẽ đến cái trò chơi của mình, cũng lại bắt các đồng chí phục vụ nữa sao… Cá, mình đem cho lũ trẻ trong xóm thường đến chơi đem về nuôi. Từ đấy mới thấy thoải mái…Ban day xe Pham Hong Son

Cường nói chuyện thỉnh thoảng lại nhíu đôi mày rậm một thoáng rồi giãn ra ngay như thể anh phải chống lại những cơn đau đột ngột mà không muốn để người khác biết. Những giây phút ấy anh nhắm mắt  lại và cả thân mình cứng đơ ra. Nhưng ngay sau đó lại thấy miệng anh nở nụ cười tươi. Đôi mắt có đuôi dài lại ánh lên những tia sáng yêu đời, nồng nhiệt.

Trung ân hận về câu nói vô tình của mình đã làm Cường suy nghĩ. Anh thận trọng cân nhắc một lát mới nói: Em cứ mang sách đến cho anh, nhưng chưa hiểu ý anh định thế nào? Cái kế hoạch…

Cường ngắt lời: Bây giờ, mình hoàn toàn tán thành, tán thành cái kế hoạch tổi thiểu của Trung! Học theo giáo trình Đại học Tổng hợp thì dài quá. Mà không hiểu học rồi mình dùng những thứ ấy vào đâu, để làm gì… Mình còn rất ít thời gian. Phần lớn, tất nhiên là để dịch sách rồi. Dẫu sau cũng phải ưu tiên cho sản xuất. Sản xuất là chính, tích lũy chỉ là phụ… Mình còn ít thời gian lắm. Bây giờ mới bắt đầu mùa hè, cái mùa làm mình khốn khổ, năng suất rất kém…

Nghe Cường rành rọt thản nhiên nói bấy nhiêu điều, Trung cảm thấy vững lòng hơn. Anh hiểu thế nào là còn ít thời gian lắm. Vì thế, anh cố trình bày thật rõ ràng, tỉ mỉ kế hoạch cung cấp tài liệu cho Cường học. Trong khi bàn bạc với Trung về việc học, Cường cứ hay nhắc đi nhắc lại câu sản xuất là chính. Cảm thấy Cường vẫn còn do dự vì phải bỏ ra khá nhiều thời giờ, Trung nhắc khéo cho Cường nhớ lại tầm quan trọng của việc học lý luận cơ bản. Bỗng anh hỏi Cường: Còn cái hồi ký về Nam Bộ kháng chiến. Cường nói ngay: Mình vẫn viết, nhưng chỉ viết khi chưa có gì dịch hay đọc thôi. Hơn trăm trang rồi, nhưng chẳng biết rồi có ra cái gì không. Thật tình, mỗi lần cầm bút viết hồi ký là mỗi lần tôi thấy ngại.

Anh đưa tay vuốt mái tóc cứng, thưa, chưa có một sợi bạc. Mấy sợi rụng nằm trong lòng bàn tay anh. Cường xoay mình thò tay qua cửa sổ vứt tóc, bỗng mỉm cười. Anh nói qua song cửa: Gì đấy các cháu? Thì có tiếng trẻ con láu táu: Cháu bắt được khối cá. Cháu mới  cái Bích ấy. Cháu mang cho chú nuôi.

Cường đưa mắt nhìn Trung cười: Vào đây các cháu!

Một bé gái có hai bím tóc nhỏ như hai cái đuôi chuột chạy thình thịch, mở cửa rồi đứng nép vào một bên, tay giữ cánh cửa dọn đường cho một cháu trai cũng chạc năm tuổi, trịnh trọng bưng một cái thau nhỏ sóng sánh nước đục ngầu. Thỉnh thoảng một chú cá rô con nhảy vọt lên khỏi mặt nước, rồi rơi xuống làm nước bắn tung tóe cả vào mặt chú. Cô bé lấy ngay cái âu thủy tinh ra. Hai cháu cùng nhau bắt cá bỏ vào âu rồi đổ nước. Lũ cá nhảy quẫy lung tung đuổi nhau loạn xạ trong cái âu nơi ở mới chật chội chưa quen. Xong công việc quan trọng cô bé đập vai bạn, nói: Về đi. Để chú còn làm việc chứ: Tiếng chứ cháu kéo thật dài giọng. Anh bạn quay lại mắng: Thế mình về mà không chào chú à!

Cô bé chào thật nhanh rồi chạy vội. Chú bé cầm cái thau, nói với Cường ra vẻ bí mật lắm: Chúng cháu cho chú thật đấy. Cháu mới cái Bích ấy. Tối chú lại kể chuyện chú nhé. Anh cười: Hai cháu ngoan lắm. Tối sang chú kể chuyện cho. Nhưng nhơ rửa tay cho sạch vào đấy.

Cháu bé đi rồi, Cường dường như có vẻ suy nghĩ nói với Trung: Các cháu nó bây giờ khá thật. Đã ngoan lại rất thông minh.

Nhân nghe Trung kể về em Nguyễn Ngọc Ký, liệt cả hai tay từ nhỏ, dùng chân mà cũng viết được đi học được, nay đã học đến đại học, Cường càng trầm ngâm: Tôi thấy lạ thật đấy. Như mình, lớn rồi, được giáo dục rèn luyện nhiều rồi mà còn có lúc nao núng… Các em nó bé thế, nó lấy đâu ra nghị lực nhỉ? Tôi rất phụcPham Hong Son va em be

Đang trò chuyện, lại thấy hai cháu bé vội vã chạy vào hổn hển thở không ra hơi. Chú bé giơ hai tay ra, xòe cả năm ngón, nói: Chú xem tay cháu sạch rồi nhớ!

Cô bé dịu dàng đến bên Cường,  đưa anh một bó hoa nhỏ, cánh hoa phơn phớt xanh da trời.  Đưa hoa xong, lại vỗ vai bạn: Ta về đi. Để chú còn làm việc. Cháu chào rồi kéo tay bạn chạy ra cửa, vừa chạy vừa hát: Có đôi bàn tay / Bé bé con con. Chú bé cãi lại: Ê, Bé bé xinh xinh chứ. Chú Cường dậy là bé bé xinh xinh chứ!

Cường nhìn Trung cười, lắc đầu, khéo léo cắm hoa vào cái lọ đồng xinh xắn, Cường dự định sẽ chép xong bản dịch và duyệt lại toàn bộ lần cuối vào hôm thứ sáu. Cả ngày thứ bảy và chủ nhật anh sẽ hoàn toàn nghỉ ngơi.  Thứ hai mới bắt tay vào học thêm về văn học… Không ngờ, chép còn khoảng sáu chục trang nữa thì anh bị choáng, ngất thường xuyên. Phù nặng hơn trước. Có nhiều hôm không hiểu sao cứ thượng thổ hạ tả, người mệt rã rời, thường mê man, suốt ngày ngủ li bì. Nhiều lần tỉnh giấc, nhất là tỉnh giấc giữa đêm khuya thanh vắng lặng tờ, anh không dám tin là mình còn sống… Các giấc mơ càng ngày càng gay gắt, vô lý đến lạ lùng. Thường anh cảm thấy như có cái gì đó mảnh lắm, lại đang căng ra lúc nào cũng chực đứt nhưng lại chưa thể đứt được. Có khi lại mơ thấy mình cứ đi dần đi dần vào một ngõ hẹp, hai bên là những bức tường đá ẩm ướt. Con ngõ cứ càng ngày càng hẹp, hai bức tường đã giáp lại gần nhau lách người không nổi mà anh vẫn cứ phải đi vào. Y tá hộ lý bác sĩ thay nhau túc trực bên giường anh. Còn anh phải ăn, phải uống, phải tiêm… mà hoàn toàn không biết là ăn gì uống gì tiêm gì… Tỉnh dậy anh cảm thấy người mệt lử, đầu óc căng thẳng, chỉ muốn buông xuôi. Anh rờ tay quanh giường, mặt ghế, mặt tủ con. Tập bản thảo của anh đâu mất rồi. Anh nhìn những người quanh mình vẻ nghi ngờ, tức giận, không nói một lời. Thật ra những lúc ấy anh cũng không thể nói được gì khác ngoài câu lúc nào anh củng chỉ muốn bật ra khỏi miệng: Tập bản thảo của tôi đâu? Vì anh chỉ nghĩ có thế. Nhiều khi cặp mắt anh hoàn toàn không có tinh thần mà ngây dại lạnh lùng… Có lần chị hộ lý trẻ nhìn anh rồi quay đi, ôm mặt khóc nức nở. Chị bưng một món gì đó nóng hổi cho anh. Nhưng anh thản nhiên ăn, mắt nhìn chị lạnh lùng ngây dại. Chị hỏi anh một câu, anh không trả lời mà hỏi lại: Tập bản thảo của tôi đâu? Chị chưa kịp trả lời,anh đã nhắc lại câu hỏi bằng giọng gay gắt chị chưa từng thấy ở anh. Nhưng cặp mắt vẻ mặt vẫn lạnh lùng ngây dại.

Cứ như thế, hai tuần đằng đẵng qua đi, mờ ảo, xa lạ.

Hôm nay, anh đang chép những dòng cuối cùng.

Anh vẫn sống,

Quan trọng hơn thế, anh vẫn làm việc được

Chép xong, Kiên Cường khoan khoái, hít một hơi dài, cảm thấy dù phải chết ngay lúc này cũng không ân hận gì!

Bây giờ, anh mới đưa mắt nhìn quanh. Trên bàn, mấy tập sách dầy lại được đặt vào chỗ cũ. Sách của Trung… Anh cảm thấy nhớ Trung lạ lùng… Đã lâu rồi, Trung không đến. Chắc anh ta bận chuẩn bị cho học sinh thi… Mà biết đâu lại cũng có thể đang lên một cơn viêm thần kinh tọa, nằm bẹp một xó cũng nên. Cái con người đến kỳ lạ. Anh ta như chỉ sống bằng tinh thần. Cường nghĩ vậy rồi lấy giấy viết thư cho Trung.

Quen anh ta đã ba bốn năm nay, Trung bao giờ cũng hết lòng giúp anh làm việc. Mấy năm sơ tán, Cường đã đổi chỗ ở năm lần bảy lượt, nhưng dù ở đâu Trung vẫn tìm đến anh đều đặn mỗi tuần một lần, rồi nửa tháng một lần. Dạo nào cứ nửa tháng Trung mới đến là Cường biết địa điểm sơ tán mới đã xa chỗ Trung công tác hơn trước rồi.

Tiền nhuận bút dịch sách, Cường bao giờ cũng nhờ gửi tiết kiệm, rồi tùy thời gian mà trích ra dần. Khi ủng hộ quỹ đồng bào Miền Nam, khi giúp đỡ quê mình xây dựng trường cấp 2 hoặc tặng một bộ trống ếch cho đội thiếu nhi xã nơi mình sơ tán. Anh chưa tiêu một đồng nào cho bản thân. Có khi thấy Trung gầy rạc đi, quá vất vả trong những lần giúp anh tìm tài liệu, tra cứu hộ anh ở thư viện tỉnh, liên hệ với nhà xuất bản, sửa các bản in thử, Cường muốn đưa Trung tiền bồi dưỡng, nhưng không dám. Anh ngại Trung sẽ nhìn mình ngạc nhiên mà hỏi: Sao anh lại nói với em về chuyện tiền nong?! Mỗi lần in xong một cuốn sách mới, Trung chỉ vui lòng nhận một bàn có chữ anh đề tặng. Thế thôi… Rồi lại tiếp tục cần cù chăm chỉ đúng hẹn làm việc khẩn trương với sự thận trọng chính xác ít thấy ở những người trẻ.

Kiên Cường đặt lá thư viết dở lên mặt tủ, chặn cái khung ảnh anh Trỗi lên. Anh không thể viết tiếp được… Không… Không nên cho Trung biết mình đang ốm nặng. Cũng không nên nói dối vẫn mạnh khỏe, đang thực hiện kế hoạch mới. Cái kế hoạch tối thiểu ấy đến bây giờ đã trở thành quá nặng rồi. Còn nhiều cái học chưa thật thiết thực. Liệu có ích gì… Thời giờ lại còn quá ít. Lúc nào cũng có thể đột ngột bị quật ngã. Như hôm nay đây, mới làm việc được có vài ba ngày đã lại thấy bải hoải rồi.

Chiều nay, gió mùa đông-bắc lại sẽ về…

Sách dịch mới chưa có. Viết tiếp cái hồi ký vậy. Nhưng, đó có thể là một việc làm rất vô nghĩa đấy. Dùng những thời giờ hiếm hoi, quý báu này để bôi đen hàng chục trang giấy mà có lẽ sẽ chẳng có ai cần đọc. Cũng có thể có người đọc vì tò mò, hoặc thương hại người viết. Thôi, thôi đi là hơn. Dẫu sao cũng là quá nghĩ đến mình đấy, muốn thỏa mãn cái lòng khát khao được viết ấp ủ bấy lâu nay, mong giải tỏa nỗi lòng với những ngày oanh liệt xưa cứ nhớ đến là thấy như mình mắc nợ… Thật ra, vẫn còn có thể phục vụ nhân dân được bằng cách tiếp tục dịch. Nhưng làm gì có ai giao cho dịch gì đâu. Thôi, thì viết vậy. Nhưng đến mai mới viết. Hôm nay còn phải rút kinh nghiệm đợt dịch vừa qua. Cũng cần xem xét lại kế hoạch học. Đồng thời viết thư liên hệ ngay với nhà xuất bản, kiếm sách mới mà dịch.

Bữa chiều, chị hộ lý trẻ thấy Cường tuy ăn còn ít nhưng có vẻ ngon lành lắm, nói cười luôn miệng. Thật ra, anh thấy trong người khác lắm rồi. Khắp cơ thể cứ buồn buồn bần thần bế tắc thế nào ấy. Không cảm thấy cái gì là vững chắc, xác định trong thân thể mình. Càng về chiều, càng bải hoải, rã rời anh phải bỏ cả những việc rất nhỏ dự định làm xong trong buổi chiều. Tối đến, anh đi nằm sớm, mở máy thu thanh. Gió mùa đông bắc đột ngột đổ về lúc nào không hay. Rồi mưa như trút nước. Chớp loang loáng, sấm động đùng đoàng. Gió lạnh, lùa vào tận giường. Cường bỗng co rúm cả người lại. Anh choáng váng như bị điện giật, rồi khắp mình đau nhức như bị đánh bằng roi song hồi nhỏ đi chăn trâu nhà người. Cơn đau dịu đi được một lát, anh nằm bám chặt lấy giường, thở mệt nhọc. Thì lại một cơn nữa dữ dội hơn, kéo dài hơn. Rồi cũng dịu đi được một lát ngắn ngủi. Anh thấy như mình bị đẩy ra biển, đợt sóng trước chưa hết choáng váng, đợt sóng sau đã lại ập đến rồi. Choáng váng ngột ngạt, anh nằm vật ra giường, hai tay buông thõng…

Một ánh chớp lóe sáng lên,  rồi tiếng sấm nổ giòn giã. Kiên Cường chợt tỉnh, mở to mắt. Anh nghĩ mình sắp chết thật rồi sao?

Anh lật gối, lấy đèn pin, soi vào ngăn kéo tủ con, lấy ra cuốn sổ nhỏ, bìa đỏ đã cũ. Sổ tiết kiệm của anh còn sáu nghìn chín trăm ba mươi chín đồng. Một con số lẻ, sao lại nhiều thế nhỉ… Nhiều quá! À ra lâu nay mình bận quá, quên kiểm tra đây mà… Mình thì sắp chết rồi, bố mẹ cũng quá già, phải rồi già lắm rồi. Còn hai đứa con của đồng đội Nam Bộ đã hy sinh, đúng rồi hai đứa học trường học sinh Miền Nam mình nhận nuôi đến khi khôn lớn. Còn quê mình, ôi quê mình nghèo lắm. Hợp tác xã làm ăn kém quá. mà không phải tại người đâu, tại đất đấy, đất bạc màu quá rồi. Phải bón phân tốt, thật nhiều phân tốt thì sẽ tốt lên chứ… Ôi cái gì to thế này nhỉ, cứ lừng lững căng to ra chực vỡ đây này. Phải cẩn thận.

Anh lại chìm vào cơn hôn mê mới…

Trời vẫn mưa, nhưng đã thôi sấm chớp. Kiên Cường mơ hồ nghe có tiếng nói đều đều. Có cả ánh đèn chiếu vằn vèo trên chăn. À, mình mở máy thu thanh đây mà. Đèn, còn đèn cũng mình bật. Bật đèn? Mình bật à! Bật để làm gì? Phải rồi để viết. Nhưng tìm đâu ra giấy bây giờ? Thôi, viết luôn vào bìa cuốn sổ này thôi. Đúng rồi viết lên bìa cuốn sổ tiết kiệm này thôi…

Viết nguệch ngoạc xong mấy dòng, Kiên Cường bỗng rướn người lên. Chưa bao giờ anh thấy đau đến thế. Anh muốn hét thật to. Nhưng không, không được hét! Rên cũng không được rên! Các đồng chí đang ngủ. Bác già nằm ở bên vách này yếu lắm rồi. Ôi, sao đau buốt đến tận sống lưng thế này; Anh lại rướn mình lên như muốn tránh cơn đau. Răng nghiến chặt, mắt dại đi, mồ hôi túa ra thành giọt lớn trên mặt. Hai tay anh chới với, bỗng vớ được những chấn song nứa cửa sổ. Anh nắm chặt, xiết chặt. Song rứa nhỏ run lên, rung lên rồi gãy răng rắc hết thanh này đến thanh khác, lẫn trong tiếng sấm rền xa xa, tiếng mưa rơi lộp độp trên mái lá… Thôi, cốt nhất là không kêu lên một tiếng nào là được rồi. Các đồng chí bệnh binh nặng đang ngủ. phải rồi, các đồng chí ấy đang cần ngủ.

Hai tay anh rời cửa sổ, đầu gục sấp xuống gối.

Một làn gió mát mẻ lùa vào, phủ tấm màn che kín người anh.

*

*      *

Sáng hôm sau, chú bé dậy thật sớm. Qua một đêm mát mẻ, ngủ đẫy giấc, trông chú mập hẳn ra. Đôi mà bầu bầu, mắt to đen láy. Chú đến bên cửa sổ, nhìn những song nứa gãy, hơi ngạc nhiên. Rối níu khung nứa, nhón chân nhìn vào trong buồng. Chú hóm hỉnh nói, giọng ngân nga như hát: Chú ơi, chú ơi hôm nay… chú dậy… muộn hơn… cháu rồi…nhớ!

Không thấy tiếng trả lời mà chỉ có tiếng máy thu thanh ù ù ọ ọ. Chú có vẻ ái ngại: Chú mệt hở chú? Chú mở đài đấy à?…

Vẫn không có tiếng trả lời. Một làn gió sớm khẽ lay động tấm màn màu xanh lá già.

Cháu buông tay khỏi khuôn cửa, lủi thủi bỏ đi. Chốc chốc lại đưa cặp mắt to đen nhìn về phía cửa sổ. Nhưng chỉ một lát sau đã nghe tiếng cháu hát, cháu cười ở sau lùm tre xa xa rồi.

Ánh sáng ban mai nhẹ nhàng lùa qua khung cửa sổ. Lũ cá rô thấy mặt nước trong âu bừng sáng, liền đua nhau vùng vẫy ngoi lên. Trên mặt bàn con, trong chiếc lọ đồng bé xíu vàng óng trong nắng sớm, những bông hoa nhỏ cánh xanh phơn phớt màu da trời vẫn còn tươi. Dưới ảnh anh Nguyễn Văn Trỗi, cạnh chiếc bút máy mở nắp, còn lá thư viết dở dang. Những dòng cuối không bị khung ảnh che mất sáng lên trên nền giấy trắng tinh: Dẫu thế nào, cũng không thể cứ nằm mà đếm may bay Mỹ rơi và nghe tin nơi này tăng năng suất, nơi kia đánh thắng to, có phải không Trung?

Trên nền nhà, cuốn sổ tiết kiệm nhỏ, bìa đỏ đã cũ nằm úp sấp. Mặt bìa có mấy dòng chữ hết sức nguệch ngoạc như sau:

Chia 3:

– Bố mẹ

– Hai con nuôi

Hợp tác xã chăn nuôi kém nhất trong xã.

Dưới cùng là chữ ký, càng nguệch ngoạc hơn.

Có tiếng gà lanh lảnh gáy vang. Rồi chú gà trụi ngày nào dõng dạc bước ra sân. Mào to đỏ thắm, trên bộ lông cánh xanh đen, lông cổ vàng óng, bộ đuôi vồng kiêu kỳ, trông chú thật hiên ngang. Đến giữa sân, chú ta dừng lại, nghiêng đầu nghe ngóng. Rồi vỗ cánh phành phạch, vươn cổ thật cao, lại cất tiếng gáy vang. Cùng lúc ấy, … từ chiếc máy thu thanh nhỏ bỗng vang lên một khúc nhạc hùng tráng, đầy vẻ sảng khoái, tự hào, mở đầu một ngày lao động và chiến đấu. Khúc nhạc giục giã lòng người. Khúc ca chiến thắng.

Hà Nội, ngày 25/4/1968.

T.T.

—o0o—

MẤY LỜI VIẾT THÊM CỦA PHẠM TÔN

Như thế là mấy tháng nay quí bạn đọc của Blog PhamTon đã theo dõi từ những ý tưởng đơn sơ manh nha ban đầu, nay đã chứng kiến sự hình thành, rồi một truyện ngắn ra đời. Và hôm nay, đã đọc xong trọn vẹn đến dòng cuối.

Chúng tôi đã nói rõ là truyện này viết không để đưa đâu xuất bản hết mà chỉ chép lại vào phần cuối tập tài liệu về anh Phạm Hồng Sơn gồm ba phần: Nhật ký về một con người, chép lại tất cả những trang nhật ký tôi viết về những lần được gặp anh. Rồi phần hai là Những lá thư, chép lại nguyên văn những thư anh gửi cho tôi, trong đó có một thư gửi chị dâu tôi Nguyễn Thị Thanh Thủy. Và cuối cùng là truyện ngắn Khúc ca chiến thắng này do tôi viết. Công việc này bắt đầu sau khi tôi biết tin anh mất năm 1967, ngày mất đến nay chưa xác định được. Truyện ngắn này, tôi hư cấu dựa trên cuộc đời anh.

Khi tôi đưa tập tài liệu trong đó có truyện ngắn này cho ROSA một cô bạn thanh niên xung phong bị máy bay Mỹ bắn xuyên ngực, gãy đùi đang điều trị tại bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội, mong giúp cô thêm kiên trì điều trị. Cô đọc xong cả tập thì nói với tôi: Phần Nhật ký về một con người em đọc phải suy nghĩ nhiều, lắm đoạn phải đọc đi đọc lại nhiều lần mà chưa chắc đã hiểu đúng. Tôi hiểu, vì đó là nguyên liệu thô, chưa tinh luyện, gọt giũa. Còn Khúc ca chiến thắng thì dễ đọc, em hiểu ngay và rất xúc động.

Sau này, khi chuẩn bị về lại báo Nhân Dân cuối năm 1972, tôi có chép lại một bản truyện ngắn này đưa anh Thép Mới từ chiến trường, mới trở về, có ý báo cáo anh là những năm xa anh tôi đã cố gắng và kết quả là viết được cái truyện này, trình độ của tôi chỉ mới đến mức ấy. Chẳng biết anh có đọc không, vì anh lấy lại tôi về cơ quan là để học làm báo, chứ không phải là làm văn! Có lẽ anh quẳng đâu mất chứ chưa đọc. Vì suốt từ đầu năm 1973 cho đến khi anh mất năm 1991, và cũng năm ấy tôi xin thôi việc ở báo Nhân Dân , chưa thấy anh nói đến cái truyện ngắn ấy bao giờ. Tôi cũng chẳng dám, thậm chí chẳng muốn hỏi. Vì tôi vốn tự ty, hay ngượng vì những việc mình đã viết.

Đến nay, nghĩ lại, dù sao đó cũng ghi dấu một chặng đời của mình.

Chuyện một người cháu ngoại không thể bỏ qua đoạn này. Đánh liều đưa lên mạng, mong bạn đọc có lòng với Blog PhamTon xem chơi, tiện thì chỉ giáo cho. Tôi không có tham vọng sáng tác hay làm văn nghệ gì đâu. Thật tình là thế. Nghĩ sao nói vậy mong quí bạn bỏ quá cho.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 22/12/2021, mùa Covid-19 đang thời bình thường mới,

 vừa đi tiêm vắc-xin mũi thứ ba do được ưu tiên vì từng bị ung thư.

P.T.

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một blog miễn phí với WordPress.com.

%d người thích bài này: